ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HỒNG THÚY TRẬT TỰ CÂU TRONG VAI TRÒ LIÊN KẾT VÀ TẠO MẠCH LẠC CHO VĂN BẢN LUẬN VĂN THẠC SĨ Mã số: 5 04 08
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG THÚY
TRẬT TỰ CÂU TRONG VAI TRÒ LIÊN KẾT VÀ TẠO
MẠCH LẠC CHO VĂN BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mã số: 5 04 08
Người hướng dẫn: GS.TS Đinh Văn Đức
HÀ NỘI – 2004
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn bản là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ Liên quan đến văn bản, đã có nhiều công trình (cả trên thế giới và trong nước) nghiên cứu
về các phương thức liên kết (cái được coi là yếu tố quan trọng để các câu tạo thành văn bản và để phân biệt văn bản với phi văn bản) Ở trong nước,
có thể kể đến công trình nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm; Diệp Quang Ban; Nguyễn Thị Việt Thanh Các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định liên kết là một yếu tố bắt buộc và có vai trò rất quan trọng để chuỗi câu trở thành văn bản Tuy nhiên có một thực tế trái ngược là: có những văn bản mặc dù có liên kết nhưng lại không phải là văn bản (vì nó không biểu hiện chủ đề nào cả mà chỉ là những câu tình cờ có những yếu tố lặp lại giống nhau); ngược lại, có những văn bản không có phương thức liên kết nào nhưng nó lại kết hợp được với nhau tạo thành một văn bản đích thực vì chúng cùng biểu hiện một chủ đề nhất định
1.2 Tính hình tuyến của ngôn ngữ là một trong 2 nguyên lý cơ bản của hệ thống ngôn ngữ Tính hình tuyến không chỉ tồn tại ở cấp độ từ, cấp
độ câu hay ngữ đoạn mà còn được thể hiện rất rõ trong văn bản - cấp độ cao nhất của hệ thống ngôn ngữ Tính hình tuyến của ngôn ngữ không cho phép người ta nói ra 2 yếu tố cùng một lúc mà phải lần lượt từng yếu tố nối tiếp nhau theo trình tự thời gian Văn bản với tư cách là sản phẩm ngôn ngữ tất yếu cũng bị tính hình tuyến chi phối Tính hình tuyến của ngôn ngữ quy định chặt chẽ tới việc tổ chức, sắp xếp các các câu trong văn bản Chúng xuất hiện lần lượt theo một trật tự nhất định Và như vậy, trật tự của các câu sẽ có một vai trò nhất định trong việc liên kết văn bản và tạo mạch lạc cho văn bản
1.3 Trong các phương thức liên kết văn bản, phép tuyến tính được coi là phương thức liên kết có tần số sử dụng cao nhất và nó là một trong 2
Trang 3phương thức liên kết lôgíc Phép tuyến tính được Trần Ngọc Thêm định nghĩa là "phương thức sử dụng trật tự tuyến tính của các phát ngôn vào việc liên kết những phát ngôn có quan hệ chặt chẽ với nhau về mặt nội dung" Chúng tôi thấy rằng, về bản chất, các văn bản được hình thành đều đã có một trật tự tuyến tính Trật tự này được thể hiện trên tất cả các cấp độ của
hệ thống ngôn ngữ
1.4 Cho đến nay, trên thế giới và ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu trật tự từ ở cấp độ từ và cấp độ câu Trật tự từ được hiểu là
sự kết hợp các từ với nhau, nó được coi là một trong những phương tiện quan trọng để thể hiện các quan hệ ngữ pháp Việc thay đổi trật tự từ hoặc yếu tố cấu tạo từ (trong phạm vi từ, phạm vi câu) đều có ảnh hưởng không nhỏ tới nội dung và quan hệ ngữ nghiã giữa các yếu tố cấu tạo
Văn bản là sản phẩm của ngôn ngữ, nó được hình thành từ các câu Vậy trật tự câu được biểu hiện như thế nào, chúng có vai trò gì trong tổ chức văn bản, và đặc biệt là chúng có tham gia vào việc liên kết và tạo mạch lạc cho văn bản hay không? Việc thay đổi trật tự các câu trong văn bản có ảnh hưởng đến nội dung thông tin của văn bản hay không? Những điều này cho đến nay chưa được nhắc đến và quan tâm nghiên cứu
1.5 Mấy năm gần đây, vấn đề mạch lạc trong văn bản cũng đã được
đề cập trong một số công trình Tuy nhiên, mạch lạc mới chỉ được nghiên cứu như là một yếu tố không thể thiếu của văn bản và nó được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau của văn bản chứ chưa đi đến một định nghĩa thống nhất thế nào là mạch lạc Hơn nữa, tính mạch lạc của văn bản lại được các nhà nghiên cứu này khẳng định là yếu tố quyết định đến việc tạo thành văn bản chứ không phải là liên kết Liên kết và mạch lạc thực chất là hai vấn đề khó có thể phân định ranh giới giữa chúng một cách rạch ròi Thế nhưng, trong một văn bản có liên kết chưa chắc đã tạo ra mạch lạc; ngược lại, khi văn bản mạch lạc thì chắc chắn phải có liên kết Vậy trật tự
Trang 4sắp xếp các câu trong văn bản có tham gia vào việc tạo mạch lạc cho văn bản hay không?
Chính vì những lý do nêu trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu về trật tự câu trong văn bản Qua đó xem xét vai trò của nó đối với liên kết và mạch lạc của văn bản ra sao Tuy nhiên, việc nghiên cứu này chỉ xác định
là bước khởi đầu Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi muốn góp phần vào việc bổ sung hướng nghiên cứu không chỉ trật tự từ mà là trật tự câu ở cấp độ văn bản - cấp độ cao nhất của hệ thống ngôn ngữ
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là câu, trật tự câu được thể hiện trong văn bản và vai trò của nó trong liên kết và tạo mạch lạc cho văn bản
- Phạm vi ngữ liệu: Các văn bản được lấy trên báo Công an nhân dân xuất bản trong mấy năm gần đây
- Phương pháp lấy tư liệu: Trên cơ sở tiêu chí của văn bản, chúng tôi lựa chọn trên các tin, bài bình luận những văn bản đảm bảo có chủ đề và nội dung nhất định
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
- Bước đầu tìm hiểu trật tự câu và các hình thức biểu hiện của nó trong văn bản
- Bước đầu xác định vai trò của nó trong liên kết văn bản và tạo mạch lạc cho văn bản
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mà luận văn sử dụng chủ yếu là phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích
5 Bố cục của đề tài:
Trang 5Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài được chia làm 3 chương
Cụ thể như sau:
Chương I Trật tự câu - tính hình tuyến của văn bản
Chương II Trật tự câu trong vai trò liên kết văn bản
Chương III Trật tự câu trong vai trò tạo mạch lạc cho văn bản
Trang 6Thư mục tài liệu tham khảo
Gillian Brown - George Yule, Phân tích diễn ngôn, NXB Đại học quốc
gia Hà Nội, 2002 (Trần Thuần dịch)
Mak Halliday, Dẫn luận ngữ pháp chức năng, NXB Đại học quốc gia
Hà Nội, 2001 (Hoàng Văn Vân dịch)
V.B.Kasevich, Những yếu tố cơ sở của ngôn ngữ học đại cương, NXB
giáo dục, 1998
I.R.Galperin, Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học (Hoàng Lộc dịch), NXB KHXH, Hà Nội 1987
O.I.Moskaskaia, Ngữ pháp văn bản (Trần Ngọc Thêm dịch), NXB giáo
dục
David Nunan, Dẫn nhập phân tích diễn ngôn, NXB giáo dục, 1998 Ferdinand de Saussure, Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, NXB
KHXH, 1973
Trần Ngọc Thêm, Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, NXB giáo dục,
2000
Hoàng Trọng Phiến, Ngữ pháp tiếng Việt - câu, NXB ĐHTHCN, 1980
Đỗ Hữu Châu, Giản yếu về ngữ dụng học, NXB giáo dục
Lý Toàn Thắng, Mấy vấn đề Việt ngữ học và ngôn ngữ học đại cương,
NXB KHXH, 2002
Nguyễn Đức Dân, Lôgích và tiếng Việt, NXB giáo dục, 1998
Bùi Minh Toán, Giáo trình ngữ pháp văn bản tiếng Việt, Trường Đại
học sư phạm Hà Nội 2, 1992
Nguyễn Thị Việt Thanh, Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt, NXB giáo
dục, 1999
Diệp Quang Ban, Giao tiếp Văn bản Mạch lạc Liên kết Đoạn văn, NXB
KHXH, 2003
Đỗ Hữu Châu, Giản yếu về ngữ dụng học, NXB giáo dục, 1995
Trang 7Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, T1, NXB giáo dục, 2001
Đinh Trọng Lạc, 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB
giáo dục, 2001
Nguyễn Lai, Những bài giảng về ngôn ngữ học đại cương, T1, NXB
ĐHQG Hà Nội, 1999
Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán, Đại cương ngôn ngữ học Tập 1, NXB
giáo dục
Trung tâm KHXH và NV, Ngữ pháp tiếng Việt, NXB KHXH, 2002 Phan Văn Hoà, Phương tiện liên kết liên câu, đối chiếu ngữ liệu Anh -
Việt, Luận án tiến sĩ ngữ văn, 1998
Nguyễn Hoà, Nghiên cứu diễn ngôn chính trị - xã hội, Luận án tiến sĩ
ngữ văn, 1999
Nguyễn Thị Thìn, Về mạch lạc của văn bản viết, Tạp chí ngôn ngữ số
3.2003
Nguyễn Đức Dân, Biểu hiện và nhận diện thời gian trong tiếng Việt,
Tạp chí ngôn ngữ số 3.1996
Nguyễn Hữu Tiến, Quan hệ liên câu trong văn bản tiếng Việt, Tạp chí
ngôn ngữ số 1.1999
Nguyễn Hữu Chỉnh, Quan hệ ngữ pháp trong văn bản, Tạp chí ngôn
ngữ số 6.2002
Lý Toàn Thắng, Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian, Tạp chí ngôn ngữ
số 4.1994
Đỗ Thị Kim Liên, Tìm hiểu cấu trúc câu ghép không liên từ trong tiếng Việt, Tạp chí ngôn ngữ số 4.1993
Nguyễn Thị Việt Thanh, Về một số hiện tượng ngôn ngữ đặc trưng của văn bản tin tiếng Việt, Tạp chí ngôn ngữ số 11.2001
Nguyễn Hoà, Bàn về mạch lạc của diễn ngôn, Tạp chí Khoa học, ĐHQG
Hà Nội, số 2.2002