LỜI CẢM ƠN Công trình nghiên cứu: “Thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh” được hoàn thành với
Trang 1\
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ VĂN THÀNH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TỪ THỰC TIỄN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Công trình nghiên cứu: “Thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh” được hoàn thành với sự nỗ lực, tìm tòi, sáng tạo, cố gắng của bản thân
Trước tiên, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban Giám đốc Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã hội Việt Nam – Học viện Khoa Học Xã Hội đã tạo điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong quá trình theo học ở đây
Đặc biệt, tôi xin được gửi lời trân trọng cảm ơn và biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS Trần Đình Hảo, người đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian góp ý và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Đồng thời, tôi chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô đã truyền đạt kiến thức và hướng dẫn phương pháp nghiên cứu khoa học cho tôi trong suốt quá trình học tập
Bên cạnh đó, tôi cũng xin cảm ơn quý cơ quan đã tạo điều kiện cho tôi khảo sát và tìm hiểu các hoạt động liên quan để phục vụ cho việc thực hiện luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ và chia sẻ công việc với tôi trong suốt thời gian qua để tôi có thời gian đi học và hoàn thành luận văn này
Trân trọng cảm ơn!
TP.HCM, Tháng 7 năm 2016
Tác giả luận văn
Hồ Văn Thành
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 8
1.1 Khái niệm và những vấn đề liên quan đến thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao 8
1.2 Thiết kế chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao 11
1.3 Cách tiếp cận và phương pháp tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao 16
1.4 Trách nhiệm thực hiện của các chủ thể chính sách 20
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao 23
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 29
2.1 Chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay 29
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình nhân lực chất lượng cao của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh 37
2.3 Thực trạng thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao ở Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh 52
2.4 Đánh giá chung về việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao ở Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh 63
Chương 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 67
3.1 Quan điểm và định hướng tăng cường thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh 67
3.2 Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển NLCLC 68
3.3 Một số kiến nghị, đề xuất 77
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định: con người luôn ở vị trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, trong đó lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Tri thức con người là một nguồn lực không bao giờ cạn và được tái sinh với chất lượng ngày càng cao hơn Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên khi những nhà quản trị nhân lực hàng đầu thế giới cho rằng: “Con người là tài sản quan trọng nhất của chúng ta” (Susan R.Meisinger) và “Lợi thế cạnh tranh bền vững duy nhất trong tương lai chính là nhân lực” (Kathleen Barclau - Thomas Thivierge) Điều này xuất phát từ vai trò vô cùng quan trọng của nhân lực (NL), đặc biệt là nhân lực chất lượng cao (NLCLC) đối với quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của tổ chức
Nhân lực chất lượng cao được xem là động lực phát triển của địa phương, là nhân tố đáp ứng yêu cầu cải cách công vụ, công chức cũng như việc tinh giản bộ máy hành chính Bởi vậy trong tất cả các nỗ lực nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội thì việc phát triển nhân lực chất lượng cao nói chung và phát triển NLCLC cho từng địa phương nói riêng là vấn đề có tầm quan trọng chiến lược Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh là trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, được thành lập trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 1430/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ Với bề dày lịch
sử hơn 40 năm xây dựng và phát triển từ trường Cán bộ Khí tượng Thủy văn TP HCM và Trường Trung cấp Địa chính Trung ương III trước khi được hợp nhất thành Trường Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2006 Dưới sự lãnh đạo trực tiếp và sự quan tâm sâu sắc của Bộ Tài nguyên và Môi trường; sự chỉ đạo về chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhà trường đã
và đang xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển chương trình giáo dục theo hệ thống tín chỉ; xây dựng đội ngũ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ cho sự phát triển của ngành tài nguyên môi trường
Trang 8Từ khi được thành lập, Trường đã có chính sách đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nhân lực, nhưng đến nay nhân lực chất lượng cao vẫn còn thiếu và yếu cả về số lượng và chất lượng Vì vậy, việc phát triển NLCLC là một đòi hỏi cấp thiết để phát triển nhà trường về mọi mặt xuất phát từ những lý do:
Một là, nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quan trọng
trong phát triển giáo dục và đào tạo nói riêng, kinh tế và xã hội nói chung Đây là đội ngũ quyết định năng lực, trình độ khoa học của một địa phương, một quốc gia Bởi họ không những là chủ thể của những thành tựu mà đội ngũ này còn góp phần tích cực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triền kinh tế xã hội
Vì vậy, không thể xem nhẹ vai trò của NLCLC
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh, tuy là một Trường Đại học mới thành lập đang phát triển còn nhiều hạn chế, song NLCLC
đã và đang có nhiều đóng góp tích cực cho nhiệm vụ đào tạo nhân lực ngành tài nguyên môi trường các tỉnh phía Nam cũng như cả nước Vì vậy, tìm kiếm các giải pháp phát triển NLCLC để phát huy vai trò của họ là việc làm hết sức cần thiết và
có ý nghĩa
Hai là, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, NLCLC của Trường nhìn chung
còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài Nguyên nhân của những hạn chế này là do ở cấp trường còn lúng túng chưa thực sự quản lý và sử dụng hết trẻ như một nhân lực quan trọng, chưa tìm
ra cơ chế khai thác phối hợp Vai trò lãnh đạo của Đảng ủy các cấp chưa đều và thường xuyên; một số đơn vị trong trường chưa ban hành kế hoạch hoặc chương trình hành động cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của mình để triển khai thực hiện chính sách thu hút, phát triển NLCLC cho nhà trường Việc khắc phục những yếu kém trong quản lý về đội ngũ nhân lực chất lượng cao sẽ tạo ra tiền đề phát triển NLCLC vào các cơ quan thuộc các lĩnh vực tài nguyên và môi trường các tỉnh phía Nam
Ba là, một số đơn vị doanh nghiệp, cơ quan hành chính nhà nước trong lĩnh
vực tài nguyên và môi trường đang thiếu trầm trọng NLCLC Tốc độ lão hóa của đội ngũ này rất nhanh làm thiếu hụt những người có trình độ khoa học cơ bản cao, hiểu biết sâu và có hệ thống về thực tiễn, kinh nghiệm Do đó, sự chuyển tiếp giữa
Trang 9hai thế hệ già và trẻ chưa thật sự đảm bảo Trước mắt và lâu dài Trường vẫn còn thiếu hụt về đội ngũ kế thừa - nhân lực chất lượng cao Điều đó đòi hỏi cần thiết phải tìm kiếm những giải pháp phù hợp nhằm phát triển đội ngũ NLCLC đảm bảo cho sự phát triển bền vững
Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu những giải pháp thích hợp để tạo đà phát triển NLCLC trong Trường nhằm điều chỉnh chảy máu chất xám, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách phát triển NLCLC trong những năm tiếp theo
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn thạc sỹ chính sách công, là một yêu cầu khách quan, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tìm hiểu về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài:
“Thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Chí Minh cho thấy đây là vấn đề
mới mẻ, một số nhà khoa học cũng như các công trình nghiên cứu, hội thảo, luận văn tiến sĩ, thạc sĩ cùng nhiều văn bản Nghị Quyết đã quan tâm, nghiên cứu và tiếp cận theo nhiều cách với những cấp độ khác nhau như:
- Luận án tiến sĩ “Thị trường sức lao động trình độ cao ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Văn Phúc;
- Luận văn thạc sĩ: “Các giải pháp thu hút nhân lực trình độ cao cho các cơ quan nhà nước ở tỉnh Quảng Nam” của Nguyễn Chín;
- “Phát huy nguồn lực con người để CNH, HĐH: kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” của Tiến sỹ Vũ Bá Thể;
- “ Các tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam” ThS Lê Thị Hồng Điệp, Tạp chí lý luận chính trị, số tháng 8/2008;
- “Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng” của Trần Văn Tùng;
Trang 10- Luận văn thạc sĩ chính sách công của tác giả Trần Văn Hiền (2015):
“Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”
Các công trình nghiên cứu trên mặc dù đã góp phần hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn cho việc thu hút và phát triển NLCLC nói chung cho chính quyền các cấp tại một địa phương cụ thể Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào đề cập đến khía cạnh thực trạng phát triển NLCLC tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh Trong khi đó, việc phát triển NLCLC đã được thực hiện hơn 10 năm qua nhưng đến nay ngày càng bộc
lộ vấn đề mới cấp bách Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh” cần được quan tâm và nghiên cứu nhằm đáp
ứng nhu cầu phát triển của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao, thực trạng thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh
Làm rõ lý luận cơ bản về phát triển NLCLC và thực tiễn phát triển NLCLC vào các đơn vị, tổ chức tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó kiến nghị một số giải pháp nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả chính sách phát triển, NLCLC và nhu cầu phát triển của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020
Về mặt lý luận: hệ thống hóa một số vấn đề mang tính chất lý luận liên quan đến NLCLC và phát triển NLCLC tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh
Về mặt thực tiễn: Phân tích đánh giá tình hình thực hiện chính sách phát triển NLCLC trong Trường, thực trạng thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ, công chức tại các đơn vị này sau khi thực hiện chính sách
Trang 11Phân tích những mặt đạt được, hạn chế, nguyên nhân và một số bài học kinh nghiệm để đánh giá đúng thực trạng thực hiện chính sách phát triển NLCLC tại Trường
Đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường hiệu quả phát triển, duy trì và
sử dụng NLCLC, làm cơ sở để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính sách phát triển NLCLC của Trường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bao gồm việc thực hiên chủ trương, đường lối, các chính sách cụ thể của Đảng và Nhà nước có liên quan tới việc phát triển NLCLC của Trường Làm rõ thực trạng số lượng, chất lượng NLCLC từ đó đề ra các phương hướng và giải pháp cơ bản để phát triển NLCLC cho Nhà trường
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung hướng vào nghiên cứu thực hiện chính sách phát triển NLCLC tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2011 đến nay, từ đó có các giải pháp cơ bản để hoàn thiện chính sách này trong giai đoạn 2016 - 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lien ngành, đa ngành Đồng thời dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh về các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước về phát triển chất lượng nhân lực nói chung về chất lượng NLCLC nói riêng được thể hiện trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Pháp luật của Nhà nước để xem xét các nội dung có liên quan đến chính sách phát triển NLCLC tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh
Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp như thống kê, so sánh, tổng hợp …để thu thập số liệu, phân tích thông tin Khi viết, tác giả còn tham khảo các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu, tài liệu của các cuộc hội thảo, các luận văn tốt nghiệp, các bài báo, tạp chí có liên quan để làm tài liệu tham khảo
- Nguồn thông tin dữ liệu
Trang 12Thứ cấp, chủ yếu sử dụng số liệu từ báo báo về việc thực hiện :
- Quyết định 579/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt Chiến lược Phát triển Nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020;
- Thông báo số 79/TB-VPCP ngày 22 tháng 3 năm 2010 của Văn phòng Chính
phủ về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân tại buổi làm việc với Bộ Tài nguyên và Môi trường về công tác đào tạo nhân lực cho Ngành Tài
nguyên và Môi trường;
- Quyết định số 2476 /QĐ-BTNMT ngày 30 tháng 12 năm 2011 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn 2012 – 2020;
- Văn bản thông báo kết luận buổi làm việc của Thứ trưởng Bộ giáo dục và
Đào tạo Bùi Văn Ga và Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai
về công tác đào tạo của các cơ sở đào tạo thuộc Bộ Tài Nguyên và Môi trường
ngày 18 tháng 01 năm 2013
- Quyết định số 2476/QĐ-BTNMT ngày 30 tháng 12 năm 2011: Quy hoạch phát triển nhân lực ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn 2012 - 2020;
Sơ cấp: sử dụng số liệu thông tin tự thu thập qua việc điều tra bảng hỏi, xử
lý và tổng hợp về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Nhận thức sâu sắc vai trò của NLCLC từ đó đặt ra vấn đề tại
sao phải xây dựng chính sách phát triển NLCLC, vận dụng các lý thuyết về chính sách công làm luận cứ cho việc hoàn thiện chính sách
Về mặt thực tiễn: Thông qua việc đánh giá việc thực hiện chính sách phát
triển NLCLC và thực trạng đội ngũ nhân lực tại các cơ quan này sau khi thực hiện chính sách phát triển tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh, từ đó tìm kiếm các giải pháp phù hợp với đường lối chính sách của Đảng
và Nhà nước, phù hợp với tình hình phát triển của Ngành Tài nguyên và Môi trường nhằm mục đích xây dựng một chính sách nâng cao hiệu quả phát triển NLCLC tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020
Trang 13và bổ sung hoàn thiện việc thực hiện chính sách phát triển nhân lực ở nước ta hiện nay
7 Nội dung, kết cấu của luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Cụ thể:
Chương 1 Lý luận chung về thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất luợng cao từ thực tiễn tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2020
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 1.1 Khái niệm và những vấn đề liên quan đến thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Nước ta đang đi vào thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong đó, nhân lực (NL) nói chung và nhân lực chất lượng cao (NLCLC) nói riêng được xác định là lợi thế và là nguồn lực quan trọng nhất của
sự phát triển Phát triển NLCLC là đòi hỏi cấp thiết, khách quan nhất là trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới
Dưới góc độ nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau, cho đến nay có rất nhiều quan điểm và những định nghĩa khác nhau về nhân lực Nhưng tựu chung lại có thể hiểu NL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thông qua những khả năng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động NL là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia Điều này, nhấn mạnh tới khả năng của lực lượng lao động - yếu tố quyết định nhất đến chất lượng NL
Theo nghĩa rộng: NL là tổng thể các tiềm năng lao động của con người trong một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương trong một thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực, tâm lực) đã được chuẩn bị ở một mức độ nào đó, có khả năng huy động một cách tối ưu vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Điều này có nghĩa NL như một bộ phận cấu thành các nguồn lực của quốc gia như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực trí tuệ
Theo nghĩa hẹp: NL là toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc
dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế), nghĩa là bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động, thực tế đang có việc làm và
Trang 15những người thất nghiệp có thể lượng hóa được Về độ tuổi hiện nay, có nhiều quy định khác nhau Đa số các nước có quy định độ tuổi tối thiểu (thường là 15 tuổi), còn tuổi tối đa thường trùng với tuổi nghỉ hưu hoặc không giới hạn
Nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của NL, là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh túy nhất, có chất lượng nhất, có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc Họ là những người đã qua đào tạo, có bằng cấp và trình độ chuyên môn kỹ thuật NLCLC phải đáp ứng yêu cầu của thị trường
đó là: Có kiến thức, chuyên môn, kinh tế, tin học, ngoại ngữ; Có kỹ năng, kỹ thuật;
có tác phong làm việc chuyên nghiệp, trách nhiệm với công việc Theo đó, chúng ta
có thể hiểu khái quát NLCLC như sau:
“NLCLC là một bộ phận của NL, là những người có trình độ học vấn và
chuyên môn kỹ thuật cao, có năng lực, có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của xã hội, có khả năng làm việc hiệu quả, khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao“
Chính sách phát triển NLCLC là chính sách công, đây là công cụ quản lý được Nhà nước dùng làm nền tảng định hướng cho các công cụ khác Chính sách công có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển xã hội và hoạt động quản lý của Nhà nước nói chung Chính sách công chính là động lực thúc đẩy các quá trình phát triển trong xã hội; đồng thời phát huy các mặt tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực, tạo lập sự cân đối hài hòa, bền vững trong sự phát triển
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Phú Hải - Học viện KHXH đã đưa ra định nghĩa một
cách chung nhất về chính sách công như sau:“Chính sách công là một tập hợp các
quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp
và công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể
đã xác định”[10,tr.37]
Trang 16Như vậy, chính sách phát triển NLCLC là chính sách công, là một tập hợp các
quyết định chính trị có liên quan của nhà nước về phát triển NLCLC nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề về phát triển NNCLC theo mục tiêu tổng thể của Đảng và Nhà nước đã xác định
Chính sách phát triển NNCLC, gồm có các bộ phận hợp thành quan trọng là: những đường hướng, hành động hay còn gọi là những quan điểm, định hướng, mục tiêu và biện pháp thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu đảm bảo nguồn lực có chất lượng
cả về số lượng và chất lượng, thực hiện định hướng phát triển đã xác định Đây là hạt nhân xuyên suốt toàn bộ quy trình chính sách từ khởi động, phân tích, soạn thảo ban hành, thực thi và đánh giá chính sách
Phát triển NLCLC là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng
NL biểu hiện ở sự hình thành và hoàn thiện từng bước về thể lực, kiến thức, kỹ năng, thái độ và nhân cách nghề nghiệp đáp ứng những nhu cầu hoạt động, lao động của cá nhân và sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương nói riêng và của đất nước nói chung Chính sách phát triển NLCLC nhằm tạo ra NLCLC với số lượng lớn, chất lượng tốt phù hợp và đáp ứng nhu cầu của mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội nhất định Chính sách phát triển NL có liên quan chặt chẽ đến chính sách giáo dục và đào tạo vì trình độ văn hóa của người lao động là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng phát triển NLCLC Nó tạo nên sự chuyển biến
về chất (kiến thức kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) Nhưng để có một nhân cách nghề nghiệp hoàn chỉnh phù hợp và thích ứng với vị trí việc làm, NLCLC còn phải được rèn luyện sức khỏe và có văn hóa nghề nghiệp
Thực hiện chính sách phát triển NLCLC là hoạt động thực hiện các giải pháp và công cụ chính sách đã lựa chọn bởi các chủ thể chính sách, là bước đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách: hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống Chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc nhiều vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi chính sách
Trang 171.2 Thiết kế chính sách phát triển nhân lực chất lƣợng cao
1.2.1 Vấn đề của thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Xác định vấn đề chính sách là giai đoạn khởi đầu trong quy trình xây dựng chính sách công, bao gồm từ bước phát hiện những vấn đề xã hội những mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống xã hội, trong đó nổi lên những vấn đề bức xúc đòi hỏi cần phải được giải quyết bằng chính sách Vấn đề của chính sách luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới, tăng cường hội nhập kinh
tế quốc tế, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trên quan điểm: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể,
nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”, điều này đã và đang đặt ra những
yêu cầu mới của việc khai thác và phát huy tiềm năng của NLCLC Trong đó, điều đáng quan tâm nhất là thực trạng chính sách phát triển NLCLC ở nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập, chính sách có lúc chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế Điều đó thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
Nhân lực khá dồi dào, nhưng tỷ lệ NLCLC vẫn còn ít, chưa được quy hoạch, nâng cấp đào tạo đến nơi, đến chốn Trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước Số người từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chiếm khoảng 40% Cơ cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ: Đại học và trên Đại học là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi trên thế
giới, tỷ lệ này là 1-4-10 [Nguồn:theo đánh giá và số liệu của Ngân hàng Thế
giới (WB) năm 2011] Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công
Trang 18nhân kỹ thuật bậc cao và chất lượng nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước khác
Việc phát triển NLCLC vẫn còn những bất cập khi quy mô đào tạo, cơ cấu trình độ và cơ cấu ngành nghề chưa cân đối và phù hợp với nhu cầu nhân lực của thị trường lao động trong và ngoài nước NLCLC còn chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp, tổ chức hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhất là các lĩnh vực về khoa học, công nghệ và các ngành đòi hỏi NLCLC
Ngoài ra, vấn đề trong phát triển NLCLC hiện nay là thiếu thông tin, dự báo
về nhu cầu sử dụng NLCLC và sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp và các địa phương trong công tác đào tạo, phát triển NLCLC Sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng cao, trong khi NLCLC vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn Đóng góp của đội ngũ NLCLC chưa tương xứng với tiềm năng, trí tuệ sẵn có
Mạng lưới các cơ sở đào tạo phát triển NLCLC tuy đã được quy hoạch nhưng việc thực hiện quy hoạch còn chậm, chưa đồng bộ, thiếu tính rõ ràng, cụ thể Trong đào tạo, thiếu sự liên thông, liên kết giữa các bậc trình độ của NLCLC Mô hình đào tạo và các chuẩn mực đào tạo NLCLC ở các cấp, bậc học chưa được xác định rõ ràng và hợp lý
Từ những vấn đề nêu trên nguyên nhân của vấn đề thực hiện chính sách phát triển NLCLC là do:
Thứ nhất, xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về vai trò quyết định của NLCLC đối với sự phát triển của đất nước Nước ta sẽ không phát triển được, bị tụt hậu và thua thiệt trong cạnh tranh với thế giới, đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hóa
và hội nhập như hiện nay, khi chúng ta thua kém về NLCLC có trình độ tri thức, khoa học công nghệ, tác phong quản lý
Thứ hai, từ nguyên nhân về nhận thức dẫn đến chúng ta chưa có chủ trương, chính sách cụ thể và quyết liệt đầu tư thỏa đáng cho đào tạo và phát triển NLCLC Nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước cho phát triển nhân lực còn hạn chế;
Trang 19chưa huy động được nhiều các nguồn lực trong xã hội (nhất là các doanh nghiệp) để phát triển NLCLC Trên thực tế, nhìn chung sự đầu tư đó chưa đúng mức, còn manh mún, dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, hiệu suất và hiệu quả chưa cao, còn nhiều lãng phí, lãng phí sức người, sức của, lãng phí nhân lực
Thứ ba, sự quản lý nhà nước về phát triển NLCLC còn những bất cập so với yêu cầu Chủ trương, đường lối phát triển NLCLC chưa được thể chế hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách và các kế hoạch phát triển một cách kịp thời và đồng bộ; việc triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách chưa kịp thời, chưa nghiêm túc Nhiều mục tiêu phát triển NLCLC chưa tính toán đầy đủ các điều kiện thực hiện Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức
xã hội đặc biệt là ngành giáo dục - đào tạo còn nhiều khuyết điểm và nhược điểm trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển NLCLC
Thứ tư là hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực phát triển NLCLC chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng về kinh tế, xã hội, văn hoá nước ta với thế giới Còn nhiều sự khác biệt trong các quy định về giáo dục nghề nghiệp, đào tạo NLCLC của hệ thống pháp luật Việt Nam so với pháp luật của các nước; mô hình hệ thống giáo dục và đào tạo, nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo nhân lực chưa tương thích và chưa phù hợp với các tiêu chuẩn phổ biến của các nước trong khu vực và thế giới; chưa thu hút được nhiều các nguồn lực quốc tế cho phát triển NLCLC Môi trường pháp lý, điều kiện làm việc, cơ chế chính sách chưa bảo đảm cho trao đổi nhân lực giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa Việt Nam và các nước được thực hiện thuận lợi, chưa phát huy hết tiềm năng của khả năng hợp tác quốc tế trong phục vụ phát triển NLCLC của đất nước
1.2.2 Mục tiêu của chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Trong điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, phát triển nguồn NLCLC được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược chuyển đổi mô hình
Trang 20phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời phát triển NLCLC trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia
Căn cứ vào Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020; Trong đó đưa ra:
Mục tiêu cụ thể
Phát triển đồng bộ đội ngũ nhân lực với chất lượng ngày càng cao, đủ mạnh
ở mọi lĩnh vực, đồng thời tập trung ưu tiên những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế cạnh tranh
Xây dựng được đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao và có đạo đức nghề nghiệp để đảm bảo phục vụ tốt cho đào tạo NLCLC cho đất nước
1.2.3 Giải pháp của chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Giải pháp chính sách
Từ thực tiễn trong nước và kinh nghiệm của thế giới có thể thấy rằng, việc xây dựng và phát triển NLCLC là phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta có ý nghĩa hết sức quan trọng và cũng là yêu cầu bức thiết hiện nay Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2011-2020 cũng nêu rõ cần tập trung tạo đột phá “phát triển
nhanh nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ việc phát triển NLCLC với phát triển
Trang 21và ứng dụng khoa học, công nghệ” Để xây dựng đội ngũ nhân lực có chất lượng
cao, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp:
Thứ nhất, xây dựng chiến lược phát triển NLCLC gắn với chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc
tế Ngày 19/4/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 579/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 trong đó nêu rõ mỗi bộ, ngành và đơn vị phải xây dựng quy hoạch phát triển NLCLC đồng
bộ với chiến lược, kế hoạch phát triển chung của mình Vấn đề hiện nay là cần hiện thực hóa Chiến lược bằng các biện pháp, hành động cụ thể
Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng Đổi mới căn bản và toàn
diện lĩnh vực giáo dục đào tạo nhằm từng bước tạo được nguồn NLCLC lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH Để đào tạo phát triển NLCLC, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cần hoàn thiện quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo,
bồi dưỡng NLCLC ở các cấp, bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Thứ ba, nâng cao chất lượng tuyển dụng, thu hút nhân tài Tiếp tục chú trọng
và làm tốt hơn nữa công tác quy hoạch, xây dựng, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán
bộ quản lý có năng lực giỏi, phẩm chất đạo đức tốt Có thể nói đây là một trong những nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách, vừa có tầm chiến lược nhằm tạo ra lực lượng có ý nghĩa đầu tàu quan trọng trong đội ngũ những người lao động, góp phần
tạo ra NLCLC cho đất nước, nhất là trong quá trình hội nhập như hiện nay
Thứ tư, song song với việc phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, phát
triển NLCLLC cần đi đôi với xây dựng và hoàn thiện hệ thống giá trị của con người trong thời đại hiện nay như trách nhiệm công dân, tinh thần học tập, trau dồi tri thức; có
ý thức và năng lực làm chủ bản thân, làm chủ xã hội; sống có nghĩa tình, có văn hóa, có
lý tưởng Đây cũng là những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Trang 22Thứ năm, cải thiện và tăng cường thông tin về các NLCLC theo hướng rộng
rãi và dân chủ, làm cho mọi người thấy được tầm quan trọng của vấn đề phát triển NLCLC ở nước ta hiện nay và trên thế giới
Cần xây dựng quy hoạch nhân lực chất lượng cao theo cơ cấu phù hợp với tình hình thực tế và hướng phát triển của đơn vị Đẩy mạnh hơn nữa các biện phát thu hút, tuyển dụng, bố trí sử dụng, trọng dụng nhân lực chất lượng cao hợp lý Ngoài ra, cần có kế hoạch dài hạn, ngắn hạn để đào tạo, bồi dưỡng nhân lực hiện có trong đơn vị
1.3 Cách tiếp cận và phương pháp tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
1.3.1 Cách tiếp cận thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Để đảm bảo phù hợp với tình hình mới cũng như mục tiêu hướng đến là chủ thể thực hiện chính sách, phương pháp tiếp cận phù hợp nhất khi thực hiện chính sách là tiếp cận theo chiều dọc (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh), theo chiều ngang (có sự phối hợp giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ có liên quan) và sự tham gia của các bên liên quan và cộng đồng, người dân, các tổ chức trong nước và quốc tế
Cùng với những dự kiến về các bước và chuẩn bị đầy đủ điều kiện để thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao, các cơ quan nhà nước các cấp cần nghiên cứu lựa chọn hình thức triển khai thực hiện chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế Hình thức triển khai thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao được hiểu là cách thức tổ chức để đưa chính sách vào đời sống xã hội nhằm giải quyết việc làm cho các đối tượng chính sách theo yêu cầu của quản
lý Trong thực tế để triển khai thực hiện chính sách việc làm có nhiều hình thức triển khai, song tựu chung lại có một số hình thức chủ yếu sau:
Trang 23Hình thức thực hiện chính sách từ trên xuống
Khi chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao được nhà nước ban hành, trước khi tiến hành triển khai, Nhà nước chủ động xây dựng kế hoạch, chuẩn bị các điều kiện về vật chất, kỹ thuật và nhân sự để thực hiện chính sách
Trong quá trình thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao nhà nước chủ động kiểm tra, đôn đốc bằng các phương tiện kỹ thuật hiện có hay bằng đội ngũ cán bộ, công chức của mình Khi phát hiện những sai lệch về nội dung chính sách, kế hoạch tổ chức thực hiện và công tác triển khai thực hiện, nhà nước kịp thời điều chỉnh, bổ sung làm cho hoạt động thực hiện chính sách diễn ra đúng như định hướng Nếu việc điều chỉnh, bổ sung có gặp khó khăn từ phía các đối tượng chính sách, thì nhà nước vẫn có thể dùng quyền lực công để thực hiện Cách
đó tạo ra sự tập trung, thống nhất cao độ trong quá trình thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Hình thức thực hiện từ dưới lên
Với hình thức này, sau khi chính sách được ban hành, các cấp chính quyền ở địa phương sẽ căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình để chủ động triển khai đưa chính sách vào cuộc sống theo yêu cầu phát triển của địa phương mình Các bước tổ chức thực hiện cũng được tiến hành theo nguyên lý chung, khoa học từ xây dựng kế hoạch thực hiện đến đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Hình thức kết hợp
Từ những ưu, nhược điểm của hai hình thức thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao từ trên xuống và hình thức thực hiện chính sách việc làm từ dưới lên trên, trong thực tiễn thực hiện chính sách việc làm ở nước ta hiện nay còn
có hình thức thứ ba là hình thức kết hợp Đó là sự kết hợp của hình thức thực hiện chính sách từ trên xuống và từ dưới lên nhằm làm cho quá trình chính sách vừa đảm bảo được các yếu tố lý quản lý, điều hành được thông suốt từ trên xuống, vừa làm
Trang 24cho quá trình thực hiện chính sách việc làm phù hợp với những điều kiện khách quan và chủ quan của cơ quan nơi tổ chức thực hiện chính sách
Để thực hiện có hiệu quả hình thức triển khai này cần có nhiều điều kiện, trong đó có điều kiện tiên quyết là trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở phải đáp ứng những yêu cầu nhất định và sự tham gia tích cực, chủ động
và có hiệu quả của chính các đối tượng chính sách
1.3.2 Các bước thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao gồm các bước sau đây:
Thứ nhất là: Xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển
nhân lực chất lượng cao
Đây là nhiệm vụ đầu tiên, nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao Hiệu quả thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao phụ thuộc vào chất lượng, tính chính xác, tính khả thi của bản kế hoạch thực hiện chính sách Cần phải đầu tư thời gian và công sức để xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao cần được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan có nhiệm vụ triển khai thực thi chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện
Thứ hai là: Phổ biến tuyên truyền thực hiện chính sách phát triển nhân lực
chất lượng cao
Phổ biến tuyên truyền thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao giúp các đối tượng thụ hưởng chính sách hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao mà còn giúp các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức có trách nhiệm thực thi chính sách nhận thức đầy đủ tính chất, tầm quan trọng, quy mô của chính sách đối với xã hội Cơ quan truyền
Trang 25thông cũng như cơ quan sử dụng NLCLC có trách nhiệm phổ biến, tuyên truyền chính sách giáo dục, đào tạo cũng như chính sách thu hút tạo động lực nhằm nâng cao chất lượng nhân lực
Phổ biến, tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách đang được thực hiện, để mọi đối tượng cần tuyên truyền luôn được củng cố lòng tin vào chính sách và tích cực tham gia vào thực hiện chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các khách thể quản lý qua nhiều kênh thong tin khác nhau Tuỳ theo yêu cầu của các cơ quan quản
lý, tính chất của chính sách và điều kiện cụ thể mà có thể lựa chọn hình thức tuyên
truyền, vận động cho phù hợp với điều kiện hiện có của cơ quan, đơn vị mình
Thứ ba là: Phân công phối hợp thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất
lượng cao
Trong tổ chức và thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao thì phối hợp thực hiện chính sách có ý nghĩ quan trọng trong tác động đến hiệu quả thực hiện chính sách Muốn tổ chức thực hiện chính sách chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao có hiệu quả cần phải tiến hành phân công phối hợp một cách chặt chẽ, giữa các cơ quản lý ở Trung ương và các cấp chính quyền địa phương Cần phải phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp
Thứ tư là: Duy trì thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Duy trì thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao là làm cho chính sách được tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Cần đảm bảo thực hiện các chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao liên tục; Chính sách phải được duy trì theo các qúa trình trong việc thực hiện chính sách và cần có nhiều giải pháp đồng bộ để chính sách luôn được thực hiện và phát huy hết hiệu quả
Thứ năm là: Điều chỉnh chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Trang 26Điều chỉnh chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao nhằm mục đích phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế của đất nước
Thứ sáu là: Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách phát triển
nhân lực chất lượng cao
Kiểm tra việc chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ, ngành cơ quan của Trung ương đối với việc thực hiện luật pháp, chính sách, chương trình về phát triển nhân lực chất lượng cao, sự phối hợp của các đơn vị tại cơ quan khi thực hiện Đồng thời, kiểm tra, theo dõi sát sao tình hình tổ chức thực hiện chính sách vừa kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách, vừa chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách, giúp nâng cao kết quả thực hiện chính sách của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương
Thứ bảy là: Đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách phát triển nhân lực
chất lượng cao
Đánh giá việc thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao để kiểm định xem liệu các mục tiêu của chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
đã được triển khai đã được hay không nhờ cách đánh giá dựa vào các bên tham gia,
cụ thể là các tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, đánh giá dựa vào cộng đồng, gia đình và nhà trường
1.4 Trách nhiệm thực hiện của các chủ thể chính sách
Chủ thể trong thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao là các
cơ quan nhà nước thuộc hệ thống lập pháp (Quốc hội), các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp (Chính phủ và UBND các cấp) và các cơ quan thuộc hệ thống tư pháp (Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân)
Trang 271.4.1 Chủ thể triển khai thực hiện chính sách
Chủ thể triển khai thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
là các cơ quan trong bộ máy nhà nước từ trung ương xuống tới địa phương, trong
đó chủ yếu là các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước cùng với đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước có thẩm quyền Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách, các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước giữ vai trò điều tiết, định hướng các hoạt động thực hiện chính sách bằng những công cụ quản lý của mình, giúp cho quá trình này luôn bám sát mục tiêu của chính sách
Các cơ quan nhà nước tham gia vào quá trình thực hiện chính sách bao gồm:
Thứ nhất là Chính phủ: Chính phủ với vai trò là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ vừa là cơ quan ban hành chính sách nhưng cũng đồng thời là cơ quan
có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách ở cấp Trung ương
Thứ hai là các Bộ, cơ quan ngang Bộ: Với vị trí là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực được phân công, chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách do Quốc hội và chính phủ ban hành có liên quan đến ngành, lĩnh vực do Bộ phụ trách
Thứ ba là Hội đồng nhân dân các cấp: HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước
Thứ tư là UBND các cấp: Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn
Trang 28Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách việc làm, hệ thống các cơ quan nhà nước tham gia vào quá trình thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao sẽ tiến hành hoạt động quản lý của mình trên cơ sở sau đây:
- Xác định rõ các cơ quan tham gia vào quá trình triển khai thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao từ trung ương tới địa phương
- Xác định cơ quan giữ vai trò thống nhất quản lí trong phạm vi cả nước, cơ quan giữ vai trò đầu mối tập hợp thông tin
- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức triển khai thực hiện chính sách từ trung ương tới các địa phương
- Cung cấp nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất kĩ thuật cho các cơ quan trong quá trình triển khai thực hiện chính sách việc làm theo kế hoạch đã được phê duyệt
- Giám sát quá trình triển khai thực hiện chính sách việc làm để kịp thời điều chỉnh khi có sai lệch xảy ra, đồng thời theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chính sách
1.4.2 Chủ thể tham gia phối hợp thực hiện chính sách
Chủ thể tham gia phối hợp thực hiện chính sách rất đa dạng, phong phú, có thể là các tổ chức, cá nhân trong xã hội
Ở nước ta hiện nay, một số tổ chức tham gia phối hợp thực hiện chính sách bao gồm:
Thứ nhất, các tổ chức chính trị- xã hội Đó là Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên: Công đoàn, Nông dân, Phụ nữ, Thanh niên, Cựu chiến binh với hơn 31 triệu hội viên
Thứ hai, các hiệp hội nghề nghiệp- xã hội ở trung ương và địa phương, các hiệp hội nghiên cứu và phát triển khoa học, công nghệ
Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
1.4.3 Đối tượng thực hiện chính sách
Đối tượng thực hiện chính sách là những đối tượng, nhóm đối tượng chịu tác động trực tiếp hay tác động gián tiếp của chính sách
Trang 29Thứ nhất, đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao Đây là nhóm đối tượng chính trong quá trình thực hiện chính sách cần phải được quan tâm bởi vì sẽ quyết định tới hiệu quả chính sách Thông thường, nếu chính sách khi thực hiện, tác động tới nhóm đối tượng này theo hướng có lợi và phù hợp với điều kiện thực tiễn của họ, thì họ sẽ tích cực tham gia
và ngược lại Vì vậy, khi tổ chức thực thi chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao, cần phải có các phương án nhằm thu hút họ tham gia vào quá trình thực hiện chính sách
Thứ hai, đối tượng chịu sự tác động gián tiếp của chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao Đây là những đối tượng mà khi chính sách được triển khai không chịu tác động một cách trực tiếp nhưng ít nhiều cũng bị ảnh hưởng bởi quá trình này
Do đó, trong việc hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao cần tổ chức các cuộc khảo sát lấy ý kiến tham vấn của đối tượng thụ hưởng/chịu tác động của chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao nhằm đảm bảo tính hiệu lực của chính sách trong việc thực hiện các mục tiêu mà chủ thể chính sách việc làm đã đề ra
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách công nói chung và chính sách phát
triển NLCLC nói riêng, bao gồm: Hệ thống chính trị, các yếu tố bên trong, các yếu
tố bên trong cơ quan lập chính sách, các yếu tố bên ngoài
a) Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị của mỗi quốc gia sẽ chi phối cả nội dung lẫn hình thức của việc xây dựng và triển khai chính sách công, nó phản ánh bản chất của chế độ chính trị xã hội của quốc gia đó Trong hệ thống chính trị thì có thể chia các yếu tố
nhỏ hơn nữa Bao gồm các yếu tố về văn hóa chính trị, hiến pháp, thế chế chính trị
- Văn hóa chính trị:
Trang 30Văn hóa chính trị tác động mạnh mẽ đến chính sách công nói chung và chính sách phát triển NLCLC nói riêng vì nó tạo nên niềm tin chính trị, ý thức chính trị của những nhà hoạch định chính sách đặc biệt là chính sách phát triển NLCLC phục
vụ yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước, cũng như để khẳng định tri thức và trí tuệ Việt Nam trong sân chơi toàn cầu Nâng cao nhận thức về phát huy vai trò của nhân tố con người, đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa của người Việt Nam là một đòi hỏi quan trọng Hiện nay, chúng ta thấy rằng tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”; lao động vừa thiếu, vừa thừa, thiếu lao động kỹ năng vừa thừa lao động không qua đào tạo; thu hút và phát triển NLCLC ở nhiều địa phương nhưng kết quả chẳng được bao nhiêu và hầu hết là không giữ được người; lương bổng và chế độ đãi ngộ không gắn với tài năng, hiệu quả công tác; cạnh tranh quốc tế bằng lao động phổ thông, giá nhân công rẻ đang khiến chúng ta yếu thế và lép vế ngay trên “sân nhà”…Vì vậy, nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển NLCLC cũng như đổi mới tư duy về phát triển đội ngũ này sẽ góp phần quan trọng đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước và hội nhập quốc
tế
- Hiến pháp:
Hiến pháp là yếu tố quan trọng thứ hai ảnh hưởng đến quá trình xây dựng chính sách công Hiến pháp năm 2013 là cơ sở pháp lý cao nhất buộc mọi chính sách công phải tuân theo Do đó, chính sách phát triển NLCLC cũng được xây dựng
và tổ chức thực hiện trong khuôn khổ của Hiến pháp Những quy định của chính sách phát triển NLCLC cũng phải tuân theo Hiến pháp và không được vượt qua khỏi những quy định của pháp luật
- Thể chế chính trị:
Thế chế chính trị của nước ta hiện nay là chế độ xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
Trong giai đoạn hiện nay, việc phát triển NLCLC, trong đó có chính sách phát triển NLCLC giành được sự quan tâm của cả hệ thống chính trị Hệ thống cơ
Trang 31chế, chính sách có vai trò cực kỳ quan trọng có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp,
là động lực thúc đẩy hoặc lực cản kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế xã hội nói chung và NLCLC nói riêng
b) Các yếu tố bên trong
- Vai trò của công luận và truyền thông
Vai trò của công luận và truyền thông được thể hiện là phản ứng, bình phẩm, quan điểm của nhân dân được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác về vấn đề chính sách phát triển NLCLC Đây là một kênh quan trọng trong việc tham gia trực tiếp vào các quá trình hoạch định chính sách Đối tượng của chính sách phát triển NLCLC là người có trình độ, chuyên môn kỹ thuật cao Thật vậy, trong quan
hệ với các nguồn lực khác thì NLCLC đóng vai trò quyết định nhất đến sự phát triển của mỗi địa phương Bởi lẽ các nguồn lực khác dù có phong phú, đa dạng đến đâu thì bản thân nó không thể tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội nên chưa trở thành động lực cho sự phát triển Các nguồn lực đó chỉ có tác dụng và trở thành động lực cho sự phát triển khi có sự tác động của bàn tay, khối óc con người Cho nên chính con người với trí tuệ và sức mạnh của mình là yếu tố quyết định hiệu quả của việc khai thác, sử dụng và phát triển các nguồn lực khác
- Hệ thống các giá trị xã hội
Hệ thống các giá trị xã hội bao gồm sự đa dạng về văn hóa, truyền thống, thói quen, phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, tầng lớp xã hội, các nhóm lợi ích, nhóm xã hội Chính sách phát triển NLCLC phải thể hiện sự tồn tại trong sự đa dạng và thỏa hiệp của hệ thống các giá trị xã hội Trong điều kiện đất nước đang đẩy mạnh quá trình CNH – HĐH đòi hỏi NLCLC phải đáp ứng các yêu cầu như: có ý thức tổ chức kỷ luật, tự giác trong công việc, có tinh thần trách nhiệm trong việc bảo quản thiết bị máy móc, phương tiện sản xuất, có tinh thần hợp tác, tác phong làm việc khẩn trương, chính xác, có lương tâm nghề nghiệp…tất cả những phẩm chất đó nằm trong phạm trù đạo đức của con người Hiện nay, khi đề cập đến NLCLC người ta thường nhấn mạnh đến các phẩm chất văn hóa, đạo đức
và truyền thống kinh doanh như một nhân tố cấu thành khả năng đặc thù của
Trang 32NLCLC Vì vậy, việc giáo dục truyền thống văn hóa trong sản xuất kinh doanh cũng được coi là một trong những nội dung cơ bản để phát triển NLCLC
- Hệ thống kinh tế
Hệ thống kinh tế của một quốc gia có tác động rất lớn đến việc xây dựng chính sách phát triển NLCLC Yếu tố kinh tế vừa là mục tiêu chính sách vừa là phương tiện động lực của chính sách Đẩy mạnh phát triển kinh tế nhằm tạo điều kiện vật chất cần thiết phục vụ cho nhu cầu phát triển NLCLC Đây chính là hai mặt của một quá trình có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau,
sự tăng trưởng của nền kinh tế là một trong những vấn đề cơ bản để phát triển NLCLC, khi NLCLC được phát triển thì sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững Nếu quốc gia có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao sẽ góp phần nâng cao mức sống, nâng cao chất lượng NL Mặt khác, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao càng có điều kiện đầu tư cho giáo dục và đào tạo, khi giáo dục, đào tạo phát triển lại góp phần quyết định trực tiếp đến việc tạo ra NLCLC Hay nói cách khác, kinh tế là nền tảng của phát triển xã hội, của con người trong đó có NLCLC và ngược lại phát triển NLCLC là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
- Sự tác động của các chính sách vĩ mô của Nhà nước tới chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Có thể nói các chính sách vĩ mô của Nhà nước có tác động quan trọng tới chính sách phát triển NLCLC trong đó đặc biệt là các chính sách kinh tế - xã hội như: chính sách phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao trình độ, năng lực cũng như kỹ năng, kỹ xảo cho NLCLC Đây là hệ thống chính sách mang tính chiến lược dài hạn, có tác động lớn đến phát triển NLCLC; Chính sách thu hút và sử dụng NLCLC đây là hệ thống chính sách tác động trực tiếp nhất đến quá trình phát triển NLCLC bao gồm các chính sách về đa dạng hóa việc làm, khuyến khíc, hỗ trợ tài năng…; Chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội tác động lớn đến việc tạo động lực triển cho NLCLC, nó tạo ra môi trường pháp lý cho quá trình hình thành và phát triển NLCLC Tóm lại, khi chính sách vĩ mô của nhà nước phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội thì nó thúc đẩy phát triển NLCLC, ngược lại nếu không phù
Trang 33hợp nó sẽ kìm hãm hoặc làm lãng phí nhân lực và rất khó khăn trong việc nâng cao chất lượng NL
c) Các yếu tố bên ngoài
- Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển NLCLC, các yếu tố này tạo điều kiện cho các quốc gia, địa phương kết hợp tốt nhất giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, phát huy nội lực và mọi tiềm năng sáng tạo Xu thế hội nhập quốc tế có tác động nhiều mặt và đặt ra những yêu cầu mới đối với việc phát triển NLCLC ở mỗi địa phương, đòi hỏi phải phát triển một thế hệ mới các doanh nhân, đội ngũ trí thức, những người có trình độ CMKT, tay nghề cao, có năng lực quản lý, sản xuất kinh doanh…để có thể hội nhập một cách vững vàng trong cuộc cạnh tranh trước bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Trong
đó, kinh tế tri thức hiện nay cũng được xem là xu thế tất yếu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng năng suất lao động, sở hữu cá nhân và sở hữu xã hội, tạo ra bước đột phá về chất lượng NL nhất là NLCLC
- Trình độ phát triển của khoa học và công nghệ
Ngày nay, với sự phát triển mạnh như vũ bão của khoa học và công nghệ đòi hỏi con người mà đặc biệt là NLCLC phải luôn tìm tòi, sáng tạo, học hỏi để có thể theo kịp thời đại Quá trình phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ diễn ra rộng khắp, từ các doanh nghiệp, các ngành, địa phương và chính quá trình này đã kéo theo sự đổi mới về NLCLC Trong lịch sử phát triển của loài người, bao giờ các cuộc cách mạng khoa học, công nghệ cũng dẫn đến sự biến đổi có tính cách mạng,
sự biến đổi về chất của lực lượng sản xuất xã hội, và ngày càng tác động mạnh đến quá trình phát triển NLCLC
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay
2.1.1 Quan điểm chỉ đạo về chính sách phát triển NLCLC
Những quan điểm chỉ đạo phát triển NLCLC ở Việt Nam đến năm 2020 đã được thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và được thông qua tại Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011) Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 đã được Chính phủ thông qua trong Quyết định số 579/QĐ-TTg, ngày 19-4-2011 Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-
2020 cũng đã được Thủ tướng Chính phủ ký tại Quyết định 1216/QĐ-TTg, ngày 22-7-2011 Đó là những văn bản pháp lý quan trọng có tính định hướng để góp
phần vào việc phát triển NLCLC phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: "Phát triển nhanh nhân
lực, nhất là NLCLC là một trong ba khâu đột phá chiến lược nhằm đưa Việt Nam đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Phát triển
NLCLC là một bước đột phá chiến lược, yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tạo lợi thế cạnh tranh, bảo đảm đưa nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả
Phát triển NLCLC nhằm đưa nhân lực đất nước trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để tạo sự phát triển bền vững, ổn định xã hội, hội nhập quốc tế Phát triển NLCLC có nghĩa là xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia, tổng công trình sư, kỹ sư đầu ngành, công nhân có tay nghề cao, có trình độ chuyên môn - kỹ thuật tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học, công nghệ, kỹ thuật, giải quyết những vấn đề cơ bản của sự nghiệp
Trang 36CNH, HĐH đất nước; xây dựng đội ngũ doanh nhân quản lý doanh nghiệp, có khả năng tổ chức, khả năng cạnh tranh; xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực tiên tiến, hiện đại, đa dạng, cơ cấu ngành nghề đồng bộ; xây dựng sự nghiệp giáo dục tiên tiến, hiện đại và một xã hội học tập toàn diện để tạo NLCLC
2.1.2 Mục tiêu của chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
- Phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 trongg đó đặc biệt chú trọng đối với NLCLC, tăng nhanh tỷ lệ nhân lực qua đào tạo trong nền kinh tế với
cơ cấu hợp lý Tổng số nhân lực qua đào tạo năm 2015 là khoảng 30,5 triệu người (chiếm khoảng 55,0% trong tổng số 55 triệu người làm việc trong nền kinh tế đất nước) và năm 2020, có khoảng gần 44 triệu người (chiếm khoảng 70,0% trong tổng
số gần 63 triệu người làm việc trong nền kinh tế)
khoảng 7 triệu người (khoảng 23%); bậc cao đẳng gần 2 triệu người (khoảng 6%); bậc đại học khoảng 3,3 triệu người (khoảng 11%); bậc trên đại học khoảng 200 nghìn người (khoảng 0,7%) Năm 2020, số nhân lực đào tạo ở bậc trung cấp nghề khoảng gần 12 triệu người (khoảng 27%); bậc cao đẳng hơn 3 triệu người (khoảng 7%); bậc đại học khoảng 5 triệu người (khoảng 11%) và bậc trên đại học khoảng
300 nghìn người (khoảng 0,7%)
như công nghiệp; xây dựng; dịch vụ; nông, lâm, ngư nghiệp; giao thông vận tải; tài nguyên, môi trường; du lịch; ngân hàng; tài chính; công nghệ thông tin; năng lượng hạt nhân; đào tạo nhân lực để đi làm việc ở nước ngoài
2.1.3 Hệ thống văn bản pháp luật về chính sách phát triển nhân lực chất lƣợng cao hiện nay
Cụ thể hóa quan điểm của Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm thực hiện mục tiêu phát triển NLCLC đáp ứng yêu cầu của phát triển và hội nhập kinh tế, quốc tế
Chính sách đổi mới giáo dục và đào tạo
Trang 37Đây là nhiệm vụ then chốt, giải pháp chủ yếu để phát triển nhân lực Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2020 và những thời kỳ tiếp theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04-11-2013 của Hội nghị Trung ương 8 khoá XI và Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09-6-2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Theo đó cần tập trung vào một số nội dung:
- Hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, hội nhập, thúc đẩy phân tầng, phân luồng, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập Tổ chức lại mạng lưới giáo dục đào tạo, sắp xếp lại hệ thống giáo dục quốc dân cả ở quy mô đào tạo, cơ cấu ngành nghề, cơ sở đào tạo, quy hoạch lại mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của
cả nước, vùng, miền và địa phương Thực hiện phân tầng giáo dục đại học
- Đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông, khung chương trình đào tạo ở bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp theo hướng phát huy tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu, tăng thời gian thực hành, tập trung vào những nội dung, kỹ năng người học, doanh nghiệp và xã hội cần, đảm bảo liên thông giữa các bậc học, cấp học, giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Đa dạng hoá các phương thức đào tạo Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học
- Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học Cải cách mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin Từng bước áp dụng kiểm định, đánh giá theo kết quả đầu ra của giáo dục và đào tạo
Đổi mới chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao chất lượng nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ vào giáo dục và đào tạo Đặc
Trang 38biệt chú trọng việc tổ chức sắp xếp lại và hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với các trường sư phạm trên phạm vi cả nước
Chính sách thu hút và sử dụng NLCLC
Để thực hiện được chiến lược nhân tài, trước hết cần xây dựng một cách tổng thể khung chiến lược phát triển nhân tài một cách hợp lý Bởi lẽ, chỉ có như vậy, nhân tài - nhân lực chất lượng cao mới có thể phát huy được hết vai trò, tiềm năng của mình cống hiến cho sự phát triển của xã hội “Chiến lược nhân tài” cần được xây dựng đồng bộ từ khâu phát hiện, tuyển chọn đến đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt, thoả đáng với năng lực và những cống hiến của họ thông qua cơ chế tiền lương, thưởng
Hội nghị Trung ương 7 khóa X, nêu rõ: “Để phát triển đội ngũ trí thức, cần
hoàn thiện môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động của trí thức; ban hành quy chế dân chủ trong hoạt động khoa học, giáo dục và đào tạo, văn hóa, văn nghệ; tập trung đầu tư, tạo môi trường, điều kiện để trí thức hăng hái hoạt động và cống hiến; xây dựng và thực hiện chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức, thu hút trí thức Việt Nam ở trong nước và nước ngoài tham gia phát triển đất nước; tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng trí thức”
Đặc biệt, Nghị quyết số 27 NQ/TW ngày 6-8-2008 của Ban Chấp hành TW khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nhấn mạnh ba quan điểm quan trọng:
Một là, trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng
trong tiến trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh
tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Ðảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị Ðầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững
Hai là, xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của
cả hệ thống chính trị, trong đó trách nhiệm của Ðảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định Trí thức có vinh dự và bổn phận trước Tổ quốc và dân tộc, không ngừng phấn
Trang 39đấu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc
Ba là, thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt
động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của trí thức Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến; có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước
Luật Cán bộ, Công chức cũng nêu rõ: “Nhà nước có chính sách để phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trong dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng”
Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh nhân tố con người, coi trọng phát triển bền vững, hài hòa, thay đổi mô hình tăng trưởng (từ chiều rộng sang chiều sâu, từ chú
trọng số lượng sang chú trọng chất lượng…) Tại Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, Đảng ta đã chỉ rõ: “Đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ
lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn” Đại hội XI đã nêu quan điểm chỉ đạo:
“Muốn tạo nên một tập thể vững mạnh, phải xây dựng từng con người, quan tâm phát
hiện và bồi dưỡng nhân tài”, “Có chính sách trọng dụng trí thức, đặc biệt đối với nhân tài của đất nước”, “Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ”, Dự thảo Văn
kiện XII của Đảng nhấn mạnh: “Tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ trí thức” và “có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài”
Thu hút nhân tài không chỉ trong nước mà còn là người Việt Nam ở nước ngoài Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài thể hiện rõ sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta đối với trí thức Việt kiều: “Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước Xây dựng chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia, trí thức ngườiViệt Nam ở nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, có
Trang 40khả năng tư duy vấn đề quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao cho đất nước, góp phần phát triển nền văn hóa, nghệ thuật của nước nhà”
- Chính sách cải cách tiền lương và bảo hiểm xã hội
Nghị định 49/2013/NĐ-CP ngày 14/05/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương theo đó không hạn chế mức thu nhập của các nhà khoa học, chuyên gia, các nhà quản lý; đồng thời, xây dựng cơ chế ràng buộc về mặt pháp lý như: bắt bồi thường hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu bản thân họ có dấu hiệu tiêu cực, tham nhũng, lợi dụng chức quyền … Có như vậy, mới tạo được động lực thúc đẩy đội ngũ những người tài, nhân lực chất lượng cao, không ngừng lao động sáng tạo, cống hiến
Chỉ thị 05/CT-TTg ban hành ngày 02/04/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế Như chúng
ta đã biết bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là hai chính sách quan trọng của hệ thống an sinh xã hội đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm chỉ đạo thực hiện qua nhiều Nghị quyết và các văn bản quy phạm pháp luật Chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là động lực để phát triển và đảm bảo nhu cầu cho NLCLC an tâm hơn về những chính sách đãi ngộ trong công việc
2.1.4 Một số đánh giá về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay
Ƣu điểm
Những năm qua, trong khi thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách
và giải pháp thúc đẩy sự nghiệp đào tạo và phát triển NLCLC Chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển con người nói chung, trong giáo dục, đào tạo và phát triển NLCLC nói riêng Chính sách phát triển giáo dục của Nhà nước đã mang lại những kết quả tích cực Số lượng NLCLC được tuyển để đào tạo ở các cấp tăng nhanh Theo số liệu thống kê sơ bộ năm 2013, số sinh viên đại học và cao đẳng
là 2.058.922 người, số tốt nghiệp là 405.900 người; số học sinh các trường trung