1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dịch thuật như một hoạt động có mục đích cách tiếp cận định hướng

10 312 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 199,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Văn Độ Bộ môn Ngôn ngữ Anh, Trường Đại học Thăng Long Tóm tắt: Chấp nhận cách tiếp cận định hướng đối với dịch thuật, các nhà phiên dịch lựa chọn các chiến lược dịch của mình th

Trang 1

DỊCH THUẬT NHƯ MỘT HOẠT ĐỘNG CÓ MỤC ĐÍCH: CÁCH TIẾP CẬN ĐỊNH HƯỚNG

PGS TS Nguyễn Văn Độ

Bộ môn Ngôn ngữ Anh, Trường Đại học Thăng Long

Tóm tắt: Chấp nhận cách tiếp cận định hướng đối với dịch thuật, các nhà phiên dịch

lựa chọn các chiến lược dịch của mình theo mục đích hay chức năng của văn bản dịch nhằm phục vụ cho độc giả tiếng đích Bởi lẽ các mục đích giao tiếp đòi hỏi nhữngđiều kiện nhất

định để hành chức, nhiệm vụ của người dịch sẽ là phân tích các điều kiện văn hoá của tiếng

đích và quyết định liệu, và như thế nào, các mục đích của văn bản nguồn có thể có tác động phù hợp đến độc giả tiếng đích theo những đặc điểm cụ thể của dịch thuật Nếu các điều kiện của văn hoá tiếng đích khác với các điều kiện của văn hoá các điều kiện của văn hoá tiếng nguồn, thông thường có hai sự chọn lựa cơ bản: hoặc dịch văn bản ởcách mà nó có thể được chấp nhậntrong các điều kiện văn hoá tiếng đích (= dịch công cụ - instrumental translation), hoặc thay đổi các chức năng của ngôn ngữ nguồn bởi các siêu chức năng tương ứng của chúng (= dịch tài liệu - documentary translation)

Từ chìa khóa: cung cấp thông tin, chức năng giao tiếp, chiến lược dịch thuật, dịch tài liệu,

dịch công cụ, dịch tóm lược

Các cách tiếp cận truyền thống đối với dịch thuật thường coi dịch thuật là sự tái tạo một văn bản nguồn, nơi mà “văn bản nguồn” (“the sourse text”) văn bản nguồn sẽ là thước đo/tiêu chí điều phối sự quyết định của người dịch.Điều này nghĩa là―nếu chúng ta nhìn lên quá trình của dịch thuật đi từ một điểm S (văn bản gốc) đến một điểm T khác (văn bản đích)―họ có cái nhìn nội quan đối với dịch thuật

SOURCE TRANSLATOR TARGET

Các cách tiếp cận hiện đại trongkhung làm việc mà Nord gọi là chức năng luận (functionalism) trong nghiên cứu về dịch thuật, tuy nhiên, khởi đầu từ một mô hình năng động mà ở đó một “văn bản” (a “text”) là “một nguồn tin”, mà từ nó người nhận tiếp nhận được cái mình muốn hoặc mình cần Tất cả chúng ta đều hiểu rằng những người đọc khác nhau, phụ thuộc vào kiến thức và thái độ của mình, sẽ nhận được những “thông điệp” khác nhau từ cùng một văn bản, do vậy đôi lúc chúng ta tự hỏi không biết có đúng là họ đọc cùng một văn bản hay không

RECEIVER A

TEXTSRECEIVER B RECEIVER C

Nếu điều này đúng như vậy, nó sẽ là một khó khăn thực sự đối với bất kì một phiên dịch nào để có thể dịch một văn bản gốc bởi lẽ một văn bản có thể trở thành nhiều văn bản bởi vì có quá nhiều người tiếp nhận văn bản này Một người dịch chỉ là một trong số những người tiếp nhận, và thông thường (khi dịch sang ngôn ngữ và văn hoá của mình) người dịch thậm chí không thuộc về số những khán giả quan tâm tới văn bản gốc Nếu chỉ xem xét văn

Trang 2

bản gốc một cách đơn giản,họ sẽ không thể tìm thấy điều gì mà một người tiếp nhận khác có thể phát hiện là thú vị hay quan trọng trong văn bản này―đặc biệt trong những trường hợp người tiếp nhận khác này được định vị ở trong, và bị ảnh hưởng bởi một cộng đồng văn hoá khác Do vậy, có thể sẽ là khôn ngoan khi có một cái nhìn mang tính định hướng của dịch thuật với tư cách là một hoạt động được điều chỉnh hướng đến mục đích giao tiếp cụ thể (a particular communicative aim) Mỗi một bản dịch đều chủ ý đạt được một mục tiêu giao tiếp

cụ thể trong giới độc giả tiếng đích, và nếu chúng ta phân tích ai sẽ là độc giả tiếng đích, họ cần và kì vọng điều gì, chúng ta có thể tạo ra được một sản phẩm đáp ứng được sự cần thiết

và kì vọng của họ Sơ đồ tiếp theo minh họa cho cách tiếp cận định hướng: Sau khi tiếp nhận (và phân tích) văn bản gốc, người dịch chuyển dịch nó sao cho đáp ứng được yêu cầu cụ thể của độc giả tiếng đích

TARGET UADIENCE1

SOURCE TRANSLATOR TARGET UADIENCE 2

TARGET UADIENCE3

DỊCH THUẬT NHƯ MỘT HÌNH THỨC TƯƠNG TÁC

Ở một kí túc xá dành cho những thanh niên người Thụy Điển, có lần người ta thấy những lời yêu cầu như sau:

Người Đức: Please, don’t get up before 6 a.m.! – Xin đừng dậy trước 6 giờ sáng! Người Mĩ: Please, don’t come home after 2 a.m.!–Xin đừng về nhà sau 2 giờ sáng! Người Ý: Please, don’t sing after 10 p.m.! –Xin đừng hò hát sau 10 giờ đêm

Người Thụy Điển: Please, don’t take girls up to the room! –Xin đừng đưa bạn gái lên phòng!

Rõ ràng rằng, người phụ trách kí túc xá mong muốn tất cả mọi người đến thăm không làm ảnh hưởng đến những người khác trong đêm khuya Và cũng rõ ràng rằng, lời yêu cầu

Xin đừng dậy trước 6 giờ sáng! không ảnh hưởng đến những người ngủ đến 10 giờ sáng (bởi

vì họ về muộn hay vì hò hát đến nửa đêm), và ngược lại Do vậy, có vẻ như là hợp lẽ khi lời

đề nghị của mỗi một cộng đồng cùng chia sẻ một điểm chung là hãy kiềm chế những thói quen có thể gây phiền cho những người khác (cho dù những lời để nghị này có khác nhau về mặt hình thức)

Nói cách khác, hành động hay hoạt động của con người được thực hiện bởi các ‘tác nhân’ (‘agents’), các cá nhân đóng các vai trò cụ thể Khi giữ vai người đưa tin trong giao tiếp, người ta cố gắng đưa vào thực tế những thông điệp cần chuyển tải nhờ phương tiện văn bản Các mục đích giao tiếp được nhắm tới những người đóng vai người nhận.Giao tiếp xẩy ra thông qua phương tiện và trong các tình huống bị giới hạn về không gian và thời gian.Mỗi một tình huống cụ thể quyết định người ta giao tiếp cái gì và như thế nào, và nó được thay đổi bởi những người tham gia giao tiếp Các tình huống không mang tính phổ quát mà luôn lồng khắc vào trong một môi trường văn hoá cụ thể, rồi đến lượt mình, nó lại đặt điều kiện cho tình huống tiếp theo Ngôn ngữ, do vậy, được coi là một phần của văn hoá.Và mỗi một hành động giao tiếp được đặt điều kiện bởi những câu thúc của tình huống-trong-văn hoá (the situation-in-culture) (Nord 1997)

Trang 3

Trong dịch thuật, người gửi và người nhận thuộc các nhóm văn hoá khác nhau trong

đó người gửi và người nhận,do vậy, cần được giúp đỡ từ một người nào đó nhờ quen biết với

cả hai ngôn ngữ và văn hoá, và đó chính là người sẵn sàng đóng vai người dịch hay người trung gian Trong khung cảnh chuyên nghiệp, người dịch thông thường không hành động với

tư cách vì cá nhân mình; họ được yêu cầu giữ vị trí “đứng giữa”, như người thứ ba giúp cho

cả người gửi và người nhận Từ quan điểm của người quan sát, bên thứ ba này sẽ đóng vai trò của “người được ủy quyền” (“commissioner”) hay “người khởi xướng” (“initiator”); Và đỗi với người dịch, họ sẽ là những “khách hàng” (“clinent”) Những người khởi xướng có thể có những mục đích giao tiếp của riêng mình hay họ có thể chia sẻ những mục đích của người gửi hay những mục đích của người nhận Dịch thuật, do vậy, bao cuốn trong nó một mục tiêu cụ thể mà có thể hoặc không có thể trùng hợp với mục tiêu mà những tham thể khác mong muốn đạt được

PHÂN LOẠI CÁC MỤC ĐÍCH GIAO TIẾP Các mô hình chức năng văn bản đa dạng có thể được sử dụng như các điểm khởi đầu cho một sự phân loại theo các mục đích giao tiếp Mô hình mà Nord đề xuất (ss Nord 1997) chỉ là một ví dụkhông hơn không kém Những điểm nổi trội của nó là một sự tập trung rõ ràngvào vấn đề dịch thuật và nó đủ đơn giản để ứng dụng không chỉ vào lĩnh vực đào tạo dịch thuật mà còn ở cáctrường hợp mang đặc tính chuyên môn Mô hình của Nord dựa vào mô hình logic của Karl Bühler (1934), người mà đã đưa ra một đề xuất rằng, ngôn ngữ có ba chức năng cơ bản: qui chiếu (refential), bộc lộ (expressive) và gọi tên (appellative) Nord phát triển thêm một chức năng khác mà dường như không có trong mô hình của Bühler, nhưng lại có trong mô hình chức năng ngôn ngữ của Roman Jakobson (1960): chức năng đưa đẩy (phatic function) Bốn chức năng này có thể được tách nhỏ thành các tiểu chức năng đa dạng, tập trung vào cái cách mà chúng được trình hiện trong văn bản, và cái cách mà chúng liên quan đến các vấn đề cụ thể của dịch thuật

OBJECT OF REFERENCE(đối tượng của qui chiếu)

Referential function (chức năng qui chiếu)

(chức năngbộc lộ)

Expressivefunctionappellative function (chức năng gọi tên)

SENDERRECEIVER(người nhận)

(chức năng đưa đẩy)

phatic function

Chức năng đưa đẩy (The phatic function)

Chức năng đưa đẩy nhằm mở đầu và kết thúc kênh giao tiếp giữa người gửi và người nhận, và đảm bảo chắc chắn cho mạch giao tiếp diễn ra thuận lợi cho đến khi hai bên đạt được mục đích của mình.Nó cũng định nghĩa và khuôn hình mối quan hệ xã hội giữa người gửi và người nhận.Chức năng đưa đẩy dựa vào sự qui ước của các phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và cận ngôn ngữ được sử dụng trong một tình huống cụ thể, tỉ như những cuộc nói chuyện xã giao (nói về thời tiết hay một câu tục ngữ /ngạn ngữ để mở đầu mộtcuộc giao tiếp).Sau đây là một tình huống có thực xẩy ra trong một dịp đón khách của một công ty du lịch ở Bremen (Đức)

SIGN

Trang 4

Xin chào mừng đến với Bremen! Có một câu tục ngữ như sau: “Vì bạn đã sửa soạn giường chiếu để ngủ nên bạn hãy nằm vào chỗ đã chọn” Do vậy chúng tôi hi vọng rằng khách sạn Hotel List sẽ là nơi các bạn nghỉ ngơi trong thời gian ở Bremen”

Mục đích của câu tục ngữ chỉ đơn giản là thiết lập một không khí thân thiện và hài hước Bản dịch sang tiếng Pháp có thể được coi là hoàn thành được chức năng mong đợi bởi

lẽ câu thành ngữ trong tiếng Pháp được sử dụng giống như trong các tình huống của câu tục ngữ tiếng Đức.Thế nhưng, trong tiếng Anh (và ngay cả đối với văn hoá Việt) thì nó lại không được như vậy Trong trường hợp này, câu tục ngữ lại có nghĩa là ngay từ đầu việc quyết định đến thăm Bremen đã là một sai lầm! Do vậy, nếu như trong văn hoá đích không có câu tục ngữ liên quan đến việc ngủ ngon trên những chiếc giường êm ái, chức năng đưa đón có thể đạt được nhờ việc mô tả một cuộc đi tản bộ hay thăm thú trong thành phố sẽ đem đến cho du khách những giấc ngủ ngon lành

Trong các văn bảnvới mục tiêu hướng về khán giả (đặc biệt trong giao tiếp trực diện), một trong những bình diện quan trọng của chức năng đưa đẩy chính là cách xưng hô đối với khán giả Điều này trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết khicác du khách đến từ các nước phương tây, hoặc châu Âu gặp nhiều rắc rối và bỡ ngỡ khi giao tiếp với những người ở các nước châu

Á, nơi mà rất nhiều các hình thức xưng hô, các kính ngữ đa dạng Thậm chí, theoNord (2002), khi so sánh ngôn ngữ Anh với các ngôn ngữ châu Âu khác có hơn một hình thức xưng hô (như ngôn ngữ Đức, Pháp, Tây Ban Nha, hay Đào Nha), chúng ta thấy một thực tế là người Anh thường sử dụng các dấu hiệu mang đặc trưng hình thức hay đời thường khác nhau, trong khi những người ở các nước châu Âu khác lại lựa chọn các đại từ và/hoặc hình thức của động

từ để chỉ rõ mối quan hệ giữa những người cùng tham gia giao tiếp

Chức năng Qui chiếu (The Referentiao Function)

Chức năng qui chiếu của một phát ngôn bao cuốn trong nó sự qui chiếu đối với các đối tượng và hiện tượng của thế giớitự nhiên (có thể đó là một thế giới tưởng tượng) Nó có thể được phân tích theotính chất của đối tượng hay vật chiếu có liên quan Nếu vật chiếu là một thực tế hay một trạng thái của sự vật mà người nhận không biết (ví dụ, một biến cố chính trị xẩy ra trước đó một ngày, hoặc đó là một sản phẩm mới nào đó vừa ra đời), chức năng văn bản có thể bao gồm việc tường trình lại hay mô tả; nếu như vật chiếu là một ngôn ngữ hay một sự sử dụng ngôn ngữ cụ thể, chức năng văn bản sẽ có thể là siêu ngôn ngữ; nếu như vật chiếu là cách vận hành đúng chiếc máy giặt hay vận hành đúng việc đóng hộp các hoa quả, chức năng văn bản sẽ là hướng dẫn Đương nhiên, một bảng danh sách các tiểu nhóm (cho dù nhiều đến mức nào đi chăng nữa) cũng sẽ không bao giờ có thể là cạn kiệt

Rõ ràng là, chức năng qui chiếu phụ thuộc vào việc hiểu toàn diện văn bản, mà, đến lượt mình, dựa vào việc liệu số lượng kiến thức tiền giả định có phù hợp với đối tượng khán giả hay không Chức năng qui chiếu có thể sẽlà vấn đề khi người nhận của văn bản gốc vàvăn bản đích không cùng chia sẻ một khối lượng kiến thức về cùng các đối tượng và hiện tượng được đề cập đến

Ví dụ: Vùng biển của Maine (The waters of Maine)(Maine là một tiểu bang trong

vùng New England của Hoa Kỳ Về phía nam và phía đông là Đại Tây Dương, phía đông bắc

là New Brunswick, một tỉnh của Canada)

Một kí giả người Mĩ trong khi đề cập đến cảm giác của mình trong giờ học tiếng Trung Quốc đã mô tả một trong bốn thanh điệu của tiếng Quan thoại bằng cách so sánh:

Trang 5

“Thanh điệu thứ ba đi lên Tôi nghĩ ngay đến tiếng gọi quay trở lại bờ khi đang bơi trong vùng biển của Maine.” Sự so sánh này sẽ không thể hiểu nổi đối với những người không biết một thực tế là nướcbiển nơi đây lạnh như băng

Chức năng Bộc lộ (The Expressive Function)

Trong mô hình của Nord, chức năng bộc lộ/biểu lộ/biểu cảm đề cập đến thái độ của người gửi đối với các đối tượng và hiện tượng của thế giới Chúng có thể được chia nhỏ tùy theo cái được biểu lộ Nếu người gửi biểu thị tình cảm hay cảm xúc cá nhân (tỉ như: trong một

lời cảm thán) chúng ta có thể nói về tiểu chức năng cảm xúc (emotive sub-function); nếu điều

được bộc lộ là một sự đánh giá (có lẽ về món canh mà người nói đang dùng bữa) tiểu chức

năng này sẽ là đánh giá Một tiểu chức năng khác là hài hước Đương nhiên, một văn bản cụ

thể có thể được thiết kế để mang theo một tổ hợp của một số chức năng hay các tiểu chức năng

Ví dụ: Une mort trés douce (cái chết êm dịu, ngọt ngào)

Trong tiêu đề Une mort trés douce của Simone de Beauvoir, tính từ douce (‘ngọt ngào’) bộc lộ một cảm xúc Bản dịch sang tiếng Anh A Very Easy Death (Một cái Chết Dễ

dàng) biểu lộ một sự một sự đánh giá, có lẽ từ phía người bác sĩ Bản dịch tiếng Đức

Ein sanfer Tod lại bao gộp cả hai bình diện vừa nêu trên bởi lẽ sanfer có thể có nghĩa là

‘ngọt ngào’ từ cách nhìn của người đang chết và ‘dễ dàng’ hay ‘không đau đớn’ từ một cách nhìn mang tính khách quan hơn

Chức năng bộc lộ có đặc trưng hướng người nói Quan điểm hay thái độ liên quan đến vật chiếu được dựa trên hệ thống giá trị được giả định là chung cho cả người gửi và người nhận Một sự bộc lộ hiển minh, như thấy trong ví dụ vừa dẫn, có thể được chuyền tải thậm chí cho một người mà không chia sẻ cùng một hệ thống giá trị như nhau Nhưng cũng tồn tại

những sự đánh giá ngầm ẩn, như trong The Gardol food-moth trap is completely natural(Bẫy

diệt sâu bướm bằng hóa chất Gardol hoàn toàn tự nhiên), chỉ có thể được thuyết giải một cách đúng đắn dưới ánh sáng của một hệ thống giá trị mà coi các sản phẩm tự nhiên là một cái

gì đó có giá trị tích cực

Ví dụ:

Ở Ấn Độ nếu một người so sánh đôi mắt của vợ mình với đôi mắt của con bò, có nghĩa là anh ta đang biểu thị sự ngưỡng mộ vẻ đẹp của vợ mình Ở Đức, những người

vợ sẽ không cảm thấy hạnh phúc nếu những người chồng của họ nói như vậy Họ thích thú khi đôi mắt của mình được ví với đôi mắt nai (nếu mắt của họ có màu nâu), hay màu xanh da trời (nếu có màu xanh) Ở Việt Nam, những người phụ nữ sẽ rất hài lòng

và sung sướng nếu đôi mắt của mình được ví với đôi mắt của chim bồ câu hay đôi mắt sắc như dao bổ cau (Đôi mắt em sắc như là dao cau – ca dao) Thậm chí, trong thơ ca, đôi mắt được ví với dòng song êm đềm (mắt em là một dòng sông, Thuyền ai bơi lội trong dòng mắt em!)

Chức năng Gọi tên (The Appelative Function)

Với đặc trưnghướng đếnsự nhậy cảm, haykhích lệ thực hiện hành độngcủa người nhận, chức năng gọi tên được thiết kế để thuyết phục họ phản ứng lại bằng một cách cụ thể nào đó.Nếu chúng ta muốn minh họa một giả thiết bằng một ví dụ, chúng ta hãygợi nhớ/nhắc đến

sự trải nghiệm hay kiến thức trước đó của người đọc; phản ứng dự định sẽ là sự nhận ra một

Trang 6

cái gì đó đã được biết đến từ trước Nếu chúng ta muốn thuyết phục ai đó làm việc gì, hay cùng chia sẻ một quan điểm cụ thể nào đó, chúng ta hãy gọi dậy trong họ những khát khao hay lí do thầm kín của họ.Nếu chúng ta mong muốn một ai đó mua một sản phẩm cụ thể, chúng ta hãy thức dậy trong họ những nhu cầu cụ thể hay tưởng tượng, mô tả các chất lượng của sản phẩm đó là có giá trị thực thụ đối với người nhận Nếu chúng ta muốn giáo dục một con người, chúng ta có thể làm thức dậy trong họ sự nhậy cảm đối với các nguyên tắc về đạo

lí, phẩm hạnh,v.v

Những sự chỉ rõ trực tiếp của chức năng khêu gọi có thể là những đặc trưng giống như

những câu cầu khiến, câu hỏi hay những động từ tình thái như must (phải) hay should (nên)

trong tiếng Anh Song, chức năng này cũng có thể đạt được một cách gián tiếp thông qua các phương tiện ngôn ngữ hay văn phong có khả năngchỉ rõ một chức năng qui chiếu hay bộc lộ,

tỉ như so sánh cực cấp, các tính từ hay các danh từ biểu thị các giá trị tích cực (chẳng hạn:

“hoàn toàn tự nhiên”) Chức năng khêu gọi có thể thậm chí thao tác trong ngôn ngữ thơ ca, có

khả năng gọi dậy trong người đọc những cảm xúc thẩm mĩ sâu sắc

Ví dụ:Nếu bạn là một người Mĩ sống ở nước ngoài và bạn muốn giữ liên lạc với người

thân, bạn thực sự cần đến AT &T Card (Tấm thẻ AT &T)

Các mục đích xuyên văn hoá(Purposes Across Cultures)

Sự phân loại các mục đích không phải là một loại hình học văn bản (text typology) giống như Reiss (1971 và một thời gian sau đó) đã đề xuất.Các văn bản không thông thường được chủ định chỉ dành cho một chức năng Ngược lại, chúng ta phát hiện ra rằng, hầu hết các văn bản trình hiện các chỉ tố của tất cả bốn hay ít nhất là ba trong số những chức năng cơ bản

đã được miêu tả và các tiểu chức năng tương ứng của chúng, mặc dù chúng ta có thể giả định rằng rất thường khi một trong số những chức năng này được giả định giữ vai trò chủ đạo (giống như chức năng khơi gợi-thuyết phục / appellative-persuasive function) trong một văn bản quảng cáo.Thậm chí, cái mà chúng tôi đọc chỉ đơn giản là một sự mô tảmột cách rõ ràng mang tính qui chiếucủa một sản phẩm

Chúng ta hãy xem điều gì xảy ra đối với chức năng được chủ định bởi người gửi thuộc

về văn bản gốc khi khán giả thuộc về một nền văn hoá khác, tức là trong dịch thuật

Chức năng đưa đẩy xuyên văn hoá (The Phatic Function Across Cultures)

Như đã thấy, chức năng đưa đẩy dựa vào sự qui ước hình thức (nghĩa là, các hình thức xưng - gọi) Nếu chúng ta mong muốn chức năng đưa đẩy cũng hoạt động bình thường trong một nền văn hoá khác, các thành viên của nền văn hoá này phải nhận ra được các hình thức qui ước của chức năng đưa đẩy Trong những trường hợp nơi mà văn hoá gốc và đích cùng chia sẻ cùng các chức năng đưa đẩy (những cuộc trao lời ngắn ngủi về thời tiết nhằm phá vỡ

sự im lặng giữa những người trước đó chưa gặp nhau), một sự tái tạo các hình thức của văn bản nguồn trong một ngôn ngữ khác sẽ hoàn toàn hữu hiệu Nhưng nếu không được như vậy, người dịch sẽ có hai sự chọn lựa:

• hoặc là điều chỉnh cho phù hợp các qui ước của văn hoá đích, do vậy làm cho chức năng đưa đẩy có tác dụng đối với độc giả tiếng đích (lựa chọn A)

• hoặc giải thích cho người nhận của ngôn ngữ đích các hình thức được sử dụng cũng

có cùng chức năng đưa đẩy như trong ngôn ngữ nguồn Trong trường hợp này, chức năng đưa đẩy của văn bản nguồn sẽ chuyển thành chức năng siêu đưa đẩy (meta-phatic function), mà,

Trang 7

trong thực tế sẽ là, qui chiếu: nói cho độc giả tiếng đích về chức năng đưa đẩy trong văn hoá nguồn làm việc như thế nào (lựa chọn B)

Chức năng Qui chiếu xuyên Văn hoá (The Referential Function Across Cultures)

Chức năng qui chiếu hoạt động trên cơ sở của thông tin được lời hoá trong văn bản cộng với thông tin không hiển minh bằng lời, bởi lẽ nó được giả định là đã rõ đối với độc giả (văn hoá nguồn) Trong giao tiếp liên ngôn ngữ, chức năng qui chiếu của văn bản nguồn cũng

sẽ hữu dụng đối với các thành viên của ngôn ngữ đích nếu (a) thông tin văn bản đủ tường minh, hoặc nếu độc giả tiếng đích đủ quen biết với đối tượng mà văn bản nguồn đề cập đến Nếu điều kiện này không được đáp ứng, người dịch có hai phương án lựa chọn:

• hoặc khai thácsố lượng thông tin tiền-giả định mà chỉ được đưa ra trong văn bản nguồn một cáchngầm ẩn, bằng cách này làm cho chức năng qui chiếu có giá trị đối với độc giả tiếng đích (lựa chọn A)

• hoặc giải thích chức năng qui chiếu của văn bản gốc cho những người nhận thuộc văn hoá tiếng đích, bằng cách cung cấp thông tin trong mộtsiêu văn bản (meta-text) (tỉ như, bảng từ vựng, lời chú thích, lời đầu sách), có khả năng thay đổi chức năng qui chiếu thành chức năng siêu-qui chiếu (lựa chọn B)

Chức năng Bộc lộ xuyên Văn hoá (The Expressive Function Across Cultures)

Chức năng bộ lộ có thể hoặc là tường minh hay ngầm ẩn Nếu là tường minh, nó hoạt động trên cơ sở các yếu tố ngôn ngữ mang tính cảm xúc hay đánh giá, và những yếu tố này có thể được chuyển tải sang tiếng đích Tuy nhiên, nếu như chức năng bộc lộ là ngầm ẩn, nó sẽ hoạt động trên nền tảng của hệ thống giá trị và cách nhìn được chia sẻ bởi người giử và người nhận.Trong giao tiếp liên văn hoá, điều này không gây ra bất kì vấn đề nào nếu hai nền văn hoá nguồn và đích cùng chia sẻ một hệ thống giá trị Nếu hệ thống này khác biệt, người dịch phải lựa chọn giữa hai chiến lược cơ bản:

• hoặckhai thác sự bộ lộ ngầm ẩn sao cho nó có thể được giải thuyết một cách đúng đắn bởi độc giả tiếng đích (lựa chọn A)

• hoặc giải thích sự bộ lộ của văn bản nguồn cho độc giả của văn bản đích trong dạng một lời bình siêu-bộc lộ (meta-expressive commentary), tỉ như, trong lời chú giải ở cuối trang (lựa chọn B)

Chức năng Khơi gợi xuyên Văn hoá (The AppelativeFunction Across Cultures)

Đối với chức năng khơi gợi, người gửi cần sự hợp tác của người nhận.Nếu như người nhận không muốn, hoặc không có khả nănghồi đáp lại lời kêu gọi, chức năng khơi gợi sẽ không hoạt động Nếu như các điều kiện cho một sự hồi đáp thích hợp (tỉ như sự nhậy cảm, kiến thức nền, sự trải nghiệm, các hệ thống giá trị, v.v.) không trùng khớp nhau hay ít nhất không giống nhau, trong tình huống của tiếng nguồn và tiếng đích, người dịch sẽ phải quyết định:

• hoặc làm cho lời kêu gọi có hiệu lực đối với độc giả tiếng đích bằng cách làm cho

nó phù hợp đối với các điều kiện của văn hoá tiếng đích (lựa chọn A)

• hoặc thay đổi chức năng khơi gợi thành chức năng siêu-khơi gợi bằng phương tiện của sự giải thích hay lời bình (lựa chọn B)

Trang 8

Chức năng siêu-khơi gợi có thể đạt tới một cái gì đó giống như sự giải thích tại sao một câu chuyện cười lại đem lại tiếng cười (mà điều này lại là cái giết chết chức năng khơi gợi của câu chuyện cười), nhưng ở trong một số tình huống cụ thể, đó là cái mà khách hàng mong muốn người dịch mang lại (nghĩa là, nếu họ muốn học về sự hài hước của một nền văn hoá khác)

Chức năng Loại hình của Dịch thuật (A Functional Typology of Translation)

Chúng ta nhận thấy rằng, “tương đương về chức năng” trong ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn là một vấn đề không hề đơn giản đối với người dịch.Nhưng trong rất nhiều nhiệm

vụ của dịch thuật mang tính nghề nghiệp, vấn đề tương đương không được đòi hỏi hoặc thậm chí không được mong muốn Hãy nghĩ về việc dịch một học bạ ở trường học mà bạn cần để xin cấp học bổng ở một trường đại học ở Đức Một học bạ ở một trường học ở Braxin không thể nào trở thành “Abituzeugnis” bằng cách dịch sang tiếng Đức Nó vẫn sẽ chỉ là một bản báo cáo về việc học ở trường ở Braxin; nó chỉ cung cấp thông tin cho bộ phận hành chính của trường đại học ở Đức về sự đánh giá về những thành tích trong học tập của bạn ở một trường tiền-đại học ở Braxin Có một phần thêm vào trong đó người dịch giải thích hệ thống cho điểm ở Braxin.Nó cũng không thực sự tương đương đối với nguyên bản, và đương nhiên nó cũng không được sử dụng để xin vào bất kì một trường đại nào ở Braxin

Hai sự lựa chọn mà người dịch có thể thực hiện Một sự chuyển đổi ngôn ngữ đơn giản của ngôn ngữ gốc không dẫn đến sự tương đương chức năng trong văn hoá tiếng đích, làm chúng ta nhớ lại sự phân chia do một số nhà lí thuyết dịch phát triển trong một vài trăm năm Đơn giản nghĩ về một số trong nhiều nhà lí thuyết dịch tên tuổi như:

• Cicero, người mà đã phân biệt giữa dịch thuật “giống như một nhà tu từ học” (lựa chọn A) hay “giống như một nhà dịch thuật” (lựa chọn B) (cf Ciciro 46 B.C.)

• Martin Luther, người mà đã phân biệt giữa “Ngôn ngữ Đức hoá” (lựa chọn A) và

“dịch thuật” (lựa chọn B) (cf Luther 1530)

• Schleiermacher, người mà nói về “đưa văn bản đến với người đọc” (lựa chọn A) hoặc “đưangười đọcđến vớivăn bản” (lựa chọn B) (cf Schleiermacher1838)

• Eugene A Nida với “chức năng” hay “tương đương động” (lựa chọn A) đối nghịch với “tương đương hình thức” (lựa chọn B) (cf Nida 1964) hay

• Lawrence Venuti với “nội hoá bản dịch”(lựa chọn A) đối nghịch với “ngoại hoábản dịch”(lựa chọn B) (Venuti 1995)

Trong hệ thuật ngữ của Nord, bà phân biệt giữa dịch tài liệu (“documentary translation”) và “dịch công cụ (instrumental translation”) (cf Nord 1989 và sau đó) Khác với các tác giả đã được nói ở phần trên, Nord không khẳng định,nhìn từ góc độ khái quát nhất, là loại này tốt hơn hay phù hợp hơn loại kia Tất cả phụ thuộc vào một đoản kết dịch thuật (translation brief), hoặc chính xác hơn, nó phụ thuộc vào những kết luận mà người dịch rút ra

từ đoản kết hay thông tin mà người dịch nhận được từ khách hàng về độc giả của văn bản dịch, mục đích hoặc các mục đích cần phải đạt được Phải chăng điều này có nghĩa là đem đến cho người nhận thông tin về cách thức mà một văn bản nguồn cụ thể làm việc hay đã làm cho độc giả của văn hoá nguồn, hay nó có chủ ý phục vụ với tư cách là một “công cụ” giao tiếp cho một giới độc giả cụ thể trong văn hoá đích hay giới độc giả chung trong ngôn ngữ đích? Sau khi thấu hiểu bản đoản kết dịch thuật, người dịch quyết định chiến lược dịch này haychiến lược dịch kia Do vậy, đến đâyvăn bản gốc không còn vai trò dẫn dắt người dịch mà

Trang 9

mục đích giao tiếp mà bản dịch tiếng đích cần đạt mới thực sự đóng vai trò qua trọng Vì vậy, dịch thuật là một hoạt động chuyên môn có mục đích

KẾT LUẬN

Để kết luận, hãy cho phép chúng tôi tóm tắt các nguyên tắc cơ bản của dịch chức năng

• Mục đích dịch thuật quyết định sự lựa chọn phương pháp và chiến lược dịch thuật (nguyên tắc chức năng)

• Tính khả chấp nhận của các mục đích dịch thuật được giới hạn bởi trách nhiệm của người dịch nhìn từ góc độ đối với các đối tác của người dịch trong hoạt động dịch mang tính hợp tác (nguyên tắc trung thành)

• Mục đích dịch thuật được xác định bởi đoản kết dịch thuật, mà (một cách tường minh hay ngầm ẩn) mô tả tình huống mà văn bản đích cần

• Nhân tố quan trọng nhất của tình huống đích này được xác định bởi đoản kết dịch thuật chính là chức năng hay thứ tự chức năng được kì vọng sẽ đạt được bởi văn bản đích

• Chức năng không phải là chất lượng của bản thân văn bản mà là cái được qui gán cho văn bản bởi người nhận khi tiếp nhận văn bản Như vậy, chính người nhận sẽ là người quyết định liệu (và như thế nào) một văn bản sẽ thực sự ‘hành chức” (đối với người đọc trong tình huống cụ thể)

• Một người tạo ra văn bản (và người dịch cũng như một người tạo ra văn bản) hướng đến mục tiêu tạo ra một văn bản sao cho người nhận ý thức được chức năngmà nó chủ định tạo ra Để có thể đạt được mục tiêu này, họ sử dụng những “yếu tố đánh dấu chức năng” bằng ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ Những yếu tố đánh dấu này chỉ có thể hiểu được đúng bởi người nhận, nếu chúng thuộc vào một “mã đánh dấu” mà họ đã biết

• Chức năng (hay một hệ thống thứ bậc các chức năng) được chủ định, và/hoặc đạt được bởi, văn bản gốc, chừng nào nó không bị đối đầu với, hoặc không tương hợp với, những chủ định giao tiếp của tác giả văn bản gốc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Reiss, K & Vermeer, H J 1984.Grundlegung einer allgemeinen Translation-

stheorie.Tübingen: Niemeyer

[2] Bühler, K 1934 Sprachtheorie Jena: Fischer

[3] Jakobson, R 1960 Linguistics and Poetics.In Sebeok, T A (Ed.).Style in Lan-

guage (pp 350-377) Cambridge Mass: MIT Press

[4] Luther, M 1530 Sendbrief vom Dolmetschen In St?rig, H J (Ed.), 1963 Das

Problem des Ubersetzens, Darmstadt: Wiss Buchgesellschaft

[5] Cicero, M T 46 B.C De Optimo Genere Oratorum English Translated by H.M

Hubbell London: Heinemann

[6] Nida, E A 1964 Toward a Science of Translating With Special Reference to

Principles and Procedures Involved in Bible Translating Leiden: Brill Nord, C

1989 Loyalit?t statt Treue Vorschl?ge für eine Funktionale Uber-setzungstypologie In:

Lebende Sprachen 34 (3): 100-105

[7] Nord, C 1997 Translating as a Purposeful Activity Functionalist Approaches

Explained.Manchester: St Jerome

[8] Nord, C 2002 Uber-Reden durch An-Reden Die Phatische Funktion als Mittel

zum Appell in Englischen, Spanischen und Deutschen Werbetexten In Linguistica

Antverpiensia New Series 1 (2002): 145-168

Trang 10

[9] Schleiermacher, F 1838 Ueber die Verschiedenen Methoden des Uebersezens,

reproduced in St?rig, H J (Ed.), 1963 Das Problem des Ubersetzens.Darmstadt: Wiss

Buchgesellschaft

[10] Venuti, L 1995 The Translator's Invisibility: A History of Translation London-

New York: Routledge

Abstract: Taking a prospective approach to translation, translators choosetheir

translation strategies according to the purpose or function the translated text is intended to fulfil for the target audience Since communicative pur- poses need certain conditions in order to work, it is the translator's task to analyse the conditions of the target culture and to decide whether, and how, the source-text purposes can work for the target audience according to the speci- fications of the translation brief If the target-culture conditions differ from those of the source culture, there are usually two basic options: either to trans-form the text in such a way that it can work under target-culture conditions (= instrumental translation), or to replace the source-text functions by their re- spective meta-functions (= documentary translation)

Keyword: offer information, communicative function, translation strategy,

documentary translation, instrumental translation, translation brief

Ngày đăng: 14/11/2016, 17:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w