1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học của giảng viên trong các trường đại học ngoài công lập (nghiên cứu trường hợp trường đại học quốc tế hồng bàng)

97 353 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN DIỆU NGUYỆT THU GẮN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỚI ĐÀO TẠO NHẰM THÚC ĐẨY VIỆC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN T

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN DIỆU NGUYỆT THU

GẮN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỚI ĐÀO TẠO NHẰM THÚC ĐẨY VIỆC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN DIỆU NGUYỆT THU

GẮN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỚI ĐÀO TẠO NHẰM THÚC ĐẨY VIỆC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Xuân Hằng

Hà Nội, 2016

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

3 Mục tiêu nghiên cứu 13

4 Phạm vi nghiên cứu 14

5 Chọn mẫu khảo sát 14

6 Câu hỏi nghiên cứu 14

7 Giả thuyết nghiên cứu 14

8 Phương pháp nghiên cứu 15

9 Kết cấu của Luận văn 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GẮN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỚI ĐÀO TẠO 16

1.1 Khái quát về hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo 16

1.1.1 Hoạt động nghiên cứu khoa học 16

1.1.1.1 Khoa học 16

1.1.1.2 Nghiên cứu khoa học 16

1.1.1.3 Phân loại hoạt động nghiên cứu khoa học 17

1.1.1.4 Hoạt động nghiên cứu khoa học 17

1.1.1.5 Kết quả nghiên cứu 19

1.1.1.6 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học 19

1.1.1.7 Các nguồn lực nghiên cứu khoa học 21

1.1.2 Hoạt động đào tạo 25

1.1.2.1 Đào tạo 25

1.1.2.2 Chất lượng đào tạo 26

1.1.2.3 Giảng viên nguồn nhân lực đào tạo 29

1.1.2.4 Đặc điểm của đào tạo theo tín chỉ 31

1.2 Mối quan hệ giữa hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo 34

1.2.1 Mục đích nghiên cứu khoa học 34

1.2.1.1 Nghiên cứu mở rộng kiến thức 35

1.2.1.2 Nghiên cứu tạo ra các sản phẩm mới 35

1.2.1.3 Nghiên cứu phục vụ nâng cao chất lượng giảng dạy 35

1.2.2 Tầm quan trọng của việc gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo 36

1.3 Những yếu tố tác động đến hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên 38

* Tiểu kết Chương 1 39

Trang 4

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỚI ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG

BÀNG 40

2.1 Tổng quan về Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng 40

2.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển trường 40

2.1.2 Cơ cấu tổ chức trường 41

2.2 Các nguồn lực trong việc tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo của giảng viên Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng 42

2.2.1 Nguồn nhân lực 42

2.2.2 Nguồn vật lực 45

2.2.3 Nguồn tài lực 46

2.2.4 Nguồn tin lực 47

2.3 Thực trạng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học với đào tạo của Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng 49

2.3.1 Hoạt động tổ chức hội thảo, tọa đàm khoa học 49

2.3.2 Hoạt động triển khai các chương trình, đề tài khoa học 50

2.3.3 Xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình, tài liệu và sản xuất các ấn phẩm khoa học 51

2.3.4 Nhận thức của giảng viên về hoạt động nghiên cứu khoa học 51

2.3.5 Động cơ tham gia nghiên cứu khoa học của giảng viên 51

2.3.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên 53

2.3.7 Khó khăn trong hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên 53

2.3.8 Nguyên nhân giảng viên chưa tích cực tham gia nghiên cứu khoa học 54

2.3.9 Đánh giá chung 55

* Tiểu kết Chương 2 57

CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG QUY CHẾ ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀO ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG 58

3.1 Quy chế hoạt động nghiên cứu khoa học 58

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lý 58

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 59

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 59

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 60

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 60

3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 61

Trang 5

3.2 Vai trò của Quy chế hoạt động nghiên cứu khoa học 61

3.3 Đề xuất các nội dung của quy chế 62

* Tiểu kết Chương 3 81

KẾT LUẬN 83

KHUYẾN NGHỊ 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 88

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Tham gia lớp Cao học Quản lý Khoa học và Công nghệ, với sự giảng dạy tận tình của quý thầy/cô Trường ĐH KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội đã bổ sung cho tôi một số kiến thức về hoạt động khoa học và công nghệ

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Phạm Xuân Hằng, Khoa Khoa học quản lý, Trường ĐH KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội đã hết lòng giúp

đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này

Trân trọng tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Văn Hải, PGS.TS Đặng Ngọc Dinh, TS Trịnh Ngọc Thạch, TS Đào Thanh Trường, TS Nguyễn Mạnh Dũng, đã tận tình góp ý cho việc nghiên cứu, viết báo cáo góp phần hoàn chỉnh luận văn

Chân thành cảm ơn quý thầy/cô Khoa Khoa học Quản lý, Phòng Đào tạo Sau đại học của Trường ĐH KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội, Trường ĐH KHXH&NV TP.Hồ Chí Minh, các anh/chị học viên Cao học ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ khóa QH-2012-X đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt khóa học

Tôi cũng xin cảm ơn Lãnh đạo Nhà Trường , quý thầy/cô và các đồng nghiệp của Trường ĐHQT Hồng Bàng đã hỗ trợ cho việc cung cấp tài liệu giúp tôi hoàn thành luận văn

Sau cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh/chị học viên Cao học ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ khóa QH-2012-X đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt khóa học này./

Học viên

Nguyễn Diệu Nguyệt Thu

Trang 7

KHXH&NV: Khoa học xã hội và nhân văn

and Cultural Organization

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Mô hình tổ chức Trường ĐHQT Hồng Bàng 42

Bảng 2.2: Độ tuổi và giới tính 43

Bảng 2.3: Thâm niên công tác của giảng viên 44

Bảng 2.4: Cơ cấu trình độ chuên môn, học hàm, học vị 44

Bảng 2.5: Kinh phí của trường ĐHQT Hồng Bàng các năm 47

Bảng 2.6: Số lượng các bài báo cáo của giảng viên trường ĐHQT Hồng Bàng 50

Bảng 2.7: Nhận thức của giảng viên về hoạt động NCKH 51

Bảng 2.8: Động cơ tham gia NCKH của giảng viên 52

Bảng 2.9: Các yếu tố ảnh hưởng hoạt động NCKH của giảng viên 53

Bảng 2.10: Nguyên nhân giảng viên chưa tích cực tham gia NCKH 54

Bảng 3.1: Số giờ nhiệm vụ tham gia NCKH của giảng viên 69

Bảng 3.2: Khung định mức giờ chuẩn giảng dạy của giảng viên 69

Bảng 3.3: Khung định mức quy ra giờ chuẩn 70

Bảng 3.4: Khung định mức giờ chuẩn giảng dạy đối với giảng viên được bổ nhiệm công tác khác 71

Bảng 3.5: Khung định mức giờ chủ nhiệm 71

Bảng 3.6: Bảng đối tượng miễn giảm 71

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, bất cứ một trường đại học nào cũng đều có hai nhiệm vụ chính

và quan trọng nhất đó là đào tạo và NCKH Đây là hai hoạt động có mối quan

hệ hữu cơ, hai nhiệm vụ cơ bản chiến lược của nhà trường, trong đó việc đẩy mạnh giảng viên nhà trường tích cực tham gia các hoạt động NCKH là một trong những biện pháp quan trọng và cần thiết để hướng đến nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng khắt khe của xã hội

Thực tiễn và lý luận đều chứng minh một cách rõ ràng rằng, NCKH và giảng dạy có mối quan hệ hữu cơ với nhau, gắn kết chặt chẽ với nhau và hỗ trợ cho nhau NCKH tạo cơ sở, điều kiện, tiền đề nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy ở trên lớp Ngược lại, công tác giảng dạy phản ánh kết quả của hoạt động NCKH Do vậy, có thể khẳng định rằng, cùng với hoạt động giảng dạy, NCKH là thước đo năng lực chuyên môn của GV

Ở các trường đại học ngoài công lập luôn song hành hai hoạt động giảng dạy và NCKH, hai hoạt động này bổ trợ cho nhau Không thực hiện tốt hoạt động NCKH thì không thể nói đến chất lượng đào tạo cao, trong khi chất lượng đào tạo quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi trường Tham gia hoạt động NCKH vừa là tiêu chuẩn vừa là nhiệm vụ đối với mỗi GV

Vì vậy, hoạt động này có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng đối với cả nhà trường và GV Đây là con đường ngắn và nhanh nhất, tiết kiệm nhất để nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực đó chính là đẩy mạnh các hoạt động NCKH trong trường đại học Khi uy tín thương hiệu đã được xã hội thừa nhận thông qua chất lượng đào tạo thì nhà trường không chỉ thuận lợi trong tuyển sinh đầu vào mà cơ hội việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp cũng tăng cao Đây cũng là điều kiện để tăng cường quan hệ hợp tác, liên kết quốc tế về đào tạo

và NCKH cũng sẽ được mở rộng

Bên cạnh đó kết quả hoạt động NCKH của nhà trường là một tiêu chuẩn quan trọng trong kiểm định chất lượng đào tạo theo quy định của Bộ GD&ĐT

Trang 10

để xếp loại nhà trường Nếu không thực hiện nghiêm túc tiêu chuẩn này sẽ ảnh hưởng xấu đến uy tín, thương hiệu nhà trường với xã hội

Trong nhà trường nhiệm vụ của người thầy là truyền thụ kiến thức mới cho người học nên trước tiên người thầy phải nghiên cứu, tìm tòi để hiểu biết sâu sắc, đầy đủ về vấn đề mà mình định giảng dạy sau đó người thầy phải tìm

ra phương pháp tối ưu để giúp người học tiếp thu tốt Như vậy, một bài giảng hay là kết quả của một quá trình nghiên cứu nghiêm túc và công phu Bên cạnh đó thông qua hoạt động NCKH sẽ giúp cho GV tự tin hơn trong công việc, tự khẳng định mình với đồng nghiệp, với người học và xã hội

Tham gia hoạt động NCKH là cách tự bồi dưỡng tốt nhất để GV tự nâng cao trình độ Thông qua hoạt động NCKH mỗi GV nhận ra hạn chế vốn tri thức của mình để kịp thời khắc phục, bổ sung và hoàn thiện Với sự phát triển nhanh chóng của KH&CN, kiến thức đã có sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu, chỉ có thông qua hoạt động NCKH mới bắt buộc GV tự tìm tòi, cập nhật kiến thức mới và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, khi đó sản phẩm có được là các bài giảng chất lượng cao, tài liệu giảng dạy, sách giáo khoa chuyên ngành hoặc các công trình, bài báo khoa học…luôn mới phù hợp với thực tiễn

Tuy nhiên, trên thực tế giáo dục hiện nay ở nước ta đang thể hiện sự bất cập giữa NCKH và giảng dạy trong đội ngũ GV Nhiểu GV trong trường đại học thường theo đuổi hướng nghiên cứu khác xa với môn học do mình đảm nhiệm nên mục tiêu “bổ sung cho nội dung giảng dạy” sau khi nghiên cứu không đem lại kết quả Cũng tương tự như vậy, trong một số trường đại học chưa gắn kết, sử dụng các kết quả nghiên cứu phục vụ cho công tác giảng dạy Người giảng dạy vẫn giảng dạy, còn người nghiên cứu vẫn nghiên cứu một cách độc lập và tách rời nhau Chính vì vậy chất lượng đề tài còn thấp, khả năng ứng dụng của một số đề tài NCKH còn nhiều hạn chế, v.v…

Chính vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “ Gắn kết quả nghiên cứu với

đào tạo nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học của giảng viên trong các trường đại học ngoài công lập (Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng)” Ở đây chỉ khảo sát trường hợp tại Trường ĐHQT

Trang 11

Hồng Bàng để làm cơ sở cho luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ, chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong những thập niên gần đây, KH&CN phát triển với tốc độ nhanh

và mạnh chưa từng có, tạo ra những cú đột phá làm thay đổi đáng kể diện mạo cuộc sống của con người Khi nền kinh tế phát triển nhu cầu một xã hội

có nền tri thức cao đang dần trở nên quan trọng Số lượng các trường Đại học cũng tăng cao kéo theo đó là chất lượng giáo dục đại học là vấn đề được xã

hội quan tâm nhất hiện nay

Đối với các trường đại học công việc giảng dạy và NCKH là hai hoạt động cơ bản gắn kết với nhau, có vai trò tác động qua lại và định chế lẫn nhau Trong đó chất lượng giảng dạy của GV cũng phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng nghiên cứu, có nghiên cứu tốt thì mới có bài giảng có chất lượng

và phong phú Chính vì vậy hoạt động NCKH từ lâu đã là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà giáo và các nhà quản lý giáo dục Cho đến nay đã có nhiều đề tài, công trình NCKH để nhằm đẩy mạnh công tác giảng dạy và NCKH của GV trong các trường đại học, cụ thể là:

- Nguyễn Thị Thanh Nga (2007), Quản lý hoạt động giảng dạy và

NCKH của giảng viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM, Luận văn

Ths Ngành Quản lý Giáo dục; Mã số: 5.07.03 Nghiên cứu tài liệu để hình thành cơ sở lý luận về vấn đề quản lý hoạt động giảng dạy và NCKH của GV trong các trường đại học, từ việc khảo sát thực trạng công tác quản lý của cán

bộ quản lý đối vối hoạt động giảng dạy và NCKH của GV Trường đã đề xuất một số giải pháp để đẩy mạnh công tác quản lý đối với hoạt động giảng dạy

và NCKH của GV Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM [25]

- Phạm Hồng Trang (2009), Giải pháp đảm bảo các kết quả nghiên cứu

khoa học của giảng viên Trường đại học Lao động - Xã hội được ứng dụng vào thực tiễn, Luận văn Ths Ngành Quản lý KH&CN; Mã số: 60 34 72

Trình bày khái niệm kết quả NCKH, hệ thống đổi mới quốc gia, chính sách đổi mới, lý thuyết liên kết và kinh nghiệm của một số trường đại học về đảm

Trang 12

bảo việc ứng dụng kết quả NCKH Nghiên cứu thực trạng ứng dụng kết quả NCKH của GV vào thực tiễn ở Trường đại học Lao động - Xã hội Đề xuất các nhóm giải pháp đảm bảo kết quả NCKH của GV trường Đại học Lao động - Xã hội được ứng dụng vào thực tiễn: Nhóm giải pháp đảm bảo cầu về vấn đề nghiên cứu gồm: xây dựng định hướng nghiên cứu, tìm đầu ra cho sản phẩm nghiên cứu và quảng bá kết quả NCKH của nhà trường; Nhóm giải pháp đảm bảo chất lượng nghiên cứu gồm: nâng cao năng lực nghiên cứu cho

GV, tạo quỹ thời gian nghiên cứu, tạo động cơ nghiên cứu, hợp tác quốc tế và đổi mới công tác quản lý NCKH [31]

- Lê Yên Dung (2010), Mô hình quản lý hoạt động NCKH trong ĐH đa

ngành đa lĩnh vực, Luận án TS Ngành Quản lý giáo dục; Mã số: 62 14 05 01

Đề xuất mô hình và các giải pháp triển khai quản lý hoạt động NCKH trong Đại học đa ngành đa lĩnh vực, phù hợp với thực tiễn giáo dục đại học Việt Nam; góp phần nâng cao chất lượng NCKH và đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội, tiến tới hội nhập nền giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới [6]

- Phạm Tuấn Anh (2010), Biện pháp quản lý hoạt động NCKH của GV

Trường Đại học Thể dục thể thao Đà Nẵng, Luận văn Ths Ngành Quản lý

giáo dục; Mã số: 60 14 05 Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng quản lý hoạt động NCKH của GV Trường Đại học Thể dục thể thao Đà Nẵng, đề xuất những biện pháp cải tiến công tác quản lý hoạt động NCKH nhằm nâng cao chất lượng NCKH của GV [1]

- Nguyễn Chí Phương (2011), Nâng cao năng lực tổ chức NCKH của

Trường Đại học Mở TP.HCM, Luận văn Ths Ngành Quản lý KH&CN; Mã

số: 60 34 72 Luận văn tìm hiểu và phát hiện những yếu tố tích cực, nhất là

những yếu tố bất cập, những vấn đề cần giải quyết trong việc tổ chức NCKH

ở Trường Đại học Mở TP.HCM giai đoạn 2006 - 2010 và từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực tổ chức NCKH của Trường…[28]

- Nguyễn Đình Chương (2011), Chính sách khuyến khích giảng viên trẻ

tham gia NCKH, Luận văn Ths Ngành Quản lý KH&CN; Mã số: 60 34 72

Tìm hiểu hệ thống lý thuyết về NCKH; vai trò của NCKH trong trường đại

Trang 13

học và đối với GV trẻ Phân tích thực trạng hoạt động NCKH của GV trẻ (qua khảo sát và nghiên cứu Trường Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I),

đề xuất những chính sách để khuyến khích GV trẻ tham gia NCKH [5]

- Trần Thị Hồng (2012), Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả

NCKH của ngành khoa học xã hội tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên, Luận văn Ths Ngành Quản lý KH&CN; Mã số: 60 34 72 Làm

rõ cơ sở lý luận của xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả NCKH ngành khoa học xã hội (thao tác hóa một số khái niệm liên quan đến đề tài như khái niệm khoa học, NCKH, tiêu chí, đánh giá, kết quả NCKH,… làm rõ đặc điểm hoạt động NCKH xã hội, yêu cầu về tiêu chí đánh kết quả NCKH xã hội), thực trạng việc đánh giá kết quả NCKH xã hội tại trường ĐH Khoa học,

ĐH Thái Nguyên, xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng các kết quả NCKH xã hội ở trường ĐH Khoa học, ĐH Thái Nguyên [20]

- Vưu thị Thùy Trang (2012), Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động

NCKH của GV Trường Đại học Bách khoa - ĐHQG TP.HCM, Luận văn Ths

Ngành Đo lường và đánh giá trong giáo dục Đề tài nhằm nghiên cứu các yếu

tố ảnh hưởng đến GV Trường Đại học Bách Khoa - ĐHQG TP.HCM thực hiện NCKH, thông qua đó so sánh đánh giá của GV giữa các nhóm ngành khoa học khác nhau, GV giữa các nhóm có năng suất nghiên cứu khác nhau;

từ đó đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến công tác NCKH tại trường [32]

- Nguyễn Đức Minh (2013), Phát triển NCKH nhằm nâng cao chất

lượng đào tạo Trường Đại học Hồng Bàng, Luận văn Ths Ngành Quản lý

KH&CN; Mã số: 60 34 72 Đã đánh giá khá một cách toàn diện về thực trạng hoạt động NCKH của GV Trường Đại học Hồng Bàng TP.HCM, tìm ra những lợi thế, phân tích những yếu kém, những cơ hội và thách thức, từ đó đề xuất sử dụng các biện pháp quản lý tổ chức để thúc đẩy GV gắn kết hoạt động NCKH với giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Đại học Hồng Bàng TP.HCM, giai đoạn 2013 - 2020 [24]

Ngoài các luận văn trên, còn có nhiều bài viết và bài tham luận trong các hội thảo liên quan đến thực trạng NCKH trong các tổ chức giáo dục như:

Trang 14

- Nguyễn Ngọc Hòa (2007), Đánh giá hoạt động giảng dạy và NCKH

của GV Đại học, Tạp chí luật học (Số 07) Bài viết xây dựng bộ tiêu chí để

đánh giá hoạt động giảng dạy và NCKH của GV là hoạt động cần thiết của mỗi trường đại học góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo [ 19]

- Lê Hữu Ái, Lâm Bá Hòa (2010), NCKH - yêu cầu bắt buộc đối với đội

ngũ GV trong các Trường Đại học, Tạp chí KH&CN, Đại học Đà Nẵng (Số

04 (39)) NCKH của đội ngũ GV là tiêu chí để đánh giá chất lượng đào tạo đại học, nhất là trong bối cảnh hiện nay Bài báo phát họa thực trạng công tác NCKH của đội ngũ GV trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay, phân tích nguyên nhân và đề xuất các giải pháp để nhằm nâng cao được chất lượng đào tạo đại học Với mục tiêu xây dựng Đại học nghiên cứu hiện nay, theo chúng tôi cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp: Phát huy mạnh mẽ vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học; tôn vinh cán bộ khoa học bằng cả vật chất lẫn tinh thần; đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học; tạo dựng đội ngũ cán bộ khoa học đông đảo về số lượng nhưng phải gắn liền với chất lượng Chỉ có như vậy mới có thể tạo ra được nguồn nhân lực có chất lượng,

đủ sức cạnh tranh trong thời đại mà quá trình phân công lao động đang diễn ra ngày càng sâu sắc dưới tác động của toàn cầu hóa [2]

- Phan Thị Tú Nga, Đại học Huế (2011), Thực trạng và các biện pháp

nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH của GV Đại học Huế, Tạp chí khoa học

(Số 68) Bài báo này nhằm đánh giá thực trạng hoạt động NCKH của GV tại Đại học Huế, trên cơ sở phân tích thực trạng, đề xuất các biện pháp nhằm tháo

gỡ và thúc đẩy hoạt động này hiệu quả hơn [26]

- Võ Văn Nhị (2013), Một số ý kiến về tình hình NCKH trong các

Trường Đại học ở nước ta, Kỷ yếu hội nghị khoa học Bài viết đưa ra một số

nhận xét về hoạt động NCKH trong các trường đại học và trong GV có tính chất trao đổi nhằm qua đó tìm ra các giải pháp để đẩy mạnh hoạt động NCKH trong các trường đại học của nước ta trong giai đoạn hiện nay [27]

Trang 15

- Nguyễn Trọng Tuấn (2013), Thực trạng kĩ năng NCKH của GV ngoài

công lập tại TP.HCM, Tạp chí khoa học ĐH Sư Phạm TP.HCM (Số 50) Bài

viết trình bày kết quả khảo sát thực trạng kĩ năng NCKH của GV ngoài công lập tại TP.HCM Theo kết quả thu được, GV tự đánh giá kĩ năng NCKH là khá, tuy nhiên hứng thú trong NCKH chỉ đạt mức trung bình Trong 9 kĩ năng NCKH của GV thì chỉ có duy nhất kĩ năng viết đề cương NCKH đạt mức tốt

Số lượng đề tài thực hiện khá khiêm tốn cũng dẫn đên sự hạn chế về kĩ năng NCKH của GV ngoài công lập tại TP.HCM [33]

- Trần Mai Ước (2013), NCKH của GV - yếu tố quan trọng góp phần

nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường ĐH trong giai đoạn hiện nay,

Bản tin khoa học và giáo dục Thực tiễn cho thấy rằng các hoạt động NCKH của GV tại các trường đại học là rất quan trọng và cần thiết Theo tác giả, đây

là cơ sở để thực hiện phương pháp giảng dạy, giúp nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Bài viết chia sẽ suy nghĩ của tác giả về những lợi ích và bất cập, hạn chế của sự tham gia tích cực trong NCKH, trong đó cung cấp các giải pháp cơ bản để góp phần vào việc thúc đẩy các hoạt động NCKH của GV, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo [34] Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm thúc đẩy việc NCKH của GV trong các trường đại học ngoài công lập

Đề tài này nhằm xây dựng quy chế hoạt động NCKH cụ thể, phù hợp để gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm thúc đẩy việc NCKH của GV Trường ĐHQT Hồng Bàng đạt kết quả cao hơn, góp phần xây dựng nhà trường ngày một lớn mạnh Mặc dù có nhiều khó khăn, trở ngại nhưng tác giả mạnh dạn đưa ra quy chế có tính chất cải tiến mạnh mẽ hiện trạng của hoạt động NCKH vốn còn nhiều bất cập hiện nay ở trường ĐHQT Hồng Bàng

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở NCKH của GV nhằm hướng tới nâng cao chất lượng của trường đại học ngoài công lập nói chung, Trường ĐHQT Hồng Bàng nói riêng

Trang 16

Nhiệm vụ:

- Nghiên cứu những khái niệm cơ bản của vấn đề gắn kết quả NCKH với đào tạo của trường đại học Đồng thời nghiên cứu tác động của hoạt động NCKH

- Trên cơ sở hệ thống khái niệm cơ bản, đi sâu nhận diện thực trạng của việc ứng dụng kết quả nghiên cứu với đào tạo của trường ĐHQT Hồng Bàng

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, đề xuất xây dựng các quy chế hoạt động NCKH để gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở trường ĐHQT Hồng Bàng, giai đoạn 2015 - 2020

- Thời gian nghiên cứu được thực hiện trong năm 2014 đến năm 2015

5 Chọn mẫu khảo sát

Đề tài nghiên cứu thực hiện điều tra khảo sát bằng phiếu đối với 150 GV

cơ hữu tại các khoa và phỏng vấn sâu 50 cán bộ trong Trường Việc khảo sát giúp tác giả có cái nhìn tổng quan về hoạt động NCKH và đào tạo, cũng như việc gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo của GV Trường ĐHQT Hồng Bàng

6 Câu hỏi nghiên cứu

Làm thế nào để gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm thúc đẩy việc NCKH của GV tại Trường ĐHQT Hồng Bàng?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Để gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhà trường phải xây dựng quy chế hoạt động NCKH đối với GV của trường cần triển khai các giải pháp sau:

- Quy định trách nhiệm NCKH của GV

- Quy định quy trình tổ chức NCKH

- Chính sách khuyến khích hỗ trợ GV thực hiện các hoạt động NCKH

Trang 17

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích các nguồn tư liệu, số liệu

sẵn có về các đề tài, các dự án nghiên cứu, tài liệu hội thảo, báo cáo tổng kết thường niên, khen thưởng cuối năm, báo cáo tự đánh giá kiểm định chất lượng có liên quan đến hoạt động NCKH của trường và thông tin từ mạng Internet…

- Phương pháp điều tra bảng hỏi: gửi 150 phiếu điều tra các GV ở các

khoa tại 10 cơ sở của Trường ĐHQT Hồng Bàng, số phiếu thu về 146 (đạt tỉ

lệ 97.3%) Khi tiến hành điều tra, tác giả làm phiếu điều tra không bắt buộc ghi tên người điều tra, điều này nhằm thu thập thông tin một cách khách quan Tổng hợp, phân tích và đánh giá tình hình hoạt động NCKH, khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào đào tạo của Trường ĐHQT Hồng Bàng

- Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả tiếp cận phỏng vấn sâu 50 cán bộ

quản lý, phiếu điều tra được thiết kế theo hướng câu hỏi mở để khảo sát ý kiến của đại diện các khoa và ban ngành, nhằm đánh giá sâu hơn vào việc quản lý hoạt động NCKH và đào tạo của Trường ĐHQT Hồng Bàng

- Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát các hoạt động quản lý NCKH

của lãnh đạo nhà trường và các cán bộ quản lý, tham dự các hoạt động khoa học

ở nhà trường như nghiên cứu các đề tài, tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học; trên cơ sở đó phát hiện ra những việc họ làm được và chưa làm được, những vấn đề cần giải quyết để rút ra những kết luận cần thiết

- Phương pháp thống kê: thống kê, phân tích những dữ liệu thu được

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo thì luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc gắn kết quả NCKH với đào tạo

Chương 2: Thực trạng ứng dụng kết quả NCKH với đào tạo của trường ĐHQT Hồng Bàng

Chương 3: Xây dựng quy chế ứng dụng kết quả NCKH vào đào tạo của trường ĐHQT Hồng Bàng

Trang 18

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GẮN KẾT QUẢ NGHIÊN

CỨU KHOA HỌC VỚI ĐÀO TẠO 1.1 Khái quát về hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo

1.1.1 Hoạt động nghiên cứu khoa học

Hoạt động NCKH là tổng hợp tất cả hoạt động mang tính khoa học nhằm phát hiện cũng như tạo ra những quy luật, mô tả, giải thích nguyên nhân vận động của sự vật, hiện tượng hoặc sáng tạo nguyên lý, những giải pháp, bí quyết, sáng chế,… và có tính ứng dụng trong thực tiễn

1.1.1.1 Khoa học

Khoa học là “hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự

vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy” Đây

cũng là khái niệm được sử dụng rộng rãi và được UNESSCO sử dụng trong các văn bản chính thức của mình [8; tr.12]

1.1.1.2 Nghiên cứu khoa học

Hiện nay, ở nước ta còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm NCKH:

Luật KH&CN năm 2013 đưa ra khái niệm “NCKH là hoạt động khám

phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn” [1; điều 2]

Cũng theo những quan điểm trên, Vũ Cao Đàm “NCKH là sự phát hiện

bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người Về mặt thao tác, có thể định nghĩa, NCKH là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần khám phá” [8; tr.35]

Trong khuôn khổ luận văn này, NCKH là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất

sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương

Trang 19

tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn nhằm ứng dụng vào thực tiển phục vụ mục đích của con người

1.1.1.3 Phân loại hoạt động nghiên cứu khoa học

Theo quan niệm của Vũ Cao Đàm, NCKH được chia làm 3 loại: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai, gọi chung là nghiên cứu và triển khai, viết tắt tiếng Anh là R&D

- Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính,

cấu trúc, động thái các sự vật Kết quả nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết mới

- Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ

nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật hoặc tạo ra những nguyên lý mới

về các giải pháp

- Triển khai là sự vận dụng các lý thuyết để đưa ra các vật mẫu và công

nghệ sản xuất vật mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật Hoạt động triển khai gồm 3 giai đoạn:

1/.Tạo mẫu: là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được sản phẩm mẫu, chưa quan tâm đến quy trình hình thành mẫu đó

2/.Tạo quy trình: còn gọi là giai đoạn “làm pilot”, là giai đoạn tìm kiếm

và thử nghiệm công nghệ để sản xuất ra sản phẩm theo mẫu vừa thành công trong giai đoạn thứ nhất (giai đoạn tạo mẫu)

3/.Làm thí điểm loạt nhỏ: còn gọi là làm “Série 0” Đây là giai đoạn kiểm chứng độ tin cậy của quy trình trên quy mô nhỏ [8; tr.41]

1.1.1.4 Hoạt động nghiên cứu khoa học

Hoạt động NCKH chính là các hoạt động chủ trì thực hiện chương trình,

dự án, đề tài NCKH các cấp; hoạt động phát triển công nghệ, dự án sản xuất thử nghiệm, dự án ươm tạo công nghệ; thực hiện các hợp đồng KH&CN; hoạt động viết giáo trình, sách và công bố các kết quả nghiên cứu trên tạp chí khoa học, báo cáo tại các hội thảo khoa học trong và ngoài nước, hướng dẫn sinh viên NCKH Hoạt động NCKH bao gồm các nhân tố:

Trang 20

- Chủ thể của NCKH: Theo quan điểm hàn lâm NCKH là của các nhà

khoa học có phẩm chất trí tuệ và tài năng đặc biệt, được đào tạo chu đáo Quan điểm này không sai, nhiều nhà khoa học tài năng đã có những phát minh đóng góp lớn cho khoa học của nhân loại; nhưng chúng ta không nên quan niệm NCKH là của riêng nhà khoa học “thực thụ”, trong thực tế cũng có những người sản xuất bình thường có thể NCKH, họ thử nghiệm để tìm kiếm những cái mới phục vụ cho sản xuất và đời sống Ngoài ra với sự cần thiết liên kết đa ngành, chủ thể nghiên cứu có khi là một tập thể

- Mục đích của NCKH: Là tìm tòi, khám phá các quy luật vận động của

thế giới tự nhiên và xã hội, nhằm ứng dụng chúng vào sản xuất hay tạo ra những giá trị tinh thần, thỏa mãn nhu cầu của con người NCKH không chỉ đơn thuần để nhận thức thế giới mà còn phục vụ lợi ích của xã hội, con người

- Phương pháp NCKH: Là con đường, giải pháp tiếp cận để phát hiện

bản chất vấn đề Phương pháp NCKH rất đa dạng, tùy thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu Có thể là tổng quan các kết quả đã có; khảo sát phân tích, đánh giá; thử nghiệm cách sản xuất mới; hệ thống hóa -

mô hình hóa các quy luật khách quan, phân tích chuyên gia,…

- Sản phẩm của NCKH: Tạo ra thông tin mới, sản phẩm mới, lý thuyết

mới,… Cho nên có thể nói khoa học luôn hướng đến cái mới, nhiều ý tưởng khoa học độc đáo đi trước thời đại đã dẫn dắt sự phát triển của thực tiễn Tuy nhiên cũng cần có nhận thức cái mới ở đây không phải quá lớn lao, trong điều kiện phân hóa khoa học theo từng lĩnh vực hẹp, thì cái mới có thể rất nhỏ nhưng sẽ góp phần đóng góp cho phát triển xã hội

- Giá trị khoa học: Được quyết định bởi độ tin cậy, tính ứng dụng và

quy mô phạm vi áp dụng phục vụ cuộc sống Sản phẩm khoa học phải có tính khách quan, có thể kiểm tra và đánh giá được

Hoạt động NCKH là một tiến trình thử nghiệm cái mới, do đó có thể thành công hay thất bại Đồng thời NCKH là một hoạt động khó hạch toán kinh tế như là chi phí công sức, trí tuệ; sản phẩm NCKH có thể là một tài sản

vô giá nhưng cũng có thể là sự chi phí tốn kém mà không đem lại kết quả gì

Trang 21

Do đó NCKH cần được xem xét thận trọng và phân tích, dự báo cẩn thận trước khi tiến hành để tránh rủi ro và lãng phí [22; tr.10]

1.1.1.5 Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu được thể hiện trên nhiều hình thức khác nhau: Có thể là những thông tin về quy luật của sự vật, là những giải pháp trong công nghệ, trong tổ chức và quản lý; cũng có thể là những vật mẫu với những thông số có giá trị khả thi về mặt kỹ thuật, v.v Bất kể giai đoạn nghiên cứu nào, bản chất sản phẩm nghiên cứu cũng là thông tin Tuy nhiên, chúng ta chỉ

có thể tiếp xúc với thông tin thông qua các loại vật mang khác nhau như các bài báo cáo khoa học, băng ghi hình, băng ghi âm, các bản mô tả quy trình, công thức, kỹ năng, bí quyết, đối với khoa học kỹ thuật đó là những công

nghệ mẫu, sản phẩm mẫu [8; tr.157]

Nói cách khác, kết quả nghiên cứu là những sản phẩm thu được sau một quá trình nghiên cứu Đó có thể là một bài báo khoa học, một báo cáo khoa học, một sản phẩm mẫu thu được sau quá trình thực nghiệm, cũng có thể là một mô hình tổ chức và quản lý, mô hình phương pháp giảng dạy hoặc một

giải pháp xã hội nào đó [7; tr.8]

1.1.1.6 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học

Theo Vũ Cao Đàm, đặc điểm của NCKH là sự tìm tòi những sự vật mà

người nghiên cứu chưa biết, đặc điểm của NCKH bao gồm:

- Tính mới: là thuộc tính quan trọng của NCKH Quá trình NCKH luôn

là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới, không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà các đồng nghiệp đi trước đã

thực hiện

- Tính tin cậy: kết quả nghiên cứu phải có khả năng kiểm chứng, một kết

quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã được đặt ra trước đó cũng chưa thể xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng, cần phải kiểm chứng nhiều lần trong những điều kiện quan sát hoặc thí

nghiệm hoàn toàn giống nhau

Trang 22

- Tính thông tin: sản phẩm NCKH được thể hiện dưới dạng báo cáo

khoa học, tác phẩm khoa học, mẫu sản phẩm mới, mô hình mới… luôn mang đặc trưng thông tin về: quy luật vận động của sự vật, một quá trình xã hội,

quy trình công nghệ và các tham số đặc trưng,…

- Tính khách quan: vừa là một đặc điểm của NCKH vừa là một tiêu

chuẩn về phẩm chất của người NCKH Để đảm bảo tính khách quan, người nghiên cứu cần phải luôn đặt các câu hỏi ngược lại những kết luận đã được xác nhận, giúp loại bỏ những nhận định, kết luận chủ quan trong kết quả

nghiên cứu

- Tính rủi ro: sự thất bại trong NCKH hoàn toàn có thể gặp phải do quá

trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới Trong NCKH, thất bại cũng được xem là một kết quả nghiên cứu Xét về ý nghĩa kha học, đây là một kết quả quan trọng, giúp những người nghiên cứu tiếp theo không dẫm chân

lên lối mòn, lãng phí các nguồn lực nghiên cứu

- Tính kế thừa: mỗi nghiên cứu hầu hết phải kế thừa các kết quả nghiên

cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau Tính kế thừa có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên cứu, hàng loạt phương hướng nghiên cứu mới và bộ môn khoa học mới xuất hiện chính là kết quả kế thừa lẫn nhau

giữa các bộ môn khoa học

- Tính cá nhân: đặc điểm này thể hiện vai trò cá nhân trong NCKH

Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân, nỗ lực cá nhân và chủ kiến

riêng của cá nhân

- Tính bất định của sản phẩm dự kiến: không thể dự kiến chính xác sản

phẩm thu được sau nghiên cứu, đôi khi là một phát hiện hoàn toàn mới trong

khoa học

- Tính phi kinh tế: lao động NCKH rất khó định mức một cách chính

xác như trong lĩnh vực sản xuất vật chất, thậm chí có thể nói không thể định mức Những thiết bị chuyên dụng cho NCKH hầu như không thể khấu hao, nếu nó được đặt trong labô của các nhà nghiên cứu, lý do: tần suất sử dụng không ổn định và hầu như thấp; tốc độ hao mòn vô hình luôn vượt trước rất

Trang 23

xa so với tốc độ hao mòn hữu hình; hiệu quả kinh tế của NCKH hầu như

không thể xác định [8; tr.36]

1.1.1.7 Các nguồn lực nghiên cứu khoa học

Nguồn lực trong NCKH đó là những yếu tố đầu vào của hệ thống Chính các yếu tố này tạo nên tập hợp hoạt động của tổ chức NCKH để đảm bảo cho việc thực hiện tốt mọi ý tưởng nghiên cứu Nguồn lực cho NCKH bao gồm:

*Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là đội ngũ những người tham gia trực tiếp vào quá trình nghiên cứu sáng tạo khoa học Nguồn nhân lực NCKH là tiềm năng của mọi tiềm năng, là nhân tố quan trọng nhất tạo ra mọi thành công không những cho khoa học, mà còn cho tất cả các lĩnh vực hoạt động khác của nhân loại

Nguồn nhân lực bao gồm: các nhà khoa học, các nhân viên kỹ thuật và dịch vụ khoa học, đội ngũ này hỗ trợ nhau trong tìm tòi, sáng tạo ra mọi giá trị khoa học

Nguồn nhân lực NCKH quan trọng nhất là các nhà khoa học Các nhà khoa học là những người có trình độ từ đại học trở lên trực tiếp tham gia vào quá trình nghiên cứu và giảng dạy ở các Viện nghiên cứu và các Trường đại học Đội ngũ này gồm có:

- Trợ lý nghiên cứu và trợ lý giảng dạy

- Nghiên cứu viên và giảng viên

- Nghiên cứu viên chính và giảng viên chính

- Nghiên cứu viên cấp cao, phó giáo sư, viện sĩ Với các học vị: Cử nhân khoa học, thạc sỹ khoa học và tiến sỹ khoa học

Điều quan trọng nhất của nhân lực là khả năng sáng tạo của họ Các nhà khoa học thường có ba mức độ tài năng:

- Những người có khả năng tạo ra những lý thuyết độc đáo, những trường phái mới, làm phát triển mạnh mẽ KH&CN Những người này tuy rất

ít nhưng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của khoa học

- Những người có khả năng nghiên cứu để hoàn thiện và bổ sung tri thức hiện có, làm phong phú thêm kho tàng tri thức nhân loại

Trang 24

- Những người có khả năng giải quyết những tình huống, những công việc cụ thể nẩy sinh trong sản xuất và đời sống xã hội

Các nhà khoa học tài năng có những phẩm chất đặc biệt sau đây:

- Có trí tuệ phát triển cao, linh hoạt, độc đáo, luôn hướng vào bản chất của mọi vấn đề, biết quan sát, biết phê phán và đánh giá, đồng thời cũng biết

bổ sung, hoàn thiện những thiếu sót của mình và của người khác

- Có tri thức toàn diện và sâu sắc trong lĩnh vực chuyên ngành, đồng thời

có hiểu biết rộng về các lĩnh vực chuyên ngành

- Có óc tưởng tượng sáng tạo, có khả năng trực giác, tiên đoán chính xác, táo bạo và mạo hiểm trong tư duy và trong hành động

- Say mê khoa học, có khả năng tập trung cao độ và lâu dài vào một đối tượng nghiên cứu dù là rất hẹp

- Có tính mục đích cao, kiên trì với ý tưởng khoa học, không ngại gian khổ khó khăn, quyết tâm đạt tới mục đích bằng mọi biện pháp sáng tạo

- Có các phẩm chất đặc biệt: Khách quan, trung thực, thẳng thắn, khiêm tốn, ham học hỏi, có tinh thần hợp tác và đôi khi có những tính cách độc đáo khác

Trong suốt cuộc đời lao động của nhà khoa học tính tích cực sáng tạo phát triển không đều, tạo thành “đường cong sáng tạo” Một quy luật cần được các nhà tổ chức, quản lý và đào tạo quan tâm thích đáng

Thực tiễn đã xác minh: Trí lực và sáng tạo của con người giảm theo tuổi tác, sự cằn cỗi trí tuệ lấn áp sức sống và tính năng động, ở tuổi già việc tiếp thu cái mới trở nên khó khăn Các nhà khoa học cũng có tuổi già, thậm chí còn già nhanh hơn người bình thường, bởi vì ở tuổi trẻ họ đã lao động quá mệt mỏi, đã cống hiến nhiều trí lực cho khoa học

Theo thống kê, ở nước ta hiện nay có khoảng trên hai vạn cán bộ khoa học đang làm việc trong hơn 350 Viện nghiên cứu và trường đại học Đây là con số lớn và nó phát triển rất nhanh trong mấy thập niên vừa qua Họ là vốn quý, đang làm phát triển nhanh chóng bộ mặt của đất nước Tuy nhiên, đa số những nhà khoa học có trình độ cao đã vào tuổi trung niên

Trang 25

Để xây dựng và phát huy hết tiềm năng của nhân lực khoa học, cần có quy hoạch đào tạo cán bộ trẻ, bổ xung thường xuyên đội ngũ cán bộ trẻ cho các Viện NCKH, các trường đại học cần sắp xếp họ vào các vị trí làm việc hợp lý và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho họ làm việc Cần có chính sách đặc biệt đối với tài năng, cần ưu đãi nhân tài, coi nhân tài và trí tuệ như tài sản quý gí nhất của quốc gia

*Nguồn vật lực

Nguồn vật lực là toàn bộ cơ sở vật chất, thiết bị, vật tư kỹ thuật chuyên dùng trong NCKH Vật lực là một trong bốn nguồn lực đảm bảo cho thành công của hoạt động NCKH Cơ sở vật chất đầy đủ, thiết bị phong phú, hiện đại là điều kiện thuận lợi để khoa học phát triển nhanh và ngược lại thiếu vật lực không thể tiến hành bất cứ hoạt động khoa học nào Nguồn vật lực bao gồm:

- Cơ sở hạ tầng như trụ sở làm việc, phòng thí nghiệm, nhà xưởng nơi nghiên cứu, sản xuất thực nghiệm

- Máy móc, thiết bị kỹ thuật phổ thông hay đặc chủng chuyên dùng cho NCKH

- Nguyên liệu, vật tư kỹ thuật sử dụng trong thí nghiệm, thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm,

Về nguyên tắc, trong NCKH phương tiện, thiết bị phải đầy đủ, tinh xảo, hiện đại, với tiêu chuẩn kỹ thuật cao, nguyên vật liệu sử dụng phải tinh khiết, đáp ứng đầy đủ yêu cầu về định tính và định lượng

Nguồn cung cấp thiết bị, vật tư khoa học rất đa dạng, có thể là tự chế tạo hay đặt ra hàng từ nhà máy chuyên sản xuất thiết bị khoa học Đối với Việt Nam nhập từ nước ngoài vẫn là nguồn quan trọng nhất

*Nguồn tài lực

Nguồn tài lực là toàn bộ ngân sách đầu tư cho KH&CN Tài lực là thông

số quan trọng để đánh giá tiềm lực khoa học của một quốc gia và là điều kiện thiết yếu đảm bảo cho sự thành công của mọi kế hoạch triển khai NCKH

Trang 26

Ở các nước phát triển, người ta dành một khoản ngân sách lớn cho triển khai NCKH và công nghệ Đây là khoản tài chính khổng lồ, với hàng trăm tỷ USD, dành cho các chương trình khoa học Nhờ có tài lực dồi dào họ đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn

Ở nước ta, theo kế hoạch nhà nước sẽ dành 2% tổng thu nhập quốc dân ngân sách cho NCKH vào năm 2000 Ngoài ngân sách do nhà nước đầu tư, còn có các nguồn khác bổ xung như vay vốn ngân hàng, nguồn tự tạo do hợp đồng, liên kết nghiên cứu sản xuất, chuyển giao công nghệ và viện trợ của các

tổ chức chính phủ hoặc phi chính phủ Ngân sách khoa học đang được dùng

để chi cho xây dựng cơ bản, mua sắm thiết bị, chi trả lương và sau đó là chi cho các chương trình NCKH từ cấp cơ sở tới cấp nhà nước…

- Thông tin thứ cấp (còn gọi là thông tin tinh) đã qua xử lý bằng kỹ thuật toán học hay máy tính, thông tin thứ cấp được cung cấp cho các cơ quan nghiên cứu để chọn lọc, xử lý và sử dụng theo mục đích của hệ đề tài Đó chính là nguồn tin lực Nhờ có bộ máy logic với phép suy luận đặc biệt mà thông tin trở thành các lý thuyết khoa học

Như vậy, nguồn tin lực là các tài liệu lý thuyết hoặc số liệu thực tiễn (đã qua xử lý) cung cấp cho hoạt động NCKH Nhờ có nguồn tin lực mà bộ máy khoa học mới có thể vận hành tạo ra những giá trị mới

Nguồn tin lực là sản phẩm NCKH hoặc thu thập từ hoạt động thực tiễn, nguồn tin lực lại là “nguyên liệu” để khoa học tái sản xuất tạo ra thông tin mới có giá trị hơn

NCKH theo lý thuyết thông tin đó là quá trình thu thập, gia công xử lý thông tin để tạo hệ thống các lý thuyết thông tin mới

Trang 27

Các nguồn cung cấp thông tin thông tin thường là:

- Từ các ấn phẩm công bố trong nước và thế giới

- Từ các kho tài liệu lưu trữ quốc gia

- Từ các kết quả điều tra cơ bản hay điều tra xã hội, các cuộc phỏng vấn, các cuộc hội thảo khoa học

- Các số liệu thực tế trong hoạt động kinh tế, xã hội của trung ương và địa phương,

Số lượng và chất lượng thông tin là những chỉ tiêu rất quan trọng đối với hoạt động NCKH Về mặt số lượng, thông tin cần phải phong phú, đa dạng, nhiều chiều Về mặt chất lượng, thông tin phải khách quan, chính xác và cập nhật Thông là điều kiện sống còn của hoạt động khoa học Thiếu thông tin, NCKH sẽ rơi vào tình trạng mất phương hướng, lạc hậu, nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay

Tóm lại, NCKH là một hoạt động được tổ chức đặc biệt, mục đích của

nó nhận thức và cải tạo thế giới, phục vụ cho lợi ích của con người Để NCKH mỗi quốc gia phải có tiềm năng, trong đó tiềm năng trí tuệ là tiềm năng của mọi tiềm năng Các nguồn lực khác là điều kiện thiết yếu đảm bảo cho NCKH thành công NCKH phải được tổ chức thành hệ thống chặt chẽ, với những chương trình chiến lược quốc gia [0; tr.00]

1.1.2 Hoạt động đào tạo

Hoạt động đào tạo là các hoạt động trong nhà trường và cơ sở đào tạo nhằm thực hiện các nội dung về mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, đội ngũ giảng viên, người học, công tác

kiểm tra đánh giá, công tác cơ sở vật chất,

Trang 28

người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định Khái niệm về đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản, đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo

từ xa, tự đào tạo [21]

Đào tạo là “Quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp về

những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước Hình thức tổ chức đào tạo cơ bản là các cơ sở đào tạo chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân, ngoài ra còn có các hình thức đào tạo không chính quy ngày càng được mở rộng như đào tạo tại chức, đào tạo từ xa, đào tạo cấp tốc,… nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của

xã hội Ngày nay, đào tạo không chỉ là quá trình chuyển giao một chiều mà còn bằng các phương tiện dạy học hiện đại mà các cơ quan đào tạo đang dần tiến tới hợp tác song phương với người học để giúp họ chủ động, tích cực, tự giác chiếm lĩnh lấy tri thức, tự trang bị hành trang nghề nghiệp, chuyên môn

Đó là quá trình đào tạo được chuyển biến thành quá trình tự đào tạo của người học Chỉ khi nào đạt được chuyển biến như vậy thì hiệu quả đào tạo mới cao và mới có lợi ích thiết thực cho bản thân và xã hội” [18; tr.28]

Có thể hiểu đào tạo là quá trình trang bị những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, đồng thời hình thành những phẩm chất đạo đức, thái độ cho người học để họ trở thành những người công dân, người lao động có chuyên môn và nghề nghiệp nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển

của mỗi cá nhân, đáp ứng yêu cầu xã hội

1.1.2.2 Chất lượng đào tạo

Chất lượng đào tạo đã và đang là một trong những vấn đề được quan tâm trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, đặc biệt là trong giai đoạn phát triển mới của KH&CN và đời sống xã hội hiện đại

Trang 29

Chất lượng và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và có ý nghĩa sống còn đến sự tồn tại và phát triển của mỗi nhà trường, đó cũng chính là thước đo để đánh giá, so sánh trường này với trường kia, cơ sở giáo dục này với cơ sở giáo dục khác Chất lượng đào tạo còn là cơ sở giúp các nhà quản lý giáo dục và cả cộng đồng xã hội đánh giá, phân loại giữa các nhà trường Mặc dù có tầm quan trọng như vậy nhưng chất lượng đào tạo vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường vì cách hiểu, cách quan niệm và tiếp cận ở mỗi con người

có sự khác nhau, khó thống nhất Không giống như trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ, chất lượng đào tạo là một khái niệm rất trừu tượng, khó xác định nên khi tiếp cận ở góc độ này thì có cách hiểu chất lượng thế này, còn khi tiếp cận ở góc độ khác lại có cách hiểu và chất lượng khác đi

Có thể nói mỗi đơn vị đào tạo luôn luôn xác định cho mình các mục tiêu đào tạo sao cho phù hợp với nhu cầu thiết yếu của xã hội để đạt được “chất lượng bên ngoài”, đồng thời cơ sở đào tạo đó luôn phải có các hoạt động để

hướng vào nhằm thực hiện mục tiêu đề ra, “đạt chất lượng bên trong”

Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là

“con người lao động”, có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo trong hệ thống đào tạo Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như cơ sở vật chất, đội ngũ GV,… và còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao động như tỉ lệ có việc làm sau khi tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc, cụ thể ở các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sản xuất, dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp

Chất lượng đào tạo trước hết phải là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp Quá trình

Trang 30

thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lược đào tạo

mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của thị trường, như qua hệ cung cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và bố trí công việc của nhà nước và người sử dụng lao động Do đó, khả năng thích ứng còn phản ảnh cả về hiệu

quả đào tạo ngoài xã hội và thị trường lao động

Qua việc phân tích nội hàm từ các quan điểm và những cách tiếp cận trên Chất lượng đào tạo của một nhà trường hay một cơ sở giáo dục phải được tuân thủ theo một quy trình chặt chẽ, nhằm đạt được các chuẩn mực đề

ra

Khi đánh gía chất lượng của một nhà trường hay một cơ sở giáo dục

thông thường có 3 cấp độ:

- Chất lượng tốt: Thực hiện theo đúng các chuẩn mực, quy định và hoàn

thành một cách xuất sắc, vượt mức các chỉ tiêu đã đặt ra

- Chất lượng đạt yêu cầu: Là mức độ thực hiện các quy định và hoàn

thành được các chỉ tiêu đã đặt ra

- Chất lượng không đạt yêu cầu: Là mức độ thực hiện các quy định và

không đạt được các chỉ tiêu đã đặt ra

Để đánh giá và đo lường chất lượng của một trường đại học nào đó, thông thường người ta sử dụng bộ công cụ, hay bộ thước đo có những tiêu chuẩn với các tiêu chí tương ứng Các tiêu chí này có thể là tiêu chí định lượng, tức là đánh giá và đo được bằng co số cụ thể Ngược lại, các tiêu chí cũng có thể là định tính, tức là đánh giá bằng nhận xét chủ quan của người đánh giá Việc đánh giá và đo lường có thể được tiến hành bởi chính các lực lượng trong nhà trường như: cán bộ, GV, sinh viên hoặc do các cơ quan hữu

trách bên ngoài đánh giá

Như vậy để có thể đảm bảo chất lượng đào tạo của một trường đại học nào đó, thì cần phải có Bộ tiêu chí chuẩn cho tất cả các lĩnh vực và kiểm định chất lượng một trường đại học sẽ dựa vào Bộ tiêu chí đó Khi không có Bộ tiêu chí chuẩn việc kiểm định chất lượng giáo dục đại học sẽ dựa trên mục tiêu của từng lĩnh vực để đánh giá Nhưng mục tiêu này sẽ được xác lập trên

Trang 31

cơ sở trình độ phát triển KT-XH của đất nước và những điều kiện đặc thù của

trường đó

1.1.2.3 Giảng viên nguồn nhân lực đào tạo

Giảng viên là người trực tiếp thực hiện công tác giảng dạy và đào tạo, và

là nhân tố quan trọng nhất trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy Trong

hệ thống tổ chức của một trường đại học, bên cạnh GV còn có lực lượng chủ yếu của trường là cán bộ quản lý, chuyên viên trong các phòng ban kiêm nhiệm giảng dạy và tập sự GV phải thực hiện những nhiệm vụ chính là giảng dạy đại học, bồi dưỡng sau đại học, hướng dẫn NCKH, hướng dẫn thực tập tốt nghiệp; bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn; tham gia công tác quản lý của

trường; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người công dân với xã hội

 Giảng viên được phân theo ngạch:

- Trợ giảng và Giảng viên tập sự: Là người được tuyển dụng vào ngạch

GV đang trong thời kỳ tập sự giảng dạy và NCKH Trợ giảng và giảng viên tập sự có nhiệm vụ hỗ trợ, đảm nhiệm một phần công tác giảng dạy môn học

dưới sự hướng dẫn, chịu trách nhiệm của GV phụ trách môn học

- Giảng viên: Là người có chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và

đào tạo ở bậc ĐH thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường GV có nhiệm

vụ giảng dạy các môn học được phân công; tham gia hướng dẫn, đánh giá, chấm luận văn, đồ án tốt nghiệp đại học; tham gia các đề tài NCKH; thực hiện đầy đủ các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ, và quy chế của các trường đại học

- Giảng viên chính: Là viên chức chuyên môn đảm nhiệm vai trò chủ

chốt trong giảng dạy ĐH và sau đại học thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường ĐH GV chính có nhiệm vụ là giảng dạy chính các môn học được phân công, tham gia giảng dạy sau đại học, tham gia bồi dưỡng sinh viên giỏi; chủ trì hướng dẫn luận văn, đồ án tốt nghiệp, chủ trì hoặc tham gia hướng dẫn luận văn cao học, tham gia phản biện luận án tiến sỹ, tham gia hướng dẫn nghiên cứu sinh và thực tập sinh (nếu có bằng tiến sỹ và có yêu cầu chuyên môn liên quan đến chuyên ngành đào tạo), có trách nhiệm bồi dưỡng GV theo

Trang 32

yêu cầu phát triển chuyên môn; chủ trì tham gia thiết kế xây dựng mục tiêu,

kế hoạch chương trình đào tạo, chủ trì hoặc tham gia biên soạn giáo trình

- Giảng viên cao cấp: Là người chuyên môn cao nhất đảm nhiệm vai trò

chủ trì, tổ chức chỉ đạo và thực hiện giảng dạy về một chuyên ngành đào tạo ở trường ĐH Đây là đội ngũ nòng cốt trong quá trình giảng dạy, giữ vai trò chủ đạo trong công tác chuyên môn và đảm nhiệm các công việc đòi hỏi có chuyên môn và trình độ nghiệp vụ cao, chủ trì các hoạt động khoa học, là tiêu biểu cho phương hướng phát triển mới của bộ môn Giảng viên cao cấp có nhiệm vụ giảng dạy ĐH, bồi dưỡng sau ĐH, hướng dẫn nghiên cứu sinh, bồi dưỡng cán

bộ giảng dạy về nghiệp vụ và chuyên môn, nghiên cứu thực nghiệm khoa học, chủ trì các đề tài cấp Nhà Nước và cấp Bộ quản lý, biên soạn và chủ trì biên

soạn giáo trình, sách giáo khoa chất lượng tốt

- Giảng viên kiêm chức: Là GV được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo

hoặc kiêm nhiệm các công tác quản lý, đảng, đoàn thể có nghĩa vụ tham gia giảng dạy GV kiêm chức vụ có nhiệm vụ như GV, GV chính nhưng chỉ dành một phần thời gian công tác cho giảng dạy còn lại là thời gian chủ yếu (từ 70% trở lên) dành cho một nhiệm vụ được giao nào đó của nhà trường như

quản lý ở các phòng, ban, khoa,… trong trường

- Giảng viên thỉnh giảng: là cán bộ, chuyên viên, GV ở các cơ quan

khác, cán bộ nghỉ hưu, doanh nghiêp hoặc diện tự do được nhà trường mời tham gia giảng dạy theo những chuyên đề, khoá học ngắn hạn, môn học, thường được ký các hợp đồng thời vụ, ngắn hạn

 Phân loại giảng viên theo học vị:

- Học vị Cử nhân: là một học vị dành cho những người đã tốt nghiệp

ĐH thuộc các ngành khoa học tự nhiên và KHXH&NV, sư phạm, luật, kinh tế (cử nhân khoa học, cử nhân kinh tế, cử nhân luật, ) Thời gian đào tạo của chương trình đào tạo cử nhân thường là 4 năm Trong khi đó, sinh viên tốt nghiệp ĐH thuộc các ngành kỹ thuật được cấp bằng kỹ sư; ngành kiến trúc được cấp “bằng kiến trúc sư”; ngành y được cấp “bằng bác sỹ” hoặc “bằng cử nhân”; ngành dược cấp “bằng dược sỹ” hoặc “bằng cử nhân”

Trang 33

- Học vị Thạc sỹ: Những người có trình độ thạc sỹ là những người có

trình độ chuyên ngành vững chắc, nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc ngành, chuyên ngành được đào tạo Sau khi được học nâng cao và cùng với kinh nghiệm làm việc đã tích lũy được, họ sẽ có thêm kiến thức liên ngành và năng lực thực hiện công tác chuyên môn cũng như NCKH trong chuyên ngành đào tạo

- Học vị Tiến sỹ: Chỉ những người hoàn thành quá trình nghiên cứu sau

thạc sỹ, công nhận luận án nghiên cứu của họ đã đáp ứng tiêu chuẩn bậc tiến

sỹ Đây là những nhà khoa học độc lập, là người có kiến thức chuyên sâu, có khả năng xử lí thông tin hữu hiệu, có khả năng phát hiện vấn đề, có kĩ năng NCKH, và có thể sáng tạo ra những tri thức khoa học mới

 Phân loại giảng viên theo hình thức tuyển dụng, chia ra:

- Giảng viên trong biên chế của nhà trường được chia ra làm hai loại:

1/.Giảng viên cơ hữu là GV thuộc biên chế của nhà trường, làm việc theo chế độ toàn phần thời gian tại trường Đây là lực lượng chính, đông đảo nhất trong đội ngũ GV của nhà trường Giảng viên cơ hữu dành toàn bộ thời gian cho các công việc thuộc nhiệm vụ của giảng viên

2/.Đội ngũ kiêm giảng dạy là GV giảng dạy thuộc biên chế của nhà trường nhưng chỉ dành một phần thời gian công tác cho giảng dạy còn lại là thời gian chủ yếu dành cho một nhiệm vụ nào đó được nhà trường giao

- Giảng viên hợp đồng là GV do nhà trường tuyển dụng vào làm việc

trong nhà trường theo chế độ hợp đồng Quyền lợi, nghĩa vụ và tất cả các nội dung về công việc, địa điểm làm việc, thời gian làm việc cũng như thời hạn của hợp đồng được quy định trong hợp đồng

- Giảng viên thỉnh giảng là GV được trường mời là người có đủ tiêu

chuẩn của nhà giáo ở nơi khác đến giảng dạy [3, 4]

1.1.2.4 Đặc điểm của đào tạo theo tín chỉ

Đây là phương thức đào tạo theo triết lý “Tôn trọng người học, xem

người học là trung tâm của quá trình đào tạo” Bản chất của đào tạo theo Hệ

Trang 34

thống tín chỉ là sự tích lũy kiến thức được quy định trong các chương trình đào tạo Sự tích lũy được đánh giá bằng: số tín chỉ tích lũy tối thiểu và điểm trung bình chung tích lũy tối thiểu quy định cho mỗi chương trình để sinh viên có thể tốt nghiệp Theo quy định của Bộ GD&ĐT số tín chỉ tích lũy tối thiểu cho chương trình đào tạo đại học 5 năm là 150 tín chỉ và điểm trung bình chung tích lũy của 150 tín chỉ được tích lũy này phải 2 (theo thang điểm 4) là điều kiện quan trọng nhất để xét tốt nghiệp

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển năng lực của người học Trong đào tạo theo học phần - niên chế, sinh viên phải học theo tất cả những gì Nhà trường sắp đặt, không phân biệt sinh viên

có điều kiện, năng lực tốt, hay sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, năng lực yếu Ngược lại, đào tạo theo Hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên có thể chủ động học theo điều kiện và năng lực của mình Những sinh viên giỏi có thể học theo đúng hoặc học vượt kế hoạch học tập toàn khóa, kế hoạch học tập từng học kỳ theo gợi ý của Nhà trường, để tốt nghiệp theo đúng thời gian chuẩn của chương trình hoặc sớm hơn Những sinh viên bình thường và yếu có thể kéo dài thời gian học tập trong trường và tốt nghiệp muộn hơn Vì thế, việc tổ chức đào tạo đòi hỏi phải rất khoa học, chính xác, mềm dẻo và linh hoạt Ở nước ta, trường ĐH Bách Khoa TP.HCM đã triển khai đào tạo theo Hệ thống tín chỉ từ năm học 1993-1994 và đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp Trong

“Chương trình hành động của chính phủ” thực hiện nghị quyết số

37/2004/QH11 khóa XI, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáo dục đã chỉ rõ:

“Mở rộng, áp dụng học chế tín chỉ trong đào tạo ĐH, CĐ, trung học chuyên nghiệp,…” Đề án đổi mới giáo dục ĐH Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã được Chính phủ phê duyệt cũng khẳng định: “… xây dựng học chế tín chỉ thích hợp cho giáo dục ĐH ở nước ta và vạch ra lộ trình hợp lý để toàn bộ hệ thống giáo dục ĐH chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ…” Cho đến nay,

cả nước đã có hơn 20 trường trong toàn quốc chuyển đổi sang đào tạo theo Hệ thống tín chỉ với lộ trình và bước đi hợp lý

Trang 35

Đào tạo theo Hệ thống tín chỉ sẽ thành công, đi vào thế ổn định và phát triển, khi có sự chỉ đạo rất kiên quyết và khoa học của Ban giám hiệu, đặc biệt

là vai trò lãnh đạo của đồng chí Hiệu trưởng, sự phối hợp đồng bộ giữa các đơn vị trong trường, đội ngũ GV nhận thức được trách nhiệm và tham gia vào quá trình đào tạo một cách tự giác, bằng cả tấm lòng của người thầy

Đào tạo theo Hệ thống tín chỉ có các đặc điểm cơ bản sau đây:

- Kiến thức được cấu trúc thành các mô đun (học phần)

- Quá trình học tập là sự tích lũy kiến thức của người học theo từng học phần

- Sinh viên tự đăng ký học tập và tổ chức lớp học theo học phần

- Đơn vị học vụ là học kỳ, xét kết quả học tập theo học kỳ chính (một năm học có hai học kỳ chính và một học kỳ phụ)

- Đánh giá học phần là đánh giá quá trình, sử dụng thang điểm 10, thang điểm chữ và thang điểm 4, điểm trung bình chung tốt nghiệp phải 2,0

- Quy định khối lượng kiến thức phải tích lũy (số tín chỉ tích lũy tối thiểu) cho từng văn bằng Xếp năm học theo số tín chỉ tích lũy tại thời điểm xem xét

- Có hệ thống cố vấn học tập am hiểu về chương trình đào tạo và nắm vững tình hình học tập cụ thể của sinh viên

- Chương trình đào tạo mềm dẻo, có tính liên thông cao, ngoài học phần bắt buộc còn có học phần tự chọn để sinh viên có điều kiện tích lũy thêm tín chỉ và định hướng chuyên môn, nghề nghiệp

- Không thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khóa luận tốt nghiệp với các chương trình cao đẳng và đại học

- Bắt buộc áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực theo nguyên tắc lấy sinh viên làm trung tâm

Bản chất của đào tạo theo Hệ thống tín chỉ mà Quy chế đào tạo là cơ sở

để vận hành nó luôn tạo điều kiện tốt nhất cho người học phát huy cao độ năng lực của bản thân Tuy nhiên, đào tạo theo Hệ thống tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải nắm chắc Quy chế đào tạo và được tư vấn đầy đủ, để lập được kế

Trang 36

hoạch học tập thật phù hợp với điều kiện và năng lực cụ thể của mình Hơn nữa, sinh viên phải tiếp cận được với phương pháp học tập chủ động, lấy tự học và học tập theo nhóm làm chính, để đáp ứng được yêu cầu của đào tạo và quan điểm học tập suốt đời của thời đại ngày nay [30]

1.2 Mối quan hệ giữa hoạt động NCKH và đào tạo

Qua thực tế, chúng ta nhận thức được rằng, NCKH có vai trò đặc biệt quan trọng trong giáo dục nói chung và giáo dục ĐH nói riêng Trong công tác đào tạo đại học ở nước ta hiện nay, NCKH được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội NCKH có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục ĐH vì không những góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra những tri thức mới, sản phẩm mới phục vụ cho

sự phát triển của nhân loại Để KH&CN đáp ứng được nhu cầu phát triển của

xã hội, các nhà nghiên cứu, những người làm công tác khoa học, nhất là GV tại các trường ĐH phải là lực lượng nòng cốt trong việc nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập của nước ta hiện nay, để khẳng định được vai trò của NCKH, các trường ĐH nói chung và trường ĐHQT Hồng Bàng nói riêng luôn hướng tới mục tiêu “Mỗi trường ĐH là một viện nghiên cứu” Bởi vì, NCKH có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục ĐH và

đó là con đường hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển năng lực sư phạm của mỗi người làm công tác giảng dạy và giáo dục Trong những năm vừa qua, ngành giáo dục và nền KH&CN nước ta đã đạt được thành tích đáng kể là nhờ có những đóng góp không nhỏ từ hoạt động NCKH của đội ngũ cán bộ, GV trong các trường ĐH nói chung

1.2.1 Mục đích nghiên cứu khoa học

NCKH có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với GV: Người GV tham gia NCKH một mặt vừa củng cố lại kiến thức chuyên môn của mình, mặt khác vừa có điều kiện mở rộng, hiểu biết nhiều hơn những kiến thức từ các chuyên ngành khác; quá trình thực hiện các hoạt động NCKH là cơ hội tốt để GV có

Trang 37

môi trường, cơ hội bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nâng cao tầm hiểu biết

về chuyên môn và cuộc sống, tạo điều kiện cho GV tìm ra phương pháp giảng dạy có hiệu quả nhất,

1.2.1.1 Nghiên cứu mở rộng kiến thức

Trình độ chuyên môn của người GV thường được xác định qua các văn bằng mà họ đạt được Tuy nhiên, trên thực tế, đối với người GV bằng cấp chỉ

là một trong những tiêu chí cần có, quan trọng hơn là năng lực giảng dạy, khả năng truyền đạt tri thức với hiệu suất cao, giá trị khoa học của bài giảng (lượng thông tin cung cấp, phương pháp tiếp cận vấn đề, những kiến thức sinh viên thu nhận được) và năng lực NCKH (thể hiện ở số lượng các công trình khoa học và hiệu quả, giá trị khoa học của chúng) Chỉ có thể có các bài giảng chất lượng cao, nếu người GV thường xuyên tham gia NCKH, nắm bắt kịp thời tri thức mới về ngành nghề, về môn học mình giảng dạy Ngoài ra, nếu người GV có phẩm chất, năng lực của người làm nghiên cứu thì sẽ tự nâng cao năng lực giảng dạy, biết cách kích thích sinh viên tìm tòi khám phá cái mới, khơi dậy tiềm năng sáng tạo trong sinh viên, biết cách hướng dẫn sinh viên tự học, tập sự làm công tác nghiên cứu, rèn luyện năng lực tư duy khoa học cho sinh viên, đưa dần sinh viên vào môi trường khoa học, nắm bắt kịp thời tiến bộ của nghề nghiệp

1.2.1.2 Nghiên cứu tạo ra các sản phẩm mới

“NCKH không những góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo

ra những phát minh mới, sản phẩm mới phục vụ đắc lực cho cuộc sống”,

NCKH có tầm quan trọng đặc biệt trong công tác giáo dục, nhất là đối với các trường ĐH vì nó không những góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra những phát minh mới, sản phẩm mới phục vụ đắc lực cho cuộc sống con người

1.2.1.3 Nghiên cứu phục vụ nâng cao chất lượng giảng dạy

Trong trường ĐH, GV kiêm nhiệm song hành hai hoạt động giảng dạy

và nghiên cứu Hai hoạt động này bổ trợ cho nhau Nhà giáo phải NCKH để giảng dạy cho tốt Một bài giảng hay là kết quả của một thái độ hoạt động

Trang 38

nghiên cứu nghiêm túc và công phu, như một công trình nghiên cứu để cho sinh viên và thế hệ đi sau học tập và tham khảo Qua thực tiễn giảng dạy, thường hé lộ những vấn đề, đề tài mới, thú vị, đánh thức và phát triển thêm năng lực nghiên cứu của người thầy Nên có thể nói, hoạt động nghiên cứu đối với GV là hoạt động thường xuyên, liên tục trong suốt cuộc đời nhà giáo, thậm chí, sau khi rời bục giảng nhiều công trình nghiên cứu của nhà giáo được công bố khiến đồng nghiệp phải thán phục

Hơn nữa, hoạt động nghiên cứu cần được các trường ĐH chú trọng, đầu

tư gấp bội nhất là trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu của mình NCKH để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho xã hội, mang lại uy tín, vị thế cho nhà giáo - nhà khoa học, cho cơ sở giáo dục và đào tạo

1.2.2 Tầm quan trọng của việc gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo

Đối với trường ĐH, hoạt động NCKH và đào tạo là hai hoạt động cơ bản nhất, không thể tách rời của trường đại học nghiên cứu và có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau Không thể có trường ĐH chỉ làm nhiệm vụ đào tạo mà không NCKH, cũng như không thể có GV đại học chỉ lên lớp giảng bài mà không NCKH Có thể khẳng định của việc gắn kết quả NCKH với đào tạo là biện pháp hàng đầu để nâng cao chất lượng giảng dạy của người thầy và qua

đó nâng cao chất lượng đào tạo

GV ngoài công việc giảng dạy cần phải tham gia NCKH để có kiến thức thực tế và xây dựng cho mình kinh nghiệm cũng như chuyên môn Nhưng khi yêu cầu GV làm NCKH, hiển nhiên không phải người ta chỉ nghĩ đến lợi ích kinh tế hay khoa học do GV trực tiếp mang lại, mà trước hết nghĩ đến tác dụng của nó đối với nhiệm vụ giảng dạy của GV Những kết quả người GV đạt được qua NCKH là rất quý báu, để làm cơ sở truyền đạt lại cho sinh viên thông qua các bài giảng của họ Đó là cơ sở để có những bài giảng hay, là cơ

sở để đổi mới phương pháp giảng dạy, là những yếu tố mới mẻ, bổ ích và thiết thực cho sinh viên mà nhiều khi không có trong giáo trình nào cả

Trang 39

Nhìn chung, nhà trường nếu gắn kết tốt được kết quả NCKH với đào tạo

sẽ mang lại những lợi ích to lớn sau đây cho cả nhà trường và xã hội:

- Ở tầm chiến lược NCKH, sẽ góp phần đổi mới chương trình giáo dục, làm cho chương trình giáo dục không bị cũ, mòn, thiếu tính sáng tạo, đổi mới chương trình còn nhằm theo kịp chương trình giáo dục đại học hiện đại trong khu vực, nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, đưa giáo dục đại học nước ta tiến dần tới hội nhập với giáo dục đại học khu vực và thế giới

- NCKH trong nhà trường sẽ góp phần đổi mới giáo trình giảng dạy, làm cho giáo trình luôn đáp ứng kịp với sự phát triển của xã hội

- NCKH trong nhà trường sẽ giúp cho việc mở thêm những ngành học mới, các kết quả của NCKH sẽ chứng minh những ý tưởng mới, tạo ra những

bộ môn học mới

- Thực hiện NCKH thường xuyên sẽ nâng cao trình độ của người thầy, bởi vì các tri thức chỉ được kiểm chứng và phát triển thông qua lao động NCKH, quá trình lao động NCKH sẽ giúp người GV đại học hoàn thiện và nâng cao khối kiến thức sẵn có Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu thu được sẽ khích lệ người làm nghiên cứu tiếp tục thực hiện các nghiên cứu tiếp theo qua

đó làm cho lượng tri thức của người GV được tăng lên không ngừng

- Hoạt động NCKH trong nhà trường sẽ tạo ra một môi trường lao động khoa học, làm cho sinh viên luôn được đắm mình trong môi tường học tập và nghiên cứu, cũng chính môi trường đó sẽ thúc đẩy sinh viên học tập hang say hơn, điều này đồng nghĩa với việc góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường

- Hoạt động NCKH trong nhà trường sẽ gắn nhà trường với xã hội, gắn kiến thức lý thuyết với thực tiễn, gắn giảng dạy đào tạo với NCKH và sản xuất

- NCKH trong nhà trường còn nhằm mục đích phục vụ cho các chương trình phát triển KT-XH của đất nước Hoạt động NCKH trong lĩnh vực khoa học - xã hội không chỉ là những công trình nghiên cứu ứng dụng góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn xã hội đặt ra mà còn là những công trình

Trang 40

nghiên cứu lý thuyết có vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định chiến lược, định hướng phát triển đất nước, đặc biệt là trong điều kiện chuyển đổi hình thái kinh tế của đất nước ta hiện nay từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Khi các kết quả NCKH được quản lý và sử dụng một cách khoa học sẽ lập thành ngân hàng dữ liệu thông tin khoa học, sẵn sàng đáp ứng cho nhu cầu tham khảo, tận dụng làm thông tin khoa học cho GV, sinh viên của trường và các đối tượng khác có nhu cầu

1.3 Những yếu tố tác động đến hoạt động NCKH của giảng viên

Hoạt động NCKH là một trong hai nhiệm vụ chính của GV Trong nhà trường, đào tạo phải gắn liền với NCKH vì chỉ có gắn liền với nghiên cứu thì mới tìm ra được những kiến thức mới, những phương pháp mới và ứng dụng mới để bổ sung nâng cao chất lượng đào tạo Ngược lại, NCKH phải gắn liền với đào tạo vì NCKH gắn liền với đào tạo là con đường ngắn nhất, nhanh nhất

để đào tạo được một đội ngũ cán bộ nghiên cứu có trình độ và kinh nghiệm cao

Hoạt động NCKH của GV đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành kỹ năng nghiên cứu, tư duy khoa học cho mỗi nhà khoa học tương lai Mục đích của các trường ĐH là đào tạo các nhà chuyên môn có phẩm chất và năng lực, có khả năng tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, KH&CN quốc gia Trong thời đại ngày nay, trên con đường phát triển của mỗi quốc gia, hội nhập toàn cầu, vấn đề NCKH trở thành yêu cầu hàng đầu với mỗi quốc gia Nghiên cứu không chỉ làm cho công việc đạt chất lượng, hiệu quả cao mà còn làm cho các chuyên gia đứng vững và làm chủ tốc độ phát triển của KH&CN

Nhiệm vụ quan trọng của GV đó là giảng dạy và tham gia NCKH, hoạt động NCKH của GV giúp họ có được sự củng cố trình độ chuyên môn và tư duy sáng tạo, áp dụng vào hoạt động giảng dạy hàng ngày Đối với GV có kinh nghiệm trong NCKH, họ là những nhà khoa học đầu đàn trong trường

ĐH thì nhiệm vụ giúp đỡ, bồi dưỡng các thế hệ GV trẻ trong hoạt động

Ngày đăng: 14/11/2016, 15:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Tuấn Anh (2010), Biện pháp quản lý hoạt động NCKH của GV Trường Đại học Thể dục thể thao Đà Nẵng, Luận văn Ths. Ngành Quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lý hoạt động NCKH của GV Trường Đại học Thể dục thể thao Đà Nẵng
Tác giả: Phạm Tuấn Anh
Năm: 2010
2. Lê Hữu Ái, Lâm Bá Hòa (2010), NCKH - yêu cầu bắt buộc đối với đội ngũ GV trong các Trường Đại học, Tạp chí KH&CN, Đại học Đà Nẵng, số 04/2010 (39) Sách, tạp chí
Tiêu đề: NCKH - yêu cầu bắt buộc đối với đội ngũ GV trong các Trường Đại học
Tác giả: Lê Hữu Ái, Lâm Bá Hòa
Năm: 2010
3. Nguyễn Đức Chính (chủ biên) (2002), Kiểm định chất lượng giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất lượng giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Đức Chính (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
4. Nguyễn Đức Chính (2005), Đánh giá giảng viên đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá giảng viên đại học
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
5. Nguyễn Đình Chương (2011), Chính sách khuyến khích giảng viên trẻ tham gia NCKH, Luận văn Ths. Ngành Quản lý KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách khuyến khích giảng viên trẻ tham gia NCKH
Tác giả: Nguyễn Đình Chương
Năm: 2011
6. Lê Yên Dung (2010), Mô hình quản lý hoạt động NCKH trong đại học đa ngành đa lĩnh vực, Luận án TS. Ngành Quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình quản lý hoạt động NCKH trong đại học đa ngành đa lĩnh vực
Tác giả: Lê Yên Dung
Năm: 2010
7. Vũ Cao Đàm (2005), Đánh giá nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Khọc và Kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Khọc và Kỹ thuật Hà Nội
Năm: 2005
8. Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
9. Đại học Hồng Bàng (2010), Thông báo (V/v Thực hiện công tác nghiên cứu khoa học năm 2010), số: 18/ TB-DHB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo (V/v Thực hiện công tác nghiên cứu khoa học năm 2010)
Tác giả: Đại học Hồng Bàng
Năm: 2010
10. Đại học Hồng Bàng (2010-2015), Báo cáo V/v thực hiện công tác nghiên cứu khoa học năm học 2010 - 2015, số 15/BC-ĐTN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo V/v thực hiện công tác nghiên cứu khoa học năm học 2010 - 2015
11. Đại học Hồng Bàng (2011), Quyết định Tặng giấy cho các tập thể và cá nhân tích cực tham gia công tác nghiên cứu khoa học và luận văn tốt nghiệp xuất sắc năm 2011, số159/ DHB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định Tặng giấy cho các tập thể và cá nhân tích cực tham gia công tác nghiên cứu khoa học và luận văn tốt nghiệp xuất sắc năm 2011
Tác giả: Đại học Hồng Bàng
Năm: 2011
114. Đại học Hồng Bàng (2012), Thông báo V/v Bổ sung trao giải thưởng tập thể thực hiện tác nghiên cứu khoa học và mức hỗ trợ giảng viên hướng dẫn các đề tài nghiên cứu khoa học năm 2012, số 28/TB-DHB Sách, tạp chí
Tiêu đề: V/v Bổ sung trao giải thưởng tập thể thực hiện tác nghiên cứu khoa học và mức hỗ trợ giảng viên hướng dẫn các đề tài nghiên cứu khoa học năm 2012
Tác giả: Đại học Hồng Bàng
Năm: 2012
15. Đại học Hồng Bàng (2014), Quyết định Khen thưởng những đề tài đạt giải của tập thể và cá nhân tích cực trong công tác NCKH năm 2014, số215/DHB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định Khen thưởng những đề tài đạt giải của tập thể và cá nhân tích cực trong công tác NCKH năm 2014, số215/
Tác giả: Đại học Hồng Bàng
Năm: 2014
16. Đại học Hồng Bàng (2014), Thông báo (Tổ chức hội nghị tổng kết nghiên cứu khoa học năm 2014), số: 22 /DHB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo (Tổ chức hội nghị tổng kết nghiên cứu khoa học năm 2014)
Tác giả: Đại học Hồng Bàng
Năm: 2014
17. Đại học Hồng Bàng (2015), Thông báo V/v thực hiện tác nghiên cứu khoa học năm 2015, số 31/TB-DHB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo V/v thực hiện tác nghiên cứu khoa học năm 2015
Tác giả: Đại học Hồng Bàng
Năm: 2015
18. Bùi Hiền (chủ biên), Vũ Văn Tảo, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh (2001), Từ điển Giáo dục học, NXB Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục học
Tác giả: Bùi Hiền (chủ biên), Vũ Văn Tảo, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh
Nhà XB: NXB Từ điển Bách Khoa
Năm: 2001
19. Nguyễn Ngọc Hòa (2007), Đánh giá hoạt động giảng dạy và NCKH của GV Đại học, Tạp chí luật học, số 7/2007, tr 71-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hoạt động giảng dạy và NCKH của GV Đại học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Năm: 2007
20. Trần Thị Hồng (2012), Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả NCKH của ngành khoa học xã hội tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên, Luận văn Ths. Ngành Quản lý KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả NCKH của ngành khoa học xã hội tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
Tác giả: Trần Thị Hồng
Năm: 2012
22. Bảo Huy (2007), Giáo trình Phương pháp tiếp cận khoa học, Bộ GD&ĐT - Trường Đại học Tây Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp tiếp cận khoa học
Tác giả: Bảo Huy
Năm: 2007
24. Nguyễn Đức Minh (2013), Phát triển NCKH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Trường Đại học Hồng Bàng, Luận văn Ths. Ngành Quản lý KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển NCKH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Trường Đại học Hồng Bàng
Tác giả: Nguyễn Đức Minh
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Mô hình tổ chức Trường ĐHQT Hồng Bàng - Gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học của giảng viên trong các trường đại học ngoài công lập (nghiên cứu trường hợp trường đại học quốc tế hồng bàng)
Bảng 2.1 Mô hình tổ chức Trường ĐHQT Hồng Bàng (Trang 44)
Bảng 2.2: Độ tuổi và giới tính - Gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học của giảng viên trong các trường đại học ngoài công lập (nghiên cứu trường hợp trường đại học quốc tế hồng bàng)
Bảng 2.2 Độ tuổi và giới tính (Trang 45)
Bảng 2.5: Kinh phí của Trường ĐHQT Hồng Bàng các năm - Gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học của giảng viên trong các trường đại học ngoài công lập (nghiên cứu trường hợp trường đại học quốc tế hồng bàng)
Bảng 2.5 Kinh phí của Trường ĐHQT Hồng Bàng các năm (Trang 49)
Bảng 2.9: Các yếu tố ảnh hưởng hoạt động NCKH của GV - Gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học của giảng viên trong các trường đại học ngoài công lập (nghiên cứu trường hợp trường đại học quốc tế hồng bàng)
Bảng 2.9 Các yếu tố ảnh hưởng hoạt động NCKH của GV (Trang 55)
Bảng 2.10: Nguyên nhân giảng viên chƣa tích cực tham gia NCKH - Gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học của giảng viên trong các trường đại học ngoài công lập (nghiên cứu trường hợp trường đại học quốc tế hồng bàng)
Bảng 2.10 Nguyên nhân giảng viên chƣa tích cực tham gia NCKH (Trang 56)
Bảng 3.1: Số giờ nhiệm vụ tham gia NCKH của GV - Gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học của giảng viên trong các trường đại học ngoài công lập (nghiên cứu trường hợp trường đại học quốc tế hồng bàng)
Bảng 3.1 Số giờ nhiệm vụ tham gia NCKH của GV (Trang 71)
Bảng 3.3: Khung định mức quy ra giờ chuẩn - Gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học của giảng viên trong các trường đại học ngoài công lập (nghiên cứu trường hợp trường đại học quốc tế hồng bàng)
Bảng 3.3 Khung định mức quy ra giờ chuẩn (Trang 72)
Bảng 3.4: Khung định mức giờ chuẩn giảng dạy đối với GV đƣợc bổ nhiệm - Gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học của giảng viên trong các trường đại học ngoài công lập (nghiên cứu trường hợp trường đại học quốc tế hồng bàng)
Bảng 3.4 Khung định mức giờ chuẩn giảng dạy đối với GV đƣợc bổ nhiệm (Trang 73)
Bảng 3.6: Bảng đối tƣợng miễn giảm - Gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học của giảng viên trong các trường đại học ngoài công lập (nghiên cứu trường hợp trường đại học quốc tế hồng bàng)
Bảng 3.6 Bảng đối tƣợng miễn giảm (Trang 73)
Phụ lục 2: BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHỎNG VẤN - Gắn kết quả nghiên cứu với đào tạo nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học của giảng viên trong các trường đại học ngoài công lập (nghiên cứu trường hợp trường đại học quốc tế hồng bàng)
h ụ lục 2: BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHỎNG VẤN (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w