1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân

103 301 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tế nghiên cứu nhu cầu tin tại đây cùng với mong muốn làm rõ khả năng đáp ứng thông tin cho người dùng tin của Trung tâm, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nhu cầu tin và khả năn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ HƯƠNG

NHU CẦU TIN VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƯ LIỆU GIÁO KHOA

HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN THƯ VIỆN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ HƯƠNG

NHU CẦU TIN VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƯ LIỆU GIÁO KHOA

HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN THƯ VIỆN

Chuyên ngành: Khoa học Thông tin – Thư viện

Mã số: 60 32 02 03

Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS VŨ VĂN NHẬT

XÁC NHẬN HỌC VIỆN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG

Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn thạc sĩ khoa học

PGS,TS Vũ Văn Nhật PGS,TS Nguyễn Thị Minh Nguyệt

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác./

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU TIN VÀ KHÁI QUÁT

VỀ HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN

13

1.1 Những khái niệm cơ bản 13

1.2 Khái quát về Học viện An ninh nhân dân và Trung tâm

Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa

19

1.3 Ý nghĩa việc nghiên cứu nhu cầu tin 34

Chương 2 THỰC TRẠNG NHU CẦU TIN VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP

ỨNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ

TƯ LIỆU GIÁO KHOA HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN

35

2.1 Các nhóm người dùng tin 35

2.1.2 Nhóm người dùng tin là Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy 37

2.2 Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng 39

2.3 Tập quán khai thác thông tin 47

2.4 Khả năng đáp ứng nhu cầu tin của Trung tâm Thông tin

Khoa học và Tư liệu giáo khoa

53

Trang 5

2.4.2 Khả năng đáp ứng về sản phẩm và dịch vụ thông tin 60

2.5 Nhận xét, đánh giá 69

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỤC VỤ

NGƯỜI DÙNG TIN CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƯ LIỆU GIÁO KHOA HỌC VIỆN

AN NINH NHÂN DÂN

73

3.1 Nhóm giải pháp tăng cường nghiên cứu nhu cầu tin 73

3.2 Nhóm giải pháp thỏa mãn nhu cầu tin 76

3.2.3 Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ

thông tin, thư viện

79

3.3 Nhóm giải pháp kích thích nhu cầu tin 81

3.3.2 Đẩy mạnh các hoạt động định hướng người dùng tin 81 3.3.3

3.3.4

3.3.5

Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ thông tin thư viện Đẩy mạnh các hoạt động chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện thuộc hệ thống trường Công an nhân dân

Tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại và chuẩn hóa hoạt động xử lý thông tin

Trang 6

DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

ANND : An ninh nhân dân

CBNC,GD : Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy

CSDL : Cơ sở dữ liệu

NCT : Nhu cầu tin

NCS : Nghiên cứu sinh

NDT : Người dùng tin

TTKH&TLGK : Thông tin khoa học & Tư liệu giáo khoa

Trang 7

Bảng 2.2: Lĩnh vực người dùng tin quan tâm

Bảng 2.3: Các loại hình tài liệu được bạn đọc thường xuyên sử dụng

Bảng 2.4: Nhu cầu sử dụng tài liệu theo ngôn ngữ

Bảng 2.5: Nhu cầu về thời gian xuất bản thông tin

Bảng 2.6: Thời gian khai thác thông tin của người dùng tin

Bảng 2.7: Địa điểm khai thác thông tin của người dùng tin

Bảng 2.8: Các dịch vụ thông tin

Bảng 2.9: Thành phần vốn tài liệu

Bảng 2.10: Mức độ thỏa mãn vốn tài liệu

Bảng: 2.11: Thành phần vốn tài liệu theo ngôn ngữ

Bảng 2.12: Phương tiện tra cứu tài liệu thường được sử dụng

Bảng 2.13: Số luợt bạn đọc đến thư viện

Bảng 2.14: Tình trạng phục vụ và lý do bị từ chối khi mượn tài liệu

Bảng 2.15: Đánh giá của người dùng tin về thái độ phục vụ của cán bộ thư viện Bảng 2.16: Đánh giá của người dùng tin về cơ sở vật chất, trang thiết bị thư viện H1.1: Biểu đồ bổ sung vốn tài liệu của Trung tâm TTKH&TLGK

H2.1: Biểu đồ cơ cấu vốn tài liệu của Trung tâm TTKH & TLGK

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ, thế giới đang chuyển sang nền kinh tế tri thức làm xuất hiện lực lượng sản xuất mới, tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển, đồng thời tạo ra thách thức rất lớn đòi hỏi về vốn tri thức, trình độ của các thành viên trong xã hội hướng tới một xã hội học tập Đặc biệt, với thanh niên, sinh viên phải không ngừng nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng, phải có thêm phẩm chất mới, năng lực mới, tri thức mới để thực hiện sứ mệnh của mình với xã hội Thực tế cho thấy chỉ có con đường học tập, học tập suốt đời mà cốt lõi là tự học mới có thể giúp chúng ta chiếm lĩnh được thông tin, tri thức của nhân loại

Thư viện với chức năng của mình, là nơi lưu trữ, tổ chức, xử lý, khai thác và phổ biến thông tin cho mọi đối tượng, mọi tầng lớp đã đóng một vai trò rất quan trọng trong tiến trình phát triển chung của xã hội Song câu hỏi đặt ra

là làm thế nào để thư viện có thể thực hiện chức năng của mình một cách tốt nhất, phục vụ thông tin cho độc giả một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất? Đây

đã và đang là vấn đề đặt ra cho các thư viện

Nằm trong hệ thống các trường đại học của cả nước, Học viện An ninh Nhân dân (ANND) là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học lớn của cả nước, một trường đại học hàng đầu của ngành Công an Phát huy truyền thống tốt đẹp và trí tuệ tập thể, Học viện ANND đang tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng tất cả các mặt công tác để xứng đáng là trung tâm đào tạo lớn và uy tín của cả nước

Trước tình hình thế giới và khu vực đang có những biến đổi từng ngày, hội nhập quốc tế dẫn đến sự thay đổi môi trường an ninh quốc tế, an ninh khu vực và an ninh quốc gia đòi hỏi Học viện ANND phải có chiến lược đào tạo,

Trang 9

cũng như lý luận nghiệp vụ để thích ứng với tình hình mới Với đặc thù riêng của ngành, lý luận khoa học nghiệp vụ an ninh là vốn riêng của mỗi quốc gia, không có sự phổ biến rộng rãi như các khoa học khác nên nguồn tài liệu chủ yếu đuợc khai thác tại thư viện Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của cán bộ, giáo viên, học viên, tổ Tư liệu giáo khoa đã đuợc hình thành Trải qua lịch sử tổ Tư liệu giáo khoa phát triển thành Phòng Tư liệu giáo khoa và nay là Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa

Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa (TTKH&TLGK) ra đời cùng với lịch sử phát triển của Học viện ANND Từ những khó khăn thiếu thốn ban đầu về vốn tài liệu cũng như cơ sở vật chất, đơn vị vẫn luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, ra sức tìm tòi, học tập cải tiến phương thức phục vụ, khắc phục những điểm yếu đóng góp vào những thành tựu chung trong công tác nghiên cứu giảng dạy của Nhà trường Hiện nay, với sự quan tâm, đầu tư của Ban Giám đốc Học viện và quyết tâm của tập thể cán bộ, Trung tâm đã và đang

có sự biến đổi về chất và lượng, vốn tài liệu ngày càng phong phú, cơ sở vật chất, trang thiết bị ngày càng được cải thiện Tuy nhiên khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin cho cán bộ, giáo viên, học viên của Nhà trường hiện nay vẫn còn nhiều bất cập Vì vậy, việc nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng để tìm

ra những hạn chế còn tồn tại, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động của Trung tâm TTKH&TLGK là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn

Xuất phát từ thực tế nghiên cứu nhu cầu tin tại đây cùng với mong muốn làm rõ khả năng đáp ứng thông tin cho người dùng tin của Trung tâm, tôi đã lựa

chọn đề tài: “Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa Học viện An ninh nhân dân” làm đề tài luận

văn thạc sĩ của mình Hi vọng, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo để Trung tâm TTKH&TLGK xem xét, từ đó đưa ra những định hướng hoạt động trong thời gian tới

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu nhu cầu tin là đề tài không mới trong lĩnh vực thông tin thư viện Một số công trình, bài viết, các luận văn, khoá luận tiêu biểu, liên quan đến đề tài như:

- Cuốn sách “Thông tin- từ lý luận đến thực tiễn” (2005) của PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng;

- Luận văn thạc sĩ: “Nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng tại thư viện Trường Đại học Phương đông” (2003), Nguyễn Thị Chi;

- Luận văn thạc sĩ: “Nghiên cứu nhu cầu tin khoa học và công nghệ tại Trung tâm Thông tin khoa học & công nghệ quốc gia” (2009), Nguyễn

Tư liệu – Thư viện Đài Tiếng nói Việt Nam” năm 2011

Tuy nhiên, các đề tài trên chỉ tập trung nghiên cứu nhu cầu tin ở một

số thư viện cụ thể với những tính chất và đặc điểm riêng và mỗi đề tài lại

có cách tiếp cận và giải quyết vấn đề khác nhau Hiện nay mới chỉ có 02 đề

tài viết về hoạt động của Trung tâm đó là: “Tăng cường hoạt động thông tin thư viện tại Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa Học viện An ninh nhân dân” của tác giả Hoàng Thị Dung năm 2009 và đề tài: “

Tổ chức và bảo quản vốn tài liệu tại Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa Học viện An ninh nhân dân” của tác giả Nguyễn Minh

Hoàng năm 2013 Như vậy, việc nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin

Trang 11

tại Trung tâm TTKH&TLGK chưa được đề cập trong bất kì công trình nào Đây là vấn đề còn bỏ ngỏ và có tính ứng dụng đối với Trung tâm TTKH&TLGK – Học viện ANND nói riêng và hệ thống các trường Công

an nhân dân nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn hướng tới việc tìm hiểu nhu cầu tin của người dùng tin tại Học viện ANND và xem xét khả năng đáp ứng nhu cầu tin của Trung tâm TTKH&TLGK Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tin cho cán bộ, giáo viên, học viên của Học viện

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Nghiên cứu một số khái niệm về nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin;

 Tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của Trung tâm TTKH&TLGK – Học viện ANND;

 Khảo sát và đánh giá thực trạng nhu cầu tin của người dùng tin tại Học viện ANND;

 Nhận xét, đánh giá mức độ thỏa mãn nhu cầu tin của Trung tâm TTKH&TLGK – Học viện ANND;

 Đưa ra giải pháp tăng cường công tác nghiên cứu nhu cầu tin và nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu tin;

 Đưa ra các giải pháp tăng cường hoạt động thông tin thư viện tại Học viện ANND

4 Giả thuyết nghiên cứu

Khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin tại Học viện ANND về cơ bản đã đảm bảo nhiệm vụ phục vụ đào tạo của Nhà trường

Trang 12

Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn mặt hạn chế như: Việc nghiên cứu nhu cầu tin chưa được tiến hành thường xuyên và thực sự khoa học; nguồn lực thông tin; sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện còn đơn điệu, thiếu các sản phẩm, dịch vụ hiện đại; cơ sở vật chất thư viện chưa thực sự đảm bảo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học; phương thức phục vụ đôi chỗ còn chưa hợp lý… Trung tâm cần có những giải pháp nhằm khắc phục những mặt còn hạn chế, phát huy những mặt mạnh trong công tác phục vụ người dùng tin, góp phần từng bước thực hiện mục tiêu đào tạo của Học viện trong giai đoạn đổi mới quản lý giáo dục

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm TTKH&TLGK- Học viện ANND

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: Trung tâm thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa– Học viện An ninh nhân dân

- Thời gian nghiên cứu: Từ 2010 đến 2015

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế- xã hội, giáo dục đào tạo… trong thời kỳ đổi mới đất nước; tư tưởng chỉ đạo của Bộ Công an, Học viện ANND về công tác thư viện

6.2 Phương pháp cụ thể

Việc khảo sát nhu cầu tin của người dùng tin tại Học viện ANND được thực hiện bằng nhiều phương pháp: điều tra bằng phiếu kết hợp với

Trang 13

phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với người dùng tin; quan sát phân tích và tổng hợp, so sánh các kết quả thu thập Mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm Sử dụng tổ hợp các phương pháp trên cho phép thu được các số liệu khách quan hơn

 Phương pháp quan sát

Việc quan sát được tiến hành tại các phòng đọc của Trung tâm TTKH&TLGK-Học viện ANND vào các buổi sáng, buổi chiều và buổi tối Phương pháp này góp phần làm rõ hơn tập quán của người dùng tin

 Điều tra bằng phiếu

Là việc khảo sát nhu cầu tin được tiến hành thông qua hệ thống các câu hỏi

và các gợi ý trả lời

Số phiếu phát ra : 500 phiếu

Số phiếu thu về: 489 phiếu (đạt 96.3%)

Đối tượng được điều tra:

- Nhóm Cán bộ lãnh đạo, quản lý: phát ra 60 phiếu, thu về 59 phiếu (đạt 98,3%)

- Nhóm Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy (CBNC,GD): Số phiếu được phát đều ở tất cả các khoa theo tỉ lệ số cán bộ Phiếu phát ra 110 phiếu, thu về 107 phiếu (đạt 97,2%)

- Nhóm Học viên: Phiếu được phát theo tỉ lệ sinh viên từng chuyên khoa

và phát ngẫu nhiên tại các Phòng đọc Số phiếu phát ra 330 phiếu, thu về 323 phiếu ( đạt 97,8%)

 Phỏng vấn trao đổi

Gặp gỡ với một vài nhóm người dùng tin tại Học viện có độ tuổi, trình độ khác nhau để thăm dò nhu cầu, lấy ý kiến đánh giá và nhận xét của họ về hoạt động của Trung tâm TTKH&TLGK

Trang 14

 Phân tích phiếu yêu cầu

Là việc thống kê, phân tích các yêu cầu của bạn đọc thông qua phiếu yêu cầu được lưu tại Trung tâm TTKH&TLGK để rút ra nhận xét về đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin cũng như mức độ phù hợp giữa vốn tài liệu của Trung tâm với các nhu cầu đó

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài góp phần làm rõ và sâu sắc thêm lý luận về nhu cầu tin, nhu cầu đọc cùng các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển các nhu cầu đó; Nghiên cứu đặc điểm nhu cầu tin và phương thức thoả mãn thông tin của một số nhóm người dùng tin tiêu biểu và một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác phục vụ người dùng tin

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho cán bộ thư viện trong công tác phục vụ người dùng tin Các giải pháp và khuyến nghị của luận văn có thể xem xét ứng dụng vào các mặt hoạt động của Trung tâm TTKH&TLGK Nâng cao chất lượng phục vụ người dùng tin chính là là góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng dạy và học của Học viện ANND

8 Dự kiến kết quả nghiên cứu

Dựa trên những số liệu điều tra, thống kê được và những đánh giá từ tác giả cũng như người dùng tin, luận văn sẽ làm rõ đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tại Học viện ANND nói riêng và hệ thống trường Công an nhân dân nói chung; thực trạng nhu cầu tin và xem xét khả năng đáp ứng của Trung tâm TTKH&TLGK trong phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của Nhà trường Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm

Trang 15

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về nhu cầu tin và khái quát về Học viện An ninh

Nhân dân

Chương 2: Thực trạng nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của Trung tâm

Thông tin Khoa học và Tư liệu giáo khoa –Học viện An ninh Nhân dân

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả phục vụ người dùng tin của

Trung tâm Thông tin Khoa học và Tư liệu giáo khoa –Học viện An ninh Nhân dân

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU TIN

VÀ KHÁI QUÁT VỀ HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN 1.1 Những khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm về người dùng tin và nhu cầu tin

Người dùng tin (hay người đọc, bạn đọc) là một trong bốn yếu tố cấu

thành nên thư viện có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của

hoạt động thông tin thư viện

Người dùng tin là người sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu của mình, họ có nhu cầu và thể hiện cụ thể nhu cầu tin của mình, những nhu cầu này chính là cơ sở để xây dựng, phát triển nguồn lực thông tin và tổ chức, khai thác nguồn lực thông tin trong hoạt động cơ quan thông tin- thư viện Nói cách khác, người dùng tin là nhân tố điều chỉnh, định hướng cho hoạt động thông tin thông qua dòng thông tin phản hồi Ý kiến đánh giá của người dùng tin trong quá trình sử dụng thông tin góp phần điều chỉnh hoạt động thông tin theo hướng phù hợp và hiệu quả hơn với nhu cầu của người dùng tin [27,tr.7-8]

Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người đòi hỏi, mong muốn

về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống và những đặc điểm tâm lý mà mỗi người có những nhu cầu khác nhau Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, các nhu cầu ngày càng gia tăng không ngừng, các nhu cầu hiện nay không còn

bó hẹp trong các nhu cầu vật chất đơn thuần như: ăn, mặc, ở… mà còn các nhu cầu khác trong đó có nhu cầu về thông tin

Đối với các cơ quan thông tin thư viện, nhu cầu tin là cơ sở quan trọng

Trang 17

từ nhu cầu nhận thức muốn được hiểu biết và khám phá về sự vật, hiện tượng Một khi con người có nhu cầu nhận thức, tất yếu họ sẽ có nhu cầu thông tin

Vậy nhu cầu tin là gì?

Nhu cầu tin (NCT) là đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin, nhằm duy trì hoạt động sống của con người Khi đòi hỏi về thông tin của con người trở nên cấp thiết thì nhu cầu tin xuất hiện.[27,tr.16]

Nhu cầu tin chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: môi trường, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính nó mang tính lịch sử xã hội cụ thể Do đó, nó có thể biến đổi và không bất biến

NCT chính là nguồn gốc của hoạt động thông tin Mục đích cuối cùng của hoạt động thông tin là đáp ứng các nhu cầu tin trong xã hội Do đó NCT

là yếu tố quyết định hoạt động thông tin

Một vấn đề chúng ta cần phân biệt rõ giữa nhu cầu tin và yêu cầu tin Yêu cầu tin là sự thể hiện bằng lời hoặc bằng văn bản một phần nhu cầu tin của người dùng tin đối với một hệ thống thông tin nào đó tại một thời điểm nhất định Trong công tác phục vụ thông tin, chu trình “Nhu cầu tin – Yêu cầu tin” xảy ra hai trường hợp:

- Nhu cầu tin hoàn toàn trùng khớp với yêu cầu tin (người dùng tin có khả năng diễn đạt đầy đủ nhu cầu tin trong yêu cầu tin)

- Yêu cầu tin chỉ phản ánh được một phần nhu cầu tin (do lý do chủ quan nào đó, người dùng tin không có khả năng diễn đạt hết nhu cầu tin của

họ trong yêu cầu tin đối với cơ quan thông tin) Trong trường hợp này, người dùng tin phải có sự hỗ trợ cần thiết của cán bộ thông tin thì họ mới có thể diễn đạt đầy đủ nhu cầu tin của mình trong yêu cầu tin [31,tr.8]

Như vậy, nhu cầu tin và yêu cầu tin là hai khái niệm không tương đồng Nhu cầu tin là khái niệm trừu tượng và rộng, bao trùm hơn yêu cầu tin Có thể

Trang 18

hiểu đơn giản, nhu cầu tin là nhu cầu về thông tin cần thiết cho người dùng tin, giúp họ giải quyết một vấn đề hay một nhiệm vụ nào đó Yêu cầu tin là sự biểu hiện cụ thể, một phần của nhu cầu tin

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tin

Nhu cầu tin của con người luôn biến đổi cùng với sự thay đổi của hoàn cảnh

xã hội và chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau

Là những yếu tố bên ngoài có tác động đến nhu cầu tin của người dùng tin bao gồm: yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, môi trường sinh thái… Tuy nhiên luận văn chỉ nêu ra một số yếu tố có tác động trực tiếp đến nhu cầu tin của người dùng tại Trung tâm TTKH&TLGK đó là: yếu tố chính trị, kinh

tế, khoa học công nghệ

Yếu tố chính trị

Chế độ chính trị ở Việt Nam là thể chế chính trị một Đảng duy nhất cầm quyền đó là Đảng Cộng sản Đảng lãnh đạo với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Trong đó lực lượng vũ trang đóng vai trò nòng cốt, là công cụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ nhân dân

Công an nhân dân Việt Nam ra đời cùng với sự hình thành, phát triển của đất nước, là lực lượng trung thành của Đảng, có nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia

và giữ gìn trật tự an toàn xã hội Trong 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, lực lượng công

an luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc các quan điểm, chủ trương của Đảng, khẳng định vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng của mình, góp phần không nhỏ vào những thắng lợi của toàn Đảng, toàn dân trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ tổ quốc

Trang 19

Hiện nay, tình hình an ninh chính trị trong nước luôn diễn biến phức tạp Các thế lực thù địch vẫn ráo riết đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hòa bình” với những phương thức, thủ đoạn ngày càng thâm độc nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa Chúng tìm cách móc nối giữa bọn phản động bên trong và bên ngoài nhằm công khai hóa, quốc tế hóa các hoạt động chống đối, tập trung lợi dụng các vấn đề về “dân chủ”, nhân quyền” kích động tư tưởng ly khai, tự trị, gây rối, bạo loạn, cài cắm cơ sở, tác động, lôi kéo nhằm hình thành lực lượng chính trị đối lập, đưa người, phương tiện, vũ khí vào trong nước tiến hành các hoạt động phá hoại

Trong khi tình hình an ninh chính trị có những diến biến khó lường thì tình hình tội phạm trong nước cũng có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và tính chất nguy hiểm, xuất hiện nhiều loại tội phạm mới như: tội phạm rửa tiền, buôn bán phụ nữ, trẻ em đặc biệt là tội phạm sử dụng công nghệ cao đã bắt đầu hình thành

Điều này đã và đang đặt ra những thách thức rất lớn đối với lực lượng công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn

xã hội, đòi hỏi lực lượng Công an nhân dân phải xây dựng được đội ngũ chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải không ngừng nghiên cứu, học tập, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của tình hình mới

Yếu tố kinh tế

Đảng đã xác định, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thực chất đây là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết, quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Như vậy, nhà nước luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã

Trang 20

các nước trong khu vực, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển các lĩnh vực khác của đời sống xã hội

Lực lượng an ninh nói riêng và ngành Công an nói chung là lực lượng đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và quản lý của Nhà nước Việc xây dựng và phát triển lực lượng chịu tác động to lớn từ nền kinh tế quốc dân Hoạt động của ngành chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách của Nhà nước cấp Do vậy, mọi hoạt động cần được dự báo, lên kế hoạch đề xuất kinh phí hàng năm Với nguồn ngân sách có hạn phần nào đã làm ảnh hưởng đến xây dựng cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ trang bị thiếu đồng bộ Hoạt động thông tin cũng không nằm ngoài những tác động của yếu tố này

Yếu tố khoa học công nghệ

Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ thì các thủ đoạn của tội phạm sử dụng công nghệ cao ngày càng đa dạng, tinh vi và nguy hiểm hơn Cụ thể là tình trạng xâm phạm an ninh, an toàn mạng máy tính, sử dụng công nghệ thông tin, truyền thông để chiếm đoạt tài sản, trộm cắp, tống tiền… Thiệt hại do các loại tội phạm này gây ra vô cùng lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội Điều này đã đặt ra nhiệm vụ mới lực lượng Công an phải liên tục nghiên cứu tìm ra những phương thức, thủ đoạn, công nghệ mới, đi trước một bước trong việc phòng ngừa, ngăn chặn, đối phó với các loại tội phạm này

Trong các yếu tố trên, yếu tố chính trị có vai trò quan trọng nhất, bởi lẽ mọi hoạt động của Ngành Công an nói chung và Học viện ANND nói riêng đều nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước giao phó Do vậy, hoạt động thông tin thư viện cũng không nằm ngoài mục đích tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần tư tưởng của Chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng

Hồ Chí Minh; trung thành và tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng

Trang 21

Yếu tố chủ quan và các điều kiện cá nhân

Hoạt động khai thác thông tin trước hết là hoạt động cá nhân, bị quy định đầu tiên bởi những đặc tính riêng có của cá nhân – chủ thể nhu cầu tin

Đó là đặc tính về nghề nghiệp, học vấn, độ tuổi, giới tính

Trong các yếu tố trên, yếu tố nghề nghiệp có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu người dùng tin ở góc độ nội dung thông tin Người dùng tin tại Học viện ANND là những sỹ quan an ninh trong tương lai, được rèn luyện, đào tạo để trở thành những sỹ quan vừa “hồng” vừa “chuyên”, là những người có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng động, nhạy bén, vững

về pháp luật, giỏi về nghiệp vụ Với những yêu cầu như vậy, khối lượng môn học khá lớn, thông tin đa dạng, ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó tập trung vào các lĩnh vực như: chính trị, pháp luật, nghiệp vụ an ninh

Đặc điểm về học vấn, giới tính, tâm lý lứa tuổi khác nhau cũng là những yếu tố có ảnh hướng sâu sắc đến nhu cầu tin Để trở thành sinh viên của Học viện ANND, mỗi học sinh phải trải qua các kỳ thi với số điểm rất cao, vì vậy có thể nói người dùng tin tại Học viện ANND là những người có trình độ, được tuyển chọn kỹ lưỡng về cả thể chất và học vấn Đa số là nam giới, nữ chỉ chiếm 10% quân số Đây là những đặc điểm riêng có của người dùng tin tại Học viện ANND, điều này sẽ có ảnh hưởng đến tập quán khai thác thông tin, sở thích tin của người dùng

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tin tức là làm sáng tỏ môi trường mà nhu cầu tin phát triển trong đó để thấy được các yếu tố tích cực cần nhân lên, những yếu tố không có lợi cho sự phát triển đúng hướng của nhu cầu tin cần giảm đến mức tối thiểu

Tóm lại nhu cầu tin chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Việc tìm hiểu những yếu tố ấy sẽ giúp tác động đúng hướng vào nhu cầu tin nhằm kích thích nhu cầu ấy phát triển

Trang 22

1.1.3 Khái niệm khả năng đáp ứng nhu cầu tin

Khả năng đáp ứng nhu cầu tin là khả năng cung cấp thông tin nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu tin của NDT bằng các sản phẩm và dịch vụ thông tin Khả năng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó phải kể đến nguồn lực thông tin, trình độ cán bộ, cơ sở vật chất…và cả chính nhu cầu tin của NDT

Khả năng đáp ứng nhu cầu tin tỷ lệ thuận với nhu cầu tin của NDT và ngược lại Nghĩa là thông tin càng được đáp ứng thì nhu cầu tin càng phát triển Đồng nghĩa với khả năng đáp ứng nhu cầu tin ngày càng được hoàn thiện và nâng cao hơn

Khả năng đáp ứng nhu cầu tin được đánh giá trên các mặt: Khả năng đáp ứng về nguồn lực thông tin, về sản phẩm và dịch vụ thông tin, về nguồn nhân lực và cơ sở vật chất, trang thiết bị

1.2 Khái quát về Học viện An ninh nhân dân và Trung tâm Thông tin khoa học và Tƣ liệu giáo khoa

1.2.1 Khái quát về Học viện An ninh nhân dân

1.2.1.1 Lịch sử hình thành phát triển

Học viện An ninh nhân dân (ANND) ngày nay, tiền thân là Trường Huấn luyện Công an, được thành lập ngày 25 tháng 6 năm 1946 theo Nghị định số 215/NĐ-P2 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) Trải qua các giai đoạn khác nhau, Trường lần lượt mang các tên gọi: Trường Huấn luyện Công an (1946-1949), Trường Công an Trung cấp (1949-1953), Trường Công an Trung ương (1953-1974), Trường Sỹ quan An ninh (1974-1981), Trường Đại học An ninh nhân dân (1981-2001) và từ năm 2001 đến nay là Học viện ANND Mang nhiều tên gọi khác nhau, song một cái tên đã trở thành danh tiếng, khắc sâu trong tâm trí của các thế hệ cán bộ, giáo viên, sinh viên và có uy tín sâu rộng trong toàn ngành Công an – Trường C500

Trang 23

Trải qua 69 năm xây dựng và trưởng thành, từ một trường huấn luyện công an, đào tạo nghề, đến nay Học viện ANND trở thành một trong những trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học lớn của cả nước, một trường đại học hàng đầu của ngành Công an

Từ khi thành lập đến nay, Học viện ANND đã đào tạo hàng ngàn cán

bộ công an tham gia kháng chiến thời kỳ chống Pháp; đào tạo hàng vạn cán

bộ công an chi viện cho chiến trường B, C, K; là đơn vị chủ lực đào tạo cán

bộ công an tham gia chiến đấu bảo vệ Miền Bắc Xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, bảo vệ an ninh quốc gia trong thời kỳ đất nước thống nhất, đổi mới và hội nhập quốc tế Ngoài đào tạo cho ngành Công an, Học viện cũng đã đào tạo hàng ngàn cán bộ có trình độ cử nhân, thạc sỹ, tiến sĩ cho lực lượng an ninh quân đội, bộ đội biên phòng, lưu học sinh, cán bộ cao cấp Lào, Campuchia

Hiện nay, Học viện đang đào tạo bậc đại học cho lực lượng Công an các ngành Điều tra trinh sát, Điều tra hình sự, Luật, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Công nghệ thông tin, Truyền thông và mạng máy tính, Ngôn ngữ Anh, Ngôn ngữ Trung Quốc; đào tạo hệ dân sự các ngành Luật, Công nghệ thông tin; quy mô tuyển sinh hệ đào tạo đại học chính quy hàng năm gần 1.000 sinh viên

Về đào tạo sau đại học, Học viện đang đào tạo thạc sỹ, tiến sĩ các ngành Luật (chuyên ngành Điều tra tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia), Điều tra trinh sát, Quản lý nhà nước về an ninh trật tự

Đến tháng 3 năm 2015, tổng số cán bộ, giáo viên của Học viện là 958 (tăng 480 người so với năm 2010), trong đó đội ngũ giáo viên là 450; về trình

độ, có 68 tiến sĩ (trong đó có 05 Giáo sư, 20 Phó Giáo sư), 255 thạc sỹ, 05 Nhà giáo nhân dân, 38 Nhà giáo Ưu tú Với đội ngũ hiện có, Học viện

Trang 24

ANND là một trong những đơn vị dẫn đầu về nguồn nhân lực chất lượng cao trong hệ thống giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học của ngành Công an

Trong quá trình xây dựng và trưởng thành, Học viện luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Bác Hồ, của Đảng, Nhà nước và Bộ Công an Trường vinh

dự được 8 lần Bác Hồ về thăm và nói chuyện với cán bộ, giáo viên; nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước đã đến thăm và làm việc; liên tục 16 năm, từ 1946 đến 1962, người đứng đầu ngành Công an trực tiếp làm Hiệu trưởng; nhiều thế hệ cán bộ, giáo viên, sinh viên sau khi công tác, học tập tại Trường đã trưởng thành, là những cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, ngành Công an, tướng lĩnh, sỹ quan cao cấp, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: 04 đồng chí là Ủy viên Bộ Chính trị, 16 đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng, 155 đồng chí được phong quân hàm cấp tướng Công an nhân dân, 12 đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Những mốc son đó đã khẳng định vị thế , tầm quan trọng của Trường trong hệ thống giáo dục đào tạo nói chung và các trường Công an nhân dân nói riêng

Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng, Trường được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương, danh hiệu cao quý Phát huy truyền thống đơn vị anh hùng và những thành tựu đã đạt được, phát huy trí tuệ tập thể, Học viện ANND đang tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng tất cả các mặt công tác để xứng đáng là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học hàng đầu của ngành Công an và của cả nước[9,tr.4-6]

1.2.1.2 Vị trí, chức năng và các chuyên ngành đào tạo

Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Học viện An ninh nhân dân được quy định tại Quyết định 2005/2006/QĐ-BCA(X13) ngày 25 tháng 12 năm

2006 của Bộ trưởng Bộ Công an “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Học viện An ninh nhân dân” như sau:

Trang 25

Vị trí và chức năng:

Học viện ANND trực thuộc Bộ trưởng Bộ Công an Bộ trưởng Bộ Công an ủy quyền cho Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân quản lý, chỉ đạo hoạt động của Học viện ANND theo đúng chức năng

Học viện ANND có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ An ninh nhân dân có trình độ đại học và sau đại học; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của lực lượng An ninh nhân dân, tham mưu, xây dựng lực lượng Công an nhân dân và của Bộ Công an; thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo theo kế hoạch của Bộ; là trung tâm nghiên cứu khoa học của lực lượng Công an nhân dân.[2]

Các chuyên ngành đào tạo:

Học viện An ninh nhân dân luôn luôn coi trọng và đầu tư cao nhất cho công tác đào tạo, bồi dưỡng, đội ngũ giáo viên và quản lý giáo dục, bảo đảm yêu cầu đào tạo và nghiên cứu khoa học trong từng thời kỳ phát triển của Học viện Đội ngũ giáo viên và quản lý giáo dục của Học viện có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn luôn trung thành với Đảng, Nhà nước và dân tộc, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có năng lực sư phạm và năng lực chuyên môn vững vàng Đội ngũ giáo viên và quản lý giáo dục của Học viện là lực lượng chủ đạo, quyết định làm nên môi trường giáo dục lành mạnh của Học viện Đây chính là danh tiếng của Học viện, là niềm tự hào của những ai được học tập, công tác tại Học viện An ninh nhân dân Hiện nay Học viện An ninh nhân dân đang đào tạo 15 ngành thuộc 9 khoa sau: Nghiệp vụ cơ sở ( Khoa nghiệp vụ 1); Trinh sát chống gián điệp (Khoa nghiệp vụ 2); Trinh sát chống phản động (Khoa nghiệp vụ 3); Điều tra hình sự (Khoa nghiệp vụ 4); Quản lý Nhà nước

về An ninh quốc gia (Bộ môn nghiệp vụ 6); Trinh sát bảo vệ an ninh nội bộ

Trang 26

(Khoa Nghiệp vụ 7); Công nghệ thông tin, Truyền thông và Mạng máy tính (Khoa Toán - tin học); Ngôn ngữ Anh, ngôn ngữ Trung Quốc, Ngôn ngữ Pháp, ngôn ngữ Nga (Khoa Ngoại ngữ); Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước (Khoa xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước); Luật dân sự, luật kinh tế, luật hình sự (Khoa Pháp luật) Ngoài ra còn có các môn khoa học cơ bản như: Bộ môn Mác – Lênin và Khoa học xã hội và Nhân văn; Bộ môn Quân sự võ thuật,

Bộ môn Tâm lý

1.2.1.3 Định hướng phát triển của Học viện

Ngày 12 tháng 6 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định số 3012/QĐ-BCA-X11 phê duyệt Đề án thành phần số 2 thuộc Đề án “Quy hoạch tổng thể, nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong Công an nhân dân đến năm 2015” Theo quyết định đã được Bộ trưởng phê duyệt, đến năm 2015 Học viện ANND trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của ngành Công an nhân dân, đạt được các tiêu chí sau:

Học viện là cơ sở đào tạo đa ngành, trong đó các ngành đào tạo mũi nhọn

là Điều tra trinh sát, Điều tra hình sự, Quản lý nhà nước về an ninh trật tự; quy

mô đào tạo 9.500 sinh viên; đào tạo hệ dân sự phục vụ công tác bảo vệ trật tự an toàn xã hội và đáp ứng nhu cầu xã hội các ngành thuộc thế mạnh của Học viện như Luật Hình sự, Công nghệ thông tin, Giáo dục Quốc phòng – An ninh, ngôn ngữ Anh, ngôn ngữ Trung Quốc

Học viện ANND là cơ sở nghiên cứu khoa học hàng đầu của ngành Công

an, tham gia giải quyết có hiệu quả những vấn đề mới về bảo vệ An ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội nảy sinh trong thời kỳ hội nhập quốc tế và xu thế toàn cầu hóa

Cơ cấu tổ chức bộ máy được điều chỉnh phù hợp với chức năng, nhiệm vụ trường đại học trọng điểm của Ngành; đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo

Trang 27

dục đủ về số lượng theo tỷ lệ trung bình 01 giảng viên/16 học viên; đạt tiêu chuẩn về trình độ theo tỷ lệ 30% giảng viên có trình độ tiến sĩ và 60% có trình độ thạc sĩ; đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có 25% đạt trình độ tiến sĩ

và 55% thạc sĩ

Cơ sở vật chất tại cơ sở hiện tại (cơ sở 1 thuộc Phường Văn Quán, Quận Hà Đông, Hà Nội) được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, hiện đại, đạt tiêu chuẩn theo quy mô đào tạo và yêu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học [9, tr.20-22]

Thực hiện các mục tiêu trên, Học viện ANND đang tích cực đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, phát triển ngành nghề, tích cực đầu tư cơ sở vật chất tiên tiến, hiện đại để sớm xây dựng Học viện trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của Ngành, tiến tới trở thành trường trọng điểm quốc gia vào năm 2020; xứng đáng là cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học hàng đầu của ngành Công an, có uy tín và danh tiếng trong xã hội, ngang tầm với các trường tiên tiến trong khu vực

1.2.2 Khái quát về Trung tâm Thông tin khoa học và Tƣ liệu giáo khoa

Từ ngày thành lập năm 1946 đến 1969, bộ phận Tư liệu giáo khoa nằm trong Phòng Giáo vụ của Trường Công an Trung ương Năm 1969, Trường bắt đầu đào tạo sỹ quan an ninh hệ đại học Để đáp ứng tư liệu

Trang 28

phục vụ dạy và học ở bậc đại học, cần có một đơn vị chuyên trách phục vụ công tác tư liệu cho nhiệm vụ dạy và học, Trường lập phòng Tư liệu giáo khoa Năm

1978, trường mở thêm xưởng in Typo thuộc phòng Tư liệu giáo khoa để in các tài liệu nghiệp vụ do cán bộ, giáo viên trường biên soạn hoặc do Bộ Công an cung cấp Với quy mô đào tạo ngày càng lớn, chức năng nhiệm vụ của Học viện cũng được mở rộng Trước yêu cầu mới, đến năm 2007, Phòng được đổi tên là Trung tâm TTKH&TLGK cho phù hợp

Trong quá trình 69 năm xây dựng và trưởng thành của Học viện ANND,

dù ở giai đoạn phát triển nào, công tác Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa luôn gắn liền, trở thành một trong những nhân tố quyết định chất lượng đào tạo

và được các thế hệ lãnh đạo nhà trường đặc biệt quan tâm

1.2.2.2 Chức năng và nhiệm vụ

- Trung tâm TTKH&TLGK thuộc Học viện ANND có trách nhiệm giúp Giám đốc Học viện thống nhất quản lý và tổ chức thực hiện các mặt công tác về thông tin khoa học và tư liệu nghiệp vụ, thư viện; quản lý và khai thác hệ thống thư viện điện tử; tổ chức công tác bảo vệ bí mật nhà nước; tổ chức đánh máy, in sao, nhân bản, chế bản giáo trình, tài liệu phục vụ yêu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học, xây dựng lực lượng của Học viện

- Nghiên cứu, đề xuất Giám đốc Học viện về chủ trương, phương hướng,

kế hoạch xây dựng và phát triển công tác tư liệu giáo khoa của Học viện theo hướng chính quy, hiện đại

- Tổ chức quản lý, khai thách có hiệu quả vốn tư liệu, thư viện, phòng đọc, các trang thiết bị phục vụ học tập và giảng dạy

- Bổ sung, phân loại, đăng ký, quản lý lưu trữ các tài liệu, giáo trình, tổ chức khoa học các kho tư liệu, trung tâm dữ liệu tin, các phòng đọc, phòng mượn tra cứu tư liệu phục vụ yêu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu của cán

bộ, giảng viên Học viện

Trang 29

- Tổ chức quản lý mạng lưới thư viện điện tử, thông tin tư liệu, biên soạn in và giới thiệu những thông tin khoa học, tư liệu nhằm phục vụ kịp thời công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu của cán bộ, giảng viên, học viện

- Tổ chức thực hiện và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện những quy định về công tác bảo vệ tài liệu mật và các quy định khác về công tác bảo mật

- Tổ chức và quản lý việc sao in, nhân bản các tài liệu, giáo trình, phim giáo khoa và các ấn phẩm khác theo đúng quy định của Nhà nước, của Bộ và của Học viện

- Quản lý cán bộ, chiến sĩ của phòng theo quy định

- Bảo quản, khai thác sử dụng có hiệu quả các phương tiện, cơ sở vật chất và tài sản được trang bị

- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi Giám đốc Học viện giao

1.2.2.3 Nguồn lực thông tin

Trung tâm TTKH&TLGK đã không ngừng xây dựng và phát triển nguồn tài nguyên thông tin phong phú nhằm đáp ứng nhu cầu của người dùng tin Vốn tài liệu rất đang dạng bao gồm tất cả các ngành đào tạo và nghiên cứu của nhà trường hiện nay

Tài liệu truyền thống:

Bao gồm tất cả các loại tài liệu được xuất bản, in ấn, photo trên giấy theo phương pháp in ấn truyền thống như: Sách, báo, tạp chí, luận án, luận văn, công trình nghiên cứu…

Tính đến thời điểm tháng 6/2015 (theo số liệu tổng kết năm học 2015), tại Trung tâm đang lưu trữ và phục vụ bạn đọc 15.598 đầu sách, tài liệu truyền thống với hơn 100.000 bản, bao gồm nhiều loại hình khác nhau được thể hiện qua bảng sau:

Trang 30

2014-Bảng 1.1.Các loại hình tài liệu truyền thống tại Trung tâm TTKH&TLGK

Tài liệu hiện đại

Để đáp ứng nhu cầu của bạn đọc và từng bước hiện đại hóa thư viện, bên cạnh việc bổ sung các tài liệu in truyền thống, Trung tâm cũng có nhiều cố gắng trong việc xây dựng nguồn tài liệu điện tử Số lượng hiện có tại Trung tâm như sau:

Bảng 1.2 Các loại hình tài liệu hiện đại

1 CSDL toàn văn - 01 CSDL luận văn gồm: 1273 tài liệu tiếng Việt

- 01 CSDL luận án gồm: 146 tài liệu tiếng Việt

- 01 CSDL Khóa luận gồm: 2620 tài liệu tiếng Việt, tiếng Trung, tiếng Anh

2 Tài liệu số hóa - 34 đầu giáo trình nghiệp vụ an ninh

- 111 bài trích tạp chí

- 3.250 đầu tài liệu bằng tiếng Việt

3 Băng, đĩa hình 761 CD, VCD phim tư liệu, phóng sự

Trang 31

Hiện nay, vốn tài liệu này tại Trung tâm vẫn còn khá ít ỏi và đang trong quá trình xây dựng Tuy nhiên, để phổ biến nguồn tài liệu trên cho đông đảo người dùng tin còn gặp rất nhiều khó khăn do chưa giải quyết được vấn đề bảo mật thông tin và bản quyền tác giả

Hàng năm, Ban Giám đốc Học viện đều dành một phần kinh phí để

bổ sung thêm các tài liệu cho Trung tâm Do kinh phí có hạn, cũng như điều kiện về kho tàng còn chật hẹp nên công tác bổ sung được tiến hành có chọn lọc Các nguồn bổ sung chính của Trung tâm:

 Bổ sung tại các nhà xuất bản

 Sách cấp

 Nhận biếu tặng

 Tài liệu nội sinh

Nguồn bổ sung chính của Trung tâm vẫn là đặt mua tại các nhà xuất bản Đầu năm học, Trung tâm đều gửi thông báo tới các khoa bộ môn thăm

dò nhu cầu tài liệu của giáo viên và khi các nhà xuất bản gửi thông báo sách mới, cán bộ làm công tác bổ sung dựa trên cơ sở đó và số lượng tài liệu trong kho xét thấy phù hợp sẽ lập danh mục trình cấp trên phê duyệt Nếu được đồng ý, số sách đó sẽ được bổ sung về Trung tâm

Hàng năm, Trung tâm đều nhận được số lượng nhất định tài liệu do

Bộ Công an phát hành Do đặc thù của ngành nên các loại tài liệu này không được phép mua bán, trao đổi ra bên ngoài mà chỉ được phép lưu hành nội bộ Đây cũng là một nguồn giúp Trung tâm bổ sung được vốn tài liệu nghiệp vụ khá ổn định

Bên cạnh việc đặt mua tài liệu, Trung tâm cũng nhận biếu tặng của các cơ quan, các nhà xuất bản, các cá nhân… Hàng năm, thư viện thường nhận biếu tặng của các cơ quan như: Nhà xuất bản Công an nhân dân, Nhà

Trang 32

nhân khác Tính trung bình mỗi năm thư viện nhận được khoảng trên dưới

100 đầu sách với hàng ngàn cuốn từ nhiều nguồn khác nhau

Nguồn bổ sung cũng vô cùng quan trọng, không thể thiếu, đó là tài liệu nội sinh bao gồm: luận án, luận văn, khóa luận, công trình nghiên cứu khoa học sinh viên, các đề tài nghiên cứu các cấp, tài liệu tham khảo, tập bài giảng, bài tập nghiệp vụ, kỉ yếu hội nghị, hội thảo… Những tài liệu này được nhiều bạn đọc và các đơn vị quan tâm, mang những đặc thù riêng, nội dung gắn liền với nghiệp vụ an ninh

Công tác bổ sung tài liệu của Trung tâm trong thời gian qua được phản ánh rõ nét qua biểu đồ sau

Bảng 1.3 Số lượng tài liệu bổ sung hàng năm

Năm học

Sách Khoa học tổng hợp Sách Nghiệp vụ

2010-2011 253 1733 116 1976 2011-2012 399 2534 138 2885 2012-2013 492 2489 229 4168 2013-2014 723 3534 340 4902 2014-2015 1029 4297 549 5859

Trang 33

Qua sơ đồ trên, có thể dễ dàng nhận thấy, số lượng tài liệu bổ sung biến động theo từng năm cả về sách Khoa học tổng hợp và sách Nghiệp vụ Có thể kể đến một số nguyên nhân như sau:

 Quy mô đào tạo của Học viện tăng lên: Nếu như trước đây số lượng học viên của Nhà trường chỉ khoảng hơn 2.500 học viên thì hiện nay đã lên tới 4.500 học viên Học viện cũng đã mở thêm một số mã ngành mới, số lượng tuyển sinh đầu vào tăng lên hàng năm ở cả 3 bậc: đại học, cao học và nghiên cứu sinh Bên cạnh đó là các hệ đào tạo: dân sự, liên thông, tại chức, văn bằng 2, các lớp bồi dưỡng chức danh Giám đốc, Cục trưởng, Trưởng phòng khối an ninh; các lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh, cao cấp lý luận chính trị, bồi dưỡng ngắn hạn… ở tại Nhà trường và liên kết với công an các tỉnh, thành phố

 Là một trung tâm nghiên cứu đầu ngành, Học viện liên kết và phối hợp với Bộ Công an, các đơn vị nghiệp vụ nghiên cứu nhiều đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp trường…để giải quyết các vấn đề thực tiễn liên quan đến an ninh quốc gia Đây cũng là nơi đầu tiên sản sinh ra lý luận về nghiệp an ninh Học viện là một trong những trường dẫn đầu về phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học Hàng năm nhà trường đều cử sinh viên tham gia nghiên cứu tại các cuộc thi cấp quốc gia và đều đạt giải cao

 Phương pháp dạy và học có sự đổi mới từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ Học viên tự học, nghiên cứu là chính, giáo viên chỉ là người định hướng về nội dung, phương pháp tiếp cận Với phương pháp này, học viên phải lên thư viện tìm đọc tài liệu và nghiên cứu

 Công tác biên soạn tài liệu, giáo trình có nhiều thay đổi, với phương châm: tự lực xây dựng nội dung, chương trình giảng dạy khoa học nghiệp vụ an ninh vì đây là vốn tự có của mỗi quốc gia không thể dễ dàng kế thừa của các nước khác Số lượng giáo trình, tài liệu tham khảo tăng lên hàng năm nhằm đáp

Trang 34

 Do yêu cầu mới của Bộ Công an về vấn đề an ninh quốc gia trong thời kỳ mới, Học viện đang tích cực xây dựng, thành lập Trung tâm nghiên cứu, Viện nghiên cứu các vấn đề về an ninh quốc gia… điều này đặt ra chiến lược phát triển nguồn tài liệu theo từng chuyên đề như: an ninh tôn giáo, an ninh dân tộc,

an ninh trên lĩnh vực đầu tư nước ngoài, tài chính, ngân hàng…

 Hoạt động đối ngoại của Học viện trong thời gian qua đã đuợc đẩy mạnh, kêu gọi được các nhà tài trợ, nhà hảo tâm, phát động phong trào “Tấm lòng vàng” hiến tặng sách hoặc tiền mặt, gửi thư ngỏ đến Công an các tỉnh, thành phố trong cả nước ủng hộ sách lịch sử, biên niên sự kiện của 63 tỉnh làm phong phú thêm lý luận về ngành Ngoài ra, Học viện còn có quan hệ phối hợp với các đơn vị ngoài như Công an Hà Nội, Học viện Cảnh sát nhân dân, Nhà xuất bản Công an nhân dân…trong việc chia sẻ vốn tài liệu

Bên cạnh đó, tình hình xuất bản hiện nay vừa tạo những thuận lợi vừa tạo những khó khăn cho công tác bổ sung của thư viện Thuận lợi là có nhiều

cơ quan phát hành, nhiều tài liệu để lựa chọn, phương thức thanh toán nhanh gọn Tuy nhiên khó khăn ở chỗ trên thị trường có nhiều tài liệu cùng viết về một vấn đề của nhiều tác giả khác nhau, nếu thiếu kiến thức và kinh nghiệm

sẽ mua phải sách trùng nội dung, sách kém giá trị dẫn đến hiện tượng nhiễu, phân tán thông tin

1.2.2.4 Đội ngũ cán bộ thư viện

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển, lớn mạnh không ngừng của nhà trường, đội ngũ cán bộ thư viện của Học viện cũng được bổ sung, tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Đội ngũ cán bộ thư viện đã được trẻ hóa, bước đầu đã có nhiều cố gắng trau dồi kiến thức chuyên môn, xây dựng ý thức phục vụ đúng đắn và tích cực học tập, nâng cao trình độ Đến nay, đội ngũ cán

bộ thư viện của Học viện 100% có trình độ đại học và được bồi dưỡng kiến thức

Trang 35

Quân số tham gia công tác thông tin thư viện gồm có 22 cán bộ, trong

đó có 8 cán bộ được đào tạo về nghiệp vụ thư viện (chiếm 36,3%), số còn lại tốt nghiệp tại các trường đại học khác nhau như: Đại học Luật, Học viện An ninh Nhân dân, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Trong số các đồng chí được đào tạo về nghiệp vụ thư viện có 02 đồng chí có trình độ Thạc sĩ Thông tin – Thư viện 03 đồng chí đang theo học cao học và sẽ hoàn thành chương trình vào năm 2015 Đây sẽ là nguồn nhân lực có chất lượng, đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các định hướng phát triển thư viện trong thời gian tới

Cũng như nhiều thư viện và Trung tâm thông tin khác, đa số cán bộ là

nữ (16 nữ, 3 nam), đã có gia đình và nuôi con nhỏ Ngoài giờ hành chính, họ phải luân phiên nhau đảm bảo trực tất cả các buổi tối trong tuần kể cả thứ bảy

và chủ nhật Mặc dù áp lực công việc khá lớn, tuy nhiên các cán bộ vẫn cố gắng sắp xếp thời gian đảm bảo bảo công việc gia đình và cơ quan, luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao

1.2.2.5 Cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ

Hiện nay, Trung tâm TTKH&TLGK có một hệ thống cơ sở vật chất tương đối hoàn thiện và đầy đủ phục vụ cho việc tra cứu và đọc tài liệu tại chỗ của bạn đọc

Trung tâm đã xây dựng được các phòng đọc khá phong phú bao gồm: Phòng đọc Tài liệu mật với hơn 400 chỗ ngồi, Phòng đọc tài liệu Khoa học tổng hợp 120 chỗ ngồi, Phòng đọc Báo, tạp chí 70 chỗ ngồi, Phòng đọc dành cho Học viên Cao học và Nghiên cứu sinh 50 chỗ ngồi, Phòng mượn sách văn học gồm 20 giá sách, 2 kho lưu tài liệu với diện tích gần 100m2 Tại các phòng đọc đều được lắp hệ thống làm mát, hệ thống ánh sáng hợp lý, bố trí rèm che cửa sổ, bàn ghế được lắp đặt theo tiêu chuẩn và hệ thống giá kẽm

Trang 36

Về hệ thống máy tính: hiện nay Trung tâm có 10 máy chủ và 120 máy trạm Tất cả các phòng đọc đều được trang bị máy tính phục vụ các hoạt động nghiệp vụ của cán bộ và tra cứu của học viên Số lượng máy tại các phòng đọc bao gồm:

- Phòng đọc Tài liệu mật: 04 máy dành cho cán bộ phục vụ hoạt động mượn trả tài liệu, 03 máy dành cho Học viên tra cứu

- Phòng đọc Khoa học tổng hợp: 02 máy dành cho cán bộ phục vụ hoạt động mượn trả tài liệu, 03 máy dành cho Học viên tra cứu

- Phòng mượn sách văn học có 01 máy dành cho cán bộ phục vụ hoạt động mượn trả tài liệu, 01 máy dành cho Học viên tra cứu

Vừa qua, Trung tâm được trang bị mới 2 máy chủ và 50 máy tính cấu hình cao Đây sẽ là cơ sở để Trung tâm triển khai việc xây dựng các bộ sưu tập

số và xây dựng Thư viện điện tử theo hướng hiện đại trong thời gian tới

Trung tâm cũng đã được trang bị 16 camera, 2 cổng từ được lắp tại phòng đọc Tài liệu mật để theo dõi, kiểm soát học viên sử dụng tài liệu, không cho phép sinh viên mang tài liệu, điện thoại hay các thiết bị ghi âm, ghi hình vào phòng đọc hay mang tài liệu ra ngoài bất hợp pháp Ngoài ra, Trung tâm còn được trang bị 8 máy đọc mã vạch và 1 máy in thẻ tiến tới việc thay thế thẻ nhựa bằng thẻ giấy như hiện nay

Phần mềm thư viện Ilib 3.0 được trang bị từ năm 2004 cũng đã được ứng dụng trong các hoạt động nghiệp vụ Tuy nhiên chỉ có một số Modul được

sử dụng như: Modul Biên mục, Modul Lưu thông, Modul Quản trị hệ thống Năm 2013, phần mềm quản lý bạn đọc do cán bộ tin học của Trung tâm xây dựng cũng đã được triển khai và đã cho kết quả rất khả quan, giảm đáng kể công sức phục vụ của cán bộ thư viện và giúp cho việc lưu thông tài liệu trở nên nhanh hơn

Trang 37

1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhu cầu tin tại Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa, Học viện An ninh nhân dân

Nhu cầu tin là động cơ và là mục đích của hoạt động thông tin thư viện Động cơ thể hiện ở chỗ nó thúc đẩy hoạt động thông tin thư viện phát triển Mục đích thể hiện ở chỗ mọi hoạt động thông tin thư viện nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu tin Và khi nhu cầu ấy được thỏa mãn thì nó lại trở thành động lực kích thích nhu cầu tin phát triển Vì vậy, nghiên cứu nhu cầu tin của nguời dùng tại các cơ quan thông tin thư viện là rất quan trọng

Việc nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tại Học viện ANND lại càng trở nên cấp thiết bởi lẽ chưa từng có một nghiên cứu nào trước đây tại Trung tâm và vấn đề này có tính ứng dụng trong thực tế giúp cho Trung tâm TTKH&TLGK nắm bắt được nhu cầu về thông tin, tài liệu của bạn đọc, từ đó

có thể đề ra những hướng đi đúng nhằm nâng cao chất lượng phục vụ độc giả Thỏa mãn nhu cầu tin cho bạn đọc là Trung tâm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm

vụ Nhà trường giao phó đồng thời góp vào những thành tích chung trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học của Học viện

Tiểu kết chương 1

Trong Chương 1, luận văn đã trình bày cơ sở lý luận về nhu cầu tin bao gồm: khái niệm về nhu cầu tin, khả năng đáp ứng nhu cầu tin và các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tin của người dùng; khái quát về Học viện ANND và hoạt động thông tin thư viện của Trung tâm TTKH&TLGK Từ đó trình bày ý nghĩa việc nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng đối với hoạt động của Trung tâm

Trên đây là những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu và đánh giá sát thực trạng nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của Trung tâm

TTKH&TLGK Học viện ANND Nghiên cứu tiếp theo được trình bày ở

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHU CẦU TIN VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƯ LIỆU GIÁO KHOA

HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN

2.1 Các nhóm người dùng tin

Người dùng tin tại Học viện ANND rất đông và đa dạng, thuộc nhiều thành phần khác nhau Tuy nhiên theo tính chất công việc, có thể phân họ làm

ba nhóm chính bao gồm:

- Nhóm người dùng tin là cán bộ lãnh đạo, quản lý

- Nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu, giảng dạy

- Nhóm người dùng tin là học viên

Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối bởi vì trong thực tế cán bộ lãnh đạo, quản lý có thể kiêm luôn công tác nghiên cứu, giảng dạy; cán bộ nghiên cứu, giảng dạy có thể làm quản lý; có cán bộ chỉ làm công tác nghiên cứu hoặc giảng dạy và có người vừa nghiên cứu vừa giảng dạy

Cơ cấu các nhóm người dùng tin được thể hiện qua bảng sau:

Trang 39

2.1.1 Nhóm người dùng tin là cán bộ lãnh đạo, quản lý

Tỉ lệ người dùng tin thuộc nhóm này không cao (khoảng 3%) nhưng là thành phần có ảnh hưởng lớn đến hoạt động thông tin, là nhóm đối tượng được ưu tiên phục vụ Bao gồm Ban Giám đốc, Trưởng, Phó các Khoa, Phòng, Bộ môn, Trung tâm và các đơn vị chức năng khác

Đặc điểm nổi bật của nhóm này là họ có cả quyền uy và sự tín nhiệm

Là những người có năng lực, trí tuệ, hiểu biết rộng về môi trường xung quanh, thông minh, sáng tạo, biết phân tích, xử lý thông tin để nhận biết thời

cơ và nắm bắt thời cơ ấy Đồng thời họ có khả năng đánh giá, nhận biết chính xác con người mà họ quản lý, có năng lực tổ chức, sử dụng đúng người đúng việc

Đây là nhóm người dùng tin có trình độ học vấn cao, đa số là thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư Bên cạnh công tác quản lý, họ còn tham gia nghiên cứu, viết sách và tham gia giảng dạy các lớp trình độ cao như: cao học, nghiên cứu sinh, cao cấp lý luận chính trị Do tính chất công việc nên nhu cầu tin của họ lớn, đa dạng về nội dung và hình thức Lượng thông tin có diện rộng, khái quát trên nhiều lĩnh vực

Công việc của họ là tổ chức, điều hành hoạt động của cơ quan, của từng bộ phận nên họ thường phải ra quyết định Do đó nhóm này cần thông tin có chất lượng cao, có độ tin cậy, chọn lọc, phù hợp như: các văn bản, tài liệu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, ngành Công an, thông tin về đường lối phát triển kinh tế, chính trị, xã hội ở trong và ngoài nước….Tuy nhiên, do đặc thù công việc khá bận rộn, nhóm này có rất ít thời gian lên thư viện để tìm kiếm thông tin Trong quá trình làm việc, họ cần người trợ giúp và các phương tiện trợ giúp

Nhu cầu thông tin của nhóm này khá phong phú và đa dạng, cường độ

Trang 40

vụ thường là thông tin phục vụ lãnh đạo, thông tin chuyên đề, tổng quan, tổng luận, các bản tin nhanh Nhiều lãnh đạo còn tham gia nghiên cứu khoa học và giảng dạy nên họ cần thông tin về chuyên môn, nghiệp vụ

2.1.2 Nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu, giảng dạy

Cán bộ giảng dạy, nghiên cứu là những người có vai trò quan trọng đối với chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường Họ là những người sáng tạo ra thông tin và là người chuyển giao thông tin tới người đọc

Việc nghiên cứu khoa học và giảng dạy có mối quan hệ bổ sung cho nhau, muốn giảng dạy tốt phải tìm tòi, nghiên cứu và phát triển thông tin mới Học viện ANND luôn khuyến khích cán bộ, giáo viên tham gia nghiên cứu khoa học, thậm chí đây là một trong những tiêu chí bình xét thi đua, khen thưởng Hơn nữa với đặc thù của lực lượng Công an, phần lớn lý luận của ngành được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu và tổng kết thực tiễn trong 70 năm qua mà không có sự kế thừa từ bất kỳ quốc gia nào Vì vậy, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học sẽ làm phong phú thêm lý luận của ngành

Cùng với sự phát triển đi lên của Học viện ANND, đội ngũ cán bộ nghiên cứu giảng dạy cũng không ngừng lớn mạnh Chiếm 14,6% trong thành phần bạn đọc của Trung tâm Họ bao gồm giảng viên, các chuyên viên đã nghỉ hưu nhưng được giữ lại làm công tác nghiên cứu, cán bộ của Viện nghiên cứu các vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia… Do vậy, đây là nhóm

có trình độ học vấn cao, có kinh nghiệm nghiên cứu, diện đề tài khá rộng Nhu cầu thông tin của họ khá lớn, tổng hợp về nhiều lĩnh vực khác nhau, thông tin phải đảm bảo chính xác, có tính thời sự, vừa có tính lý luận lại vừa mang tính thực tiễn, bởi đó là nguyên liệu tạo nên các công trình nghiên cứu, các bài giảng của họ

Ngày đăng: 14/11/2016, 14:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bùi Loan Thuỳ (2000), Phương pháp nghiên cứu trong thư viện học, Vụ Thư viện- Bộ Văn hoá- Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong thư viện học
Tác giả: Bùi Loan Thuỳ
Năm: 2000
5. Đại Lượng, Hữu Nghĩa (2008), Nâng cao chất lượng công tác phục vụ người đọc, Tạp chí Thư viện Việt Nam (số 1), tr.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng công tác phục vụ người đọc
Tác giả: Đại Lượng, Hữu Nghĩa
Năm: 2008
6. Đàm Viết Lâm (2013), Xây dựng tiêu chuẩn về tổ chức và hoạt động cho thư viện đại học Việt Nam, Tạp chí Thư viện (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng tiêu chuẩn về tổ chức và hoạt động cho thư viện đại học Việt Nam
Tác giả: Đàm Viết Lâm
Năm: 2013
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
8. Đoàn Phan Tân, (2006), Thông tin học, Đại học Quốc gia, Hà Nội 9. Những điều cần biết đối với sinh viên, Học viện An ninh nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin học", Đại học Quốc gia, Hà Nội 9. "Những điều cần biết đối với sinh viên
Tác giả: Đoàn Phan Tân
Năm: 2006
10. Nguyễn Thị Thanh Mai, Nguyễn Hữu Giới (2008), Về công tác thư viện, Vụ thư viện, 346tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công tác thư viện
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Mai, Nguyễn Hữu Giới
Năm: 2008
11. Nguyễn Thị Chi (2003) Nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng tại thư viện Trường Đại học Phương đông”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng tại thư viện Trường Đại học Phương đông
12. Nguyễn Thị Chung (2009)”Nghiên cứu nhu cầu tin khoa học và công nghệ tại Trung tâm Thông tin khoa học & công nghệ quốc gia”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2009)”Nghiên cứu nhu cầu tin khoa học và công nghệ tại Trung tâm Thông tin khoa học & công nghệ quốc gia”
13. Lê Quỳnh Chi (2008), Thư viện đại học góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, Tạp chí Thư viện (số 2), tr 18-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư viện đại học góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Tác giả: Lê Quỳnh Chi
Năm: 2008
14. Lê Thị Thanh Thủy (2013)“ Nghiên cứu nhu cầu tin tại Thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Thái Nguyên” Luận văn thạc sĩ, Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu tin tại Thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Thái Nguyên
16. Lê Văn Viết, Võ Thu Hương (2007), Thư viện đại học Việt Nam trong xu thế hội nhập, Tạp chí Thư viện Việt Nam(số 2), tr.6-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư viện đại học Việt Nam trong xu thế hội nhập
Tác giả: Lê Văn Viết, Võ Thu Hương
Năm: 2007
17. Linh Thị Thắm (2012),” Nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư viện Quân đội” Luận văn thạc sĩ, Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2012),” Nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư viện Quân đội”
Tác giả: Linh Thị Thắm
Năm: 2012
19. Nghị quyết 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, ngày 4 tháng 11 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
20. Nguyễn Huy Chương (2003-2005), Nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động Trung tâm Thông tin – Thư viện đại học, Đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động Trung tâm Thông tin – Thư viện đại học
21. Nguyễn Hữu Hùng (2005), Thông tin từ lý luận đến thực tiễn, Nxb Văn hoá Thông tin, 835tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin từ lý luận đến thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Hữu Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2005
22. Nguyễn Hữu Viêm (1981), Vấn đề thỏa mãn nhu cầu tài liệu cho người dùng tin, Tập san Thông tin học,số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề thỏa mãn nhu cầu tài liệu cho người dùng tin
Tác giả: Nguyễn Hữu Viêm
Năm: 1981
23. Nguyễn Thị Hạnh dịch, Đánh giá nhu cầu tin và yêu cầu tin đối với các cuộc điều tra mở rộng, H, Trung tâm Thông tin tư liệu khoa học & Công nghệ quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhu cầu tin và yêu cầu tin đối với các cuộc điều tra mở rộng
24. Nguyễn Thị Kim Dung (2013), Nghiên cứu nhu cầu thông tin của sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Tạp chí Thư viện Việt Nam (số 1), tr.31-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu thông tin của sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Năm: 2013
25. Nguyễn Thị Lan Thanh, Thỏa mãn nhu cầu tự học của người đọc là góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, Công tác thư viện, thư mục, 1987, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thỏa mãn nhu cầu tự học của người đọc là góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa
26. Phạm Thị Hương (2011), Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu cầu tin tại Phòng Tư liệu – Thư viện Đài Tiếng Nói Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu cầu tin tại Phòng Tư liệu – Thư viện Đài Tiếng Nói Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Hương
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1.1.Các  loại  hình  tài  liệu  truyền  thống  tại  Trung  tâm  TTKH&TLGK - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
ng 1.1.Các loại hình tài liệu truyền thống tại Trung tâm TTKH&TLGK (Trang 30)
Bảng 2.1. Các nhóm người dùng tin - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
Bảng 2.1. Các nhóm người dùng tin (Trang 38)
Bảng 2.2. Lĩnh vực người dùng tin quan tâm - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
Bảng 2.2. Lĩnh vực người dùng tin quan tâm (Trang 43)
Bảng 2.3. Các loại hình tài liệu được bạn đọc thường xuyên sử dụng - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
Bảng 2.3. Các loại hình tài liệu được bạn đọc thường xuyên sử dụng (Trang 45)
Bảng 2.4. Nhu cầu sử dụng tài liệu theo ngôn ngữ của các nhóm  người dùng tin - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
Bảng 2.4. Nhu cầu sử dụng tài liệu theo ngôn ngữ của các nhóm người dùng tin (Trang 47)
Bảng 2.5. Nhu cầu về thời gian xuất bản thông tin - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
Bảng 2.5. Nhu cầu về thời gian xuất bản thông tin (Trang 49)
Bảng 2.6. Thời gian khai thác thông tin của người dùng tin - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
Bảng 2.6. Thời gian khai thác thông tin của người dùng tin (Trang 50)
Bảng 2.7. Địa điểm khai thác thông tin của người dùng tin - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
Bảng 2.7. Địa điểm khai thác thông tin của người dùng tin (Trang 52)
Bảng 2.8. Các dịch vụ thông tin - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
Bảng 2.8. Các dịch vụ thông tin (Trang 55)
Bảng 2.10. Mức độ thỏa mãn vốn tài liệu - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
Bảng 2.10. Mức độ thỏa mãn vốn tài liệu (Trang 59)
Bảng 2.11. Thành phần vốn tài liệu theo ngôn ngữ - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
Bảng 2.11. Thành phần vốn tài liệu theo ngôn ngữ (Trang 62)
Bảng 2.12. Phương tiện tra cứu tài liệu thường được sử dụng. - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
Bảng 2.12. Phương tiện tra cứu tài liệu thường được sử dụng (Trang 64)
Bảng 2.13. Số luợt người dùng tin  đến thư viện - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
Bảng 2.13. Số luợt người dùng tin đến thư viện (Trang 66)
Bảng 2.15. Đánh giá của người dùng tin về thái độ phục vụ của  cán bộ thư viện - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
Bảng 2.15. Đánh giá của người dùng tin về thái độ phục vụ của cán bộ thư viện (Trang 69)
Bảng 2.16. Đánh giá của người dùng tin về cơ sở vật chất, trang thiết - Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa học viện an ninh nhân dân
Bảng 2.16. Đánh giá của người dùng tin về cơ sở vật chất, trang thiết (Trang 70)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w