1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học chương phương pháp tọa độ trong không gian toán lớp 12 THPT

119 488 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NGUYỄN THÁI HOÀNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THÁI HOÀNG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN” - TOÁN LỚP 12

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC GIÁO DỤC

SƠN LA, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Nguyễn Thái Hoàng

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC

HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN” - TOÁN LỚP 12 THPT

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực chưa từng được công bố trong một công trình khoa học nào

Tác giả

Nguyễn Thái Hoàng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:

TS Vũ Quốc Khánh đã trực tiếp khuyến khích và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Ban Giám Hiệu Trường Đại học Sư Phạm Tây Bắc, phòng sau đại học, Khoa Toán - Lí - Tin cùng tất cả quý thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Ban Giám Hiệu và quý thầy cô giáo Tổ Toán Trường THPT Gia Phù đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực nghiệm sư phạm

Gia đình, bạn bè và quý đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi để hoàn thành tốt luận văn này

Sơn La, ngày 30 tháng 09 năm 2015 Tác giả luận văn

Nguyễn Thái Hoàng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU………

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH………

1.1 Tự học và tính tích cực học tập ………

1.1.1 Khái niệm tự học ………

1.1.2 Tính tích cực học tập của học sinh ………

1.1.2.1 Khái niệm tính tích cực ………

1.1.2.2 Những dấu hiệu biểu hiện của tính tích cực học tập nói chung và môn toán nói riêng………

1.2 Tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh………

1.2.1 Quan niệm về tổ chức hoạt động tự học………

1.2.2 Cơ sở khoa học và vai trò của tự học………

1.2.3 Phương pháp dạy học tự học………

1.2.4 Bảng so sách mô hình dạy - tự học và mô hình dạy học lấy việc dạy ( thầy) làm trung tâm ………

1.2.5 Chu trình dạy – tự học ………

1.2.5.1 Chu trình tự học của trò ………

1.2.5.2 Chu trình dạy của thầy ………

1.2.5.3 Chu trình dạy – tự học ………

1.2.6 Một số phương pháp dạy học tích cực áp dụng trong quá trình tổ chức hoạt dộng tự học………

1.2.6.1.Vấn đáp………

1.2.6.2 Dạy học nêu vấn đề ………

1.2.6.3 Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ………

1 5 5 5 7 7 8 10 10

10

11

12

12

13

14

17

18

19

19

20

Trang 6

1.2.6.4 Dạy học khám phá ………

1.2.6.5 Dạy học kiến tạo ………

1.3 Các biện pháp tăng cường tính tích cực học tập của HS trong dạy học Toán ………

1.3.1 Tạo tình huống có vấn đề nhằm tạo hứng thú học tập ………

1.3.2 Tổ chức các hình thức hoạt động học tập Toán………

1.3.3 Tạo các động cơ học tập ………

1.3.4 Làm rõ vai trò của Toán học trong khoa học, kỹ thuật và đời sống ………

1.4 Tổ chức tự học ngoài giờ trên lớp

1.4.1 Khái niệm tự học ngoài giờ trên lớp

1.4.2 Các hình thức tự học ngoài giờ trên lớp

Chương 2: SOẠN THẢO TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN” – TOÁN LỚP 12 THPT………

2.1 Giới thiệu về chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” 2.1.1 Cấu trúc nội dung của chương ………

2.1.2 Chuẩn kiến thức và kỹ năng của chương………

2.1.3 Kế hoạch dạy học của chương ………

2.2 Thực tiễn dạy và học chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” hiện nay ở các trường THPT thuộc tỉnh Sơn La………

2.3 Tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” ………

2.3.1 Ý đồ soạn thảo chung cho mỗi bài học ………

21

21

22

22

23

23

24

25

25

26

27

27

27

27

28

29

31

31

Trang 7

2.3.2 Tiến trình tổ chức hoạt động tự học từng bài cụ thể …………

2.3.2.1 Bài 1: “Hệ Tọa độ trong không gian”………

2.3.2.2 Bài 2 “Phương trình mặt phẳng” ………

2.3.2.3 Bài “Phương trình đường thẳng trong không gian” ………

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM………

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm ………

3.2 Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm ………

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm ………

3.2.2 Phương pháp thực nghiệm ………

3.2.2.1 Cách tiến hành ………

3.2.2.2 Cách đánh giá ………

3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm ………

3.3.1 Nhận xét chung về kết quả thực nghiệm ………

3.3.2 Phân tích tần số tham gia các hoạt động học tập của học sinh

3.3.3 Phân tích kết quả học tập thông qua bài kiểm tra kết thúc chương ………

3.3.31 Đề bài và đáp án các bài kiểm tra………

3.3.3.2 Kết quả bài kiểm tra số 1 và số 2 ………

3.3.4 Nhận xét ………

3.4 Kết luận quá trình thực nghiệm sư phạm ………

KẾT LUẬN………

31

31

58

81

93

93

93

93

94

94

94

96

96

96

97

97

102

103

103

105

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, sự thách thức của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao động có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới Người lao động phải có khả năng thích ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực

tế, tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của xã hội Để có được những năng lực ấy, con người phải học tập không ngừng, học tập suốt đời, học ở mọi nơi thông qua nhiều hình thức, trong đó phải lấy tự học là làm cốt Do đó, cần phải bồi dưỡng và rèn luyện năng lực tự học cho học sinh ngay từ khi còn ở trường phổ thông Xây dựng được năng lực tự học cho học sinh ở trường phổ thông là tạo nền tảng cho học sinh phát triển năng lực tự học ở mức độ cao hơn ở các cấp học cao hơn và xa hơn nữa là đào tạo được những con người có khả năng tự học, tự nghiên cứu trong một xã hội học tập suốt đời

Vấn đề này cũng đã được đưa vào Luật giáo dục ban hành năm 2005 Chương I, Điều 5 về phương pháp giáo dục nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [4]

Ngoài ra, trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 ở mục 5.2 ghi rõ “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động

tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh trong quá trình học tập,…”

Trang 11

Tìm hiểu thực tiễn, phương pháp dạy học ở một số trường phổ thông hiện nay chúng tôi thấy cách dạy đa số là thông báo kiến thức theo kiểu

“đọc - chép” hay còn được gọi là truyền thụ một chiều, có kết hợp với đàm thoại Giáo viên chưa phải là người tổ chức cho học sinh hoạt động, học sinh chưa biết phương pháp tự học theo hướng tích cực, tự lực Hoặc thay vì phải minh họa cho học sinh hiểu kỹ về một vấn đề nào đó thì giáo viên chỉ giảng

và đọc cho học sinh ghi chép những nội dung chính của bài học; thay vì hướng dẫn cho học sinh luyện tập, rèn luyện những kỹ năng thì giáo viên chỉ yêu cầu học sinh lặp lại theo mẫu một cách máy móc,… Phương pháp dạy học này dẫn đến sự thụ động của người học, nặng về ghi nhớ lý thuyết, thiếu

kỹ năng thực hành áp dụng, chưa phát huy tinh thần thần tự học và tư duy sáng tạo của người học…

Xuất phát từ những vấn đề trên cho thấy, việc tổ chức hoạt động tự học cho học sinh THPT là rất cần thiết và phải được tiến hành qua các bài học và trong suốt quá trình dạy học bộ môn Toán Thời gian tự học là lúc học sinh có điều kiện tự nghiền ngẫm vấn đề học tập theo một yêu cầu, phong cách riêng

và với tốc độ thích hợp Điều đó không những giúp học sinh nắm vấn đề một cách chắc chắn và bền vững, bồi dưỡng phương pháp học tập và kỹ năng vận dụng tri thức, mà còn là dịp tốt để học sinh rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động sáng tạo Đó là những điều không ai cung cấp được cho học sinh nếu các em không thông qua hoạt động tự học của bản thân

Do đó tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” – Toán lớp 12 THPT” nhằm góp phần vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy và học trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Vận dụng cơ sở lí luận dạy học để xây dựng các tiến trình tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh cho các bài học trong chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” – Toán 12 THPT, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học

III KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1 Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 12 THPT - ban Cơ bản trong quá trình học tập chương “Phương pháp tọa độ trong không gian”

2 Đối tượng nghiên cứu: việc tổ chức hoạt động tự học của học sinh trong dạy học chương “Phương pháp tọa độ trong không gian”

IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu tổ chức các hoạt động tự học cho học sinh trong dạy học chương

“Phương pháp tọa độ trong không gian” phù hợp sẽ phát huy được tính tích cực học tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học

V PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu biện pháp tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh lớp 12 THPT trong dạy học chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” ở trường THPT Gia Phù huyện Phù Yên tỉnh Sơn

La

VI NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Nghiên cứu cơ sở lí luận dạy học Toán để thiết kế các tiến trình tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh

2 Tìm hiểu thực tế biện pháp dạy và học chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” hiện nay ở các trường THPT thuộc tỉnh Sơn La

3 Xây dựng các tiến trình tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” – Toán 12 THPT

Trang 13

4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm các tiến trình đã xây dựng để xác định mức độ phù hợp, đánh giá tính khả thi và hiệu quả của từng tiến trình đối với việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh Sau đó rút kinh nghiệm

để hoàn thiện chúng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” – Toán 12 THPT

VII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Nghiên cứu lí luận:

- Đọc và tìm hiểu lí luận từ sách, báo, tạp chí, văn bản, nghị quyết để làm sáng tỏ quan điểm đề tài

- Nghiên cứu chương trình, nội dung SGK, sách giáo viên và các tài liệu liên quan đến chương “Phương pháp tọa độ trong không gian”

2 Điều tra khảo sát:

Quan sát, điều tra ý kiến của giáo viên và học sinh ở trường THPT để đưa ra các nhận xét

3 Thực nghiệm sư phạm:

Tiến hành giảng dạy ở trường THPT theo tiến trình đã xây dựng để kiểm tra tính khả thi và hoàn thiện các tiến trình đó

VIII Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động tự học của học sinh ở trường phổ thông đáp ứng các mục tiêu giáo dục trong thời kỳ đổi mới

- Các tiến trình đã xây dựng sau khi hoàn thiện có thể phổ biến trong trường và mở rộng cho nhiều trường khác góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay

Trang 14

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

1.1 Tự học và tính tích cực học tập

1.1.1 Khái niệm tự học

Trong các giáo trình, tài liệu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về tự học, sau đây là một số định nghĩa cơ bản:

Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Phó giáo sư Hà Thị Đức trong cuốn

“Lý luận dạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định”.[5]

Theo Giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Cảnh Toàn: [11]

“Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của cá nhân như: động cơ, tình cảm, nhân sinh quan (trung thực, khách quan, không ngại khó, có ý chí, kiên trì, nhẫn nại, ý chí muốn thi đỗ, lòng say mê khoa học, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến nó thành sở hữu của mình”

Theo GS TSKH Thái Duy Tuyên: [13]

“Tự học là hoạt động độc lập chiếm kĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo…

và kinh nghiệm lịch sử - xã hội loài người nói chung của chính bản thân người học”

Có nhiều cách tự học khác nhau:

Trang 15

- Tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên: như tự học của học sinh, sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứu sinh…

- Tự học không có sự hướng dẫn của giáo viên: trường hợp này thường liên quan đến những người đã trưởng thành, các nhà khoa học

- Tự học trong cuộc sống: thường gặp ở các nhà văn, các nhà văn hóa, các nhà kinh tế, các nhà chính trị - xã hội…

Theo tác giả Quang Huy:

“Tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ cùng các phẩm chất khác của mình, cả động cơ và tình cảm, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó thành sở hữu của mình Có thể nói một cách ngắn gọn, tự học là quá trình tư duy độc lập để khám phá và sáng tạo”

Có nhiều kiểu tự học như:

- Tự mình mò mẫm: người học không có điều kiện đi học, các tri thức

họ có được là do sự tìm tòi trải nghiệm của chính bản thân họ trong cuộc sống

- Tự học không cần thầy hướng dẫn: người học đã có một trình độ học vấn nhất định, đã có một thời gian dài học với thầy

- Tự học với sự hướng dẫn của thầy: hoạt động tự học này gắn với quá trình dạy học

Từ những quan điểm về tự học nêu trên, có thể định nghĩa về tự học như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định

Mặc dù có nhiều cách phân loại các dạng hoạt động tự học khác nhau nhưng theo chúng tôi ta có thể phân ra hai dạng hoạt động tự học là: Tự học

có sự hướng dẫn của thầy và tự học hoàn toàn không có sự hướng dẫn của

Trang 16

thầy Trong phạm vi của đề tài, tôi đề cập chủ yếu đến hoạt động tự học có sự hướng dẫn của thầy Trong tự học có sự hướng dẫn của thầy, GV là người tổ chức và hướng dẫn cho HS tự lực hoạt động tìm lấy kiến thức và làm chủ kiến thức

Theo quan điểm về tính tích cực trong lí luận dạy học:

“Tính tích cực là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự gắng sức cao

về nhiều mặt trong hoạt động học tập” (L V Relrova, 1975) Học tập là một trường hợp riêng của nhận thức, “một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng

đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của GV” (P V Edroniev, 1974) Vì vậy, nói đến tính tích cực là nói đến tính tích cực của sự học tập, thực chất là nói đến tính tích cực nhận thức

Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thế đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập - nhận thức Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động Nó là phẩm chất hoạt động của cá nhân

Tùy theo việc huy động chủ yếu những chức năng tâm lí nào và mức

độ huy động những chức năng tâm lí đó mà người ta phân ra ba loại tính tích cực:

- Tính tích cực tái hiện, bắt chước: tính tích cực chủ yếu dựa vào trí nhớ

và tư duy tái hiện Học sinh tích cực bắt chước hoạt động của GV, của bạn bè

Trang 17

- Tính tích cực tìm tòi: được đặc trưng bằng sự bình phẩm, phê phán, tìm tòi tích cực về mặt nhận thức, óc sáng kiến, lòng khao khát hiểu biết, hứng thú học tập HS tìm cách độc lập giải quyết bài tập nêu ra, mò mẫm những cách giải khác nhau để tìm ra lời giải hợp lí nhất

- Tính tích cực sáng tạo: là mức độ cao nhất của tính tích cực Nó đặc trưng bằng sự khẳng định con đường riêng của mình, không giống với con đường mà mọi người đã thừa nhận để đạt được mục đích

1.1.2.2 Những dấu hiệu biểu hiện của tính tích cực học tập nói chung và môn toán nói riêng [14]

Có những trường hợp tính tích cực học tập biểu hiện ở những hoạt động

cơ bắp nhưng quan trọng hơn là biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ, hai hình thức này thường đi liền với nhau

Theo G.I.Sukina có thể nêu những dấu hiệu của tính tích cực hoạt động như sau:

- HS khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu

Trang 18

Theo các tác giả Trần Kiều, Nguyễn Thị Lan Phương, Đặng Thành Hưng thì trong hoạt động học tập , TTC của học sinh diễn ra ở nhiều phương diện khác nhau: tri giác tài liệu, thông hiểu tài liệu, ghi nhớ, vận dụng, và được thể hiện ở nhiều hình thức như:

- Xúc cảm học tập: thể hiện ở niềm vui, sốt sắng thực hiện yêu cầu của giáo viên

- Chú ý: thể hiện việc lắng nghe và theo dõi hành động của giáo viên, thực hiện chu đáo, nhanh gọn và chính xác yêu cầu đó

- Sự nỗ lực ý chí: thể hiện ở sự kiên trì, nhẫn nại vượt khó khăn khi giải quyết nhiệm vụ nhận thức

- Có hành vi, cử chỉ khẩn trương khi thực hiện các hành động tư duy

- Kết quả lĩnh hội: nhanh, đúng, tái hiện khi cần và vân dụng được khi gập tình huống mới

Đặc biệt TTC học tập có ở nhân cách của người học như:

- Tính tự giác: đó là sự tự nhận thức được nhu cầu học tập của mình và

có giá trị thúc đẩy hoạt động có kết quả

- Tính độc lập tư duy: đó là sự phận tích, tìm hiểu, giải quyết các nhiệm

vụ nhận thức, đây là biểu hiện cao của TTC

- Tính chủ động: thể hiện ở việc làm chủ các hành động trong toàn bộ hoặc trong từng giao đoạn của quá trình nhận thức như đạt ra nhiệm vụ, lập

kế hoạc hực hiện nhiệm vụ đó,…, lúc này TTC đóng vai trò như một tiền đề cần thiết

- Tính sáng tạo: Thể hiện khi chủ thể nhận thức tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị phụ thuộc vào cái đã có Đây là mức độ biểu hiện cao nhất của tích cực

1.2 Tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Trang 19

1.2.1 Quan niệm về tổ chức hoạt động tự học.[3.31]

Thuật ngữ “ tổ chức ” có hai nghĩa chính Khi được dùng như một danh

từ, nó chỉ một nhóm người tập hợp lại để thực hiện một mục đính, chức năng, nhiệm vụ nhất định( ví dụ tổ chức công đoàn, tổ chức đoàn thanh niên,…) Còn khi được dùng như một động từ, nó có nghĩa là tiến hành một công việc theo một cách thức, trình tự nào đó; hoặc sắp xếp bố trí thành các bộ phận để thực hiện một chức năng chung

Quan điểm trong đề tài này của tôi về “Tổ chức hoạt động tự học” bao gồm: Giáo viên tổ chức, định hướng, sắp xếp các hành động học cho học sinh

và học sinh tự tổ chức các hành động học cá nhân Với tư cách là chủ thể của hoạt động học, học sinh tổ chức hoạt động nhận thức của mình, chủ động, tích cực thực hiện các mục đích học tập theo nhu cầu cá nhân

1.2.2 Cơ sở khoa học và vai trò của tự học

Theo các nhà tâm lý học, con người chỉ tư duy tích cực khi có nhu cầu, hoạt động nhận thức chỉ có kết quả cao khi chủ thể ham thích, tự giác và tích cực Thực tế cho thấy nếu HS chỉ học một cách thụ động, được nhồi nhét kiến thức, không có thói quen suy nghĩ một cách sâu sắc thì kiến thức nhanh chóng

bị lãng quên

Những kết quả nghiên cứu giáo dục học cho thấy sẽ đem lại kết quả giáo dục tốt hơn nếu quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo, quá trình giáo dục được biến thành quá trình tự giáo dục

Tạp chí Mỹ Mathmatical reviews năm 1977 đã thống kê rằng hiện nay mỗi năm có hơn mười vạn bài nghiên cứu toán học được công bố Nhịp điệu tăng trưởng theo hàm số mũ, cứ 10 năm tăng lên gấp đôi Việc dạy học trong nhà trường không thể đáp ứng kịp, vì vậy chỉ có biết cách tự học mới có thể đáp ứng được sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật

Trang 20

Nghị quyết TW khoá VIII đã nhấn mạnh: Cần phải phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất

là thanh niên Luật giáo dục nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm

2005 trong chương 1 điều 4 cũng ghi rõ: Phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học với lòng say mê học tập và ý chí vươn lên

Với các lý do trên dạy học tự học là vô cùng cần thiết

1.2.3 Phương pháp dạy học tự học

Phương pháp dạy học tự học là cách thức tác động của GV vào quá trình tự học của HS Hệ thống phương pháp dạy học tự học nằm trong hệ thống phương pháp dạy học môn toán

Phương pháp dạy học tự học bao gồm các hoạt động sau:

(1) Hoạt động làm mẫu: GV có thể hướng dẫn tại lớp cách đọc, cách ghi chép một chương, một bài nào đó trong sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, có thể làm mẫu về cách khai thác một bài toán và giao cho HS các bài toán để khai thác

(2) Rèn luyện kỹ năng tự học: Những kỹ năng cần thiết của người tự học môn toán là:

- Đào sâu suy nghĩ, khai thác bài toán, đặc biệt hoá, tổng quát hoá bài toán…

- Tự tổng kết các vấn đề: Các dạng toán về phường trình đường thẳng, phương trình mặt phẳng, và phương trình mặt cầu thường gặp, các phương pháp tìm đường vuông góc chung của hai đường thẳng chéo nhau…trong chương phương pháp tọa độ trong không gian

- Biết ghi chép sau khi cho đọc một tài liệu, một quyển sách, một vấn đề (3) Hoạt động giao lưu trong tự học giữa trò và trò, giữa trò và thầy với nhiều hình thức và các hoạt động bổ trợ khác Các hình thức giao lưu có

Trang 21

thể là: trao đổi bài ở nhà, một nhóm cùng làm việc về cùng một chủ đề, thảo luận trên lớp, hỏi đáp trình bày một vấn đề

1.2.4 Bảng so sách mô hình dạy - tự học và mô hình dạy học lấy việc dạy ( thầy) làm trung tâm [12.157]

Mô hình dạy học lấy việc dạy (

thầy) làm trung tâm

Mô hình dạy - tự học lấy việc học ( trò

) làm trung tâm

1 Thầy truyền đạt kiến thức cho

trò tiếp thu

2 Thầy độc thoại hay phát vấn

3 Thầy giảng giải cho trò ghi

nhớ, thuộc lòng

4 Thầy độc quyền kiểm tra đánh

giá

5 Thầy là thầy dạy, lo việc dạy:

“ Dạy chữ, dạy nghề, dạy người”

1 Thầy hướng dẫn cho trò tự nghiên cứu tìm ra kiến thức ( qua giải bài tập)

2 Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện, hợp tác với bạn, đối thoại trò – trò, trò – thầy

3 Thầy hướng dẫn cho trò cách tự học, cách giải quyết vấn đề, cách xử lý tinh huống, cách sống và trưởng thành

4 Thầy kiểm tra đánh giá trên cơ sở tự kiểm tra, tự điều chỉnh của trò

5 Thầy là thầy học, chuyên gia về việc học, hướng dẫn, tổ chức cho trò biết “

Tự học chữ, tự học nghề, tự học nên người”

1.2.5 Chu trình dạy – tự học

1.2.5.1 Chu trình tự học của trò [12.160]

Chu trình tự học của trò là một chu trình ba thời: tự nghiên cứu; tự thể hiện; tự đánh giá, điều chỉnh

Trang 22

- Tự nghiên cứu: người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân

- Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói,

tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học

- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi

với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh bằng sản phẩm khoa học (tri thức)

1.2.5.2 Chu trình dạy của thầy [12.161]

Chu trình dạy của thầy nhằm tác động hợp lí, phù hợp và cộng hưởng với chu

Trang 23

trình tự học của trò, cũng là chu trình ba thời tương ứng với chu trình tự học

ba thời của trò: hướng dẫn; tổ chức; trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra Thầy – tác nhân  Trò chủ thể

(1) Hướng dẫn  Tự nghiên cứu

(2) Tổ chức  Tự thể hiện

(3) Trọng tài, cố vấn  Tự kiểm tra

kết luận, kiểm tra Tự điều chỉnh

Cố vấn

Hình 1.2 Chu trình dạy của thầy

- Thời một (1): Hướng dẫn:

Thầy hướng dẫn cho từng cá nhân học sinh về các tình huống học, về các vấn đề cần phải giải quyết, về các nhiệm vụ cần phải thực hiện trong tập thể học sinh Học sinh tự nghiên cứu, tìm tòi cách xử lý các tình huống, cách giải quyết vấn đề, tự mình tìm ra kiến thức, chân lý, bằng hoạt động của chính mình, tạo ra sản phẩm ban đầu

Trang 24

- Thời hai (2): Tổ chức

Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn: tổ chức các cuộc tranh luận, trao đổi trò-trò, trò-thầy và sự hợp tác cùng nhau tìm ra kiến thức, chân lý Thầy là người đạo diễn và dẫn chương trình

- Thời ba (3): Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra

Thầy là trọng tài, cố vấn, kết luận về các cuộc tranh luận đối thoại, trò – trò, trò - thầy để khẳng định về mặt khoa học kiến thức do người học tự mình tìm ra

Cuối cùng thầy là người kiểm đánh giá kết quả tự học của trò trên cơ sở trò tự đánh giá, tự điều chỉnh…

Chu trình dạy trên đây thể hiện sự kết hợp hữu cơ giữa chu trình dạy của thầy với chu trình tự học của trò qua từng thời , để cho người học tự mình chiếm lĩnh tri thức Cho nên ta phải đề cập đến thành tố thứ ba là tri thức để

có một chu trình dạy - tự học toàn vẹn

Theo tam giác sư phạm: thầy – trò – tri thức, tính chất của tri thức người học chiếm lĩnh được qua từng thời như sau:

Thời một (1): Thầy hướng dẫn cho trò tự nghiên cứu, quan hệ trực tiếp với tri thức theo chiều mũi tên ở tam giác sư phạm và tự tìm ra được một tri thức hay sản phẩm ban đầu mang tính chất cá nhân, tức là có thể đúng hay sai, khách quan hay chủ quan, khoa học hay thiếu khoa học

Tri thức

Cá nhân

Thầy Trò Hướng dẫn Tự nghiên cứu

Trang 25

Thời hai (2): Sản phẩm ban đầu của học sinh thông qua sự trao đổi, thảo luận, hợp tác với các bạn trong cộng đồng lớp học trở thành khách quan hơn, tri thức có tính chất cá nhân ở thời (1) bây giờ đã mang tính chất xã hội (xã hội lớp học)

Tri thức Khoa học

Trọng tài, cố vấn Tự kiểm tra

Kết luận, kiểm tra Tự điều chỉnh

1.2.5.3 Chu trình dạy – tự học [12.164]

Tập hợp ba sơ đồ bộ phận trên đây: sơ đồ chu trình tự học, sơ đồ chu trình dạy và sơ đồ thầy – trò – tri thức qua ba thời, ta có thể dựa vào sơ đồ tam giác sư phạm và nội lực - ngoại lực để sơ đồ hoá chu trình dạy

Trang 26

Tri thức ( cá nhân ) Hướng dẫn

(1)

( Khoa học) Cố vấn ( Xã hội) Hình 1.3 Sơ đồ chu trình dạy - tự học

Hình tròn bên trong tượng trưng cho nội lực – năng lực tự học, trên

đường tròn đó là các cực “trò” của tam giác sư phạm cùng với ba thời của chu

trình tự học: tự nghiên cứu  tự thể hiện  tự kiểm tra, tự điều chỉnh

Đường tròn bên ngoài tượng trưng cho ngoại lực – tác động dạy của

thầy, trên đường tròn đó, là các cực “thầy” của tam giác sư phạm cùng với ba

thời của chu trình dạy: Hướng dẫn  tổ chức  trọng tài, cố vấn, kết luận

kiểm tra

Đường tròn ngoài cùng tượng trưng cho tri thức người học cần chiếm

lĩnh, trên đường tròn đó là các cực “tri thức” của tam giác sư phạm cùng với

ba tính chất của tri thức ứng với ba thời của chu trình tự học: cá nhân  xã

hội  khoa học

Trang 27

Các mũi tên trong trong sơ đồ ở vào từng thời đều xuất phát từ cực

“thầy”: sáng kiến điều hành chung cả chu trình dạy - tự học đều thuộc về thầy: Thầy là người khởi xướng, thầy dẫn chương trình tự học của trò:

(1) Thầy hướng dẫn cho trò tự nghiên cứu để tự tìm ra một tri thức có tính chất cá nhân

(2) Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện, hợp tác với nhau để làm cho sản phẩm ban đầu của người học được khách quan hơn, tri thức có tính chất xã hội

(3) Thầy là trọng tài cố vấn, kết luận về cuộc đối thoại và hoạt động của trò, làm cơ sở cho trò tự kiểm tra, tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình, tri thức người học tự tìm ra giờ đây mới có tính chất khoa học

1.2.6 Một số phương pháp dạy học tích cực áp dụng trong tiến trình soạn thảo tổ chức hoạt động tự học

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

Về mặt hoạt động nhận thức, các phương pháp thực hành “tích cực” hơn các phương pháp trực quan, các phương pháp trực quan “tích cực” hơn các phương pháp dùng lời

Muốn thực hiện dạy và học tích cực cần phát triển các phương pháp thực hành, các phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện vấn đề, nhất là đối với các môn khoa học thực nghiệm trong đó có Toán học

Những phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở trường THPT:

1.2.6.1.Vấn đáp

Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi

để HS trả lời hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó lĩnh hội

Trang 28

được nội dung bài học Trong phương pháp vấn đáp, HS đã có vai trò chủ thể, chủ động tìm hiểu tài liệu, nghiên cứu đối tượng thông qua sự dẫn dắt của GV

Có ba mức độ vấn đáp: vấn đáp tái hiện, vấn đáp thuyết trình và vấn đáp tìm tòi

- Vấn đáp tái hiện: đây là loại vấn đáp đơn giản nhất và dễ thực hiện Trong đó, GV đặt ra một hệ thống câu hỏi chỉ nhằm làm cho HS tái hiện lại những kiến thức đã học

- Vấn đáp thuyết trình: là vấn đáp trong đó GV đặt ra một hệ thống câu hỏi nhằm dẫn dắt HS trả lời và thông qua đó thuyết trình cho HS một vấn đề hoàn chỉnh của toán, ví dụ như một kiếnthức toán mới

- Vấn đáp tìm tòi: GV đặt ra một hệ thống câu hỏi có tính chất gợi mở, nêu ra những vấn đề cần giải quyết Đồng thời bằng một hệ thống các câu hỏi, các yêu cầu mà GV tổ chức cho HS tự tìm hiểu, nghiên cứu, trao đổi với GV, trao đổi với nhau để đạt tới mục đích dạy học

1.2.6.2 Dạy học nêu vấn đề

Đây là phương pháp dạy học mà GV đặt ra trước HS một (hay hệ thống) vấn đề nhận thức, sau đó GV phối hợp cùng HS (hoặc hướng dẫn, điều khiển HS) giải quyết vấn đề và đi đến những kết luận

Cấu trúc của dạy học nêu vấn đề gồm ba giai đoạn: đề xuất vấn đề, giải quyết vấn đề, củng cố và vận dụng kiến thức

- Đề xuất vấn đề: GV trao cho HS một nhiệm vụ học tập có tiềm ẩn vấn

đề Nhiệm vụ này phải được HS chấp nhận và có nhu cầu, hứng thú giải quyết

nó Muốn vậy, GV cần thông qua một số bài tập hay một câu chuyện để tạo tình huống có vấn đề Yếu tố quyết định thành công của việc tạo tình huống

có vấn đề là các bài tập hay câu chuyện phải chứa đựng yếu tố bất ngờ, nhằm gây sự ngạc nhiên, kích thích tính tò mò vốn có ở HS Ngoài ra nhữngkhó

Trang 29

khăn trong tình huống phải vừa sức, nhằm tạo cho HS sự căng thẳng nhưng đồng thời cũng gâycho các em niềm tin có thể giải quyết được

- Giải quyết vấn đề: GV dẫn dắt HS vào con đường tự lực tìm kiếm kiến thức HS phải độc lập xoay xở để vượt qua khó khăn, khi cần thiết GV có

sự giúp đỡ hợp lí Trong đó, dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV, HS cùng

GV thực hiện hai nhiệm vụ: đề xuất giả thuyết và kiểm tra giả thuyết.Việc đề xuất giả thuyết có thể dựa trên những suy luận logic qua những hiện tượng hay những quá trình đã ghi nhận kết hợp với kinh nghiệm bản thân Còn việc kiểm tra giả thuyết nhất định phải thông qua bài tập cụ thể hoặc qua thực tiễn Trước một vấn đề, một hiện tượng có thể HS nêu ra nhiều giả thuyết khác nhau, vì vậy GV cần phân tích và cùng HS thảo luận để lựa chọn các giả thuyết một cách logic và tập trung vì không thể kiểm tra nhiều giả thuyết cùng một lúc (thời gian tiết học khôngcho phép)

- Củng cố và vận dụng kiến thức: Để củng cố mới, GV có thể đề xuất với HS tiếp tục làm những thí nghiệm kiểm chứng Để vận dụng kiến thức mới, thường GV cho HS làm các bài tập có liên quan Sau đó chúng còn được vận dụng để xây dựng các kiến thức tiếp theo

1.2.6.3 Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ

Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ là phương pháp trong đó GV tổ chức cho HS thảo luận theo từng nhóm nhỏ để cùng nhau giải quyết một nhiệm vụ học tập cụ thể nào đó

Phương pháp dạy và học hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia

sẻ băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ GV

Trang 30

1.2.6.4 Dạy học khám phá [7.160]

Dạy học khám phá là phương pháp dạy học trong đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên, thông qua các hoạt động, học sinh khám phá ra tri thức nào đấy trong chương trình môn học

Theo phương pháp này, những gì giáo viên định thông báo cho học sinh một cách khiên cưỡng sẽ được học sinh khám phá ra; học sinh tự có được những tri thức, kĩ năng mới, chứ không phải là thụ động tiếp thu những tri thức, kĩ năng do thầy truyền thụ cho; các em vừa có được những nhận thức mới, kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp có được những tri thức, kĩ năng đó Hoạt động khám phá có thể thông qua các hoạt động: Trả lời câu hỏi, điền bảng, lập bảng, giải toán,

1.2.6.5 Dạy học kiến tạo [14.21]

Là phương pháp dạy học xây dựng dựa trên lý thuyết kiến tạo, trong đó người dạy tạo điều kiện cho quá trình hình thành và phát triển những sơ đồ nhận thức của người học dựa trên kinh nghiệm đã có và thông qua tương tác với môi trường dạy học

Mô hình dạy học kiến tạo được thể hiện ở sơ đồ sau:

Vốn tri thức  Dự đoán  Kiểm nghiệm  Điều chỉnh Tri thức mới

Theo đó, dạy học theo lý thuyết kiến tạo gồm các bước:

- Ôn tập, củng cố, tái hiện

- Tạo tình huống có vấn đề nhận thức

- Giải quyết vấn đề

- Thảo luận, đề xuất giả thuyết

- Kiểm nghiệm phân tích kết quả

- Kết luận rút ra kiến thức, kĩ năng mới

Trang 31

Trong quá trình soạn thảo tiến trình tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” Căn cứ vào tình hình thực tế về mức độ nhận thức của học sinh trường THPT Gia Phù nơi tôi đang dạy, cũng như chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt của chương, tôi mạnh dạn sử dụng ba phương pháp dạy học chính là: Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, Phương pháp đàm thoại vấn đáp và phương pháp dạy học hợp tác nhóm nhỏ 1.3 Các biện pháp tăng cường tính tích cực học tập của HS trong dạy học Toán

1.3.1 Tạo tình huống có vấn đề nhằm tạo hứng thú học tập

Theo tác giả Phạm Hữu Tòng, tình huống có vấn đề là tình huống kích thích được hoạt động nhận thức của HS

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì ông công nhận các định nghĩa về tình huống có vấn đề của M I Macmutop, đó là trở ngại về trí tuệ của con người xuất hiện khi anh ta chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự kiện, quá trình của thực tế khi chưa thể đạt tới mục đích bằng cách thức hànhđộng quen thuộc

Theo tác giả I F Kharlamop thì tình huống có vấn đề làm nẩy sinh những mâu thuẫn nội tại, sự ngạc nhiên, những băn khoăn thắc mắc, kích thích hoạt động nhận thức Cơ sở để tạo ra một tình huống có vấn đề là những câu hỏi, những bài tập, những mâu thuẫn nào đó… mà HS chưa có lời giải cần có sự sáng tạo Trong đó phải chứa đựng cả những điều đã biết làm điểm xuất phát cho sự tìm tòi, chứa đựng cả những yếu tố tâm lý làm kích thích hứng thú và lòng khao khát tìm kiếm kiến thức của HS

1.3.2 Tổ chức các hình thức hoạt động học tập Toán

- Tổ chức các hoạt động đa dạng cho HS tham gia giải quyết các vấn

đề, nhiệm vụ học tập như:

Trang 32

+ Phát hiện vấn đề, xác định nhiệm vụ, nêu câu hỏi

+ Thu thập thông tin

+ Xử lý thông tin, sử dụng suy luận logic

+ Hợp thức hoá kết quả tìm tòi nghiên cứu

- Có thể có những hình thức hoạt động học tập cho HS mang hình thức vui chơi nhưng rất có giá trị phát triển tư duy và giúp HS tự lực tìm kiếm kiến thức hoặc hiểu sâu kiến thức đã học

+ GV cho trước các câu hỏi, hướng dẫn HS tự tìm kiếm, trao đổi để tìm câu trả lời Sau đó GV giảng lại chính thức

+ Có nhiều cách giúp HS hoạt động để hiểu một một khái niệm Toán học bằng cách dùng từ ngữ, biểu đồ, video, tranh ảnh, sử dụng các phần mềm máy vi tính

+ Trò chơi kiến thức, thông qua đó cho HS thấy được quá trình hình thành kiến thức và hiểu đúng bản chất của nó

+ Cho HS một số nội dung kiến thức đã biết, yêu cầu đặt câu hỏi theo nội dung đó

- Tập cho HS có thói quen sử dụng SGK là một biện pháp quan trọng

để rèn luyện tư duy và khả năng tự học của HS

Trang 33

nhiều mâu thuẫn, xung đột động cơ, nhiều khi cản trở việc hình thành hoạt động học tập Vì nó không phải là tình huống hoạt động học tập tích cực

Tình huống học tập tự giác có mục đích là học tập của HS được thúc đẩy bởi chính xác động cơ tạo ý (hứng thú bản thân tri thức, lòng ham hiểu biết, sự khao khát mở rộng trình độ văn hoá của mình…) Tình huống này thường không chứa đựng sự xung đột động cơ, do đó nó là tình huống tối ưu

để hình thành phát triển động cơ tạo ý từ các mục đích học tập đạt được Vì vậy trong học tập, nhiệm vụ chủ yếu của GV là thuờng xuyên đưa HS vào tình huống này và duy trì nó

Để tạo động cơ nhận thức cho HS không chỉ đưa HS vào các tình huống thích hợp mà một điều quan trọng là phải đảm bảo cho HS hoạt động

có kết quả từng bước giải quyết vấn đề Chính sự thành công trong từng bước tiến trình đó cũng sẽ là một động cơ to lớn tạo hứng thú cho HS

Ngoài các yếu tố trên, tình cảm giữa thầy và trò, giữa các trò với nhau cũng là một yếu quan trọng làm cho HS tích cực học tập

1.3.4 Làm rõ vai trò của Toán học trong khoa học, kỹ thuật và đời sống

Hơn một trăm năm trước Karl Marx đã nói rằng một ngành khoa học chỉ trở nên hoàn thiện khi nó sử dụng được ngành khoa học định lượng - đó là toán học Lịch sử phát triển các ngành khoa học tự nhiên đã hoàn toàn khẳng định luận điểm này của Marx.Nhưng luận điểm đó còn đúng cả với nhiều lĩnh vực xã hội

Toán học luôn gắn liền với khoa học, kỹ thuật và đời sống Mối quan

hệ giữa chúng là biện chứng Vì vậy, việc giảng dạy Toán ở trường phổ thông

có nhiệm vụ quan trọng là làm sáng tỏ mối quan hệ này Việc làm này còn có tác dụng to lớn trong việc tạo hứng thú cho HS học Toán

Trang 34

HS trước, trong và sau giờ học luôn có câu hỏi cần phải tìm kiếm kiến thức để làm gì? kiến thức này được sử dụng như thế nào trong thực tiễn và hiệu quả không? Chính những điều đó là động lực quan trọng để HS học tập

và phát triển tư duy sáng tạo

Để làm được điều này có những cách:

- Tạo ra các tình huống có vấn đề luôn gắn chặt và xuất phát từ thực tiễn

- Sử dụng các kiến thức đã được học để giải các bài toán thực tiễn

- Giới thiệu và cho HS sưu tầm những ứng dụng của toán học trong khoa học, kĩ thuật và đời sống

- Lựa chọn để đưa những ví dụ thực tiễn vào bài học

Khi học sinh hiểu được ý nghĩa, vai trò của toán học trong thực tiễn sẽ làm cho các e yêu thích môn học, qua đó kích thích các e tự tìm tòi khám phá toán học không những trong sách giáo khoa mà còn từ nhiều cổng thông tin khác như qua sách báo, qua bạn bè, qua mạng internet…đó cũng chính là một cách tăng cường tính tự học của các em

1.4 Tổ chức tự học ngoài giờ trên lớp

1.4.1 Khái niệm tự học ngoài giờ trên lớp

Tự học ngoài giờ trên lớp (THNGLL) là hoạt động tự học của HS

Trang 35

Nội dung THNGLL: tự học để nắm vững kiến thức có bản; tự luyện tập

để thành thạo kỹ năng hình thành kỹ xảo; tự hoàn hiện các phương pháp trong hoạt động tự học

THNGLL không nằm trong khoảng thời gian học trên lớp và thường diễn ra ở nhà, thư viện, phòng tự học, hoặc các địa điểm tự học không có mặt của GV Thời gian THNGLL chiếm đa số trong thời gia học tập của HS

Yêu cầu của THNGLL: Đây là hình thức tự học đòi hỏi tính tự giác tính tích cưc, chủ động sáng tạo cao nhất của HS HS phải thật sự tự làm chủ trong mọi hoạt động của cá nhân Đồng thời tính hướng đích với các mục tiêu cụ thể mới có thể học có hiệu quả

1.4.2 Các hình thức tự học ngoài giờ trên lớp

Các hình thức THNGLL gồm nhiều dạng hoạt động khác nhau tùy theo mục đích nhằm đạt sự tới hoàn thiện về kiến thức hay ký năng, phương pháp Các hoạt động tự học cơ bản là: tập luyện nghe, nói, đọc, viết, sơ đồ hóa, mô hình hóa; tự nghiên cứu, tự đóng vai tự diễn tả, tự trình bày, tự kiểm tra tự đánh giá; tự điều chỉnh Các kỹ thuật THNGLL bao gồm các kỹ thuật học tập

có bản như đã thực hiện trên lớp nhưng có sự khác biệt là đòi hỏi cá nhân HS phải tự giác, tự chủ động thực hiện theo quy trình cụ thể phù hợp với tình hình thực tế của bản thân

Trang 36

Chương 2: SOẠN THẢO TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN” – TOÁN LỚP 12 THPT

2.1 Giới thiệu về chương “Phương pháp tọa độ trong không gian”

2.1.1 Cấu trúc nội dung của chương

Chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” thuộc chương III trong chương trình Toán lớp 12 ban cơ bản Chương này gồm 3 bài học:

Bài 1: Hệ Tọa độ trong không gian

Bài 2: Phương trình mặt phẳng

Bài 3: Phương trình đường thẳng trong không gian

2.1.2 Chuẩn kiến thức và kỹ năng của chương

độ của một điểm, biểu thức tọa độ của các phép toán véc tơ, khoảng cách giữa hai điểm

- Biết khái niệm và một số ứng dụng của tích véc tơ( Tích có hướng của hai véc tơ)

- Tính được tọa độ của tổng, hiệu của hai véc tơ, tích véc

tơ với một số; tính được tích có hướng của hai véc tơ

- Tính được khoảng cách giữa hai điểm

có tọa độ cho trước

- Xác định được tọa

độ tâm và độ dài bán kính của mặt cầu có phương trình cho

Trang 37

- Biết phương trình mặt cầu

- Hiểu khái niệm véc

tơ pháp tuyến của mặt phẳng

- Biết phương trình tổng quát của mặt phẳng, điều kiện vuông góc hoặc song song của hai mặt phẳng, công thức tính khoảng cách từ một điểm đến một mặt phẳng

- Xác định được véc

tơ pháp tuyến của một mặt phẳng

- Biết cách viết phương trình tổng quát của mặt phẳng

và tính được khoảng cách từ một điểm đến một mặt phẳng

3 Phương trình đường

thẳng

- Biết phương trình tham số của đường thẳng, điều kiện để hai đường thẳng chéo nhau, cắt nhau, song song hoặc vuông góc

- Biết cách viết phương trình tham

số của đường thẳng

- Biết cách sử dụng phương trình hai đường thẳng để xác định vị trí tương đối của hai đường thẳng

2.1.3 Kế hoạch dạy học của chương

Kế hoạch phân phối chương trình của chương “Phương pháp tọa độ trong không gian”

Trang 38

STT Tiết theo phân phối

chương trình Tên bài học

1 Tiết 25 - 27 Hệ tọa độ trong không gian

Theo phân phối chương trình như trên, các bài học trong chương được triển khai dạy học theo phân bố thời gian như sau:

16/01/2015 – 30/01/2015 Hệ tọa độ trong không gian

Trang 39

- Thường sử dụng các phương pháp nào?

- Có yêu cầu HS chuẩn bị bài mới ở nhà không? Nếu có thì yêu cầu HS chuẩn bị theo hình thức như thế nào?

Tôi nhận thấy rằng khi dạy học chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” thì phương pháp giảng giải vẫn là phương pháp được lựa chọn hàng đầu của các giáo viên Các giáo viên đưa ra các khái niệm, định lý, tính chất, hình vẽ mô tả và học sinh thụ động lắng nghe, quan sát và ghi nhận kiến thức Sau đó, giáo viên giải mẫu các bài tập vận dụng kiến thức rồi học sinh làm theo Hoàn toàn không có giáo viên nào đưa trước cho học sinh một hệ thống các câu hỏi định hướng để học sinh tự tìm hiểu kiến thức mới ở nhà trước khi đến lớp

Ngoài ra, tôi cũng có khảo sát 200 học sinh lớp 12 trường THPT Gia Phù về mức độ thường xuyên tham gia các hoạt động học tập khi học môn Toán và được kết quả :

- Đa số học sinh chỉ tham gia phát biểu ý kiến khi được GV gọi

- Học sinh thường học theo cá nhân, rất ít tham gia hoạt động nhóm hợp tác trong học tập

- Học sinh không có thói quen chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp và rất

ít học sinh tham khảo thêm tài liệu ngoài SGK

Thể hiện qua bảng số liệu sau:

STT Các hoạt động học tập

Mức độ thường xuyên Thường

xuyên

Thỉnh thoảng

Chưa bao giờ

Trang 40

Mỗi bài học sẽ bao gồm các mục sau:

-Thiết kế phiếu học tập ở nhà (phiếu học tập số 1): gồm các câu hỏi định hướng chuẩn bị cho bài học mới

-Thiết kế phiếu học tập trên lớp (phiếu học tập số 2): gồm các câu hỏi vận dụng, củng cố kiến thức vừa học

-Thiết kế tiến trình tổ chức hoạt động tự học của học sinh trên lớp 2.3.2 Tiến trình tổ chức hoạt động tự học từng bài cụ thể

2.3.2.1 Bài 1: “Hệ Tọa độ trong không gian”

TIẾT 25: HỆ TOẠ ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN

Ngày đăng: 14/11/2016, 11:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.2.4. Bảng so sách mô hình dạy - tự học và mô hình dạy học lấy - Tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học chương phương pháp tọa độ trong không gian   toán lớp 12 THPT
1.2.4. Bảng so sách mô hình dạy - tự học và mô hình dạy học lấy (Trang 5)
1.2.4. Bảng so sách mô hình dạy - tự học và mô hình dạy học lấy việc dạy   ( thầy) làm trung tâm [12.157] - Tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học chương phương pháp tọa độ trong không gian   toán lớp 12 THPT
1.2.4. Bảng so sách mô hình dạy - tự học và mô hình dạy học lấy việc dạy ( thầy) làm trung tâm [12.157] (Trang 21)
Hình tròn bên trong tượng trưng cho nội lực – năng lực tự học, trên - Tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học chương phương pháp tọa độ trong không gian   toán lớp 12 THPT
Hình tr òn bên trong tượng trưng cho nội lực – năng lực tự học, trên (Trang 26)
HĐ2: Hình thành Khái niệm HTTĐ trong không gian (7’) - Tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học chương phương pháp tọa độ trong không gian   toán lớp 12 THPT
2 Hình thành Khái niệm HTTĐ trong không gian (7’) (Trang 43)
HĐ1: Hình thành khái niệm (7’) - Tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học chương phương pháp tọa độ trong không gian   toán lớp 12 THPT
1 Hình thành khái niệm (7’) (Trang 46)
HĐ3: Hình thành Khái niệm phương trình mặt phẳng (15’) - Tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học chương phương pháp tọa độ trong không gian   toán lớp 12 THPT
3 Hình thành Khái niệm phương trình mặt phẳng (15’) (Trang 72)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w