1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên.

90 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Nông Học - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả n

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN ĐỨC CẢNH

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG

VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI MỚI TRONG VỤ THU ĐÔNG NĂM 2014 TẠI THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Ngành : Khoa học cây trồng

Khóa học : 2011 - 2015

Thái Nguyên - năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN ĐỨC CẢNH

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG

VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI MỚI TRONG VỤ THU ĐÔNG NĂM 2014 TẠI THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Ngành : Khoa học cây trồng Lớp : K43-TT-N01 Khoa : Nông Học Khóa học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn: Ts Phan Thị Vân

Thái Nguyên - năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên các trường đại học Đây là khoảng thời gian cần thiết để sinh viên củng cố lại kiến thức đã học, đồng thời vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế sản xuất, nâng cao trình độ hiểu biết, từ đó tạo lập cho mình một tác phong làm việc đúng đắn Do vậy thực tập tốt nghiệp là giai đoạn không thể thiếu của mỗi sinh viên

Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Nông Học - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em

tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển

của một số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên”

Trong quá trình thực tập tốt nghiệp, em luôn nhận được sự chỉ dẫn

nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn, TS.Phan Thị Vân Em xin được bày tỏ lòng

biết ơn sâu sắc tới cô, đồng thời em xin gửi lời cảm ơn đến bố, mẹ và những người thân trong gia đình luân động viên em trong suất quá trình làm đề tài và viết khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Nông học và các thầy, cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành đợt thực tập

Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các bác, các cô, các chú, các anh, các chị là nhân dân ở phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và các bạn sinh viên lớp K43TT cùng thực tập với em,

em cũng xin chân thành cảm các các bạn cùng khóa đã động viên, giúp đỡ

em hoàn thành khóa luân

Mặc dù đã cố gắng, nhưng do hạn chế về trình độ lí luận, kinh nghiệm thực tế và thời gian nghiên cứu chưa lâu nên khoá luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự góp ý của thầy, cô giáo cùng các bạn để khoá luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Trần Đức Cảnh

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất ngô của các châu lục và thế giới 5giai đoạn 2011-2013 5Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô của một số nướctrên thế giới năm

2013 6Bảng 2.3 Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam giai đoạn 1961 - 2013 9Bảng 2.4 Tình hình xuất ngô của các vùng năm 2013 11Bảng 2.5 Tình hình sản xuất ngô của một số địa phương năm 2013 11Bảng 2.6 Tình hình sản suất ngô tại Thái Nguyên giai đoạn 2002 -

2014 tại Thái Nguyên 31Bảng 4.6 Tốc độ ra lá của các THL vụ Đông 2014 tại Thái Nguyên 33Bảng 4.7 Đánh giá mức đô ̣ nhi ễm sâu bệnh của các THL thí nghiê ̣m vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên 35Bảng 4.8: Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp các THL thí

nghiệm vụ Thu Đông 2014 37Bảng 4.9 Các yếu tố cấu thành năng suất của các THLvụ Thu Đông

2014 tại Thái Nguyên 41Bảng 4.10 Năng suất lí thuyết và năng suất thực thucủa các THL vụ

Thu Đông 2014 tại Thái Nguyên 42

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Biểu đồ chiều cao cây, chiều cao đóng bắp của các THLvụ Thu Đông 2014 tại Thái Nguyên 28 Hình 4.2: Biểu đồ năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các THL vụ

Thu Đông 2014 tại Thái Nguyên 44

Trang 6

NSLT : Năng suất lý thuyết

NSTT : Năng suất thực thu

TĐRL : Tốc độ ra lá

THL : Tổ hợp lai

TP - PR : Tung phấn - Phun râu

USDA : Bộ nông nghiệp Hoa Kì

Trang 7

MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 3

1.2.1 Mục đích 3

1.2.2 Yêu cầu 3

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa trong học tập 3

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu ngô trên thế giới 4

2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ ngô trên thế giới 4

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới 7

2.3 Tình hình sản xuất, nghiên cứu và tiêu thụ ngô tại Việt Nam 8

2.3.1 Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam 8

2.3.2 Tình hình tiêu thụ ngô trong nước 12

2.3.3 Tình hình nghiên cứu ngô tại Việt Nam 13

2.4 Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên 14

2.5 Các loại giống ngô ở Viê ̣t Nam 16

2.5.1 Giống ngô thụ phấn tự do (TPTD - open pollinated variety) 16

2.5.2 Giống ngô lai (Maize Hybrid) 16

Phần 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Vật liệu nghiên cứu 18

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18

Trang 8

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 18

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 19

3.3 Quy trình trồng trọt áp dụng trong thí nghiệm 19

3.4 Nội dung nghiên cứu 20

3.5 Phương pháp nghiên cứu 20

3.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20

3.5.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 20

3.6 Thu thập số liệu 24

3.7 Xử lí số liệu 24

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

4.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp lai 25

4.2 Đặc điểm hình thái, sinh lý của các tổ hợp lai thí nghiệm 26

4.2.1 Chiều cao cây (cm) 26

4.2.2 Chiều cao đóng bắp 28

4.2.3 Số lá trên cây 29

4.2.4 Chỉ số diện tích lá (LAI) 30

4.2.5 Mầu sắc, dạng hạt của các THL tham gia thí nghiệm 30

4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các THL thí nghiê ̣m 31

4.4 Tốc độ ra lá của các tổ hợp lai thí nghiệm 33

4.5 Khả năng chống chịu của các THL thí nghiệm 34

4.5.1 Sâu đục thân 35

4.5.2 Bệnh gỉ sắt 36

4.5.3 Bệnh thối thân 36

4.6 Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp củ a các THL thí nghiê ̣m 37

4.6.1 Trạng thái cây 38

4.6.2 Trạng thái bắp 38

4.6.3 Độ bao bắp 38

Trang 9

4.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các THL thí nghiệm 39

4.7.1 Số bắp trên cây 39

4.7.2 Chiều dài bắp 39

4.7.3 Đường kính bắp 40

4.7.4 Số hàng hạt trên bắp 40

4.7.5 Số hạt trên hàng 40

4.7.6 Khối lượng 1000 hạt 41

4.7.7 Năng suất lý thuyết (tạ/ha) 42

4.7.8 Năng suất thực thu (tạ/ha) 43

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Đề nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 10

Phần 1: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây ngô (Zea mays L.) là một trong 3 cây lương thực quan trọng nhất

của con người Vì ngô có khả năng chống chịu rất tốt nên ngô đã được trồng

từ lâu đời để làm lương thực, đặc biê ̣t ở nhũng vùng khó khăn Có tới 90% sản lượng ngô ở Ấn Độ và 66% sản lượng ngô ở Philippin được dùng làm lương thực cho con người (Nguyễn Đức Lương và cs , 2000)[7]

Ngô còn là cây trồng cung cấp nguồn nguyên li ệu chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, công nghiệp dược phẩm của nhiều quốc gia trên thế giới Với vai trò quan trọng như vậy trong những năm qua sản xuất ngô trên thế giới không ngừng phát triển để đáp ứng cho nhu cầu ngày một tăng của con người Diện tích, năng suất và sản lượng ngô liên tục tăng, năm 1980 diện tích trồng ngô chỉ khoảng 125,8 triệu ha với năng suất 31,5 tạ/ha đạt tổng sản lượng là 396,96 triệu tấn năm 2013 diện tích ngô tăng lên đáng kể đạt 184,2 triệu ha, năng suất 55,2 tạ/ha và sản lượng đạt 1016,4 triệu tấn (FAOSTAT, 2015)[15]

Để có được những thành tựu trên bên cạnh việc áp dụng các biện pháp

kĩ thuật trên đồng ruộng thì việc đầu tư nghiên cứu chọn lọc, lai tạo giống luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong giai đoạn hiện nay, sản xuất ngô trên thế giới chỉ thực sự phát triển khi áp dụng các tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất trong đó có việc gieo trồng các giống ngô lai

Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 60% dân số sống bằng nghề nông Trong cơ cấu cây trồng ở nước ta ngô được xem là cây lương thực quan trọng thứ 2 sau lúa nước Nhân dân nhiều vùng như Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên đã dùng ngô làm lương thực chính Ngô đi vào bữa ăn người Việt dưới nhiều dạng: Cơm ngô xay, ngô bung với đậu đỗ, bột bánh ngô, xôi ngô, ngô luộc, bỏng ngô(Nguyễn Đứ c Lương và cs , 2000)[7] Ngoài

Trang 11

ra ngô còn được sử dụng làm thực phẩm (ngô bao tử) và làm nguyên liệu phát triển chăn nuôi gia súc -gia cầm, tuy nhiên sản xuất ngô ở Việt Nam phát triển rất chậm, tốc độ tăng trưởng của cây trồng này chỉ được đẩy mạnh sau những năm 90 nhờ việc sử dụng các giống lai trong sản xuất Hiện nay chúng ta đã có hàng trăm giống ngô lai tốt, có năng suất và chất lượng cao không kém gì so với giống của các nước tiên tiến trên thế giới Viện nghiên cứu ngô là cơ quan khoa học hàng đầu của đất nước trong lĩnh vực chọn tạo giống ngô với nhiều giống tốt được sử d ụng rộng rãi trong sản xuất như: LVN10, LVN14, LVN99, LVN25, LVN66, LVN6,… bên cạnh đó các Trường Đại học Nông nghiệp cũng là những cơ quan hợp tác, nghiên cứu và tham gia tích cực vào mạng lưới khảo nghiệm các giống mới Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là một trong 4 điểm nằm trong mạng lưới khảo nghiệm giống ngô ở miền Bắc, trong những năm qua thầy trò nhà trường đã tham gia tích cực vào việc nghiên cứu, khảo nghiệm cũng như hợp tác sản xuất giống ngô lai và có những đóng góp tích cực cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và phát triển sản xuất ngô nói riêng

Con đường từ khi chọn lọc, lai tạo ra một tổ hợp lai cho đến khi tổ hợp lai đó được công nhận giống chính thức là một con đường dài, nó đòi hỏi việc nghiên cứu bài bản và công phu, sự lao động gian khổ và nghiêm túc của các nhà khoa học Trong đó việc nghiên cứu, khảo nghiệm phản ứng của các giống với các điều kiện sinh thái, mùa vụ khác nhau là việc mà bất cứ giống cây trồng nào cũng phải trải qua trước khi được công nhận giống, áp dụng vào sản xuất đại trà

Để có cở sở cho ̣n được các giống ngô lai mới phu ̣c vu ̣ cho sản xuất ,

chúng tôi ti ến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng

và phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên”

Trang 12

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

Kết luận của đề tài là cơ sở quan trọng để chọn được các tổ hợp lai ưu

tú bổ sung vào cơ cấu giống ngô trong sản xuất tại Thái Nguyên cũng như khu vực miền núi Đông Bắc

Trang 13

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Giống có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng Muốn có những giống ngô mới năng suất, chất lượng cao, khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh cần nghiên cứu lai tạo

và chọn lọc một cách kỹ lưỡng, xác định vùng thích nghi của các giống mới trước khi đưa vào sản xuất trên diện rộng Kết quả của quá trình khảo nghiệm giống sẽ là cơ sở khoa học để lựa chọn những giống tốt thích nghi với điều kiện của từng vùng, từng miền, phù hợp với từng mùa vụ và các chế độ canh tác khác nhau

Trong quá trình khảo nghiê ̣m sẽ loại được các giống có những yếu điểm

về các đặc tính nông sinh học như: thời gian sinh trưởng quá dài, cây quá cao, chống đổ kém và dễ nhiễm sâu bệnh,… chọn lọc được những giống khắc phục được những yếu điểm trên để giới thiệu cho sản xuất

2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu ngô trên thế giới

2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ ngô trên thế giới

Ngô là cây trồng có lịch sử gieo trồng từ lâu đời, các nghiên cứu của Vavilov (1926) đã cho rằng Mexico và Peru là những trung tâm phát sinh và

đa dạng di truyền của cây ngô Năm 1492, Columbus tìm ra châu Mĩ và từ đó theo thời gian ngô đã được đem gieo trồng phổ biến ở khắp nơi trên thế giới Hiện nay ngô là cây trồng có địa bàn phân bố vào loại rộng rãi nhất thế giới, trải rộng hơn 90 vĩ tuyến: từ 40 vĩ độ nam (lục địa châu Úc, nam châu Phi, Chile, Niudilan …) lên gần 55 vĩ độ bắc (bờ biển Ban Tích, trung lưu sông Vônga…); từ độ cao 1-2m lên đến gần 4000m so với mực nước biển (Peru, Goatemala…) (Nguyễn Đức Lương và cs) [7] Như vậy cây ngô đã có sự phát triển lan rộng trên toàn thế giới góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh lương thực toàn cầu trong bối cảnh gia tăng dân số, biến đổi khí hậu, thu hẹp diện tích đất trồng trọt

Trang 14

Trên thế giới ngô được xếp ở vị trí thứ 3 sau lúa mì và lúa gạo với tổng diện tích gieo trồng khoảng 184,2 triệu ha, năng suất đạt 55,2 tạ /ha, tổng sản lượng khoảng 1010,7 triệu tấn vào năm 2013 (FAO, 2015) [15]

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất ngô của các châu lục và thế giới

giai đoạn 2011-2013 Khu vực

Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ /ha) Sản lƣợng (triệu tấn)

2011 2012 2013 2011 2012 2013 2011 2012 2013

Châu Á 56,5 57,6 59,4 48,1 50,2 51,2 271,8 288,8 304,3 Châu Âu 16,6 18,3 19 66,6 51,7 61,9 110,5 94,7 117,5 Châu Mĩ 64,1 67,7 70,7 68,4 61,8 73,9 438,5 418,2 522,6 Châu Phi 34,7 33,7 35,0 19,2 20,7 20,5 66,7 51,7 71,6 Châu Đại Dương 0,86 0,94 1,02 68,1 71,9 70,8 0,58 0,68 0,73 Thế giới 172 177,4 184,2 57,6 49,2 55,2 888 872,1 1016,7

Nguồn: FAOSTAT, 2015[15]

Diện tích, năng suất và sản lượng ngô có sự chênh lệch tương đối lớn giữa các châu lục trên thế giới do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác, cũng như trình độ kĩ thuật Châu Mĩ - quê hương của cây ngô

là châu lục có diện tích trồng ngô lớn nhất với diện tích 70,7 triệu ha chiếm 38,4% tổng diện tích trồng ngô của thế giới (năm 2013) Đây cũng là châu lục

có năng suất ngô tương đối lớn đạt 68,4 tạ /ha (năm 2011) và 73,9 tạ/ha (năm 2013) Trong khi đó châu Phi là châu lục có năng suất ngô rất thấp và có tốc

độ tăng năng suất chậm, năng suất chỉ đạt 20,5 tạ/ha (năm 2013) nên mặc dù châu Phi có diện tích trồng ngô lớn thứ 3 sau châu Mĩ và châu Á nhưng sản lượng thu được còn ít chỉ đạt 71,6 triệu tấn vào năm 2013 Sở dĩ châu Phi có năng suất ngô thấp nhất thế giới là do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, trình độ thâm canh thấp, chưa có điều kiện để áp dụng các tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất Châu Á có diện tích và sản lượng tương đối lớn, đứng thứ 2 sau châu Mĩ với diện tích 59,4 triệu ha đạt sản lượng 304,3 triệu tấn (năm 2013) Châu Âu

và châu Đại Dương có diện tích trồng ngô nhỏ nhưng đây là nơi tập trung nhiều nước có trình độ phát triển cao nên có năng suất ngô tương đối cao, mặc

Trang 15

dù đây là những khu vực có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây ngô, năm 2013 năng suất ngô của châu Âu đạt 73,9 tạ/ha cao nhất thế giới

Không những có sự chênh lệch lớn về diện tích, năng suất và sản lượng giữa các châu lục mà giữa các quốc gia khác nhau cũng có sự chênh lệch rất lớn

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô của một số nước

trên thế giới năm 2013 Nước Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)

Nguồn: FAOSTAT, năm 2015[15]

Mỹ là nước có diện tích và sản lượng ngô lớn nhất thế giới với diện tích 35,5 triệu ha, sản lượng đạt 353,7 triệu tấn chiếm 34,8% sản lượng ngô thế giới Trung Quốc là nước có diện tích trồng và sản lượng ngô lớn thứ 2 trên thế giới với 35,3 triệu ha đạt sản lượng 217,7 triệu tấn chiếm 21,4% tổng sản lượng ngô của thế giới Mặc dù có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, diện tích trồng ngô nhỏ (0,04 triệu ha) nhưng với trình độ khoa học cao, đầu tư lớn nên Isarel có năng suất ngô cao nhất thế giới đạt 255,6 tạ /ha cao hơn gấp 4,6

lần so với bình quân năng suất ngô thế giới (năm 2013)

Với sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến hiện nay từ ngô

đã tạo ra hơn 670 loại mặt hàng khác nhau Nhu cầu về nhiên liệu sinh học như ethanol ngày càng tăng tại các nền kinh tế phát triển, đặc biệt là ở Bắc

Mỹ (Cục xúc tiến thương mại , 2012)[3]

Trang 16

Sản lượng ngô xuất khẩu đang có xu hướng giảm tại Mỹ, Brazin, Achentina,… một số nước như Trung Quốc không xuất khẩu ngô vì ngô được chế biến ethanol thay thế một phần nhiên liệu xăng, dầu

Trước sức ép của sự gia tăng dân số để đảm bảo cung cấp đủ thực phẩm cho con người nhiều nước đã tích cực phát triển ngành chăn nuôi do đó nhu cầu sử dụng ngô để chế biến thức ăn gia súc - gia cầm ngày một tăng Tất cả những dẫn chứng trên cho thấy cần phải phát triển sản xuất ngô một cách bền vững, trong đó các nhà khoa học cần chọn lọc, lai tạo ra các giống ngô mới có

năng suất và chất lượng phù hợp với yêu cầu của cuộc sống hiện nay

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới

Năm 1494, trong chuyến thám hiểm thứ hai ở châu Mỹ của Columbus, cây ngô lần đầu tiên được đưa về trồng ở Tây Ban Nha và đã góp phần mang lại nền văn minh cho châu Âu (Ngô Hữu Tình, 1997)[11] Tuy nhiên, phải rất lâu sau các nhà khoa học mới có sự nghiên cứu sâu về loại cây trồng này

Năm 1716, Cottin Matther là người đầu tiên thực hiện thí nghiệm về giới tính của ngô Ông đã quan sát thấy sự thụ phấn chéo ở cây ngô tại Massachusettes

Tám năm sau Matther, Paul Dudly đã đưa ra nhận xét về giới tính của ngô và cho rằng gió đã giúp ngô thực hiện quá trình thụ phấn Năm 1876, Charles Darwin tiến hành thí nghiệm với hàng loạt cá thể giao phối và tự thụ phấn ở nhiều loài khác nhau như đậu đỗ, ngô, ông đã quan sát thấy sự hơn hẳn của các cây giao phấn với các cây tự thụ phấn về chiều cao, tốc độ nảy mầm của hạt, số bắp trên cây và cả sức chống chịu với điều kiện bất thuận

và năng suất hạt

Hiện tượng ưu thế lai ở cây ngô được các nhà khoa học quan tâm từ rất sớm Nhà nghiên cứu người Mỹ Bill tiến hành nghiên cứu từ năm 1876, ông đã thu được con lai có năng suất cao hơn bố mẹ từ 10-15% Năm 1909, Shull đã đưa ra ý kiến sản xuất hạt giống ngô lai F1 bằng lai đơn nhằm tạo

ra sự đồng đều cao nhất, các dòng bố mẹ càng thuần chủng, tạo ưu thế lai

Trang 17

càng mạnh Đầu năm 1917, Jones đã đề xuất sử dụng hạt lai kép trong sản xuất để giảm giá thành hạt giống, tạo điều kiện cho cây ngô phát triển mạnh ở Mỹ và các nước có kỹ thuật trồng ngô tiên tiến

Năm 1960, Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mì Quốc tế (CIMMYT) được thành lập tại Mexico, nhiệm vụ của trung tâm này là nghiên cứu đưa ra giải pháp, tạo giống ngô thụ phấn tự do làm bước chuyển tiếp giữa ngô địa phương và ngô lai Trung tâm đã đóng góp đáng kể vào việc xây dựng, phát triển và cải thiện hoạt động vốn gen, quần thể và giống ngô cho 80 quốc gia trên thế giới

Hiện nay diện tích trồng ngô lai trên thế giới ngày một tăng, việc nghiên cứu lai tạo chọn lọc các giống ngô có ưu thế lai cao được rất nhiều các

tổ chức quốc tế và các quốc gia quan tâm đầu tư, nhờ vậy mà đã có rất nhiều giống ngô mới cho năng suất cao, chất lượng tốt ra đời góp phần quan trọng làm tăng sản lượng ngô, tăng lượng lương thực đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người

2.3 Tình hình sản xuất, nghiên cứu và tiêu thụ ngô tại Việt Nam

2.3.1 Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam

Cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm về sự du nhập của cây ngô vào nước ta, có quan điểm cho rằng ngô được du nhập vào nước ta từ Trung Quốc nhưng cũng có quan điểm cho rằng ngô được du nhập vào nước

ta từ các nước ngoài khơi phía nam Có thể khẳng định ở nước ta ngô là cây trồng nhập nội với lịch sử phát triển khoảng 300 năm Sau khi du nhập vào nước ta cây ngô có tốc độ phát triển chậm Chỉ đến đầu thế kỉ 20 khi thực dân Pháp đẩy mạnh việc khai thác thuộc địa thì ngô mới được xuất khẩu sang Pháp làm thức ăn cho gia súc Số lượng ngô hạt xuất khẩu tăng từ

16000 tấn (năm 1905) lên 84000 tấn (năm 1910) và 140000 tấn năm 1929 (kể cả của Lào và Campuchia) (Nguyễn Đứ c Lương và cs , 2000)[7] Trong

Trang 18

khi trên thế giới cây ngô có sự phát triển đi lên thì ở nước ta cây ngô phát triển chậm và kém bền vững Suốt một giai đoạn dài phải đến những năm 80 trở đi ngô ở nước ta mới có sự phát triển mạnh về diện tích, năng suất và sản lượng Từ sau những năm 90 với việc sử dụng các giống ngô lai vào sản xuất đồng thời áp dụng các tiến bộ của khoa học kĩ thuật nên sản xuất ngô ở nước ta đã có nhiều khởi sắc Năm 1980, diện tích trồng ngô của nước ta khoảng 389.600 ha với năng suất 11 tạ/ha đạt tổng sản lượng 428.800 tấn, đến năm 2013, diện tích trồng ngô của nước ta là 1,17 triệu ha, sản lượng khoảng 5,2 triệu tấn, năng suất tăng đáng kể đạt 44,35 tạ/ha bằng 80,3% so với năng suất trung bình của thế giới (FAO, 2015)[15]

Bảng 2.3 Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam giai đoạn 1961 - 2013

Trang 19

Sản xuất ngô ở nước ta đã có sự phát triển nhưng vẫn còn thấp hơn so với sự phát triển chung của thế giới Trong nước sự phát triển sản xuất ngô cũng có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng miền.

Trang 20

Bảng 2.4 Tình hình xuất ngô của các vùng năm 2013

Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2015[13]

Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích trồng ngô lớn nhất với 505,8 nghìn ha chiếm 43,14 % diện tích trồng ngô của cả nước nhưng đây cũng

là vùng có năng suất ngô thấp nhất, năng suất ngô năm 2013 đạt 37,6 tạ/ha bằng 84,88 % năng suất ngô trung bình của cả nước do ngô chủ yếu được trồng trên các nương rẫy có độ dốc lớn, khó thâm canh và ít được thâm canh Các vùng khác ở khu vực phía Nam có điều kiện đất đai bằng phẳng và màu mỡ hơn, thuận lợi cho việc cơ giới hóa và áp dụng tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất nên

có năng suất cao hơn năng suất trung bình của cả nước Năng suất ngô của Tây Nguyên là 51,7 tạ/ha, của Đông Nam Bộ là 57,6 tạ /ha và của Đồng Bằng Sông Cửu Long là 56,1tạ /ha (năm 2013) (Tổng cục thống kê)[13]

Bảng 2.5 Tình hình sản xuất ngô của một số địa phương năm 2013 Địa phương (nghìn ha) Diện tích Năng suất (tạ/ha) (nghìn tấn) Sản lượng

Trang 21

Qua bảng 2.5 cho thấy Sơn La là tỉnh có diện tích trồng ngô lớn nhất cả nước với 162,8 nghìn ha, nhưng năng suất thấp chỉ đạt 40,2 tạ/ha bằng 90,74% năng suất trung bình của cả nước nên sản lượng đứng thứ 2 sau tỉnh Đăk Lăk (663,2 nghìn tấn) Mặc dù có diện tích trồng ngô nhỏ khoảng 11,5 nghìn ha nhưng An Giang lại là tỉnh có năng suất ngô cao nhất nước đạt 70,3 tạ/ha bằng 158,69 % năng suất ngô trung bình cả nước Như vậy sản xuất ngô

ở nước ta có sự phát triển không đều giữa các vùng miền và các địa phương

do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, chế độ canh tác và khả năng áp dụng tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất

2.3.2 Tình hình tiêu thụ ngô trong nước

Sản lượng thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam đã và đang không ngừng gia tăng trong khoảng mư ời năm trở la ̣i đâ y Với mức đô ̣ khoảng 14 triê ̣u tấn/năm (số liê ̣u ước tính ) và sẽ còn tiếp tục tăng lên nữa , thì các nguyên liê ̣u cung năng lượng như thóc , các loại cám , tấm, ngô, sắn, lúa mì và dầu mỡ phải đảm bảo được ít ra là 9 triệu tấ n mỗi năm (tính trung bình các nguyên liê ̣u cung năng lượng chiếm 60 - 70% trong công thức thức ăn ) (Bô ̣ Công thương, 2013) [1]

Như vậy để đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho việc chế biến thức ăn chăn nuôi đòi hỏi chúng ta phải chủ động nguồn nguyên liệu, trong đó có ngô, trung bình mỗi năm nước ta phải nhập khẩu gần 9000 tấn ngô mới đủ cung cấp cho tiêu dùng trong nước

Năm 2013 Việt Nam nhập khẩu ngô làm nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi, với trị giá 0,67 tỷ USD với tỷ trọng đạt 0,5% trong tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa năm 2013, tăng 34,4% so với năm 2012, lượng ngô nhập khẩu trong 11 tháng đầu năm 2014 đạt 4,07 triệu tấn, tăng 137,67%; tổng giá trị nhập khẩu đạt 1,05 tỉ USD, tăng 92,73% so cùng kỳ năm 2013 Các thị trường nhập khẩu chính trong 11 tháng đầu năm 2014: Braxin (2,33 triệu tấn), Ấn Độ (631,07 ngàn tấn), Achentina (355,06 tấn), Thái Lan, Campuchia, Lào

Tháng 4 năm 2015 Việt Nam nhập khẩu 470.485 tấn ngô với tổng giá trị gần 106 triệu USD (Tổng cục Hải Quan, 2015)[12]

Trang 22

Theo dự báo của chiến lược phát triển chăn nuôi Việt Nam, nhu cầu thức ăn chăn nuôi công nghiệp sẽ tăng 7,8% trên năm tương ứng là 19 triệu tấn vào năm 2020, nguồn thức ăn thô xanh tăng từ 120 triệu tấn lên 170 triệu tấn (Nguyễn Tuấn Nghĩa, 2012)[9]

2.3.3 Tình hình nghiên cứu ngô tại Việt Nam

Ở Việt Nam, công tác nghiên cứu về ngô chậm hơn nhiều nước trên thế giới vài thập kỷ Tuy nhiên giai đoạn 1955-1970 các nhà khoa học cũng đã bước đầu điều tra về thành phần loài và giống địa phương Trên cơ sở đánh giá các giống địa phương, đã chọn ra những giống tốt và tiến hành chọn lọc phục vụ cho sản xuất (Cao Đắc Điểm, 1988)[4]

Từ 1971 - 1986 các nhà khoa học Việt Nam đã bắt đầu chương trình chọn tạo giống ngô lai và được tập trung cao độ từ năm 1990 đến nay và thành công trong việc chọn tạo các giống lai không quy ước như: LS-3, LS-5, LS-6, LS-7, LS-8…, các giống này có năng suất 3-7 tấn/ha đã được mở rộng nhanh chóng trên phạm vi toàn quốc Tiếp đến là những thành công trong công tác nghiên cứu giống lai quy ước, trong một thời gian ngắn các nhà nghiên cứu ngô Việt Nam đã tạo ra hàng loạt các giống tốt cho năng suất cao

từ 7 - 10 tấn/ha như: LVN-10, LVN-4, LVN-17, LVN-25, LVN-99, LVN-9, LVN-145, VN-8960, LVN-14, LVN-61,…Các giống này không thua kém các giống ngô của các Công ty nước ngoài về cả năng suất và chất lượng Theo ước tính, giống ngô lai do Việt Nam lai tạo hiện nay chiếm khoảng 60% thị phần giống của cả nước

Như vậy, chương trình chọn tạo giống ngô Việt Nam đã từng bước phát triển từ giống lai không quy ước đến lai kép, lai ba, lai đơn cải tiến và lai đơn Những thành tích đó đã đưa sản xuất ngô Việt Nam đứng trong hàng ngũ các nước tiên tiến ở Châu Á Một loạt các giống lai do Việt Nam chọn tạo đã được trồng ở tất cả các vùng sinh thái trong cả nước Cùng với việc mở rộng diện tích được trồng bằng giống lai thì các biện pháp kĩ thuật canh tác như thời vụ, mật

độ, phân bón cũng được nghiên cứu và được và áp dụng rộng rãi trong sản xuất Đặc biệt, công trình nghiên cứu trồng ngô trên nền đất ướt, đã làm tăng diện tích

Trang 23

trồng ngô Việt Nam rất nhanh ở giai đoạn 1985 - 1990

Công nghệ sinh học là một ngành khoa học mới được áp dụng ở Việt Nam nhưng cũng đã đạt được những thành công bước đầu Kỹ thuật nuôi cấy bao phấn ở Viện Nghiên cứu ngô đã ngày càng hoàn thiện và đã chọn ra hơn

10 dòng đơn bội kép, bước đầu đánh giá là rất có triển vọng, đã sử dụng kỹ thuật tạo dòng đơn bội kép Đặc biệt từ năm 2002, Việt Nam đã tham gia vào mạng lưới công nghệ sinh học vùng ngô Châu Á nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học vào tạo giống với 3 nội dung chính là: (1) phân tích đa dạng di truyền tập đoàn nguyên liệu, phân nhóm ưu thế lai, (2) chuyển gen O-paque 2 quy định tính trạng ngô chất lượng cao vào ngô thường, (3) xây dựng bản đồ gen chịu hạn Bước đầu chương trình này hoạt động có kết quả khả quan và được AMBIONET đánh giá cao, đã tiến hành phân tích đa dạng tập đoàn dòng của Viện ngô bằng kỹ thuật SSR

Để sản xuất ngô Việt Nam theo kịp các nước tiên tiến và đạt năng suất trung bình của thế giới, việc quan trọng nhất là tăng cường thu thập các nguồn nguyên vật liệu phù hợp, kết hợp chọn tạo giống bằng các phương pháp hiện đại với truyền thống, đẩy mạnh nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác để phát huy tối đa tiềm năng của giống, chọn tạo giống chống chịu phục vụ cho các vùng khó khăn

Hiện nay, nhờ việc tạo ra nhiều giống ngô lai mới nên đã có sự thay đổi rất lớn trong cơ cấu giống trong sản xuất hiện nay ở nước ta Năm 1991, diện tích trồng giống lai chưa đến 1% trên 430 nghìn ha trồng ngô; năm 2013, giống lai đã chiếm trên 95% diện tích ngô cả nước, trong đó giống do các cơ quan nghiên cứu trong nước chọn tạo và sản xuất chiếm từ 58-60% thị phần trong nước, số còn lại là của các công ty liên doanh với nước ngoài Trong đó, giống ngô lai do Viện nghiên cứu ngô tạo ra chiếm tới 90% lượng giống lai của Việt Nam (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) [14]

2.4 Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên

Thái Nguyên là tỉnh Trung du miền núi Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên 3.562.82km2, dân số hiện nay khoảng 1.046.000 người chiếm 1,13% diện tích

và 1,41% dân số so với cả nước

Trang 24

Từ 1995 trở về trước, sản xuất ngô ở Thái Nguyên chủ yếu dùng các giống cũ, giống địa phương có thời gian sinh trưởng dài, năng suất thấp Với

sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền nhân dân, các nhà khoa học, diện tích trồng ngô lai ngày càng tăng, thay thế dần các giống ngô cũ Đến nay diện tích trồng ngô lai chiếm trên 90% diện tích mang lại năng suất, sản lượng vượt trội trong sản xuất

Bảng 2.6 Tình hình sản suất ngô tại Thái Nguyên giai đoạn 2002 - 2013

Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2015[13]

Từ năm 2002 đến năm 2008 diện tích trồng ngô tăng liên tục từ 11,6 nghìn ha lên 20,6 nghìn ha (tăng trung bình 1,5 nghìn ha/năm Tuy nhiên năm

2009 diện tích lại giảm xuống chỉ còn 17,4 nghìn ha, năm 2013 diện tích tăng đạt 19,0 nghìn ha

Trang 25

Năng suất ngô năm 2008, 2009 bị giảm đáng kể, năm 2009 năng suất ngô chỉ đạt 38,6 tạ/ha, giảm 2,5 tạ/ha so với năm 2007 Sau đó năng suất tăng lên và khá ổn đi ̣nh từ năm 2010 đến nay

Sản lượng ngô đạt cao nhất vào năm 2008 là 84,6 nghìn tấn, tăng 46,6 nghìn tấn so với năm 2002 Đến năm 2009 do cả diện tích và năng suất ngô đều giảm nên sản lượng chỉ còn 67,2 nghìn tấn, năm 2013 sản lượng đạt 81 nghìn tấn Diện tích ngô tăng nguyên nhân quan trọng nhất là do một số lượng lớn diện tích trồng lúa một vụ không cho hiệu quả cao chuyển đổi sang trồng ngô đem lại hiệu quả cao

2.5 Các loại giống ngô ơ ̉ Viê ̣t Nam

2.5.1 Giống ngô thụ phấn tự do (TPTD - open pollinated variety)

Giống ngô TPTD là một danh từ chung để chỉ các loại giống mà trong quá trình sản xuất hạt giống con người không cần can thiệp vào quá trình thụ phấn, chúng được tự do thụ phấn (thụ phấn mở)

Trong sản xuất ngô ở Viê ̣t Nam nhóm thu ̣ phấn tự do c òn tồn tại nhiều nhất là giống đi ̣a phương

2.5.2 Giống ngô lai (Maize Hybrid)

Ngô lai là thành tựu khoa học nông nghiệp nổi bật nhất của thế kỷ

XX, đó là kết quả của ứng dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống (Ngô Hữu Tình, 1997)[11] Giống ngô lai được sử du ̣ng h iện nay trong sản xuất là ngô lai quy ước

Giống ngô lai qui ước có ưu điểm về năng suất, độ đồng đều về dạng cây, dạng bắp Nhu cầu hạt giống ngô lai qui ước ở Việt Nam hiện nay là 3.000 - 4.000 tấn/năm

Các giống ngô lai quy ước được sử dụng rất rộng rãi trong sản xuất như: DK-999, LVN-98, LVN-4, LVN-17, C-919, LVN-24, LCH9, VN8960…

Trang 27

Phần 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu nghiên cứu

Vật liệu nghiên cứu gồm 08 tổ hợp ngô tham gia thí nghiệm và 01 giống làm giống đối chứng

Bảng 3.1 Các THL tham gia thí nghiệm và đối chứng

Số thứ tự Tên tổ hợp lai Nguồn gốc giống

9 DK 9901 (đ/c) Công ty Monsanto Thái Lan tại Việt Nam Giống đối chứng DK9901 [17]: là giống ngô lai do Công ty giống Monsanto Việt Nam lai tạo, bắp thon dài, lõi nhỏ hạt bán răng ngựa, cây cao trung bình, đóng bắp thấp, lá đứng, rất thích hợp cho việc tăng mật độ Năng suất bình quân 55 - 60 tạ/ ha thâm canh tốt có thể đạt 70 - 75 tạ/ ha, là giống đang được bà con nhân dân sử dụng trồng nhiều

- Thời gian sinh trưởng:

+ Vụ Xuân: 110-120 ngày

+ Vụ Đông: 105-110 ngày

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu được tiến hành tại phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

Trang 28

- Đặc điểm đất trồng: Đất cát pha, chuyên trồng màu

- Loại cây trồng trước: Cây ngô

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

- Vụ Thu Đông năm 2014

- Thời gian gieo hạt: 23/08/2014

- Thời gian thu hoạch: 21/12/2014

3.3 Quy trình trồng trọt áp dụng trong thí nghiệm

Áp dụng theo quy trình kỹ thuật canh tác ngô của Bộ NN&PTNT [2]

* Thời vụ: Vụ Thu Đông năm 2014

* Làm đất: Làm đất tơi, xốp, bằng phằng, sạch cỏ dại, đảm bảo độ ẩm

đất lúc gieo khoảng 75-80% độ ẩm tối đa đồng ruộng

* Mật độ trồng: 5,7 vạn cây/ha Khoảng cách: 70cm x 25cm x 1 cây

* Phân bón:

+ Phân vi sinh Sông Gianh: 2 tấn/ha

+ Phân vô cơ: 150N : 90P2O5 : 90K2O /ha

Tương đương với lượng phân:

Trang 29

+ Khi ngô 7- 9 lá: Bón thúc lần 2 kết hợp vun cao gốc chống đổ

+ Tưới nước: Đảm bảo đủ độ ẩm cho ngô, đặc biệt vào các thời kỳ trước và sau trỗ cờ 10-15 ngày

- Thu hoạch: Khi thân lá và lá bi chuyển sang màu vàng, chân hạt hình thành sẹo đen

3.4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm

- Nghiên cứu đặc tính chống chịu của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm

3.5 Phương pháp nghiên cứu

3.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD - Randomized Complete Block Design) với 3 lần nhắc lại Diện tích ô thí nghiệm 14 m2 (dài 5 m, rộng 2,8 m) sơ đồ thí nghiệm:

3.5.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

Các chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm được tiến hành theo hướng dẫn đánh giá và thu thập số liệu ở các thí nghiệm so sánh giống ngô của CIMMYT (1985) và theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Khảo nghiệm giá trị canh tác

và sử dụng của giống ngô (QCVN 01-56 - 2011) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [2]

Mỗi ô thí nghiệm trồng 4 hàng, tất cả các chỉ tiêu theo dõi ở 2 hàng giữa

* Chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển

Trang 30

+ Ngày trỗ cờ: Được tính từ khi gieo đến khi có trên 50% số cây trong công thức đó xuất hiện nhánh cuối cùng của bông cờ

+ Ngày tung phấn: Được tính từ khi gieo đến khi trên 50% số cây trong công thức có hoa nở ở 1/3 trục chính

+ Ngày phun râu : Được tính từ khi gieo đến khi trên 50% số cây trong công thức có râu dài 2-3 cm ngoài lá bi

+ Ngày chín sinh lý: Được tính từ khi gieo đến khi có trên 75% số cây trong công thức thí nghiệm có chấm đen ở chân hạt

áp dụng công thức tính diện tích lá:

Diện tích lá (m2) = Chiều dài x chiều rộng x 0,75

CSDTL (m2lá/m2 đất) = DTL/Cây x số cây/m2

- Tốc độ tăng trưởng của cây:

+ Tiến hành đo chiều cao cây sau trồng 20 ngày, đo 5 lần, khoảng cách giữa các lần đo là 10 ngày

+ Cách đo: Đo từ mặt đất đến mút lá (đo 10 cây/ô)

Tốc độ tăng trưởng sau trồng 20 ngày =

1

1th

Trang 31

h1: Chiều cao cây sau trồng 20 ngày

t1: Thời gian gieo đến đo lần 1 (20 ngày)

Tốc độ tăng trưởng sau trồng 30 ngày =

1 2

1 2tt

hh

h2: Chiều cao cây sau trồng 30 ngày

t2: Thời gian gieo đến đo lần 2 (30 ngày)

Tốc độ tăng trưởng sau trồng 40, 50, 60 ngày tính tương tự như sau trồng 30 ngày

- Trạng thái cây: Tiến hành đánh giá vào thời kỳ bắp bắt đầu chín sáp, quan sát đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển, độ đồng đều về chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, kích thước bắp, sâu bệnh, chống đổ của 10 cây ở 2 hàng giữa của mỗi ô, đánh gía điểm:

Điểm 1: Rất kín: Lá bi kín đầu bắp và vượt khỏi bắp

Điểm 2: Kín: Lá bi bao kín đầu bắp

Điểm 3: Hơi hở: Lá bi bao không chặt đầu bắp

Trang 32

Điểm 4: Hở: Lá bi không che kín bắp để hở đầu bắp

Điểm 5: Rất hở: Bao bắp rất kém đầu bắp hở nhiều

* Khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống ngô thí nghiệm

Sâu đục thân ( Ostrinia nubillalis Hiibner)

Đánh giá vào giai đoạn chín sáp trên toàn bộ số cây ở 2 hàng giữa của

ô, thực hiện ở ba lần nhắc lại

Điểm 1: < 5% số cây bị sâu

Điểm 2: 5-<15% số cây bị sâu

Điểm 3: 15-<25% số cây bị sâu

Điểm 4: 25-<35% số cây bị sâu

Điểm 5: 35-<50% số cây bị sâu

Bệnh thối thân, gỉ sắt:

Đánh giá vào giai đoạn chín sáp trên toàn bộ số cây ở 2 hàng giữa của

ô, thực hiện ở ba lần nhắc lại

Tính tỷ lệ cây bị bệnh(%) = (Số cây bị bệnh/tổng số cây điều tra) x 100

* Chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất

- Chiều dài bắp (cm): Đo từ đáy bắp đến mút bắp, đo trên bắp thứ nhất của 10 cây mẫu

- Đường kính bắp (cm): Đo ở giữa bắp, đo trên bắp thứ nhất của 10 cây mẫu

- Số bắp/cây: Tổng số bắp hữu hiệu/tổng số cây hữu hiệu trên ô Đếm

số bắp và số cây trong ô lúc thu hoạch

- Số hàng/bắp: Một hàng được tính khi > 5 hạt Chỉ đếm bắp thứ nhất của cây mẫu

- Hạt/hàng: Được đếm trên hàng hạt có chiều dài trung bình trên bắp Chỉ đếm bắp thứ nhất của cây mẫu

- Khối lượng 1000 hạt (g): Đếm 2 mẫu, mỗi mẫu 500 hạt sau đó cân khối lượng của 2 mẫu, nếu khối lượng của mẫu nặng trừ đi khối lượng của mẫu nhẹ <5% so với khối lượng trung bình của 2 mẫu thì khối lượng 1000 hạt bằng tổng khối lượng của 2 mẫu

- Khối lượng 1000 hạt ở độ ẩm bảo quản (14%)

0

)

100 - 14

Trang 33

- Độ ẩm hạt khi thu hoạch (A0) được đo bằng máy đo độ ẩm Kett 400 của Nhật Bản

-Tỷ lệ hạt/bắp khi thu hoạch (%): Mỗi công thức lấy 10 bắp, cân khối lượng của 10 bắp sau đó tẽ hạt, cân khối lượng hạt

Tỉ lệ hạt/bắp(%) = Mhạt 10 bắp x 100

A0 : Ẩm độ khi thu hoạch

14%: là ẩm độ khi bảo quản

M1000: khối lượng 1000 hạt ở ẩm độ 14%

Sô: diện tích ô thu hoạch (7 m2)

3.6 Thu thập số liệu

Thu thập số liệu diễn biến thời tiết, khí hậu của tỉnh Thái Nguyên bao gồm nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa… trong thời gian tiến hành thí nghiệm (từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 12 năm 2014)

3.7 Xử lí số liệu

- Tính toán xử lí số liệu bằng phần mềm Excel 2010

- Phân tích xử lí số liệu thống kê bằng phần mềm IRRISTAT 5.0

Trang 34

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp lai

Thời gian sinh trưởng được tính từ khi gieo trồng đến khi chín sinh lý Sau quá trình thụ phấn, thụ tinh, hạt được hình thành và phát triển, thời gian này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, điều kiện thời tiết, khí hậu, kỹ thuật canh tác… Đây là thời kỳ các chất hữu cơ được tích lũy dần vào hạt, quá trình tích lũy được kéo dài tới giai đoạn chín hoàn toàn của hạt ngô, thời kỳ chín được xác định khi chân hạt ngô xuất hiện vết sẹo đen Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây ngô dài hay ngắn phụ thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh Sự biến động của các giai đoạn sinh trưởng, phát triển là cơ sở khoa học để xác định thời vụ gieo trồng Kết quả theo dõi các giai đoạn sinh trưởng của các tổ hợp ngô lai trong thí nghiệm được trình bày ở bảng 4.1

Qua thí nghiệm trong vụ Thu Đông năm 2014, chúng tôi thấy thời gian sinh trưởng của các THL biến động từ 115 đến 118 ngày Các THL tham gia khảo nghiệm có thời gian sinh trưởng tương đối dài do ảnh hưởng của các đợt rét giảm tốc độ sinh trưởng và phát triển của cây Kết quả xử lí thống kê cho thấy THL B 10 có thời gian sinh trưởng là 118 ngày, dài hơn giống đối chứng , các tổ hợp l ai còn la ̣i thời gian sinh trưởng không có s ự

sai khác so với giống đối chứng ở mức độ tin cậy 95%

Bảng 4.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm vụ Thu Đông 2014 tại Thái Nguyên

Trang 35

LSD05 1,6 1,0 1,2 1,4

Thời gian từ gieo đến trỗ cờ của các THL dao động từ 48 đến 55 ngày THL B11 có thời gian từ gieo đến trỗ cờ là 55 ngày, tương đương vớ i giống đối chứng Các tổ hợp lai còn lại có thời gian từ gieo đến trỗ cờ là 48-53 ngày ngắn hơn so với giống đối chứng ở mức độ tin cậy 95%

Thời gian từ gieo - tung phấn các THL dao động từ 49 đến 54 ngày, kết quả sử lý thống kê cho thấy THL B11 có thời gian từ gieo đến tung phấn tương đương với giống đối chứng, các THL còn lại có thời gian từ gieo đến tung phấn ngắn hơn giống đối chứng ở mức độ tin cậy chắc chắn 95%

Các THL có thời gian gieo - phun râu dao động từ 52 ngày đến 55 ngày THL B16, B17 có thời gian từ gieo đến phun râu là 52 ngày, ngắn hơn giống đối chứng ở mức độ tin cậy 95% Các THL còn lại thời gian gieo đến phun râu tương đương với giống đối chứng

Khoảng cách giữa tung phấn và phun râu dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, điều kiện ngoại cảnh và kĩ thuật trồng trọt Khoảng cách này lớn sẽ ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn, thụ tinh và t ạo hạt Thời gian chênh lệch giữa tung phấn và phun râu củ a các THL dao đ ộng từ 0 đến 4 ngày THL B10 có khoảng cách tung phấn- phun râu lớn nhấ t (4 ngày) Khoảng cách tung phấn-phun râu lớn sẽ không thuâ ̣n lợi cho quá trình thu ̣ phấn, thụ tinh hình thành hạt

4.2 Đặc điểm hình thái, sinh lý của các tổ hơ ̣p lai thí nghiệm

Các chỉ tiêu về hình thái như chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, số lá/cây, chỉ số diện tích lá (LAI) … là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tiềm năng cho năng suất của các giống vì đây là cơ sở cho việc tác động các biện pháp kỹ thuật trong quá trình chăm sóc, tạo điều kiện để các giống đạt năng suất cao

4.2.1 Chiều cao cây (cm)

Chiều cao cây là chỉ tiêu quan trọng trong công tác chọn tạo giống ngô Chiều cao cây phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện khí hậu, kỹ

Trang 36

thuật canh tác,… Ngoài ra chiều cao cây còn phụ thuộc vào mật độ cây trên đơn vị diện tích và đặc điểm di truyền của giống

Chiều cao cây liên quan mật thiết với khả năng chống đổ, khả năng thụ phấn thụ tinh, khả năng cho năng suất của giống Nếu chiều cao cây cao, khả năng chống đổ kém, ngược lại nếu cây có chiều cao quá thấp, khả năng thụ phấn thụ tinh kém, dễ bị sâu bệnh gây hại hơn và ảnh hưởng đến năng suất

Chiều cao cây được tính từ mặt đất đến điểm phân nhánh bông cờ đầu tiên Trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển, chiều cao cây tăng dần và tăng mạnh nhất là giai đoạn từ 9 lá đến trỗ cờ và dừng lại sau khi thụ tinh xong

Số liệu bảng 4.2 cho thấy các THL trong thí nghiệm có chiều cao cây dao động từ 196,43 đến 239,33 cm Kết quả xử lí thống kê cho thấy các THL B10, B11, B13 có chiều cao cây đạt 224,2-239,33 cm cao hơn giống đối chứng THL B16, chiều cao cây đạt 196,43 cm thấp hơn giống đối chứng, các THL còn la ̣i có chiều cao cây tương đương so với giống đối chứng chắc chắn ở độ tin cậy 95%

Bảng 4.2 Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các THL

vụ Thu Đông 2014 tại Thái Nguyên

Trang 37

cơ giới hóa trong sản xuất

Những giống ngô có chiều cao đóng bắp thấp thường có khả năng chống đổ tốt, nhưng hiệu quả của quá trình thụ phấn, thụ tinh thấp, ngược lại giống nào có chiều cao đóng bắp cao, thuận lợi cho quá trình thụ phấn, thụ tinh, hạn chế được sâu bệnh phá hoại nhưng khả năng chống đổ kém Thông thường giống ngô có thời gian sinh trưởng ngắn thì chiều cao đóng bắp thấp hơn giống có thời gian sinh trưởng dài

Hình 4.1: Biểu đồ chiều cao cây, chiều cao đóng bắp của các THL

vụ Thu Đông 2014 tại Thái Nguyên

Nhiều nghiên cứu cho thấy chiều cao đóng bắp của ngô có thời gian sinh trưởng dài, thường bằng khoảng 50 - 60% chiều cao cây, những giống ngô có thời gian sinh trưởng ngắn, chiều cao đóng bắp bằng khoảng 35- 40% chiều cao cây, tuy nhiên chiều cao đóng bắp tối ưu bằng ½ chiều cao cây

Trang 38

Qua bảng 4.2 cho thấy chiều cao đóng bắp của các THL dao động trong khoảng 92,3 đến 124,77 cm THL B11 có chiều cao đóng bắp (124,77 cm) cao hơn chiều cao đóng bắp của giống đối chứng, THL B10, B16 có chiều cao đóng bắp đạt 93,97 và 92,3 cm thấp hơn chiều cao đóng bắp của giống đối chứng, các THL còn lại có chiều cao đóng bắp tương đương với chiều cao đóng bắp của giống đối chứng ở mức độ tin cậy 95%

Tỷ lệ chiều cao đóng bắp/chiều cao thân của các THL thí nghi ệm biến đô ̣ng từ 41,7 - 53,3% Nhìn chung phù hợp với tiêu chuẩn của chọn tạo giống

4.2.3 Số lá trên cây

Lá cây là cơ quan quang hợp chính của cây xanh, có vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận năng lượng ánh sáng mặt trời, điều hòa các hoạt động sinh lý diễn ra trong cây Vì vậy số lá trên cây, thời gian tồn tại và hiệu suất quang hợp của lá ảnh hưởng lớn đến năng suất

Qua thí nghiệm cho thấy các THL có số lá dao động từ 19,2 đến 21,7

lá Kết quả phân tích số liệu thống kê cho thấy THL B15, B17 có số lá/cây tương đương với giống đối chứng, các THL còn lại có số lá/cây đa ̣t 19,2-21,0

lá nhỏ hơn giống đối chứng ở mức độ tin cậy 95%

Bảng 4.3 Số lá trên cây và chỉ số diện tích lá của các THL

vụ Thu Đông 2014 tại Thái Nguyên

Trang 39

Lá ngô được mọc từ đốt và đối xứng xen kẽ nhau với nhiều đặc điểm như có lông trên bề mặt lá, lá cong hình lòng máng, có nhiều khí khổng…nên

có vai trò quan trọng làm tăng khả năng chống chịu và năng suất Diện tích lá của ngô tăng dần và đạt lớn nhất vào thời kì từ ngô trỗ cờ đến hạt ngậm sữa, sau đó do các lá phía dưới héo đi nên diện tích lá giảm xuống

Qua theo dõi thí nghiệm cho thấy các THL có chỉ số diện tích lá đạt 2,62 đến 3,46 m2 lá/m2 đất, kết quả xử lý thống kê cho thấy có 2 THL chỉ số diện tích lá cao hơn giống đối chứng là THL B11 (3,51 m2 lá/ m2 đất) và THL B13 (3,46 m2 lá/ m2 đất), THL B10 chỉ số diện tích lá đạt 2,62 m2

lá/ m2 đất nhỏ hơn giống đối chứng Các THL còn lại có chỉ số diện tích lá tương đương với chỉ số diện tích lá của giống đối chứng ở mức tin cậy 95%

4.2.5 Mầu sắc, dạng hạt của các THL tham gia thí nghiệm

Mầu sắc hạt và dạng hạt là các yếu tố quyết định đến giá trị thương phẩm của hạt ngô, hạt ngô có mầu sắc đẹp sẽ làm tăng giá trị thương phẩm trên thị trường của hạt ngô và ngược lại

Bảng 4.4 Mầu sắc hạt, dạng hạt của các THL vụ Thu Đông 2014

tại Thái Nguyên

Trang 40

B12 Cam sáng Bán răng ngựa

DK 9901 (đ/c) Vàng sáng Răng ngựa

Qua bảng 4.4 cho thấy các THL tham gia thí nghiệm có 2 dạng hạt là Răng ngựa và bán răng ngựa, các THL B10, B11, B17 và giống DK9901 có dạng hạt là răng ngựa, các THL còn la ̣i có dạng hạt là bán răng ngựa

Mầu sắc hạt cũng có sự khác nhau THL B10 có mầu vàng tối, THL B11

có mầu vàng nhạt, các THL B12, B15 có mầu cam sáng, các THL B13, B16 có mầu cam tối, THL B14 có mầu sắc vàng, THL B17 có mầu Cam thẫm, giống DK9901 có mầu vàng sáng Các THL có màu vàng sáng hoặc cam sáng phù hợp với thi ̣ hiếu của người sử du ̣ng nên được ưa chuô ̣ng hơn trong sản xuất

4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các THL thí nghiệm

Tốc độ tăng trưởng chiều cao phụ thuộc vào từng giai đoạn sinh

trưởng Trong mỗi giai đoạn sinh trưởng, tốc độ tăng trưởng phụ thuộc vào giống, điều kiện sinh thái, biện pháp canh tác …

Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây ở các giai đoạn là cơ sở khoa học để xây dựng các biện pháp kỹ thuật phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cây sinh trưởng, phát triển tăng khả năng cho năng suất của các giống

Kết quả theo dõi tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm được trình bày ở bảng 4.5

Bảng 4.5 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các THL

vụ Thu Đông 2014 tại Thái Nguyên

Ngày đăng: 14/11/2016, 10:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tình hình sản xuất ngô của các châu lục và thế giới - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên.
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất ngô của các châu lục và thế giới (Trang 14)
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam giai đoạn 1961 - 2013 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên.
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam giai đoạn 1961 - 2013 (Trang 18)
Bảng 2.4. Tình hình xuất ngô của các vùng năm 2013 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên.
Bảng 2.4. Tình hình xuất ngô của các vùng năm 2013 (Trang 20)
Bảng 4.1. Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp lai  tham gia thí nghiệm vụ Thu Đông 2014 tại Thái Nguyên - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên.
Bảng 4.1. Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm vụ Thu Đông 2014 tại Thái Nguyên (Trang 34)
Bảng 4.2. Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các THL - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên.
Bảng 4.2. Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các THL (Trang 36)
Bảng 4.3. Số lá trên cây và chỉ số diện tích lá của các THL - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên.
Bảng 4.3. Số lá trên cây và chỉ số diện tích lá của các THL (Trang 38)
Bảng 4.4. Mầu sắc hạt, dạng hạt của các THL vụ Thu Đông 2014 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên.
Bảng 4.4. Mầu sắc hạt, dạng hạt của các THL vụ Thu Đông 2014 (Trang 39)
Bảng 4.6. Tốc độ ra lá của các THL vụ Đông 2014 tại Thái Nguyên - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên.
Bảng 4.6. Tốc độ ra lá của các THL vụ Đông 2014 tại Thái Nguyên (Trang 42)
Bảng 4.8: Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp các THL - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên.
Bảng 4.8 Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp các THL (Trang 46)
Bảng 4.9. Các yếu tố cấu thành năng suất của các THL - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên.
Bảng 4.9. Các yếu tố cấu thành năng suất của các THL (Trang 50)
Hình 4.2: Biểu đồ năng suất ly ́ thuyết và năng suất thực thu - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Thu Đông năm 2014 tại Thái Nguyên.
Hình 4.2 Biểu đồ năng suất ly ́ thuyết và năng suất thực thu (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w