Xuất phát từ những cơ sở trên, được sự nhất trí của nhà trường, Khoa Nông Học và Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÝ THỊ THẮM
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUI TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC ĐẾN THÀNH PHẦN VÀ DIỄN BIẾN SÂU HẠI ĐỐI VỚI CÀ CHUA
TRÁI VỤ TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học cây trồng Khoa : Nông học
Khoá học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÝ THỊ THẮM
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUI TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC ĐẾN THÀNH PHẦN VÀ DIỄN BIẾN SÂU HẠI ĐỐI VỚI CÀ CHUA
TRÁI VỤ TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Khoa : Nông học Khoá học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Mão
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một quá trình học tập và rèn luyện tại trường mỗi sinh viên đều phải trải qua giai đoạn thực tập tốt nghiệp trước khi ra trường Thực tập là khoảng thời gian cần thiết để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ những kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết đã học ở trường vào thực tiễn sản xuất, giúp cho sinh viên nâng cao trình độ chuyên môn, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Xuất phát từ những cơ sở trên, được sự nhất trí của nhà trường, Khoa Nông Học và Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của qui trình
kỹ thuật canh tác đến thành phần và diễn biến sâu hại đối với cà chua trái vụ tại Thái Nguyên”
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành báo cáo này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, gia đình và các
bạn sinh viên trong lớp Đặc biệt nhờ sự hướng dẫn tận tình của cô giáo TS.Nguyễn
Thị Mão đã giúp tôi vượt qua những khó khăn trong suốt thời gian thực tập để hoàn
thành báo cáo của mình
Do thời gian thực tập có hạn và năng lực bản thân còn hạn chế nên đề tài của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để bản báo cáo của tôi được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
LÝ THỊ THẮM
Trang 4Bảng 2.3: Sản lượng cà chua của một số nước sản xuất cà chua lớn trên thế giới
trong những năm gần đây 7 Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua Việt Nam giai đoạn từ năm
2004 - 2008 8
Bảng 4.1: Diễn biến thời tiết khí hậu trong vụ Xuân Hè tỉnh TháiNguyên năm 2014
27
Bảng 4.2: Thành phần và mức độ phổ biến của các loài sâu hại trên các mô hình cà
chua trái vụ năm 2014 tại trường ĐHNL - TN 29
Bảng 4.3: Diễn biến sâu xám trên các mô hình cà chua khác nhau 30 Bảng 4.4: Diễn biến của sâu xanh trên các mô hình cà chua vụ Xuân Hè năm 2014
32
Bảng 4.5: Diễn biến sâu khoang trên 2 mô hình cà chua vụ Xuân Hè 2014 33 Bảng 4.6: Mức độ hại của sâu xanh trên các mô hình qua các giai đoạn sinh trưởng
khác nhau 35
Bảng 4.7: Mức độ gây hại của sâu khoang trên các mô hình cà chua qua các giai
đoạn sinh trưởng khác nhau 36
Bảng 4.8: Mật độ trung bình của sâu xanh và sâu khoang qua các giai đoạn sinh
trưởng của các mô hình cà chua 36
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của quy trình canh tác kỹ thuật đến năng suất và hiệu quả
kinh tế cà chua 39
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 4.1 Diễn biến sâu xám trên các mô hình cà chua khác nhau 31 Hình 4.2 Diễn biến sâu xanh gây hại trên các mô hình cà chua 32 Hình 4.3 Diễn biến sâu khoang trên 2 mô hình cà chua khác nhau 34 Hình 4.4 Mật độ trung bình của sâu xanh qua các giai đoạn sinh trưởng của các
mô hình cà chua 37
Hình 4.5 Mật độ trung bình của sâu khoang qua các giai đoạn sinh trưởng trên các
mô hình cà chua 38
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
AVRDC : Asia Vegetable Research Development Center – Trung tâm nghiên cuứ và phát triển rau Châu Á BVTV : Bảo vệ thực vật
CS : Cộng sự
NN & PTNT : Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
MARDI : Viện nghiên cứu và phát triển Nông nghiệp Malaysia
MH : Mô hình
TARC : Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp nhiệt đới
TLH : Tỷ lệ hại
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.2 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây cà chua 3
2.2.1 Nguồn gốc 3
2.2.2 Phân loại 4
2.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu cà chua trên thế giới và Việt Nam 5
2.3.1 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới 5
2.3.2 Tình hình sản xuất cà chua ở Việt Nam 8
2.3.3 Tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới 9
2.3.4 Tình hình nghiên cứu cà chua ở Việt Nam 10
2.4 Những nghiên cứu về sâu hại cà chua trên thế giới và Việt Nam 13
2.4.1 Những nghiên cứu về sâu hại cà chua trên thế giới 13
2.4.2 Những nghiên cứu về sâu hại cà chua ở Việt Nam 14
2.5 Nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật sản xuất cà chua 15
2.5.1 Những nghiên cứu về thời vụ 15
2.5.2 Những nghiên cứu về mật độ 16
2.5.3 Những nghiên cứu về phân bón 17
2.5.4 Biện pháp bảo vệ thực vật cho cà chua 18
Trang 8PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Thiết bị và dụng cụ điều tra 22
3.4.2 Phương pháp thiết kế thí nghiệm 23
3.4.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 24
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Đặc điểm thời tiết, khí hậu của tỉnh Thái Nguyên vụ Xuân Hè năm 2014 27
4.2 Thành phần và mức độ phổ biến của sâu hại trên các mô hình cà chua 29
4.3 Diễn biến sâu xám, sâu xanh, sâu khoang trên các mô hình cà chua khác nhau 30
4.3.1 Diễn biến sâu xám trên 2 mô hình cà chua khác nhau 30
4.3.2 Diễn biến sâu xanh trên 2 mô hình cà chua vụ Xuân Hè 2014 31
4.3.3 Diễn biến sâu khoang trên 2 mô hình cà chua vụ Xuân Hè 2014 33
4.4 Mức độ hại của sâu xanh trên các mô hình cà chua qua các giai đoạn sinh trưởng khác nhau 34
4.5 Mức độ gây hại của sâu khoang trên các mô hình cà chua qua các giai đoạn sinh trưởng khác nhau 35
4.6 Mật độ trung bình của sâu xanh và sâu khoang qua các giai đoạn sinh trưởng của các mô hình cà chua 36
4.7 Ảnh hưởng của quy trình canh tác kỹ thuật đến năng suất và hiệu quả kinh tế cà chua 38
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, cà chua trồng trong vụ Đông Xuân đã phần nào đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ, nhưng cà chua trồng trong vụ Xuân Hè trái vụ còn hạn chế nên gây nên tình trạng khan hiếm Tuy nhiên, trồng cà chua trái vụ gặp nhiều khó khăn, lạnh đầu vụ và nắng nóng, ngập úng cuối vụ, mặt khác cà chua là cây bị nhiều sâu bệnh hại tấn công, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng quả, vì vậy
đã làm nản lòng các nhà sản xuất
Việc sản xuất cà chua còn nhiều bất cập như chưa đủ giống cho sản xuất, chưa có bộ giống tốt cho từng vụ và thích hợp cho từng vùng sinh thái khác nhau Cùng với đó, việc đầu tư cho sản xuất cà chua của người nông dân còn thấp, quy trình kỹ thuật canh tác cũ, trình độ thâm canh chưa cao đặc biệt là vấn đề sử dụng phân bón và kỹ thuật bón phân cho cây cà chua là chưa thích hợp cho từng vụ và từng giống khác nhau Hơn nữa việc sử dụng tùy tiện thuốc bảo vệ thực vật độc hại, với thời gian cách ly không đảm bảo, nên không những gây ô nhiễm môi trường và sản phẩm, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người mà còn tăng chi phí cho người sản xuất
Để khắc phục những hạn chế trên, nhiều nghiên cứu như chọn tạo giống, xác định mật độ, thời vụ trồng, lượng phân bón thích hợp cho giống mới, nhưng năng suất vẫn chưa được cải thiện
Nguyên nhân chính là do các biện pháp kỹ thuật sản xuất và phòng trừ sâu bệnh hại còn rời rạc chưa được gắn kết với nhau, chưa có một quy trình tổng hợp thích hợp cho từng vụ và từng vùng sinh thái Một trong những hướng chúng tôi ưu tiên nghiên cứu là sự kết hợp giữa biện pháp kỹ thuật canh tác trồng cây trồng xen với cà chua và biện pháp kỹ thuật canh tác thông thường đối với cà chua Xuất phát
từ nhu cầu thực tế trên việc tiến hành đề tài : “Nghiên cứu ảnh hưởng của quy
trình kỹ thuật canh tác đến thành phần và diễn biến sâu hại đối với cà chua trái
vụ tại Thái Nguyên” là hết sức cần thiết
Trang 101.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích của đề tài
Đánh giá ảnh hưởng của quy trình kỹ thuật canh tác cà chua trái vụ có khả năng hạn chế sâu hại giới thiệu cho sản xuất
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
Đánh giá ảnh hưởng của quy trình canh tác thông thường và quy trình canh tác cây trồng xen (hành lá) đến thành phần và diễn biến sâu hại cà chua vụ Xuân Hè
năm 2014
Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế của từng mô hình
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp cho sinh viên sau khi ra trường nắm chắc được lý thuyết cũng như làm quen với tay nghề, vận dụng vào trong sản xuất
- Biết cách thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học
- Giúp cho sinh viên hiểu biết hơn kiến thức thực tiễn sản xuất và có tư duy, phương pháp nghiên cứu khoa học từ đó rút ra nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp và rèn luyện cho sinh viên có ý thức tự lập, chủ động trong nghiên cứu,
tự chịu trách nhiệm trong sản xuất sau này
- Bước đầu giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và sản xuất ngoài đồng ruộng, hiểu hơn về cây trồng cũng như kỹ thuật trồng trọt
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài giúp tìm ra được các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp nhất cho giống cà chua triển vọng trong điều kiện trái vụ như vụ Xuân Hè, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, tăng thu nhập cho nông dân sản xuất cà chua, kích thích phát triển cà chua ở Thái Nguyên Ngoài ra, nghiên cưú đề tài thành công giúp tìm ra được cây trồng xen thích hợp làm giảm bớt dịch hại và tăng năng suất, chất lượng cà chua Những kết quả thu được từ đề tài có thể được áp dụng khuyến cáo ngoài sản xuất giúp người nông dân thu được hiệu quả kinh tế cao hơn
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cây cà chua xuất hiện trên trái đất từ thế kỷ XVI nhưng phải đến hai thế
kỷ sau, quả cà chua mới chiếm một vị trí khiêm tốn trong các bữa ăn thường ngày và chỉ hơn 150 năm nay cà chua mới trở thành loại rau ăn quả được sử dụng rộng rãi Cà chua là nguồn cung cấp đường, vitamin A, vitamin C… Những nghiên cứu gần đây cho thấy ở cà chua có các axit hữu cơ, axit peoumaric, axit cholorogennic có tác dụng ngăn ngừa bệnh ung thư Ngoài ra cà chua chứa nhiều khoáng chất và các nguyên tố vi lượng như kali, magie, sắt, kẽm và flo tăng thêm sự trẻ trung cho cơ thể Vì vậy, cà chua đang được trồng ngày càng rộng rãi
trên Thế giới và ở Việt Nam
Hiện nay ở nước ta, việc phát triển trồng cà chua còn có ý nghĩa quan trọng
về mặt luân canh, tăng vụ và tăng năng suất trên đơn vị diện tích, do đó cà chua là loại rau được khuyến khích phát triển Tuy nhiên, sản xuất cà chua ở nước ta chưa phát triển mạnh vì điều kiện khí hậu nóng và ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển, làm giảm năng suất cà chua
Vì vậy, ngoài yếu tố về giống, việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp cũng ảnh hưởng rất lớn đến sâu bệnh và năng suất cà chua
2.2 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây cà chua
2.2.1 Nguồn gốc
Cà chua trồng hiện nay (lycopersicon esculentum Mill) có nguồn gốc từ một
dạng hoang dại ở vùng Peru-ecudo-bolivia thuộc Andes, Nam Mỹ Trung tâm bộ gen lycopersicon khởi nguyên tại vùng duyên hải nhỏ hẹp nằm giữa Andes và Đại Tây Dương (Trần Khắc Thi, 2003)[23]
Mexico là đất nước đầu tiên trồng trọt và thuần hóa cây cà chua Từ Châu
Mỹ, cà chua được thương gia Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha di chuyển sang trồng ở Châu Âu và Châu Á Sau đó từ Châu Âu nó được chuyển sang Châu Phi nhờ những người thực dân đi khai phá
Trang 122.2.2 Phân loại
Cà chua thuộc họ cà ( Solanaceae), chi Lycopersicum Chi này có thể chia thành 3 loài: (1) Lycopersicum esculentum Mill, (2) Lycopersicum peruviarum Mill, (3) Lycopersicum hisrutum Humb
- Lycopersicum esculentum Mill: Đây là loài lớn nhất, các giống cà chua
trồng hiện nay đều nằm trong loại này, các biến chủng và giống của loại này có khả năng thích nghi rộng do vậy được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới, loại này
có thể sinh trưởng và phát triển trong cả điều kiện ánh sáng ngày dài và ánh sáng ngày ngắn Trong loài này có thể chia làm những biến chủng sau:
+ Cà chua nửa trồng (Ssp spontaneum) có hàm lượng đường, acid, và chất
khô cao
+ Cà chua thông thường ( var vulgare): biến chủng này chiếm khoảng 75%
số cà chua trồng trên thế giới, bao gồm các giống chín sớm, chín trung bình, chín muộn với trọng lượng quả từ 50 - 60 g (quả nhỏ), 60 - 100g (quả trung bình), > 100g (quả lớn)
+ Cà chua lá to (var grandifolium): cây trung bình, lá to như lá khoai tây + Cà chua thân bụi ( var validum) : cây thấp, thân thẳng, có lông tơ, lá trung
bình, cuống ngắn, mép cong
- Lycopersicum peruviarum Mill: loại này mọc ở miền Nam Peru, Bắc Chile,
sinh trưởng ở độ cao 300 - 2000m so với mực nước biển Loài này có xu hướng thụ
phấn chéo (giao phấn) cao hơn so với loài Lycopersicon esculentum Mill Trong
điều kiện ngày ngắn, cây ra quả tốt hơn ngày dài, loài này có khả năng chống chịu bệnh tốt hơn các loài khác
- Lycopersicum hisrutum Humb: loài này thường ở độ cao 2200 - 2500m so
với mực nước biển Đây là loại cây ngày ngắn, quả chỉ hình thành trong điều kiện
độ chiếu sáng trong ngày là 8 - 10h/ ngày
Trang 132.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu cà chua trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới
Cà chua là cây rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng và giá trị y học cao, theo Tạ Thu Cúc và cs [6], thành phần hóa học trong quả cà chua chín như sau: Nước 94 - 95%, chất
khô 5 - 6% Trong đó gồm các chất chủ yếu: đường (glucoza, fructoza, saccaroza) chiếm 55%; chất không hoà tan trong rượu (prôtein, xenlulo, pectin, polysacarit) chiếm 21%; Axit hữu cơ (xitric, malic, galacturonic, pyrolidoncaboxylic) chiếm 12%; chất vô cơ 7%; các chất khác (carotenoit, ascorbic axit, chất dễ bay hơi, amino axit ) chiếm 5%
Vì vậy cà chua đã trở thành một trong những cây trồng thông dụng và được gieo trồng rộng rãi ở khắp thế giới Số liệu thống kê tình hình sản xuất cà chua trên thế giới trong những năm gần đây được thể hiện trong bảng 2.1
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lƣợng cà chua toàn thế giới
giai đoạn từ năm 2008 - 2012
Nguồn: FAOSTAT & FAO Statistics Division 2014[ 39]
Qua bảng 2.1 cho ta thấy:
Về diện tích: Năm 2008 thế giới trồng được 4.249.179 ha thì đến năm 2009 tăng lên 298.929 ha là 4.548.108 ha Năm 2010 diện tích trồng cà chua giảm nhẹ
là 4.539.761 ha Nhưng từ năm 2011 đến nay lại tiếp tục tăng lên và đạt 4.803.680
ha vào năm 2012 Như vậy, diện tích trồng cà chua năm 2012 đã tăng lên 554.501
ha so với năm 2008
Về năng suất: Năm 2008 năng suất cà chua chỉ đạt 332,018 tạ/ha đến năm
2009 là 339,334 tạ/ha tăng 7,316 tạ/ha Đến năm 2010 năng suất cà chua giảm nhẹ
Trang 14còn 334,836 tạ/ha Năm 2012 năng suất cà chua thế giới đạt 336,812 tạ/ha tăng 4,794 tạ/ha so với năm 2008
Về sản lượng: Cùng với sự biến động về diện tích và năng suất, sản lượng cà chua cũng có sự thay đổi qua các năm Năm 2008 sản lượng cà chua thế giới đạt 141.080.419 tấn thì đến năm 2009 đạt 154.332.817 tấn, tăng 13.252.398 tấn Năm
2010 do cả diện tích và năng suất đều giảm nên sản lượng cà chua thế giới chỉ đạt 152.007.674 tấn Sản lượng cà chua thế giới đạt cao nhất năm 2012 là 161.793.834 tấn, so với năm 2008 sản lượng cà chua tăng 20.713.415 tấn
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lƣợng cà chua của các châu lục
trên thế giới năm 2012
Nguồn: FAOSTAT & FAO Statistics Division 2014 [39]
Theo bảng thống kê của FAO cho thấy, năm 2012 đứng đầu về diện tích cà chua là châu Á với diện tích 2.824.757 ha, sản lượng lớn nhất đạt 2397.892.7tấn Tuy nhiên năng suất cà chua của châu lục này lại gần như thấp nhất với 346,553 tạ/ha chỉ cao hơn châu Phi 169,057 tạ/ha Châu Âu là châu lục có diện tích trồng cà chua gần như thấp nhất chỉ có 452.905 ha, nhưng lại đứng đầu về năng suất 452.905 tạ/ha, nên sản lượng cà chua của châu lục này khá cao đạt 24.797.948 tấn, đứng đầu thế giới
Về sản lượng: Châu Âu là châu lục có sản lượng đứng đầu với 24.797.948 (tấn) và đứng sau là Châu Á với 23.978.927 (tấn) Sản lượng thấp nhất là Châu Đại Dương chỉ với 471.739 (tấn) tuy nhiên châu lục này lại có năng suất cao đúng thứ hai chỉ sau Châu Âu Châu Phi là châu lục có sản lượng thấp thứ hai với 17.937.834 (tấn) trong khi đó cũng có diện tích đứng thứ hai sau Châu Á Châu Mỹ có sản lượng cà chua trong năm 2012 là 20.693.590 (tấn) Sản lượng cà chua của Châu Âu
Trang 15tương đối cao đứng thứ ba sau Châu A và Châu Âu với 24.797.948 tấn Ngay từ thế
kỷ 18, các nhà khoa học đã tập trung đi sâu vào nghiên cứu về cây cà chua, đặc biệt
là trong lĩnh vực chọn tạo giống Cho đến nay thành tựu khoa học đó đã được thực
tế sản xuất công nhận và đánh giá cao thông qua sự gia tăng về diện tích, năng suất
và sản lượng của cà chua ở nhiều nước trên thế giới
Bảng 2.3: Sản lượng cà chua của một số nước sản xuất cà chua lớn trên thế
giới trong những năm gần đây
Nguồn: FAOSTAT& FAO Statistics Division 2014 [39]
Sản lượng cà chua của một số nước sản xuất lớn trên thế giới được thể hiện ở bảng 2.3
Theo số liệu bảng 2.3 cho thấy: Trung Quốc là nước có sản lượng cà chua lớn nhất, trong vòng 4 năm từ năm 2009 đến năm 2012 sản lượng cà chua của nước này tăng liên tục từ 45.365.543 tấn (năm 2009) lên 50.125.055 tấn (năm 2012), tăng 4.759.512 tấn Kế tiếp là Ấn Độ với 17.500.000 tấn năm 2012, tăng lên 6.351.200 tấn
so với năm 2009 (11.148.800 tấn) Tuy nhiên, một số nước có sản lượng cà chua tăng giảm thất thường như Mỹ, Ai Cập, Italia, Tây Ban Nha, Iran, Hi Lạp sản lượng tăng vào năm 2010 - 2011 nhưng lại giảm vào năm 2011 - 2012
Trang 16Trong những năm gần đây, tình hình sản xuất và tiêu thụ cà chua trên thế giới
đã gia tăng nhanh chóng Nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng này là do cà chua có giá trị kinh tế cao, khả năng thích ứng rộng, dễ canh tác, thị trường tiêu thụ rộng lớn và
ổn định Mặt khác với sự quan tâm của người tiêu dùng đến rau quả, đặc biệt là chính sách giảm thuế, thúc đẩy đầu tư và tăng cường xúc tiến thương mại của các nước, cà chua nhanh chóng trở thành cây trồng được ưa chuộng ở nhiều quốc gia trên thế giới
2.3.2 Tình hình sản xuất cà chua ở Việt Nam
Cây cà chua tuy mới được trồng ở Việt Nam khoảng hơn 100 năm, nhưng đến nay đã được trồng rộng rãi trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh đồng bằng trung
du Bắc Bộ, Đà Lạt…(Trần Khắc Thi, 2003) [23] Trong những năm gần đây diện tích trồng cà chua ở nước ta ngày một tăng do điều kiện tự nhiên của nước ta rất thích hợp cho cà chua sinh trưởng và phát triển, các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới được hướng dẫn và phổ biến cho nông dân Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua của Việt Nam những năm gần đây được thể hiện ở bảng 2.4
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lƣợng cà chua Việt Nam giai đoạn từ
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam 2012 [36]
Theo bảng 2.4 cho thấy: Diện tích cà chua có nhiều biến động, năm 2004 diện tích cà chua đạt 24.644 ha nhưng đến năm 2006 diện tích cà chua lại giảm nhẹ, chỉ đạt 22.962 ha Đến năm 2008 diện tích cà chua tăng lên đạt 24.850 ha Mặc dù diện tích cà chua tăng giảm không ổn định, nhưng năng suất cà chua nước ta trong những năm gần đây tăng lên đáng kể Năm 2008, năng suất cà chua nước ta đạt 216
Trang 17tạ/ha, tăng 44 tạ/ha so với năm 2004 Vì vậy, sản lượng cả nước đã tăng lên rõ rệt (từ 424.126 tấn năm 2004 đến 535.438 tấn năm 2008)
Phần lớn ở nước ta cà chua được trồng ở các tỉnh phía Bắc, hiện nay vẫn tập trung lớn ở đồng bằng Sông Hồng như: Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Tây, Nam Định,… chiếm trên 60% diện tích của cả nước Tại các tỉnh phía Nam cà chua được trồng nhiều ở các tỉnh như: Lâm Đồng, An Giang, TP Hồ Chí Minh, Bình Thuận với khoảng 400 ha trên mỗi tỉnh
2.3.3 Tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới
Trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chọn tạo những giống cà chua có năng suất và chất lượng cao, thích hợp cho từng vùng sinh thái, từng mùa vụ và mục đích sử dụng Các nhà khoa học đã sử dụng nguồn gen di truyền của các loài hoang dại và bán hoang dại, nhằm khai thác khả năng chống chịu tốt với nhiều điều kiện ngoại cảnh bất thuận Bằng nhiều con đường khác nhau như: Lai tạo, chọn lọc, gây đột biến … Để tạo ra các giống cà chua có nhiều đặc điểm như mong muốn
Ở Mỹ, công tác chọn chọn tạo giống cà chua được tiến hành từ rất sớm, đến nay đã thu được nhiều thành tựu đáng kể Trường Đại học Califocnia đã chọn ra được những giống cà chua mới như: UC-105, UC-134, UC-82 có năng suất cao hơn hẳn VF-145 và có nhiều đặc điểm tốt như: tính chống chịu nứt quả cao và quả cứng (Hồ Hữu An và cs,1996) [1] Bên cạnh những giống mới được chọn tạo ra hàng năm, các giống cũ (giống địa phương) ở Mỹ lại được duy trì và thường xuyên xuất hiện, vừa được dùng trong sản xuất vừa làm nguồn vật liệu lai tạo Trong đó một số giống thích hợp trồng trong vụ nóng như: Costoluto genvese, Super, Blachk krin v.v (Watso và Simone,1966) [46]
Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau châu Á (AVRDC) từ những ngày đầu thành lập (1972) đã bắt đầu chương trình chọn tạo, nhằm tăng cường khả năng thích ứng của cà chua với vùng điều kiện nóng ẩm Hầu hết các giống AVRDC lai tạo là các giống đã được cải thiện trong tập đoàn từ năm 1974 đến nay đều có khả năng chịu nhiệt cũng như chống chịu sâu bệnh tốt Viện nghiên cứu và phát triển nông
Trang 18nghiệp Malaysia (MARDI) đã phối hợp với AVRDC và trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp nhiệt đới (TARC) ở Nhật Bản để xúc tiến chương trình cải tiến giống cà chua triển vọng Đã chọn được 6 dòng có khả năng chịu nhiệt và chống chịu vi khuẩn: MT1, MT2, MT3, MT5, MT6, MT10
Cùng với nghiên cứu của các nhà khoa học, công ty giống S&G seeds của
Hà Lan đã đưa ra giống tốt như Rambo (GC775), có đặc tính là quả dẹt, to, thịt quả dày, quả chắc, có khả năng bảo quản rất lâu Giống Elenta (F2024) sinh trưởng khỏe, tỷ lệ đậu quả cao, chất lượng quả tốt, quả chín đỏ đều và rất chắc, thích hợp bảo quản lâu dài trong điều kiện tự nhiên, ngoài ra một số giống khác
có đặc tính tương tự như: GS - 12, GS - 28, Lrica, Jackal,Mickey (S902)…(S&G seeds,1998) [44]
Cùng với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, những năm gần đây công nghệ gen ngày càng được áp dụng nhiều vào công tác tạo ra các giống cà chua có những đặc tính tốt, ít hoặc chưa có trong tự nhiên bằng công nghệ gen, các nhà khoa học đã đưa vào cà chua một gen có tác dụng hạn chế sự hình thành nên enzim phân giải các chất pectin (pectin là chất có nhiều khi quả còn xanh có tác dụng làm quả cứng chắc, khi quả chín chất này bị phân giải làm cho quả mềm dần ra) Mặt khác đưa vào cà chua một gen có tác dụng hạn chế việc tạo ra Etylen (chất này có liên quan đến sự chín của quả) trong quả, từ đó hạn chế và làm chậm lại quá trình chín của quả Cũng bằng công nghệ gen, các nhà khoa học đã xác định và tìm cách vô hiệu hóa 1 số gen có vai trò trong quá trình tổng hợp Etylen, điều này cho phép thu hoạch quả muộn hơn cũng như có thể bảo quản lâu hơn (Trương Đích, 1998) [11]
2.3.4 Tình hình nghiên cứu cà chua ở Việt Nam
Một số nhà nghiên cứu cho rằng cà chua bắt đầu xuất hiện ở nước ta từ thời
kỳ thực dân Pháp xâm lược và chiếm đóng Đến nay, cây cà chua ngày càng được
ưa chuộng và sử dụng rộng rãi khắp cả nước Công tác chọn tạo giống cà chua ở Việt Nam bắt đầu từ sau thế kỷ 20 Trong những năm gần đây quá trình nghiên cứu
và chọn tạo giống cà chua đã có nhiều thành tựu đáng kể
Trang 19Nhiều cơ sở khoa học: Viện nghiên cứu Rau - Quả, Viện cây Lương thực - Thực phẩm, các Trường Đại học đã nghiên cứu và chọn lọc ra nhiều giống cà chua thích hợp với các vùng: HP5, HP7, Hồng Yên Mỹ, Đồng thời các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu xây dựng nên các quy trình thâm canh tăng năng suất cà chua
và đã được thực tế áp dụng (Bùi Bảo Hoàn và Đào Thanh Vân, 2000) [12]
Trung tâm giống cây trồng Việt - Xô trong giai đoạn 1983 - 1993 đã tiến hành nghiên cứu trên tập đoàn các giống cà chua nhập nội Vụ đông xuân 1983 nghiên cứu 106 mẫu giống, vụ đông xuân 1988-1989 gồm 60 mẫu giống và vụ đông xuân 1989 là 2000 mẫu giống Kết quả đã chọn được một số mẫu, giống có ưu điểm chín sớm, năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu sâu bệnh tốt như giống Raseta, Sarut, Bogdanovskii (Trần Đình Long và ctv, 1992) [17]
Giai đoạn 1991 - 1995: chương trình nghiên cứu đề tài KN01 - 12 của Bộ
Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm với đề tài “Nghiên cứu và chọn tạo một số
giống rau chủ yếu và biện pháp kỹ thuật thâm canh” đã được triển khai thực hiện
trên quy mô rộng, với sự tham gia của nhiều cơ quan nghiên cứu Trong đó cây cà chua là đối tượng nghiên cứu chính của đề tài, với số lượng mẫu giống được thu thập, nhập nội để nghiên cứu qua các năm (1991-1995) là lớn nhất (Trần Khắc Thi, 1995) [21]
Trong giai đoạn 1994 - 1995, chương trình nghiên cứu đề tài cấp bộ, mã số
B9-11-42, với tên đề tài “Nghiên cứu chọn lọc giống cà chua thích hợp với vùng
sinh thái khí hậu phù hợp miền Bắc Việt Nam” đề tài được tiến hành nghiên cứu tại
trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội I và một số xã ở ngoại thành Hà Nội với 38 dòng, giống có nguồn gốc khác nhau, sau 2 năm nghiên cứu, kết quả cho thấy: trong điều kiện trồng trái vụ, năng suất thực thu của các giống đạt từ 21.495 - 29.100 kg/ha Còn về chất lượng đa số các giống đều có phẩm chất tương đối tốt, quả cứng,
tỷ lệ thịt quả và hàm lượng chất khô cao, đặc biệt là giống Merikurri Giống DT -
4287 có triển vọng trồng chính vụ, những giống này có tính chín sớm và tính trạng
có lợi cho sản xuất vụ sớm Cuối cùng tác giả đã kết luận: hầu hết các giống nghiên cứu đều có những tính trạng có lợi riêng như: tính kháng bệnh tốt, có năng suất và
Trang 20chất lượng tương đối tốt Đây là nguồn gen rất quý dùng làm vật liệu khởi đầu cho lại tạo (Hồ Hữu An và cs, 1996) [1]
Để tạo nguồn vật liệu khởi đầu, ngoài khối lượng mẫu giống lớn nhập nội
và giống địa phương thu nhập được, nguồn vật liệu khởi đầu còn được tạo bằng cách xử lý đột biến với hóa chất (NMU 0,02%; DUS 0.02%) nhằm tạo ra những tính trạng có lợi cho chọn lọc Bên cạnh các mẫu giống thuộc dạng trồng, còn nhiều dạng dại và nửa hoang dại như: SSB Pimpinelli folium Mill, SSP Subspomtancum Brez Những dạng dại này được đánh giá là có chất lượng cao, chống chịu tốt với sâu bệnh và môi trường bất thuận, đồng thời là nguồn vật liệu tốt cho chọn giống cà chua
Hàng năm các cơ sở nghiên cứu thuộc đề tài NK-01012 này đã lai tạo được hàng trăm cặp lai cà chua và chọn lọc được hàng ngàn cá thể từ các đôi lai khác nhau Kết quả có 3 giống đã được công nhận là giống quốc gia, còn lại một số giống khác được phép khu vực hóa (Trần Khắc Thi, 1998) [22]
Viện cây Lương thực và Thực phẩm cũng đã tung ra thị trường giống cà chua lai F1 VT3 từ tổ hợp lai (15xVX), giống có đặc điểm quả tròn, thâm canh tốt có thể đạt 60 tấn/ha, có khả năng chống bệnh sương mai, héo xanh, thích hợp cho ăn tươi và chế biến công nghiệp Được bộ Nông nghiệp và Phát năm 2004
Kết quả nghiên cứu ưu thế lai cà chua trong nước đang được các nhà chọn giống quan tâm Các giống lai F1 được tạo ra trong nước như: HT7, HT21, HT144 do Trường Đại học Nông Nghiệp I lai tạo Giống VT3 do Viện cây Lương thực-Thực phẩm lai tạo Giống FM 29, FM 20, HPT9, lai số 9 được Viện nghiên cứu Rau- Quả tạo ra Chúng có những ưu điểm vượt trội hơn so với thế hệ bố mẹ, trong đó đại diện một số giống điển hình như: Giống cà chua lai HT7; Giống lai số 9 đã được hội đồng khoa học Bộ NN&PTNT công nhận là giống tạm thời để mở rộng sản xuất
Gần đây, trong chương trình hội thảo nghiên cứu và phát triển giống cà chua ở Việt Nam, ngày 18 tháng 1 năm 2003, tại Viện nghiên cứu Rau-Quả, một
số giống mới được giới thiệu như: C90, C50 do Viện cây Lương thực và Thực phẩm chọn lọc; VL2000 F1, VL 2500 F1, VL 2910 F1, VL 2922 F1 do Công ty
Trang 21Hoa Sen cung cấp Ngoài ra Công ty giống cây trồng miền Nam đã đưa ra 2 giống T - 41 và T - 42
Như vậy, những kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đạt được là rất khả quan và đây cũng chính là cơ sở khoa học cho những chương trình nghiên cứu tiếp Đặc biệt để đáp ứng nhu cầu về phát triển sản xuất và tiêu dùng cà chua ngày càng cao và tính chất cạnh tranh với các giống ngoại nhập ngày càng khốc liệt, các nghiên cứu về tạo giống cà chua lai trong nước cần được đẩy mạnh để
tiếp tục đưa ra các giống mới phục vụ cho sản xuất
2.4 Những nghiên cứu về sâu hại cà chua trên thế giới và Việt Nam
2.4.1 Những nghiên cứu về sâu hại cà chua trên thế giới
Theo Peason 1958, Fitt 1985 khi nghiên cứu về sâu xanh Helicoverpa
armigera Hubner cho biết H Armigera là loài dịch hại cây trồng nông nghiệp chủ
yếu ở rất nhiều khu vực trên thế giới như: Châu Mỹ, Ấn Độ, Đông Nam Á, Trung Đông, Đông Âu, Phía Đông và phía Bắc Australia, New Zealand và rất nhiều đảo phía Đông Thái Bình Dương [45]
Năm 2001, Mustapha F.A.jallow và Masaya Matsumura cho rằng sâu xanh
H.armigera là loại sâu hại trên cả cây trồng ngoài đồng lẫn trong vườn ở rất nhiều
vùng trên thế giới
Khi nghiên cứu sự phát triển của ngưỡng kinh tế và hệ thống quản lý sâu hại
H.armigera trên cà chua tác giả P.J.cameron, 2001 ở Newzealand khẳng định H.armigeralà loại sâu hại chủ yếu trên cà chua chế biến ở Gisbome và khu vực Hawke
thuộc bờ biển Đông Newzealand Ở đó, chúng gây hại trên 30% số quả khi không xử lý thuốc bảo vệ thực vật vào cuối vụ cà chua (Walker and Camerun 1990) [43]
Năm 1994, Zalucki et al, cho biết ở vùng nội địa Australia khi tiến hành cuộc
điều tra trên diện rộng đã chỉ ra hơn 26 loại cây ký chủ nữa bị sâu xanh H.armigera
gây hại, lớn hơn so với những nghiên cứu trước đó
Kết quả nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu Bông P.B số 2 Shankarnagar -
Ấn Độ cho biết sâu xanh H.armigeragây thiệt hại mùa màng hàng năm từ 290 - 350
triệu USD chi trả cho thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp ở Ấn Độ thì có 50%
Trang 22chi phí cho sản xuất bông trong đó 75% (của 240 triệu USD) dùng để quản lý sâu
xanh H.armigera Trong suốt hơn một thập niên qua việc quản lý sâu hại này càng
trở nên khó khăn phức tạp do khả năng kháng thuốc của chúng với hầu hết các loại thuốc sâu đang được dùng phổ biến ở đó [41]
2.4.2 Những nghiên cứu về sâu hại cà chua ở Việt Nam
Theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng miền Bắc 1967 -1968 có 11 loài sâu
hại cà chua trong đó có một số loài gây hại quan trọng như sâu xám Agrotis ypsilon Rottemb, bọ phấn Bemisa mysicae Kuwayana, sâu xanh Helicoverpa armigera Hubner, sâu khoang Spodoptera litura Fabr, dế mèn lớn và dế dũi [4]
Năm 1974 - 1976, kết quả điều tra cơ bản côn trùng toàn miền Bắc một lần nữa cho thấy có 13-14 loài sâu hại phổ biến trên cà chua, một trong những loài gây
hại nghiêm trọng cho cây cà chua là sâu xanh đục quả H.armigera Hubner (Hồ
Khắc Tín, 1980) [27]
Theo Hoàng Anh Cung (1990-1995) trên cà chua có 5 loài sâu hại chính: Sâu
xám Agrotis ypsilon Rott, bọ phấn Bemisia tabaci, sâu khoang Sopodoptera litura, sâu xanh Helicoverpa armigera, bọ trĩ Thripidae Trong đó, chỉ có 2 loài sâu đục
quả là sâu xanh và sâu khoang xuất hiện và gây hại thường xuyên hơn trong cả 3 vụ
cà chua: Vụ sớm, chính vụ và vụ muộn [9]
Theo FAO 2002, khi nghiên cứu về sâu hại cà chua, đã xác định có 5 loài gây hại chính cần có biện pháp quản lý hiệu quả đó là sâu xám, sâu xanh đục quả,
bọ phấn, dòi đục lá và rệp bột sọc Ferrisia virgata [37]
Lương Thị Kiểm, (2003) cho biết thành phần hại cà chua tại Đông Anh -
Hà Nội cho biết trong 7 loài sâu hại chính thì nhóm sâu đục quả (sâu xanh
H.armigera, sâu xanh H.assulta và sâu khoang S.litura) xuất hiện và gây hại, làm
ảnh hưởng lớn tới năng suất cà chua vụ Xuân Hè 3003 Tỷ lệ và mật độ giữa 3 loài trong nhóm sâu đục quả biến động trong các vụ trồng cà chua Ở vụ Đông,sâu
khoang gây hại nặng nhất, sau đó đến sâu xanh H.armigera và hại nhẹ nhất là sâu
H.assulta [15]
Trang 23Mai Phú Qúy và Vũ Thị Chi (2005), khi nghiên cứu về đa dạng côn trùng trong
sinh quần rau quả cho thấy trên cà chua có các loài sâu gây hại chính như: Rệp Aphis
fabae Scopoli, Aulacorthum solani (Kalf), bọ phấn Bemisia myricaeKuway, sâu xanh H.armigera Hubner, sâu khoang S.litura, chúng gây hại nghiêm trọng tới năng suất
chất lượng cây trồng này [19]
Vũ Thị Lan Hương (2009) khi nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái
của sâu xanh đục quả cà chua Helicoverpa armigera Hubner cho biết tại An Dương-
Hải Phòng có 15 loài sâu hại cà chua gây hại nguy hiểm nhất là nhóm sâu đục quả
(3 loài thuộc bộ cánh vẩy Lepidoptera), sâu khaong S.litura phát sinh ngay từ đầu
vụ và gây hại với mật độ cao nhất sau đó đến sâu xanh H.armigera, và gây hại nhẹ nhất là sâu xanh H.assulta Hai loài sâu xanh xuất hiện muộn hơn sâu khoang,
chúng phát sinh khi cây cà chua ra chùm nụ đầu [13]
Từ kết quả của những nghiên cứu trên cho thấy, tuy số loài gây hại chính trên cà chua ở từng vùng địa lý khác nhau nhưng vẫn tập trung vào mấy đối tượng chính gây hại nguy hiểm và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất cho các vùng trồng rau
2.5 Nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật sản xuất cà chua
Trên cơ sở tìm hiểu những ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh đến cây cà chua, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã tập trung nghiên cứu các biện pháp
kỹ thuật như: Xác định thời vụ, mật độ và khoảng cách thích hợp để sản xuất cà chua đạt được năng suất cao, phù hợp cho điều kiện từng vùng
2.5.1 Những nghiên cứu về thời vụ
Về thời vụ trồng cà chua được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều, ở Việt Nam, các tác giả Tạ Thu Cúc, Đường Hồng Dật, Trần Khắc Thi và Chu Thị Thơm cho rằng: Đối với vùng đồng bằng Sông Hồng có thể trồng vụ hè thu và thu đông, gieo hạt từ đầu tháng 6 đến tháng 7, trồng khoảng đầu tháng 7 đến cuối tháng 7, cho thu hoạch vào tháng 10 dương lịch Vụ đông xuân có 3 trà: Trà sớm gieo hạt tháng
7, tháng 8, thu hoạch cuối tháng 10 đến tháng 12; trà chính vụ gieo hạt từ giữa tháng 9 đến giữa tháng 10, thu hoạch cuối tháng 12 đến tháng 3 năm sau; trà muộn gieo hạt vào tháng 11, 12 thu hoạch vào tháng 3 tháng 4 năm sau Vụ xuân hè gieo
Trang 24hạt cuối tháng 1, đầu tháng 2, thu hoạch vào tháng 5 tháng 6 Vụ hè gieo hạt tháng 2 đến tháng 3, thu hoạch tháng 5 tháng 6 [7], [10], [24], [32]
Các tác giả trên cũng chỉ ra rằng, trong 5 vụ trên, chỉ có vụ đông xuân là thuận lợi hơn cả, vì điều kiện thời tiết thuận lợi cho cây cà chua sinh trưởng phát triển, ít sâu bệnh hại, năng suất và chất lượng quả cao, vì vậy mà sản lượng thường tập trung nhiều, giá bán thấp ảnh hưởng đến thu nhập của người sản xuất Các vụ còn lại thời tiết không thuận lợi, sâu bệnh phá hoại nặng, nên ảnh hưởng xấu đến năng suất cà chua, nhưng có ưu điểm là rải vụ, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng vào những ngày nắng nóng, đồng thời giá bán cao có lợi cho người sản xuất Tuy nhiên, để hạn chế những thất thoát về năng suất trong điều kiện trái vụ này, các tác giả trên cũng khuyến cáo là nên chọn dùng những giống cà chua có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận và sâu bệnh hại tốt, cần tăng cường chăm sóc cho cà chua
Vùng Bắc Trung bộ có đặc điểm khí hậu gần giống như vùng đồng bằng Bắc bộ, nhưng do mưa muộn hơn nên thời vụ muộn hơn từ 15 đến 20 ngày so với vùng đồng bằng Sông Hồng Ở miền Nam chủ yếu trồng cà chua vụ đông xuân từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau là thích hợp nhất, vụ này cà chua đạt tỷ lệ đậu quả cao, năng suất cao Ngoài ra, ở đây có thể trồng cà chua mùa mưa, nhưng chỉ có một số giống chịu nhiệt và ra hoa được rong điều kiện ẩm độ cao mới cho năng suất khá như: Red Crown 250, New ca-rai-bô, KBT4, TN-52, VL2000 Các giống này ra hoa đậu quả ngay cả thời gian mưa lớn liên tục và tương đối ít bị bệnh héo xanh [33] Riêng vùng Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), nơi có khí hậu mát lạnh, nhiệt độ trung bình hàng năm 18độC, nên cà chua được trồng quanh năm Như vậy, việc bố trí thời vụ thích hợp cho cà chua chủ yếu phụ thuộc vào yếu tố giống, nhiệt độ và ẩm độ
2.5.2 Những nghiên cứu về mật độ
Về khoảng cách trồng cà chua tác giả Tạ Thu Cúc đã nghiên cứu và cho rằng, những giống thuộc loại hình sinh trưởng vô hạn có cành lá sum xuê, phân cành mạnh phải trồng thưa hơn 2 loại hình còn lại [7]
Trang 25Theo Trần Khắc Thi và cộng sự thì cà chua có thể phát triển phù hợp với khoảng cách 0,7x0,4m (mật độ 3,5-4,0 vạn cây/ha [25] Theo Đào Xuân Thảng, Dương Kim Thoa và các cộng sự thì giống VT3, PT18 (hữu hạn, bán hữu hạn) có thể trồng với mật độ 3,1-4,0 vạn cây/ha Khoảng cách 75x40cm hay 70x40-45cm là tốt nhất [30], [31] Giống vô hạn như TN148, TN129 trồng với khoảng cách (70x50cm), mật độ 2,8 vạn cây/ha Tác giả Trần Khắc Thi và cộng sự cho rằng, ở Việt Nam để cà chua có năng suất cao nên trồng với mật độ 3,2-4,0 vạn cây/ha [24], hiện nay trong sản xuất thường áp dụng các mật độ khoảng cách sau:
Đối với giống vô hạn: 70x40cm (3,2 vạn cây/ha)
Đối với giống hữu hạn: 70x35cm (3,5 vạn cây/ha)
Đối với giống hữu hạn vụ sớm: 70x30cm (4,0 vạn cây/ha)
Tác giả Ngô Xuân Chinh, năm 2012 đã báo cáo rằng mật độ phù hợp cho cà chua là 25.000 cây/ha và đã so sánh các công thức phân bón trong đó 2 công thức
360 kg N - 150 kg P2O5 và 413 kg K2O / và 420 kg N- 175 kg P2O5và 482 kg K2O (tùy mùa) cho năng suất và hiệu quả kinh tế nhất [5]
2.5.3 Những nghiên cứu về phân bón
Theo nghiên cứu của Trần Khắc Thi và cộng sự thì trong điều kiện Việt Nam để sản xuất cà chua an toàn lượng phân bón cho 1 ha là: 25 tấn phân chuồng, 150kg N,90kg P2O5 và 150kg K2O [24] Theo tác giả Tạ Thu Cúc và cộng sự thì sản xuất cà chua tại đồng bằng Sông Hồng thì phân hữu cơ hoai mục trung bình 15-20 tấn, nếu có điều kiện có thể bón 30-40 tấn cho một ha gieo trồng Phân vô
cơ từ 90 đến 120kgN, 60-90kg P2O5, 100-120kg K2O [7] Theo Chu Thị Thơm
và cộng sự cho biết, phân chuồng ủ từ 20 đến 25 tấn/ha hoặc 10 tấn phân gà ủ hoai cho cà chua [32]
Tác giả Phạm Hồng Cúc cho rằng, ở vùng đồng bằng miền Nam lượng phân
vô cơ bón cho cà chua/ha như sau: từ 120 đến 200kg N, 100-150 kg 120kgK2O [8] Như vậy, phần lớn các tác giả đã giới thiệu các tổ hợp phân bón thích hợp cho cà chua dao động từ 120 đến 180kg N; 60-90kg P2O5; 150-180kg K2O cho tất cả các loại hình sinh trưởng Tác giả Kuo et al., giới thiệu mức NPK
Trang 26P2O5,80-riêng cho 2 loại hình sinh trưởng [42] Riêng tác giả Hipp đưa ra mức bón rất cao cho cà chua ở Nhật Bản và Hàn Quốc [40] Ở Italy là 158kg N, 136 kg P2O5, 214kg K2O [38] Phạm Hồng Cúc giới thiệu mức bón N tới 200 kg, cao hơn K2O và mức khuyến cáo của các tác giả khác [8] Điều đó cho thấy, cà chua là cây yêu cầu dinh dưỡng cao, tuy nhiên, việc sử dụng lượng phân bón như thế nào để đảm bảo vừa cho năng suất, chất lượng cao, vừa an toàn thực phẩm là vấn đề nhiều nhà khoa học quan tâm Theo tiêu chuẩn cà chua an toàn theo Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN
do Bộ NN&PTNT ban hành thì dư lượng nitrate (NO3) trong quả cho phép là ≤ 150mg/1 kg sản phẩm tươi [20] Vì vậy cần nghiên cứu liều lượng phân bón thích hợp đối với giống mới trong từng vùng sinh thái nhằm mục đích đạt hiệu quả kinh
tế cao mà vẫn đảm bảo sản phẩm cà chua an toàn Theo tác giả Vũ Lan Anh (2014) [2], đối với giống cà chua TN386 được trồng theo điều kiện sinh thái ở thành phố Thái Nguyên khi thay thế 25 tấn phân hữu cơ sinh học NTT cho phân chuồng kết hợp với 100kg P2O5 và 150kg K2O thì lượng phân đạm là 90kg cho năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất
Ngoài đạm, lân và kali ra, các nguyên tố vi lượng có tác dụng quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển và chất lượng quả [33] Cà chua có phản ứng tốt đối với các nguyên tố vi lượng Bo, Mn, Zn, đặc biệt là Molipden Nói chung, cà chua đòi hỏi nhiều chất dinh dưỡng để tạo ra năng suất cao, lượng chất dinh dưỡng hấp thụ tuỳ thuộc vào khả năng cho năng suất của giống, thời tiết, tình trạng đất và kỹ thuật trồng trọt
Theo tác giả Cao Thị Làn đối với sản xuất cà chua cherry trên giá thể, bón phân NPK (12 - 10 - 20) với lượng phân 200kg NPK thì cho năng suất, chất lượng quả cao nhất và không làm ảnh hưởng đến chất lượng giá thể Với chu kỳbón phân
8 ngày/lần, không nên thu họach quả cà chua vào ngày thứ 3 sau khi bón phân vì khi đó dư lượng nitrate trong quả là cao nhất [16]
2.5.4 Biện pháp bảo vệ thực vật cho cà chua
Cà chua thuộc họ cà Solanaceae thường rất mẫn cảm với nhiều loài sâu, bệnh hại, gây thiệt hại kinh tế lớn cho người sản xuất Các loài sâu bệnh hại phổ
Trang 27biến và nguy hiểm là: bọ phấn, sâu xanh, sâu khoang, sâu xám, bệnh xoăn lá, bệnh mốc sương, bệnh đốm vòng, bệnh lở cổ rẽ, bệnh héo rũ do nấm và héo xanh vi khuẩn Chúng có thể phát sinh ở hầu hết các vụ trồng cà chua trong đó vụ đông xuân thiệt hại do bệnh nhiều hơn do sâu, còn vụ xuân hè thì ngược lại Theo các tác giả: Mai Thị Phương Anh, Tạ Thu Cúc, Phạm Thị Nhất, Nguyễn Văn Viên và cộng sự thì thời kỳ cây con trong vườn ươm là phòng trừ sâu bệnh hại cho cà chua
có hiệu quả về nhiều mặt Ở thời kỳ này cây nhỏ, diện tích hẹp nên việc phát hiện, phòng trừ bằng biện pháp thủ công cơ giới hoặc bằng thuốc đều rất thuận lợi [3][6], [18], [34] Theo Nguyễn Đức Toàn (2013) [29], có thể trồng xen cà chua với hành lá để hạn chế sâu bệnh hại, do cây hành lá đã tỏa ra mùi không ưa thích đối với một số loại sâu hại cà chua, đặc biệt là sâu xanh và sâu khoang Để sản xuất cà chua đảm bảo an toàn theo Trần Khắc Thi và cộng sự cần phải thực hiện phương pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) như: Sử dụng giống chống chịu, cây giống khỏe và sạch bệnh, bón phân cân đối, đúng liều lượng và đúng lúc, bảo vệ thiên địch, xác định hệ thống cây trồng và các biện pháp luân canh hợp lý Thăm đồng thường xuyên, phát hiện kịp thời để ngăn chặn dịch hại, diệt sâu bằng tay, ngắt bỏ
bộ phận bị bệnh, hoặc nhổ bỏ cây bệnh đem thiêu hủy khi mới xuất hiện Nếu diệt trừ bằng hóa chất bảo vệ thực vật phải đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng, đúng ngưỡng kinh tế, tăng cường sử dụng các thuốc vi sinh nhóm Bt,thảo mộc và
sử dụng thuốc có luân phiên Xử lý hạt giống trước khi gieo [24], [25]
2.5.5 Biện pháp trồng xen
Ở Việt Nam, một số nơi hiện nay đã tiến hành trồng xen cà chua với các loại cây trồng khác nhằm tăng năng suất cây trồng trên một đơn vị diện tích Trồng xen nhằm tận dụng đất khi cây cà chua đang trong giai đoạn cây con, hơn nữa trồng xen còn có khả năng làm giảm số lượng sâu bệnh hại cà chua, làm tăng năng suất và
tăng hiệu quả kinh tế cho người dân
* Nguyên tắc trồng xen canh
Để đạt được hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông nghiệp thông qua việc xen canh cây trồng, người sản xuất cần phải đảm bảo 4 nguyên tắc sau:
Trang 28- Trồng cây hàng rộng xen với cây hàng hẹp
- Trồng cây tán rộng hoặc to xen với cây hàng hẹp, tán nhỏ
- Cây hàng hẹp, tán nhỏ trồng xen với cây trồng thấp
- Cây yêu cầu ánh sáng nhiều trồng xen với cây yêu cầu ánh sáng ít hơn
Điều đó cho thấy, trong việc xác định cây trồng xen thì cây trồng xen không được làm giảm thu hoạch cây trồng chính Phải chọn những cây trồng xen thích hợp sao cho chúng đem lại lợi ích cho nhau hoặc ít nhất cũng không gây ảnh hưởng xấu cho nhau Cây trồng xen phải hỗ trợ công tác phòng trừ dịch hại, tức là phải tạo ra điều kiện bất lợi cho sự phát sinh, tích lũy số lượng và lây lan của dịch hại chính trên các cây trồng chính Đồng thời, cây trồng xen cũng phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ, duy trì quần thể thiên địch tự nhiên của dịch hại hoặc hấp dẫn và khích lệ hoạt động hữu ích của thiên địch tự nhiên trong sinh quần cây trồng xen Theo kết quả nghiên cứu cho thấy: trồng xen cây cà chua với cây húng quế thì chính mùi của cây húng quế sẽ xua đuổi côn trùng gây hại cho cây cà chua và giúp trái cà chua có mùi vị tốt hơn, mặt khác nó cũng giúp cho dinh dưỡng trong đất trồng cà chua được cân bằng hơn, vì cây húng quế sử dụng nhiều loại chất dinh dưỡng mà cây
cà chua ít sử dụng Quá trình trồng xen này không làm giảm năng suất của cây cà chua mà ngược lại còn đạt hiệu quả rất cao trong việc phòng trừ sâu bệnh và cải thiện chất lượng cho quả cà chua
Trồng cà chua xen với cây ngô hoặc cây đậu đỗ đã làm tăng hoạt động hữu ích của ong mắt đỏ ký sinh trứng sâu xanh Tỷ lệ trứng sâu xanh bị ong mắt đỏ ký sinh trên cây ngô hoặc đậu đỗ được trồng xen với cà chua cao hơn rất nhiều so với trên cây ngô hoặc với cây đậu đỗ trồng thuần Như vậy, trồng xen cà chua với cây ngô hoặc với cây đậu đỗ đã góp phần hạn chế sâu xanh trên cà chua
Có thể trồng xen cải xanh, cải ngọt với các cây trồng khác nhằm làm gián đoạn nguồn thức ăn và xua đuổi sâu hại, ví dụ: xen cây họ thập tự với cây thì là hoặc cà chua (trồng trước cây họ thập tự) hạn chế được mật độ sâu tơ trên ruộng