1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế trong kháng chiến chống thực dân pháp (1945 1954)

71 854 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 761,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 đối với Việt Nam, không chỉ làm rõ thêm vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ -

NGUYỄN THỊ KHÁNH

ĐẢNG LÃNH ĐẠO TRANH THỦ

SỰ ỦNG HỘ, GIÚP ĐỠ QUỐC TẾ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 - 1954)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học PGS TS VŨ QUANG VINH

Trang 2

Xin chân thành cảm ơn Thầy giáo hướng dẫn PGS TS Vũ Quang Vinh

đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do kiến thức còn hạn hẹp nên vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của quý Thầy Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để thực hiện khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Xuân Hòa, ngày… tháng…năm 2016

Người thực hiện đề tài

Nguyễn Thị Khánh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các thông tin và số liệu mà tác giả sử dụng trong khóa luận là trung thực.Các luận điểm,

dữ liệu được trích dẫn đầy đủ, nếu không là ý tưởng hoặc kết quả của chính bản thân tôi

Xuân Hòa, ngày…tháng…năm 2016

Người thực hiện đề tài

Nguyễn Thị Khánh

Trang 4

DANH MỤC BẢNG VIẾT CHỮ TẮT

CHND : Cộng hòa nhân dân ĐCS : Đảng Cộng sản

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO TOÀN DÂN VỪA TỰ LỰC CÁNH SINH VỪA TÌM KIẾM SỰ ỦNG HỘ VÀ GIÚP ĐỠ QUỐC TẾ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1949 10

1.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế 10

1.1.1 Tình hình trong nước 10

1.1.2 Bối cảnh quốc tế 14

1.2 Sự cần thiết tranh thủ sự ủng hộ,giúp đỡ quốc tế 15

1.2.1 Sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế đối với cách mạng Việt Nam trước năm 1945 15

1.2.2 Sự cần thiết của tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế 16

1.3 Chủ trương, chỉ đạo của Đảng đối với việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế 16

1.3.1 Chủ trương của Đảng 16

1.3.2 Qúa trình Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ,giúp đỡ quốc tế (1945-1949) 17

CHƯƠNG 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO TRANH THỦ SỰ ỦNG HỘ, GIÚP ĐỠ QUỐC TẾ,ĐƯA CUỘC KHÁNG CHIẾN ĐẾN THẮNG LỢI HOÀN TOÀN (1950 -1954) 29

2.1 Bối cảnh trong nước,quốc tế và chủ trương của Đảng 29

2.1.1 Bối cảnh trong nước 29

2.1.2 Bối cảnh quốc tế 31

2.1.3 Chủ trương của Đảng 32

2.2 Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế,đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đi đến thắng lợi 34

Trang 6

2.2.1 Các nước xã hội chủ nghĩa công nhận và đặt quan hệ ngoại

giao với Việt Nam 34

2.2.2 Phát huy sự ủng hộ,giúp đỡ của các nước trong khu vực,các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới 35

2.2.3 Cuộc đàm phán ở Gionevơ 38

Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 45

3.1 Nhận xét 45

3.1.1 Tranh thủ sự ủng hộ quốc tế là chủ trương xuyên suốt trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 45

3.1.2 Đảng nhận thức rõ cách mạng Việt Nam luôn là một bộ phận của cách mạng thế giới để lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế 46

3.1.3 Ở giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1949) kết quả của sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế còn hạn chế 46

3.1.4 Đảng đã tìm được mọi phương thức để tranh thủ và phát huy tối đa sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế để làm nên thắng lợi của cách mạng 47 3.1.5 Một số kết quả của sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế 47

3.2 Một số kinh nghiệm 54

3.2.1 Luôn kiên trì, tận dụng mọi thời gian và cơ hội để tuyên truyền cho quốc tế hiểu rõ tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến trong khi tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế 54

3.2.2 Hiểu rõ bạn và thù để có những sách lược đúng đắn trong hoạt động đối ngoại 55

Trang 7

3.2.3 Phát huy thắng lợi quân sự trên chiến trường để từ đó bạn bè quốc tế ủng hộ, giúp đỡ ngày càng nhiều cho cuộc kháng chiến chính nghĩa của ta 55 3.2.4 Lấy thắng lợi trên chiến trường để làm cơ sở cho đấu tranh trên mặt trận ngoại giao giành thắng lợi 55 3.2.5 Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế song phải có đường lối độc lập tự chủ, sáng tạo và phù hợp với thực tiễn đất nước 56 KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phát huy sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế để xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc luôn là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm.Điều này không chỉ cần thiết đối với các nước lớn có tiềm lực về kinh tế và quân sự, mà còn vô cùng quan trọng, nhân thêm nguồn sức mạnh đối với các dân tộc nhỏ trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Xuất phát từ lý do đó, ngay từ rất sớm, Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã luôn coi trọng việc giáo dục tinh thần quốc

tế cho các thế hệ cán bộ, đảng viên Trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi cách mạng Việt Nam

là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới và hướng sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại bị áp bức chống lại sự nô dịch của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc, giải phóng giai cấp

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, song Nhà nước dân chủ nhân dân lại phải đương đầu với những khó khăn chồng chất Đó là tàn dư của chế độ cũ để lại; nền kinh tế -tài chính

bị tàn phá; thiên tai, dịch bệnh liên tiếp đe dọa đời sống của nhân dân; các thế lực đế quốc phản động trong và ngoài nước cấu kết với nhau mưu đồ thủ tiêu chính quyền cách mạng nhằm nô dịch dân tộc ta một lần nữa Chính quyền cách mạng non trẻ lúc này đứng trước một tình thế vô cùng khó khăn, một cuộc chiến không cân sức để bảo vệ nền độc lập của đất nước Do vậy,bên cạnh chủ trương phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để giữ vững nền độc lập dân tộc trở thành yêu cầu vô cùng cấp thiết của cách mạng Việt Nam lúc này

Trang 9

Vừa kháng chiến chống thực dân Pháp, từng bước xây dựng lực lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vừa lãnh đạo tranh thủ, phát huy sự ủng hộ quốc tế Đó là quá trình kết hợp xây dựng lực lượng với mở rộng quan hệ quốc tế để tìm kiếm bạn đồng minh, đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, kết hợp các hình thức đối ngoại nhằm tranh thủ đồng tình, ủng hộ của các nước anh em, các lực lượng tiến bộ trên thế giới, tạo thế và lực để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) đã bảo vệ và phát triển lên một bước mới những thành quả của Cách mạng Tháng Tám

Nghiên cứu về sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) đối với Việt Nam, không chỉ làm rõ thêm vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với bản lĩnh chính trị kiên cường, với đường lối, sách lược mềm dẻo, linh hoạt đã tranh thủ, phát huy được sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Điều đó còn góp phần quan trọng đập tan mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận lịch sử của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm vào cách mạng Việt Nam trong giai đoạn lịch sử này Đồng thời, đây cũng chính là cơ sở để Đảng ta tiếp tục phát huy nhân tố thời đại, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế trong sự nghiệp xây dựng vầ bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Với mong muốn góp phần làm rõ hơn vai trò quan trọng của Đảng đối

với cách mạng Việt Nam giai đoạn (1945 - 1954), tôi chọn đề tài: “Đảng lãnh

đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡquốc tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)” để nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp đại học, chuyên

nghành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 10

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã trở thành đối tượng nghiên cứu của Đảng, Nhà nước và nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân từ trước đến nay

Trong Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học

của Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh, trực thuộc Bộ Chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, các tác giả đã làm rõ nguyên nhân, ý nghĩa, kết quả , bài học của cuộc kháng chiến chống Pháp Đặc biệt, công trình đã tổng kết được sự giúp đỡ về vật chất của quốc tế, đặc biệt là của Liên Xô, Trung Quốc đối với Việt Nam Tuy nhiên, ở khía cạnh đối ngoại, đặc biệt là vấn đề tranh thủ, phát huy sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế với cách mạng Việt Nam ở giai đoạn lịch sử này chưa được đi sâu làm rõ

Công trình Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tập

1 và 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994 của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã thể hiện rõ chiều dài cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945- 1954), đánh giá tầm vóc, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến

Có thể nói, đây là một công trình thể hiện sự dày công nghiên cứu của các tác giả.Công trình đã dành chương XXV nói về Liên minh chặt chẽ với Lào và Campuchia, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế.Song, vấn đề đó mới được đề cập một cách khái quát và chưa hệ thống đầy đủ

Ngoài ra, có thể kể đến các công trình khác như: Cuộc kháng chiến

chống thực dân Pháp xâm lược (9-1945 đến 7-1954), Nxb Sự thật, Hà Nội,

1986; Hồi ức: Chiến đấu trong vòng vây, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội,

1998 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do Hữu Mai thể hiện Chiến tranh cách

mạng Việt Nam 1945- 1975: Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia,

2000 của Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị; Đề cương bài

giảng lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh, Hà Nội, 2002; Đảng Cộng sản Việt Nam chặng đường qua hai thế kỷ,

Trang 11

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006; Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, tập 3,4,5, Nxb Chính trị quốc gia,1995; Hồ Chí Minh tiểu sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006; Cuộc đọ sức

giũa hai chế độ xã hội (1994), Nxb Chính trị quốc gia – Tổng cục II – Bộ

Quốc phòng, Hà Nội; Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà

Nội,2010 do Song Thành chủ biên,…

Những công trình nghiên cứu trên sẽ là nguồn tài liệu tham khảo chính thống và hữu hiệu cho khóa luận.Trên cơ sở đó, Khóa luận sẽ tiếp tục nghiên cứu sâu và đầy đủ hơn về vấn đề liên quan trực tiếp đến đề tài

Đã có rất nhiều công trình khoa học chuyên sâu về đối ngoại, nhưng có rất ít nghiên cứu về vấn đề tranh thủ, phát huy sự ủng hộ quốc tế.Có thể kể

đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Ngoại giao Việt Nam

1945-2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 của Bộ Ngoại giao là một công

trình nghiên cứu khoa học công phu của tập thể các nhà ngoại giao, các chuyên gia hàng đầu về quan hệ quốc tế ở nước ta Với nguồn tài liệu phong phú và đáng tin cậy, với các luận chứng chặt chẽ và súc tích, cuốn sách đã trình bày một cách có hệ thống và tổng hợp các công tác ngoại giao của Đảng, Nhà nước Việt Nam Tuy nhiên, đây chỉ là những nét chính của hoạt động ngoại giao Việt Nam trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ Vấn đề tranh thủ, phát huy sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế ở giai đoạn này vẫn cần có sự nghiên cứu mở rộng hơn

Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập, tự do (1945 –

1975), Nguyễn Phúc Luân (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001;

Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Viện Quan hệ quốc tế, Nxb Sự thật,

Hà Nội, 1990’; Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,1994; Chủ tịch Hồ Chí Minh – trí tuệ lớn của nền ngoại

giao Việt Nam hiện đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Hoạt động

Trang 12

ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Pháp, Đặng

Văn Thái, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Đấu tranh ngoại giao trong

cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1945 – 1954), tập 1, Bộ Ngoại giao,

Tài liệu lưu tại Phòng lưu trữ Bộ Ngoại giao, 1975; Đấu tranh ngoại giao

trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1945 – 1954), tập 2 của Bộ

Ngoại giao, Tài liệu lưu tại Phòng lưu trữ Bộ Ngoại giao, 1976; Quan hệ Việt

Nam – Trung Quốc những sự kiện 1945 -1960, Nxb Khoa học xã hội, 2003

của Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc; Sự thật về những lần xuất quân của

Trung Quốc và quan hệ Việt – Trung, Nxb Đà Nẵng,1996; Sự thật quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 30 năm qua, Nxb Sự thật, 1979 của Bộ Ngoại giao

“Tìm hiểu về sự giúp đỡ của Liên Xô trong hai cuộc kháng chiến của

nhân dân Việt Nam (1945 – 1975)” của Hồng Hạnh – Hải Hà, Tạp chí Lịch

sử quân sự, tháng 4 -2000; “Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc những năm

1954 – 1960” của Nguyễn Thị Mai Hoa, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 217,

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Nghiên cứu đề tài “Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) ” nhằm góp phần làm

rõ vai trò của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là những cống hiến của Chủ tịch

Hồ Chí Minh (Người vừa giữ cương vị Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước ) trong quá trình lãnh đạo nhân dân Việt Nam chống thù trong giặc ngoài cũng như

Trang 13

kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ Khóa luận cũng nhằm cung cấp những luận cứ khoa học, những tài liệu mới sưu tầm liên quan đến

đề tài và rút ra kinh nghiệm về quá trình lãnh đạo của Đảng lãnh đạo tranh thủ

sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

3.2 Nhiệm vụ

-Tìm hiểu đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và những quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về đối ngoại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, từ năm 1945 đến năm 1954

- Sưu tầm, hệ thống tư liệu, tài liệu về các hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta trong việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tếvới cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

-Trình bày một cách có hệ thống các hoạt động của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945-1954) Thông qua đó, thấy được nhãn quan chính trị sắc bén và những cống hiến của Đảng , đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam

-Đúc kết một số kinh nghiệm lịch sử từ thực tiễn Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-

1954)

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp là Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) Đó là quá trình Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra đường lối, quan điểm và thực hiện quan điểm, đường lối đó trong quan hệ quốc tế để tranh thủ

Trang 14

sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước anhem, các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung :Khóa luận nghiên cứu quá trình Đảng ta, đứng đầu

là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo nhân dân Việt Nam khi nước nhà giành được độc lập, vừa xây dựng đất nước vừa kháng chiến chống thực dân Pháp

và can thiệp Mỹ Trong đó, Khóa luận đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đi đến thắng lợi năm 1954

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu về sự tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945- 1954)

- Phạm vi về thời gian: từ năm 1945 đến năm 1954

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Cơ sở lý luận:

- Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, đoàn kết giai cấp, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

- Quan điểm của Đảng về đối ngoại, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại cũng như của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề này

5.2 Nguồn tài liệu:

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các nguồn tư liệu chính sau:

- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tác phẩm lý luận của các lãnh tụ Đảng, Nhà nước ta về vấn đề quan

Trang 15

hệ quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế làm cơ sở lý luận, định hướng cho chương trình nghiên cứu

- Các văn kiện của Đảng, Nhà nước, biên bản các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Ban Thường vụ Trung ương, Báo cáo ngành ngoại giao; các hiệp định quốc tế Việt Nam tham gia ký kết; các bài phát biểu, bài viết, trả lời phỏng vấn, thư, điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ1946-

1954 là nguồn tư liệu cơ bản giúp chúng tôi nghiên cứu đề tài

- Các công trình nghiên cứu khoa học về lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam, lịch sử Đảng ; các bài nghiên cứu về hoạt động đối ngoại, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Đây là nguồn tư liệu quan trọng trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp

- Hồi ký của cá nhân trong và ngoài nước, những người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hoạt động tranh thủ, phát huy sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Nam

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp của cả hai phương pháp này là những phương pháp chính được tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: sưu tầm, tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu để chọn lọc nguồn tư liệu và lấy thông tin phục vụ quá trình nghiên cứu

đề tài

6 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận làm rõ một nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đó là sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội trên thế giới; của các nước anhem trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cũng như của những người bạn láng giềng Do vậy, kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho các cá

Trang 16

nhân quan tâm,nghiên cứu về lĩnh vực đối ngoại nói chung và về các vấn đề

liên quan đến đề tài nói riêng

Khóa luận cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu để bổ sung trưng bày và nội dung thuyết minh cho cán bộ Hệ thống Bảo tàng và Di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước, góp phần quan trọng trong việc giữ gìn

và phát huy di sản văn hóa Hồ Chí Minh với nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế

7 Kết cấu của khóa luận

Khóa luận gồm: phần Mở đầu, 3 chương, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo

Trang 17

CHƯƠNG 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO TOÀN DÂN VỪA TỰ LỰC CÁNH SINH VỪA TÌM

KIẾM SỰ ỦNG HỘ VÀ GIÚP ĐỠ QUỐC TẾ

Có Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với 15 năm lãnh đạo cách mạng thành công, truyền thống đoàn kết, bất khuất của dân tộc ta ngày càng được phát huy cao độ; Đảng ta ngày càng trưởng thành, bắt rễ sâu vào quần chúng và dày dặn kinh nghiệm lãnh đạo Sau khi đất nước độc lập, Đảng kịp thời mở rộng đội ngũ, đào tạo cán bộ,tăng cường lãnh đạo mọi mặt hoạt động, chuẩn bị tổ chức cho toàn dân bước vào cuộc đấu tranh mới

Đứng đầu Đảng và Nhà nước cách mạng là vị lãnh tụ thiên tài, có uy tín tuyệt đối trong nhân dân.Chủ tịch Hồ Chí Minh tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam.Cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú cùng với uy tín rộng lớn của Người là ngọn

cờ tập hợp các tầng lớp nhân dân xung quanh Đảng và Chính phủ

Chính quyền cách mạng được thiết lập từ Trung ương đến địa phương

Có Mặt trận đoàn kết toàn dân.Nhân dân quyết tâm bảo vệ và xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân Mặt trận Việt Minh phát triển nhanh chóng, các Hội Cứu quốc trong công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ được tổ chức thống nhất trong cả nước Nhiều Hội Cứu quốc mới được ra đời, tập hợp thêm

Trang 18

những tầng lớp yêu nước còn đứng ngoài Mặt trận, như Công thươngCứu quốc, Phật giáo Cứu quốc, Đoàn Hướng đạo Cứu quốc, Đoàn Sinh viên Cứu quốc…Mặt trận Việt Minh thực sự trở thành ngọn cờ đoàn kết toàn dân rộng rãi, giữ vai trò rất quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân

Có quân đội được tổ chức chính quy bảo vệ Nhà nước.Thực hiện chủ trương

vũ trang toàn dân, nhân dân ta tích cực xây dựng lực lượng.Chỉ trong thời gian ngắn, lực lượng vũ trang bao gồm các đơn vị Giải phóng quân và các đội

tự vệ chiến đấu phát triển nhanh chóng.Dù trang bị vũ khí rất thô sơ và thiếu thốn, chưa có nhiều kinh nghiệm tác chiến, nhưng có tinh thần chiến đấu dũng cảm, là lực lượng đáng tin cậy trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng

1.1.1.2 Khó khăn

Tuy nhiên, bên cạnh những nhân tố thuận lợi nói trên là những khó khăn, thử thách mà cách mạng Việt Nam phải đối mặt ngay sau Cách mạng tháng Tám:

Về chính quyền: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời chưa được một nước nào trên thế giới công nhận; khối đại đoàn kết toàn dân trong mặt trận dân tộc thống nhất và cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền cách mạng còn đang phải tiếp tục củng cố và mở rộng; lực lượng vũ trang cách mạng còn non trẻ, trang thiết bị kém, thiếu thốn đủ mọi bề, kinh nghiệm chiến đấu còn quá

Trang 19

Nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 làm 2 triệu người chết đói vẫn chưa khắc phục được thì nguy cơ một nạn đói mới đang đe dọa nhân dân ta

Về Tài chính:

Tài chính nước tâ trong buổi đầu trống rỗng, ngân sách quốc gia lúc đó chỉ có 1.230.000 đồng, quá nửa tiền rách

Nhà nước chưa nắm được ngân hàng Đông Dương

Quân Tưởng tung ra thị trường giấy bạc “ Quan kim” và “Quốc tệ” đã mất giá trị, ngày càng làm cho tình hình tài chính và thương mại thêm phức tạp

Về văn hóa-giáo dục:

Sau Cách mạng Tháng Tám hơn 90% dân số nước ta bị mù chữ do chính sách ngu dân của thực dân và phong kiến

Di sản văn hóa của thực dân- phong kiến để lại nặng nề, đó là các tệ nạn

xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút…khá phổ biến

Về ngoại xâm:

Ở phía Bắc vĩ tuyến 16, hơn 20 vạn quân Tưởng cùng bọn phản động (Việt Quốc, Việt Cách) với danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật đã ồ ạt kéo vào nước ta, nhưng thực chất là cướp nước ta Quân Tưởng nuôi dã tâm: tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, phá tan Việt Minh, lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh và dựng lên một chính quyền tay sai

Ở phía Nam vĩ tuyến 16, thực dân Anh dưới danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp quân đội Nhật đã giúp Pháp quay trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai Ngay từ ngày 2-9-1945, giũa lúc nhân dân Sài Gòn mít tinh mừng ngày tuyên bố độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một số tên thực dân phản động Pháp đã nấp trong các khu nhà, xả súng bắn ra làm 47 người chết và nhiều người bị thương Ngày 23-9-1945, quân đội Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ hai

Trang 20

Lúc này, ở nước ta còn khoảng 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp, trong đó có một bộ phậntheo lệnh của đế quốc Anh đánh lại lực lượng vũ trang của ta, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng

Về nội phản:

Các phần tử tay sai của thực dân Pháp, như Nguyễn Văn Xuân, Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn Tâm…mưu toan ngóc đầu dậy, chuẩn bị đón chủ cũ trở lại

Các tổ chức chính trị phản động thân Nhật, như Đại Việt Cách mạng đảng, Đại Việt Quốc dân đảng, Đại Việt Duy Tân đảng…do Trần Trọng Kim, Trần Văn An, Ngô Đình Diệm…cầm đầu cũng ráo riết hoạt động

Một số phần tử trong các đạo Thiên chúa, Hòa hảo, Cao đài…vẫn lợi dụng thần quyền và lòng sùng đạo của tín đồ để hoạt động chia rẽ, chống phá cách mạng

Bọn Tơrốtxkít dưới chiêu bài cách mạng triệt để tung ra những khẩu hiệu quá khích: đòi tăng lương ngay cho công nhân; đòi tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân; đòi đánh đổ tất cả các đế quốc cùng một lúc…Chúng hô hào liên kết thợ thuyền và dân cày, đấu tranh chống tư sản và địa chủ, nhằm phá hoại mặt trận đoàn kết dân tộc…

Chưa bao giờ trong một thời gian, cách mạng Việt Nam phải đối phó với nhiều loại kẻ thù , thế lực, đảng phái chính trị phản động như thời điểm này Chúng có thể mâu thuẫn với nhau về lợi ích, nhưng đều thống nhất với nhau trong âm mưu chống cộng sản, thủ tiêu chính quyền cách mạng, xóa bỏ thành quả mà cuộc Cách mạng Tháng Tám vừa giành được Chính quyền dân chủ nhân dân và vận mệnh đất nước lúc này rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.Đây chính là tình hình đặc biệt hiểm nghèo của cách mạng Việt Nam

Trang 21

1.1.2 Bối cảnh quốc tế

Đặc điểm nổi bật của tình hình quốc tế sau Chiến tranh Thế giới thứ hai

là lực lượng hòa bình, dân tộc, dân chủ trên thế giới đang trên đà tiến công mạnh mẽ vào chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản cách mạng dưới nhiều hình thức và tính chất khác nhau

Tình hình các nước đế quốc chủ nghĩa cũng có nhiều biến động Ba nước phát xít: Đức, Italia, Nhật đã bị lực lượng Đồng minh đánh bại, hậu quả chiến tranh nặng nề: kinh tế kiệt quệ, tiềm lực quốc phòng suy giảm, chính trị -xã hội khủng hoảng, đời sống nhân dân khó khăn, [42, tr 216] Anh, Pháp, tuy là những nước thắng trận nhưng cũng kiệt quệ về kinh tế, quân sự, vị trí quốc tế giảm sút nghiêm trọng Với mục đích lôi kéo Pháp chống lại âm mưu của Mỹ nhằm phi thực dân hóa các thuộc địa cũ, nên Chính phủ Anh đã tích cực ủng

hộ thực dân Pháp quay lại và xác lập quyền lực ở Đông Dương Các nước đếquốc vừa thống nhất với nhau trong mục tiêu chống Liên Xô và phong trào cách mạng thế giới, vừa mâu thuẫn gay gắt với nhau trong cuộc tranh quyền lợi, ảnh hưởng

Đối với thực dân Pháp, bất chấp những sự kiện đã và đang diễn ra ở Đông Dương, Pháp quyết tâm khôi phục chế độ thực dân ở Việt Nam và các nước Lào, Campuchia.Âm mưu đó được Pháp chuẩn bị rất khẩn trương cả về chính trị, quân sự và ngoại giao ngay từ khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai chưa kết thúc.Tháng 12-1944, Pháp đã ký với Liên Xô bản Hiệp ước Xô-Pháp

có thời hạn trong vòng 20 năm Trong đó, điều 5 của Hiệp ước quy định: hai bên cam kết không can dự vào công việc nội bộ của nhau, không tham gia một liên minh nào chống lại nước kia.Với Hiệp ước này, Pháp trở thành đồng minh của Liên Xô trong cuộc đấu tranh chống phát xít

Bước ra khỏi Chiến tranh thế giới thứ hai, là một nước thắng trận nhưng nền kinh tế của Liên Xô cũng bị thiệt hại nặng nề.Trên cơ sở phát huy sức

Trang 22

mạnh thời đại đoàn kết dân tộc, Liên Xô bước ngay vào quá trình khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh với những thành tựu nổi bật

Những mâu thuẫn trên thế giới đang diễn biến khá phức tạp và ngày càng gay gắt, mà chủ yếu là mâu thuẫn giữa một bên là các lực lượng hòa bình, dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội do Liên Xô là trụ cột với một bên

là các nước đế quốc và lực lượng phản động do Mỹ cầm đầu, [42 Tr.219].Tuy nhiên, sự lớn mạnh của Liên Xô và phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ hai là những yếu tố quốc tế thuận lợi đối với cách mạng Việt Nam

1.2 Sự cần thiết tranh thủ sự ủng hộ,giúp đỡ quốc tế

1.2.1 Sự ủng hộ,giúp đỡ của quốc tế đối với cách mạng Việt Nam trước năm 1945

Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Pháp và các nước thuộc địa đòi thả tù chính trị, đòi độc lập cho Việt Nam.Bằng nhiều hình thức khác nhau như mít tinh, biểu tình, tuyên truyền cổ động trên báo chí để ủng hộ cuộc đấu tranh ở Việt Nam

Những giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam như: Quốc tế Cộng sản đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, Quốc tế Cộng sản tạo môi trường thuận lợi cho Nguyễn Ái Quốc hoạt động cách mạng, đào tạo cán bộ cho Việt Nam, ủng hộ về tinh thần và vật chất cho cách mạng Việt Nam [23, tr.20]

Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ lãnh đạo của Đảng ta nghiên cứu, học tập những kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới để vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam

Hoạt động của lực lượng Đồng minh (đội con Nai-Mỹ) đã có những giúp

đỡ nhất định với cách mạng Việt Nam.Mỹ đã hỗ trợ Việt Nam rất tích cực

Trang 23

bằng hàng loạt các chuyến máy bay vận tải khí tài hạ cánh xuống Tuyên Quang và cho toán sĩ quan tình báo Con Nai nhảy dù xuống căn cứ địa Việt Bắc, giúp Mặt trận Việt Minh huấn luyện đội quân vũ trang Đỉnh cao của sự hợp tác này là sự ra đời của đơn vị vũ trang hỗn hợp Việt – Mỹ, có thời điểm lên đến 200 người Ngày 17/8, đơn vị này đã xuất phát hành quân về giải phóng thị xã Thái Nguyên và theo Hồ Chí Minh về Hà Nội, chứng kiến sự ra đời của nước Việt Nam DCCH trong ngày 2/9/1945 lịch sử

1.2.2 Sự cần thiết của tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế

Tranh thủ sự ủng hộ quốc tế là cần thiết trong hoàn cảnh khó khăn của Việt Nam sau khi nước nhà giành được độc lập để chống lại kẻ thù mạnh hơn

ta nhiều lần.Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế không chỉ về vật chất

mà cả về mặt tinh thần để chúng ta có thể giành được thắng lợi trước đế quốc Pháp

Cách mạng Việt Nam luôn là một bộ phận của cách mạng thế giới nên phải được đặt trong dòng chảy của phong trào cách mạng thế giới.Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.Đảng ta đã có mối quan hệ chặt chẽ với cách mạng thế giới Cách mạng Việt Nam gắn liền với cách mạng thế giới, nhờ đó

mà luôn được sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế đặc biệt là Quốc tế Cộng sản và các Đảng cộng sản anh em

1.3.Chủ trương,chỉ đạo của Đảng đối với việc tranh thủ sự ủng hộ,giúp

đỡ quốc tế

1.3.1 Chủ trương của Đảng

Trên cơ sở phân tích một cách khoa học tình hình thế giới, những khó khăn và thuận lợi của cách mạng Việt Nam, dự đoán đúng xu thế phát triển của thời đại cũng như tầm quan trọng của việc tranh thủ, phát huy sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã dành sự quan tâm đặc biệt đến việc hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại của

Trang 24

Đảng và Nhà nước Đường lối đó được thể hiện rất rõ trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước ta ngay trước và sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập như : Nghị quyết Hội nghị toàn quốc của Đảng (họp từ ngày

13 đến 15-8-1945); Tuyên ngôn độc lập (2-9-1945); Thông cáo về chính sách ngoại giao của Chính phủ lâm thời Dân chủ Cộng hòa Việt Nam (3-10-1945); Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng về kháng chiến, kiến quốc (25-11-1945); Tuyên ngôn của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-3-1946); Nghị quyết Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng (19-10-1946); Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, ngày 12-12-

1946, các bài phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với báo chí nước ngoài, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) của Chủ tịch Hồ Chí Minh,…

Trong các văn kiện, tài liệu trên, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định mục tiêu chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là độc lập dân tộc, hòa bình và hữu nghị với nhân dân thế giới, nhằm đưa nước nhà đến độc lập hoàn toàn; góp phần cùng các nước Đồng minh chống phát xít trên cơ

sở các nguyên tắc dân chủ được các liệt quốc thừa nhận nhằm xây đắp lại nền hòa bình thế giới Đó là chính sách nhằm thêm bạn bớt thù; lợi dụng mâu thuẫn, phân hóa hàng ngũ đối phương; hết sức tránh trường hợp một mình phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc; kết hợp đấu tranh ngoại giao với xây dựng thực lực; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân các nước yêu chuộng hòa bình, kể cả nhân dân tiến bộ Pháp [32]

1.3.2 Qúa trình Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ,giúp đỡ quốc tế 1949)

(1945-1.3.2.1 Tìm kiếm sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng hòa bình dân chủ trên thế giới đối với cách mạng Việt Nam

Trang 25

Trong điều kiện cuộc kháng chiến của nhân dân ta hầu như bị cô lập với bên ngoài, ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến việc tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng dân chủ trên thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta mà chỗ dựa chủ yếu là các lực lượng đấu tranh giải phóng dân tộc Á- Phi, các nước thuộc khu vực Đông Nam Á và Nam Á, các nước dân chủ nhân dân Đông Âu.Thông qua các hoạt động ngoại giao của Nhà nước, ngoại giao nhân dân, cánh cửa hậu phương quốc tế từng bước được mở ra với cách mạng Việt Nam

Một bước đột phá quan trọng của ngoại giao Việt Nam thời kỳ này là Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở rộng quan hệ ở phía Tây Nam, thiết lập các liên hệ trực tiếp với một số nước Đông Nam Á và từ địa bàn này

mở rộng tiếp xúc, tuyên truyền quốc tế, phát triển ngoại giao nhân dân, tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới đối với cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược

Sau khi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, một cơ quan đại diện của Chính phủ Việt Nam đã được đặt ở Băngcốc từ tháng Tám năm 1946, gọi là Phái viên quán Thư giới thiệu đại diện Chính phủ ta với Chính phủ Thái Lan do quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng ký ngày 7 tháng 7 năm 1946 Cơ quan của phái viên Chính phủ gồm một văn phòng làm nhiệm vụ liên hệ với các chính phủ và cơ quan đại diện nước ngoài, với Việt kiều ở Nam Mỹ, Mỹ,….Thông qua cơ quan này, họ vẫn thường gửi thư và tiền về ủng hộ kháng chiến Bên cạnh đó, có một Sở thông tin ra bản tin tiếng Việt, Thái và Anh để gửi cho Việt kiều, các đại sứ quán các nước và các tổ chức quốc tế Cơ quan phái viên chuyển về Việt Bắc bằng điện đài các phỏng vấn của các nhà báo quốc tế và chuyển các câu trả lời từ trong nước bằng tiếng Anh cho các nhà báo

Trang 26

Từng bước, Băngcốc (Thái Lan) đã trở thành đầu mối quốc tế chủ yếu để mở rộng hoạt động của Việt Nam ở hải ngoại.Tại đây, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiếp xúc với đại diện của nhiều nước, trong đó có Liên Xô

Từ Thái Lan, Việt Nam đã cử các đại biểu đi dự các hoạt động quốc tế và tiếp xúc, liên lạc với một số nước châu Á, châu Âu, trong đó có Miến Điện, Tiệp Khắc, Inđônêxia, cử phái viên đi Diên An (Trung Quốc)

Tháng 2 năm 1948, ngay sau khi Miến Điện tuyên bố độc lập, Đảng ta

và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định cử cán bộ ngoại giao tới Rănggun lập cơ quan đại diện với sự giúp đỡ cơ sở vật chất của Chính phủ Miến Điện và được hưởng quy chế ngoại giao Ở đây ta cũng lập được một phòng thông tin, có điện đài để liên hệ với Việt Bắc, nhờ đó trong nước có được những thông tin

về tình hình quốc tế Chính phủ Miến Điện đã đài thọ mọi chi phí cho hoạt động của hai cơ quan và quyết định giúp Việt Nam 500 khẩu súng Nhờ hoạt động hiệu quả nên khi cơ quan của ta ở Thái Lanbị thu hẹp dần hoạt động, cơ quan Rănggun đã trở thành đầu mối chính ở khu vực, duy trì được một số quan hệ quốc tế của ta đã có Sau này, khi ta mở được đại sứ quán Việt Nam

tạ Bắc kinh, vai trò của cơ quan đại diện ở Rănggun giảm sút nhưng đại diện Chính phủ ta cùng một số ít cán bộ vẫn tiếp tục nhiệm vụ cho đến khi hòa bình lập lại ở Việt Nam Năm 1959, khi Thủ tướng Miến Điện U Nu thăm Việt Nam, cơ quan này chuyển thành Tổng lãnh sự quán

Tháng 2 năm 1948, Đảng ta quyết định cử một đoàn cán bộ làm nhiệm

vụ tuyên truyền và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế để ra nước ngoài hoạt động Đoàn gồm 10 người đều là những cán bộ trẻ, biết ngoại ngữ Trước khi đoàn lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thưđộng viên, căn dặn các thành viên ghi nhớ: mình là đại biểu cho thanh niên yêu nước ra ngoài để giúp anhem công tác, để tuyên truyền cho thanh niên và cho cả dân tộc Việt Nam Sau này, Chính phủ ta tiếp tục cử nhiều đoàn đại biểu đi dự các hội nghị : Thanh

Trang 27

niên Châu Á ở Callcuta (2-1948), thăm hữu nghị thanh niên Thái Lan, thanh niên Hoa kiều ở Thái (4-1948),Hội nghị thanh niên sinh viên tương trợ Châu

Á ở Ấn Độ (7-1948), Hội nghị thanh niên dân chủ thế giới ở Tiệp Khắc 1948), Hội nghị thanh niên cần lao quốc tế ở Ba Lan (8-1948), Tuần lễ sinh viên thế giới lần thứ hai ở Buđapét (8-1948), Đại hội hòa bình thế giới lần đầu tiên ở Pari (4-1949), Hội nghị Liên hiệp công đoàn thế giới ở Milan (6-1949) Các đoàn đại biểu của ta đã mang tiếng nói và lập trường chính nghĩa của Chính phủ Hồ Chí Minh tới diễn đàn các hội nghị, góp phần thiết thực nâng cao vị thế quốc tế của Chính phủ ta và làm cho nhân dân thế giới hiểu và

(2-đi đến đồng tình, ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam

1.3.2.2 Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp

Đảng Cộng sản Pháp từ lâu đã có quan hệ mật thiết với Đảng ta và có nhiều hoạt động ủng hộ cách mạng Việt Nam Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào dân chủ ở Pháp phát triển mạnh mẽ, Đảng Cộng sản Pháp giành được nhiều thắng lợi trong đấu tranh nghị trường và có đại diện trong Chính phủ Một số người lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp cho rằng, với sự can thiệp của những người cộng sản, Chính phủ Pháp sẽ có những chính sách tiến

bộ và vấn đề thuộc địa sẽ được giải quyết Tuy nhiên, do thiếu thông tin, Đảng Cộng sản Pháp không nắm được tình hình và thực chất của vấn đề Do vậy, lúc đầu, sau chiến tranh thế giới, Đảng Cộng sản Pháp đã không có hành động phản đối, thậm chí một số người còn ủng hộ việc nước Pháp quay trở lại Đông Dương

Đứng trước thực tế trên, trong văn bản Tình hình và chủ trương ra

ngày 3-3-1946, Đảng ta quyết định phải liên lạc mật thiết ngay với Đảng Cộng sản Pháp để thực hiện hành động chung giữa ta và các đồng chí Pháp

Trang 28

Ngay sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược trở lại Việt Nam và ngày càng mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương Đảng ta và Chủ tịch

Hồ Chí Minh chủ trương vừa lãnh đạo nhân dân kiên quyết đấu tranh bảo vệ

Tổ quốc mà trước hết bằng con đường hòa bình, thương lượng, vừa tiến hành các hoạt động tích cực nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân tiến bộ Pháp với cách mạng Việt Nam

Tuy nhiên, với dã tâm quay trở lại xâm lược Đông Dương bằng mọi giá, thực dân Pháp đã làm cho quá trình đàm phán, thương lượng giữa Việt Nam

và Pháp vô cùng khó khăn Mặc dù vậy, tiến trình đó cũng đem lại những kết quả bước đầu với việc Việt Nam và Pháp ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, tại Hà Nội Đây là một chủ trương rất táo bạo, sáng suốt của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là hiệp định quốc tế đầu tiên mà Chính phủ ta

ký với nước ngoài Nước Pháp phải công nhận Việt Nam là một quốc gia tự

do, không còn là thuộc địa của Pháp; ta đẩy được 20 vạn quân Tưởng ra khỏi Việt Nam và tiến tới quét sạch tay sai của Tưởng, tránh được tình trạng cùng một lúc phải đối phó với hai kẻ thù nguy hiểm; đồng thời ta tranh thủ thời gian hòa bình để củng cố và phát triển lực lượng, chuẩn bị sẵn sang bước vào giai đoạn cách mạng mới.Cuộc điều đình này cũng mở ra con đường để quốc

tế thừa nhận ta, nó sẽ dẫn đến vị trí ngày càng chắc chắn trên trường quốc tế Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ kẻ thù Pháp Mặc dù nhận định chính xác Hiệp định Sơ bộ sẽ bị phản bội nhưng Người vẫn chủ trương kiên trì đấu tranh đòi phía Pháp phải mở cuộc đàm phán chính thức nhằm duy trì cục diện hòa hoãn và nâng cao vị thế của nước ta Ngày 7-3-1946 trong buổi tiếp Uỷ viên Cộng hòa Pháp, ông J Sainteny (xanhtơni) tại Bắc Bộ Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo cho phía Pháp biết Chính phủ Việt Nam quyết định chọn Pari làm địa điểm đàm phán chính thức Việt –Pháp Người mong rằng, hai bên cố gắng để đàm phán càng nhanh càng tốt

Trang 29

Ngày 16-4-1946, phái đoàn Quốc hội Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm Pháp Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ân cần dặn dò: Phái đoàn có ba việc phải làm là đoàn kết, cẩn thận, làm cho người Pháp hiểu ta,

để gây tình hữu nghị giữa hai dân tộc.Trong thời gian ở Pháp, phái đoàn Quốc hội ta đã tiếp xúc với nhiều nghị viên Quốc hội Pháp, với các chính đảng, các nhà báo cùng các nhân sĩ, trí thức của nước Pháp.Chuyến thăm Pháp của phái đoàn Quốc hội Việt Nam là một bước khẳng định trước chính giới và nhân dân Pháp vị thế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đây là cơ hội đầu tiên chúng ta làm cho chính giới Pháp hiểu rõ tình hình Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám, hiểu chính sách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là mong muốn hợp tác với nước Pháp trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi

Ngày 7-5-1946, đồng chí Phạm Văn Đồng đã đến trụ sở Trung ương Đảng Cộng sản Pháp thăm và làm việc với các đồng chí: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp, đồng chí G.Đuyclô, Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, Tại cuộc gặp gỡ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã thông báo cho các đồng chí lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp về tình hình Việt Nam, về Đảng Cộng sản Đông Dương và đường lối chủ trương của Đảng từ năm 1939, khi hai Đảng mất liên lạc với nhau

Chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh (từ 31-5 đến 18-10-1946):

Ngày 31– 5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm chính thức nước Pháp.Chuyến đi lần này của Người là để trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh ngoại giao của phái đoàn Chính phủ ta ở Hội nghị Phôngtennơblô, đồng thời phối hợp hành động với Đảng Cộng sản Pháp, tranh thủ sự đồng tình của nhân dân Pháp và thế giới

Trang 30

Thời gian ở thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gặp gỡ trao đổi với các đồng chí lãnh đạo, các đảng viên, phóng viên cộng sản Pháp Trong các cuộc gặp gỡ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày cho các đồng chí Pháp về lập trường của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chính Phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất dân tộc Người đề nghị Đảng Cộng sản Pháp hãy đi tiên phong trong cuộc đấu tranh của nhân dân Pháp chống bọn thực dân phản động, bọn cực hữu và bọn tờrốtkít – những kẻ đang hoạt động phá hoại tình hữu nghị của hai dân tộc Việt – Pháp

Qua các cuộc tiếp xúc, trao đổi nói trên, Đảng Cộng sản Pháp đã thấy

rõ hơn những vấn đề mà trước đây chỉ nghe qua báo chí của giai cấp tư sản, hoặc những báo cáo sai lệch của nhà đương cục Pháp ở Đông Dương Các cuộc tiếp xúc giữa các nhà lãnh đạo hai Đảng năm 1946 đã có một ý nghĩa rất quan trọng, mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ hợp tác và phối hợp hành động giữa những người cộng sản hai nước Việt Nam và Pháp

Ngoài những cuộc thăm viếng do Chính phủ Pháp tổ chức, trong thời gian ở thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dành nhiều thời gian tiếp xúc với mọi tầng lớp nhân dân, với chính giới các đoàn thể chính trị, xã hội, văn hóa, giới công thương Pháp và đại biểu Việt kiều ở Pháp.Trong các cuộc tiếp xúc, Người luôn tỏ ra kính trọng và đề cao tinh thần dân tộc, tinh thần kháng chiến của nhân dân Pháp.Người cố gắng làm cho họ hiểu rõ tình hình Việt Nam và tính chất chính nghĩa cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì độc lập, thống nhất của dân tộc

Những lá thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 21-12-1946; 24-12-1946; 25-5-1947;… gửi cho nhân dân Pháp; tù binh, kiều dân Pháp ở Việt Nam đã

tố cáo âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, khẳng định tính chất chính nghĩa

và ý chí kiên quyết của dân tộc Việt Nam

Trang 31

Các hoạt động trên của ta đã khiến cho Đảng Cộng sản Pháp, nhân dân tiến bộ Pháp, binh lính Pháp ở Đông Dương hiểu rõ hơn về cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam Trên cơ sở đó, họ lên tiếng ủng hộ Việt Nam, tiến hành nhiều hành động thiết thực phản đối chính quyền Pháp cùng cuộc chiến tranh mà Pháp đang thực hiện ở Đông Dương, tạo nên một hậu thuận lớn ngay trong lòng nước Pháp

1.3.2.3 Bước đầu hình thành liên minh chiến đấu với Lào và Campuchia

Sự phối hợp và liên minh chiến đấu giữa nhân dân 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia hình thành từ năm 1930 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc

Ngày 30-10-1945, đại diện Chính phủ Lào Itxala và Việt Nam Dân chủ Cộng hào ký thỏa thuận về thành lập Liên quân Lào – Việt

Năm 1946, Chính phủ Việt Nam ký với Uỷ ban Cao Miên độc lập Tuyên

bố chung “Đoàn kết Việt – Miên – Lào chống Pháp”[32, tr.109]

Các lực lượng yêu nước kháng chiến của Campuchia và Lào đã tranh thủ

sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam và phối hợp với cuộc kháng chiến của Việt Nam nhằm xây dựng lực lượng, hình thành các trung tâm lãnh đạo kháng chiến Lực lượng kháng chiến của 3 nước đã tổ chức những mặt chiến đấu hỗn hợp, bước đầu phát huy được sức mạnh của liên minh chiến đấu Việt – Miên – Lào

Ngày 15-2-1949, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ về công tác đoàn kết giúp đỡ phong trào kháng chiến Lào và Campuchia; nghiên cứu, xây dựng đường lối, tư tưởng và quan điểm của đoàn kết, liên minh Việt – Miên – Lào phù hợp với tình hình cách mạng mỗi nước, đồng thời phối hợp kháng chiến giữa 3 nước trong giai đoạn mới

1.3.2.4 Tăng cường thiết lập mối quan hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc, giúp đỡ cách mạng Trung Quốc

Trang 32

Đầu năm 1948, Đảng Cộng sản Trung Quốc cử đại diện sang Việt Bắc bàn với lãnh đạo Việt Nam việc phối hợp chiến đấu và giúp đỡ lực lượng vũ trang của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở biên giới Trung Quốc –Việt Nam Ngày 23-4-1949, một số đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam sang Trung Quốc phối hợp với Quân giải phóng Trung Quốc mở chiến dịch Thập vạn Đại Sơn, giúp bạn đánh bại quân Tưởng Giới Thạch, mở rộng khu căn cứ

Ngày 1-10-1949, Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập.Thay mặt Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện chúc mừng Tháng 11-1949, Quân giải phóng Trung Quốc tiến đến biên giới Trung Quốc – Việt Nam, hoàn thành giải phóng Hoa Nam

Tại buổi tiếp đồng chí Nguyễn Lương Bằng trong Đoàn đại biểu Đảng

và Chính phủ Việt Nam sang Bắc Kinh khoảng giữa năm 1950, Thủ tướng Chu Ân Lai đã nói: “Trong lúc Việt Nam vừa nghèo vừa gian khổ kháng chiến, lẽ ra phải được Trung Quốc giúp đỡ, thế mà các đồng chí đã hết lòng giúp đỡ Trung Quốc”[64, tr 349]

Những hoạt động trên đã tạo cơ sở thuận lợi cho mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng như sự giúp đỡ của Trung Quốc với Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở giai đoạn (1950-1954) 1.3.2.5 Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô

Luôn coi Liên Xô là thành trì của phong trào cách mạng thế giới, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm mọi biện pháp để tranh thủ sự giúp đỡ, tương trợ của bạn Trong các tháng 9 và tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi nhiều điện, công hàm đến các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi nhiều công hàm chính thức tới Chính phủ, Bộ Ngoại giao và người đại diện Liên Xô tại Liên hợp quốc Trong các bức điện đó, Người đề nghị Chính phủ Liên Xô đưa vấn đề Việt Nam bàn ở Hội đồng Bảo an và ủng hộ nước Việt Nam Dân chủ Cộng

Trang 33

hòa – một nhà nước có đầy đủ những điều kiện pháp lý gia nhập Liên Hợp Quốc Tuy nhiên, theo tài liệu lưu trữ ở Vụ Tư liệu lịch sử Bộ Ngoại giao Nga, C.P Kôdưrev – Chủ nhiệm văn phòng Châu Âu I của Bộ dân ủy Ngoại giiao Liên Xô đã đề nghị: “Không trả lời” Bởi đề xuất đó, nên những công văn chính thức, khẩn của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được chuyển thẳng vào kho lưu trữ

Thái độ im lặng của Chính phủ Liên Xô về vấn đề Đông Dương có thể lý giải bằng những lý do sau:

Thứnhất, sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô bị tàn phá nặng

nề, do đó Liên Xô rất cần hòa bình và ổn định để khôi phục kinh tế, quốc phòng Trọng tâm công tác đối ngoại của Liên Xô lúc này là xây dựng vành đai an ninh của mình mà địa bàn chủ yếu là Đông Âu và Viễn Đông

Thứ hai, để thưc hiện được mục tiêu trên, đồng thời đối phó với âm mưu cô lập Liên Xô của Mỹ - Anh, Chính phủ Liên Xô đã ký với Pháp Hiệp ước Xô – Pháp (12-1944) Điều 5 của Hiệp ước quy định hai bên cam kết không can dự vào công việc nội bộ của nhau, không tham gia một liên minh nào chống lại nước kia Chính điều đó đã ràng buộc phản ứng của Liên Xô đối với chính sách thuộc địa Pháp

Thứ ba, Chính phủ Liên Xô tin tưởng với lực lượng mạnh mẽ và có nhiều đảng viên đang nắm giữ một số chức vụ quan trọng trong Chính phủ Pháp, Đảng Cộng Pháp sẽ giúp các nước Đông Dương giải quyết được vấn

đề độc lập mà không cần có sự can thiệp của Liên Xô

Tháng 9 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử bác sỹ Phạm Ngọc Thạch

đi Thụy Sỹlàm việc với đại diện Chính phủ Liên Xô Trong cuộc gặp này, ta

đã thông báo cho người đại diện Chính phủ Liên Xô về tình hình hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương, về sách lược tự giải tán của Đảng vào tháng 11-1945, về lập trường của ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Trang 34

xâm lược Chính phủ ta đã chính thức đề nghị Chính phủ Liên Xô giúp đỡ về tài chính, quân sự và yêu cầu Liên Xô đưa vấn đề xung đột Pháp – Việt ra Liên Hợp Quốc

Tuy nhiên, do nhiều lý do, Chính phủ Liên Xô chưa muốn công khai can thiệp vào vấn đề chiến tranh Đông Dương vào thời điểm này

Mặc dù những yêu cầu của Chính phủ Việt Nam chỉ được Matxcơva tiếp nhận “một cách dè dặt” và không có sự trả lời, song phần nào đã tác động đến dư luận Liên Xô Các cơ quan thông tin đại chúng của Liên Xô đã lên tiếng phản đối chủ nghĩa thực dân, chống chiến tranh xâm lược và yêu cầu Liên Hợp Quốc can thiệp giải quyết vấn đề độc lập cho các dân tộc vốn là thuộc địa của các nước đế quốc

1.3.2.6 Kêu gọi sự đồng tình, ủng hộ của Liên Hợp Quốc và Mỹ

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng ta và Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã có nhiều hoạt động tìm kiếm sự ủng hộ của Liên Hợp Quốc, yêu cầu Liên Hợp Quốc, Mỹ can thiệp để các nước có liên quan cùng với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giải quyết vấn đề Việt Nam trên tinh thần Hiến chương Liên Hợp Quốc

Tuy nhiên, những nỗ lực trên của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không được Liên Hợp Quốc cũng như Chính phủ của Tổng thống Tơruman đáp lại Ngược lại, đúng như Đảng ta đã dự liệu, để lôi kéo Anh, Pháp tham gia chiến lược toàn cầu của Mỹ, Mỹ đã chấp nhận hy sinh quyền lợi ở khu vực Đông Nam Á Tơruman quyết tâm giúp Pháp trở lại Đông Dương bằng mọi cách, kể cả bằng vũ lực.Mặc dù vậy, những hoạt động nhằm tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm vào Liên Hợp Quốc và nước Mỹ lúc này không phải không có kết quả.Thông qua các hoạt động này, Chính phủ và nhân dân Mỹ cũng như nhân dân tiến bộ trên thế giới hiểu rõ tình hình Việt Nam và lập trường chính nghĩa của Chính phủ ta

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Có thể khẳng định rằng, nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trong điều kiện hết sức khó khăn, nằm trong thế bị bao vây, cô lập và cùng lúc phải đối phó với nhiều loại kẻ thù.Đứng trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhận thức rất rõ tầm quan trọng của sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế.Tuy nhiên, những nỗ lực tìm kiếm, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh thời gian này, đặc biệt là sự ủng hộ về vật chất đối với cuộc kháng chiến hầu như chưa có kết quả Do đó,thời kỳ từ năm 1945 đến 1949, Đảng chủ trương lãnh đạo nhân dân thực hiện phương châm “tự lực cánh sinh”, “dựa vào sức mình là chính” để chống thực dân Pháp.Trên tinh thần, mở rộng quan hệ quốc

tế nhằm tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế Đó là những quyết định đúng đắn và vô cùng sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhờ đó ta mới

có thể xây dựng lực lượng, giữ vững được chính quyền cách mạng ở thời kì khó khăn này

Ngày đăng: 14/11/2016, 09:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh, trực thuộc Bộ chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học (1996), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh, trực thuộc Bộ chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
2. Ban chỉ đạo tổng kết cuộc chiến tranh,trực thuộc Bộ Chính trị (2000),Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975:Thắng lợi và bài học,Nxb Chính trị quốc gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975:Thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết cuộc chiến tranh,trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
3. Ban ký sự lịch sử - Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (1983), Trận đánh ba mươi năm, tập 1, Nxb Quân đôi nhân dân,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trận đánh ba mươi năm
Tác giả: Ban ký sự lịch sử - Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đôi nhân dân
Năm: 1983
4.Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ƣơng (1979), Những sự kiện lịch sử Đảng (1945-1954),tập 2,Nxb Sự thật,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Những sự kiện lịch sử Đảng (1945-1954
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ƣơng
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1979
5.Báo cáo công tác của Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc năm 1952,Tài liệu lưu tại cục văn thư và lưu trữ quốc gia,Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Phòng phủ Thủ tướng,Mục lục số2,Đơn vị bảo quản số 1814 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác của Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc năm 1952
6. Báo cáo thường kỳ của Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô năm 1953- 1954,Tài liệu lưu tại Cục văn thư và lưu trữ quốc gia,Trung tâm lưu trữ quốc gia III,phông Phủ Thủ tướng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường kỳ của Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô năm 1953-1954
7. Bộ Ngoại giao (1975),Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1945-1954),tập 1,Tài liệu lưu tại Phòng lưu trữ Bộ Ngoại giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1945-1954)
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Năm: 1975
8. Bộ Ngoại giao (1976), Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1945-1954), tập 2, Tài liệu lưu tại Phòng lưu trữ Bộ Ngoại giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1945-1954)
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Năm: 1976
9. Bộ Ngoại giao Việt Nam - Bộ Ngoại giao Liên Xô (1983), Việt Nam –Liên Xô 30 năm quan hệ , Nxb Tiến Bộ, Matxcova Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam –Liên Xô 30 năm quan hệ
Tác giả: Bộ Ngoại giao Việt Nam - Bộ Ngoại giao Liên Xô
Nhà XB: Nxb Tiến Bộ
Năm: 1983
10. Bộ Ngoại giao (1979):Sựthật quan hệ Việt Nam-Trung Quốc 30 năm qua, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sựthật quan hệ Việt Nam-Trung Quốc 30 năm qua
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1979
11.Bộ Quốc phòng –Viện Lịch sử quân sự (1994),Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,tập 1, Nxb Quân đội nhân dân,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Tác giả: Bộ Quốc phòng –Viện Lịch sử quân sự
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1994
12. Bộ Quốc phòng –Viện Lịch sử quân sự (1995),Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,tập 2,Nxb Quân đội nhân dân,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Tác giả: Bộ Quốc phòng –Viện Lịch sử quân sự
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1995
13. Nguyễn Đình Bin (chủ biên) (2002), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam 1945-2000
Tác giả: Nguyễn Đình Bin (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
14.Coobelep E.(2000),Đồng chí Hồ Chí Minh, NxbThanh niên,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng chí Hồ Chí Minh
Tác giả: Coobelep E
Nhà XB: NxbThanh niên
Năm: 2000
15. Nguyễn Thị Kim Dung (1998), Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại thời kỳ 1945- 1945, Luận án tiến sĩ lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại thời kỳ 1945- 1945
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Năm: 1998
16. Đảng Cộng sản Việt Nam chặng đường qua hai thế kỷ (2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam chặng đường qua hai thế
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam chặng đường qua hai thế kỷ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986),Văn kiện Đảng về kháng chiến chống Pháp,tập 1,Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng về kháng chiến chống Pháp
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1988),Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp,tập 2,Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1988
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000),Văn kiện Đảng,toàn tập ,tập 6, Nxb Chính trị quốc gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng,toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000),Văn kiện Đảng,toàn tập,tập 7, Nxb Chính trị quốc gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng,toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w