LỜI CẢM ƠN Ngoài sự nỗ lực của bản thân, trong quá trình thực hiện luận án chúng tôi nhận được sự gợi ý và hướng dẫn tận tình, chu đáo của GS.TS Lê Chí Quế, Trường Đại học Khoa học xã hộ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRIỆU VĂN THỊNH
HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRONG SỬ THI M’NÔNG VÀ VẤN ĐỀ THỂ LOẠI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRIỆU VĂN THỊNH
HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRONG SỬ THI M’NÔNG VÀ VẤN ĐỀ THỂ LOẠI
CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC DÂN GIAN
MÃ SỐ: 62.22.36.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 GS TS Lê Chí Quế
2 PGS TS Đỗ Hồng Kỳ
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dẫn liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận án
Triệu Văn Thịnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Ngoài sự nỗ lực của bản thân, trong quá trình thực hiện luận án chúng tôi nhận được sự gợi ý và hướng dẫn tận tình, chu đáo của GS.TS Lê Chí Quế, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, của PGS.TS Đỗ Hồng Kỳ, Viện nghiên cứu Tôn giáo - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Luận án còn có sự giúp đỡ về tài liệu, sự động viên khích lệ và những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo thuộc Khoa Văn học, Trường Đại học Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Xin trân trọng gửi tới quý thầy cô giáo lời biết ơn chân thành và sâu sắc
Trang 5MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 9
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
5 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
6 Đóng góp mới của luận án Error! Bookmark not defined.
7 Cấu trúc của luận án Error! Bookmark not defined.
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨUError! Bookmark not defined.
1.1 Khái quát về dân tộc M’nông Error! Bookmark not defined.
1.1.1 Địa bàn cư trú, đặc điểm xã hội và thành phần tộc ngườiError! Bookmark not defined.
1.1.2 Đời sống văn hoá của người M’nông Error! Bookmark not defined.
1.1.2.1 Đời sống văn hoá vật chất Error! Bookmark not defined.
1.1.2.2 Đời sống văn hoá tinh thần Error! Bookmark not defined.
1.2 Kho tàng văn học dân gian Error! Bookmark not defined.
1.2.1 Các tác phẩm thuộc loại hình văn xuôi tự sự Error! Bookmark not defined.
1.2.2 Các tác phẩm thuộc loại hình văn vần Error! Bookmark not defined.
1.3 Những vấn đề cơ bản của Ot Ndrong Error! Bookmark not defined.
1.3.1 Những vấn đề cơ bản về nội dung của sử thi M’nôngError! Bookmark not defined.
1.3.1.1 Ot Ndrong phản ánh vũ trụ quan và nhân sinh quan của người M’nôngError! Bookmark not defined 1.3.1.2 Ot Ndrong phản ánh những vận động, chuyển biến lớnError! Bookmark not defined.
1.3.1.3 Ot Ndrong là “bách khoa thư” của người M’nôngError! Bookmark not defined.
1.3.2 Hình thức thể hiện chính của Ot Ndrong Error! Bookmark not defined.
1.3.2.1 Mấy vấn đề về ngôn ngữ của Ot Ndrong Error! Bookmark not defined.
1.3.2.2 Biện pháp xây dựng cốt truyện và nhân vậtError! Bookmark not defined.
1.3.2.3 Một số thủ pháp nghệ thuật của Ot NdrongError! Bookmark not defined.
1.4 Một số vấn đề lý luận về sử thi Error! Bookmark not defined.
1.4.1 Quan niệm về sử thi của các nhà nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
1.4.1.1 Quan niệm về sử thi của một số nhà nghiên cứu ngoài nướcError! Bookmark not defined.
1.4.1.2 Quan niệm về sử thi của các nhà nghiên cứu Việt NamError! Bookmark not defined.
Trang 61.4.2 Quan niệm của người M’nông về Ot NdrongError! Bookmark not defined.
1.5 Tiểu kết Error! Bookmark not defined.
Chương 2 HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRONG SỬ THI M’NÔNGError! Bookmark not defined.
2.1 Nhân vật văn học Error! Bookmark not defined.
2.2 Các tuyến nhân vật trong sử thi M’nông Error! Bookmark not defined.
2.2.1 Nhân vật trung tâm Error! Bookmark not defined.
2.2.1.1 Nhân vật khai thiên lập địa Error! Bookmark not defined.
2.2.1.2 Nhân vật anh hùng văn hóa Error! Bookmark not defined.
2.2.1.3 Nhân vật anh hùng chiến trận Error! Bookmark not defined.
2.2.2 Các loại nhân vật khác Error! Bookmark not defined.
2.2.2.1 Nhân vật thần kỳ Error! Bookmark not defined.
2.2.2.2 Nhân vật người đẹp Error! Bookmark not defined.
2.2.2.3 Nhân vật đối lập Error! Bookmark not defined.
2.2.2.4 Nhân vật cộng đồng Error! Bookmark not defined.
2.2.2.5 Nhân vật truyền tin Error! Bookmark not defined.
2.3 Tiểu kết Error! Bookmark not defined.
Chương 3 VẤN ĐỀ THỂ LOẠI CỦA SỬ THI M’NÔNGError! Bookmark not defined.
3.1 Môi trường diễn xướng của sử thi M’nông Error! Bookmark not defined.
3.2 Chức năng của sử thi M’nông Error! Bookmark not defined.
3.3 Cách cấu tạo đề tài Error! Bookmark not defined.
3.4 Cốt truyện của sử thi M’nông Error! Bookmark not defined.
3.5 Cách thức xây dựng nhân vật của sử thi M’nôngError! Bookmark not defined.
3.6 Cơ sở xã hội và nội dung phản ánh của sử thi M’nôngError! Bookmark not defined.
3.7 Tiểu kết Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sử thi là một thể loại có giá trị đặc biệt trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Những kết quả sưu tầm và nghiên cứu gần đây, càng cho chúng ta
có cơ sở để đưa ra nhận định trên Sử thi là thể loại văn học có tính nguyên hợp, ngoài những giá trị về văn học nghệ thuật, nó còn chứa đựng những tư liệu quý về lịch sử, tư tưởng, văn hoá, phong tục tập quán v.v
Người đầu tiên sưu tầm và xuất bản sử thi Tây Nguyên là viên công sứ
người Pháp tên là Léopold Sabatier Năm 1927, L Sabatier công bố sử thi Dăm Săn bằng tiếng Pháp, tại Pari Trong lời tựa của cuốn sách, một nhà văn người
Pháp cho rằng đây là tác phẩm văn học cuối cùng của người Êđê: “Nhưng cay đắng thay, bằng chứng về văn chương của người Mọi cũng là cái cuối cùng”[128/15] Đó là một nhận xét có phần vội vàng và võ đoán, bởi sự phát
hiện ra Dăm Săn mới chỉ là bước khởi đầu cho công việc sưu tầm và khám phá
kho tàng sử thi phong phú và đa dạng của Tây Nguyên Tiếp đó, vào năm 1955, các học giả người Pháp khác tên là Dominique Antomarchi và Goerges
Condominas cho công bố tác phẩm Dăm Di (D Antomarchi sưu tầm và G
Condominas viết giới thiệu) trên Tạp chí của Viện Viễn Đông bác cổ Như vậy, với việc sưu tầm và công bố sử thi của người Pháp, chúng ta biết rằng ở Tây Nguyên có sử thi
Sau sự phát hiện mang tính mở đường của L Sabatier, phải mấy mươi năm sau độc giả Việt Nam mới được biết nhiều về kho tàng sử thi Tây Nguyên
với việc Đào Tử Chí dịch và xuất bản tác phẩm Dăm Săn với tên gọi là Bài ca chàng Dăm Săn vào năm 1957 (Đào Tử Chí dịch sử thi Dăm Săn sang tiếng
Việt từ bản bằng tiếng Pháp của L Sabatier) [128/35] Tiếp đó vào năm 1963,
hàng loạt tác phẩm như Dăm Di, Xinh Nhã, Khinh Dú, Dăm Prao… ra mắt bạn
đọc được in trong cuốn sách Trường ca Tây Nguyên Tuy nhiên công tác sưu
tầm, dịch thuật, xuất bản và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên thật sự được quan tâm chú ý, đầu tư đúng mức và đạt được nhiều thành tựu đáng trân trọng là vào
Trang 8những năm cuối thế kỷ thứ XX, đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên Kết qủa
to lớn của Dự án là đã sưu tầm, ghi âm được hàng trăm sử thi khác nhau và đã xuất bản được 75 tác phẩm sử thi của các dân tộc Tây Nguyên như Ê Đê, Ba
Na, M’nông, RagLai, Xtiêng, Xê Đăng, Chăm Hroi… bằng hình thức song ngữ (tiếng Việt và tiếng bản tộc)
Đặt trong tiến trình sưu tầm và nghiên cứu sử thi ở Việt Nam thì sử thi M’nông được phát hiện tương đối muộn (năm 1988) Mặc dù được phát hiện muộn nhưng việc nghiên cứu sử thi M’nông cũng đã đạt được những thành tựu
to lớn, các tác giả tiêu biểu là Đỗ Hồng Kỳ với công trình Sử thi thần thoại M’nông (1996) và phần viết về sử thi M’nông in trong cuốn Văn học dân gian Êđê và M’nông (2008); Phan Đăng Nhật với công trình Vùng sử thi Tây Nguyên (1999), Để tìm hiểu thêm sử thi M’nông - Ot Nrong (2002), Ngô Đức Thịnh với Sử thi Tây Nguyên phát hiện và các vấn đề (2002), Nguyễn Việt Hùng với luận án tiến sĩ Công thức truyền thống trong sử thi - Ot Ndrong
(2012)…
Về nguồn tư liệu, có thể nói trước năm 2001, việc sưu tầm, dịch thuật và xuất bản sử thi M’nông còn tương đối khiêm tốn Nhưng từ năm 2001 đến năm
2007, trong khuôn khổ Dự án, trong đó sử thi M’nông là bộ phận quan trọng được tiến hành thì các nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu văn hoá thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)
đã sưu tầm được số lượng hàng trăm tác phẩm sử thi M’nông (đã xuất bản được 26 tác phẩm song ngữ Việt - M’nông) Kết quả trên đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng sử thi Việt Nam và khẳng định dân tộc M’nông có khối lượng sử thi đồ sộ vào bậc nhất trong khu vực và cả thế giới
Việc sưu tầm, dịch thuật, xuất bản và nghiên cứu sử thi M’nông đã gặt hái được nhiều kết quả đáng trân trọng, song vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu để có cái nhìn tổng quan về một thể loại văn học dân gian độc đáo đang hiện tồn trong đời sống của cộng đồng người M’nông Bên cạnh đó, việc xác định tiểu loại sử thi M’nông đang còn có những ý kiến khác nhau, có
Trang 9người cho nó là sử thi thần thoại, có người cho nó là sử thi phổ hệ, có người cho nó mang đậm tính chất của sử thi sáng thế, có người cho nó là sử thi anh hùng… Ở đây cần nói thêm là hiện nay việc phân loại sử thi đang có những
cách làm khác nhau Nếu dựa theo thời gian, có sử thi cổ sơ và sử thi cổ đại (cổ điển); dựa vào nội dung và đề tài, có sử thi sáng thế và sử thi thiết chế xã hội (cũng dựa và nội dung và đề tài người ta còn có cách gọi tên khác: sử thi sáng thế tương đương với sử thi thần thoại và sử thi thiết chế xã hội tương đương với sử thi anh hùng); dựa vào hình thức, cấu trúc tác phẩm có sử thi phồ hệ và
sử thi đơn hệ Vậy sử thi M’nông là loại nào trong những loại vừa nêu trên?
Với những vấn đề đặt ra ở trên, cùng với đó bản thân là người dân tộc thiểu số, hiện nay đang công tác và giảng dạy trên vùng đất Tây Nguyên - nơi sản sinh
ra kho tàng sử thi đặc sắc nên chúng tôi chọn đề tài Hệ thống nhân vật trong sử thi M’nông và vấn đề thể loại làm đối tượng cho luận án của mình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về văn hoá M’nông đã được các nhà khoa học trong nước và ngoài nước quan tâm cách đây hơn nửa thế kỷ Tuy nhiên công việc này chỉ thật sự được chú trọng và đạt được những kết qủa to lớn vào những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI
Người đầu tiên nghiên cứu về dân tộc M’nông một cách khoa học là học giả người Pháp tên là Goerges Condominas Trong những năm 1947, 1948 ông
đã đến sống cùng với người M’nông Gar ở huyện Lăk, tỉnh Dak Lăk để tìm hiểu và nghiên cứu về tộc người này Sau một quá trình cùng chung sống với người M’nông Gar, nhà dân tộc học người Pháp đã cho xuất bản cuốn sách có
tựa đề Chúng tôi ăn rừng vào năm 1957, sau đó được tái bản vào năm 1974
(Năm 2003, tác phẩm này được xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Việt) Trong cuốn sách này, G Condominas có nhắc đến một hình thức truyện kể của người
M’nông Gar có tên gọi là noo proo và ông gọi đó là anh hùng ca (épopée), ông
viết “Và câu chuyện nói đến nào noo proo, nào anh hùng ca mới hay ho làm sao: cuộc sáng tạo ra thế giới, trận đại hồng thuỷ, con người bị quỷ nhai nuốt và
Trang 10phun ra, biển nhấn chìm cả một đạo quân…” [12/186] Tuy nhiên do mục đích của cuốn sách chủ yếu là khảo sát về tộc người và văn hoá M’nông trên phương diện dân tộc học do vậy mà G Codominas chưa đi sâu nghiên cứu sử thi của người M’nông
Ở Việt Nam, người đầu tiên đề cập đến sử thi M’nông là cố học giả Võ Quang Nhơn Năm 1981 trong luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn (nay là Tiến sĩ) và
năm 1983 trong cuốn sách Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam ông cho rằng người M’nông có sử thi với những tác phẩm như Đam Brơi, Chàng Trăng…[71/58] nhưng ông cũng mới chỉ dừng lại ở việc kể tên tác
phẩm, còn tên gọi bản địa của nó là gì, hình hài của nó ra sao thì chưa thấy ông nói đến
Năm 1982 trong cuốn sách Đại cương về các dân tộc Êđê, Mnông ở Dak Lak, Bế Viết Đẳng và các tác giả của cuốn sách cũng đã nhắc đến hình thức hát
kể sử thi của người M’nông, ông viết “Cùng với nhóm M’nông Nong, nhóm
M’nông Prêng còn có hình thức kể gia phả gọi là N’koc yao được xem như một
loại sử thi vậy” [17/144] Ở đây các tác giả đã có sự nhầm lẫn giữa hình thức
kể gia phả với sử thi
Việc nghiên cứu về sử thi M’nông chỉ đặc biệt được chú ý sau việc phát hiện ra thể loại này ở xã Dak Mol, huyện Dak Mil, tỉnh Dak Lăk (nay là huyện Dak Song, tỉnh Dak Nông) vào năm 1988 Theo Đỗ Hồng Kỳ cho biết thì năm
1988, đoàn công tác của Viện Văn hoá dân gian (nay là Viện nghiên cứu Văn hoá) gồm Ngô Đức Thịnh, Đỗ Hồng Kỳ, Tô Đông Hải và Nguyễn Tấn Đắc (Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, nay là Viện phát triển bền vững vùng Nam bộ) đã tiến hành khảo sát tại bon Bu Dop, xã Dak Môl, huyện Dak Song, tỉnh Dak Nông; qua lời hát kể của các nghệ nhân người M’nông và qua những phỏng dịch ban đầu, nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ và một số người trong đoàn công tác đã nhất trí cho rằng đó chính là sử thi của người M’nông
Từ đó đến nay đã có nhiều người quan tâm nghiên cứu về sử thi M’nông
và có thể nói tiêu biểu hơn cả là nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ Vào thập niên
80, 90 của thế kỷ trước, ông đã nhiều lần đến vùng đất có nhiều người M’nông
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT
1 Trần Thị An ( 2006), "Giới thiệu sử thi Rôch, Rông bắt hồn Lêng", Tạp chí Nguồn sáng dân gian (2), tr 58-63
2 Ngọc Anh,Y Điêng… ( 1963), Trường ca Tây Nguyên, Nxb Văn học
3 Vương Anh (1995), " Mo - Sử thi Mường", Tạp chí Văn hoá nghệ thuật (1),
tr 10-18
4 Vương Anh (1997), Mo - Sử thi và thần thoại Mường, Nxb Văn hoá dân tộc
5 Vương Anh,Hoàng Anh Nhân ( 1975), Đẻ đất đẻ nước, Ty văn hóa Thanh Hoá
6 Aristote,Lưu Hiệp (1999), Nghệ thuật thơ ca, Văn tâm điêu long, Nxb Văn học
7 Trương Bi (2003), Chàng Tiăng bán tượng gỗ, Sở Văn hoá-Thông tin Đak Lak
8 Trương Bi (2004), Nghi lễ cổ truyền của đồng bào M’nông, Sở Văn hoá -
Thông tin Đắk Lắk
9 Trương Bi ( 2003), Kể dòng con cháu mẹ Chêp, Sở Văn hoá - Thông tin Đak Lak
10 Trương Bi ( 2005 ), Văn hoá mẫu hệ M’Nông, Sở Văn hoá -Thông tin Dak Lak
11 Dam Bo,(Jacques Dournes) (2003), Miền đất huyền ảo (Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương), Nxb Hội nhà văn
12 Goerges Condominas (2003), Chúng tôi ăn rừng, Nxb Thế giới
13 Goerges Condominas ( 1997), Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, Nxb
Văn hóa Thông tin
14 Phan Hữu Dật (chủ biên) (1992), Văn hoá lễ hội của các dân tộc ở Đông Nam
Á, Nxb Văn hoá dân tộc
15 Phạm Đức Dương (2000), Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á,
Nxb Khoa học xã hội
16 Nguyễn Tấn Đắc (2005), Văn hoá xã hội và con người Tây Nguyên, Nxb
Khoa học xã hội
17 Bế Viết Đẳng,Chu Thái Sơn… (1982), Đại cương các dân tộc ÊĐê, MNông ở Đak Lak, Nxb Khoa học xã hội
18 Cao Huy Đỉnh, Phạm Thuỷ Ba,Nguyễn Quế Dương (dịch và giới thiệu) (2004),
Sử thi Ấn Độ vĩ đại – Mahabharata cùng với Chí tôn ca, Nxb Văn học