1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam

24 442 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 145,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ta thấy rằng đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam từ những kỉ nguyên tây lịch, rồi tồn tại phát triển và chan hòa với dân tộc cho đến tận hôm nay. Nếu thời gian là thước đo của chân lí thì với bề dày lịch sử đó đạo Phật đã khẳng định những giá trị của nó trên mảnh đất này. Vì vậy tìm hiểu triết học Phật giáo giúp con người biết hiểu hơn về một trường phái triết học lớn, về truyền thống văn hóa mà tổ tiên đã để lại.

Trang 1

Chương 1: TỔNG QUAN

1.1 Lý do chọn đề tài:

Ước muốn về một cuộc sống hạnh phúc đó là ước muốn từ muôn đời nay không của chỉ riêng ai Phật giáo chứa một triết lí nhân sinh cao cả với ước muốn là cứu con người khỏi nỗi khổ muôn đời, với cứu cánh là giải thoát, không phải bằng sự ban bố nhân đức mà ở chỗ con người có hạnh phúc hay không là chính ở cuộc sống đức độ của con người, có như vậy con người mới có thể đạt đến cái “Chân - Thiện - Mỹ” và nhập vào thế giới niếp bàn

Ta thấy rằng đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam từ những kỉ nguyên tây lịch, rồi tồn tại phát triển và chan hòa với dân tộc cho đến tận hôm nay Nếu thời gian là thước đo của chân lí thì với bề dày lịch sử đó đạo Phật đã khẳng định những giá trị của nó trên mảnh đất này Vì vậy tìm hiểu triết học Phật giáo giúp con người biết hiểu hơn về một trường phái triết học lớn, về truyền thống văn hóa mà tổ tiên đã để lại

1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo, ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần ở người Việt Nam

Phạm vi ngiên cứu: chỉ nghiên cứu những tư tưởng cơ bản của Phật giáo và ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần ở người Việt Nam

1.3 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cúu tiểu luận là phương pháp tổng hợp các phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là logic phân tích, tổng hợp gắn với lí luận thực tiễn để thực hiện đề tài

Trang 2

Chương 2: SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO

2.1 Sự ra đời của Phật giáo:

2.1.1 Hoàn cảnh ra đời của Phật giáo

Điều kiện thiên nhiên ở Ấn Độ rất phức tạp, địa hình đa dạng, khắc nghiệt của tự nhiên và khí hậu là những thế lực tự nhiên đè nặng lên đời sống và ghi dấu ấn đậm nét lên tâm trí người dân Ấn Độ cổ

Xã hội Ấn Độ cổ đại là một xã hội rất sớm, khoảng thế kỉ thứ XXV trước công nguyên đã xuất hiện nền văn minh đầu tiên là nền văn minh sông Ấn Đến thế kỉ thứ XV trước công nguyên , có sự xâm nhập của người Arya vào khu vựccủa người bản địa (người Dravida) hình thành nên các quốc gia Ấn Độ tạo nên nền văn hóa mới gọi là nền văn hóa Véda

Đặc diểm nổi bật của nền kinh tế - xã hội Ấn Độ cổ là sự tồn tại rất sớm vàkéo dài của kết cấu kinh tế xã hội theo mô hình “công xã nông thôn”, đặc trưng của kết cấu này là ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước của các Đế vương, mà gắn liền với nó là sự bần cùng hóa của người dân trong công xã

Xã hội thời kì này được phân chia thành 4 đẳng cấp lớn là: Tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do và nô lệ cung đình Sự phân chia đẳng cấp đó là cho xã hội xuất hiện những mâu thuẫn gay gắt dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp giữa các đẳng cấp trong xã hội Trong cuộc đấu tranh ấy nhiều tôn giáo và trường phái triết học đã ra đời, trong đó có Phật giáo

Phật giáo ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bà-La-Môn

và chế độ đẳng cấp Phật giáo lí giải căn nguyên nỗi khổ và tìm đường giải thoátcho con người khỏi nỗi khổ triền miên đè nặng trong xã hội nô lệ Ấn Độ Vì chống lại sự ngự trị của đạo Bà-La-Môn, đặt biệt là chống lại quan điểm của kinhVéda, nên Phật giáo được xem là dòng triết học không chính thống ĐĐức Phật xuất hiện như một mặt trời sưởi ấm: buổi ban mai làm tan đi bóng đen dày đặc

Trang 3

đã từ lâu che phủ cuộc đời Ngài không chỉ là vị cứu tinh cho xứ Ấn Độ thời bấy giờ, mà còn là người vạch ra hướng đi mới cho nhân loại.

2.1.2 Thân thế và sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca

Người sáng lập ra Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni, tên thật là Tất Đạt Đa (Siddhattha), họ là Cù Đàm (Goutama), thuộc bộ tộc Sakya Tất Đạt Đa sinh ngày 15 tháng 4 năm 563 trước CN, là Thái tử của vua Tịnh Phạn, một nước nhỏ nằm ở Bắc Ấn Độ (nay thuộc vùng đất Nepan)

Mặc dù sống trong cảnh cao sang quyền quý, dòng dõi Đế vương, vợ đẹp con ngoan Nhưng trước bối cảnh xã hội phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, với sự bất lực của con người trước khó khăn của cuộc đời Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ con đường Vương giả xuất gia tu đạo Sau 6 năm tu hành, năm 35 tuổi, Tất Đạt Đa đã giác ngộ tìm ra chân chân lí “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên”, tìm ra con đường giải thoát nỗi khổ cho chúng sinh Từ đó Người

đã đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình và ông đã trở thành người sáng lập ra tôn giáo mới là đạo Phật Về sau ông được suy tôn với nhiều danh hiệu khác nhau: Đức Phật, Thích Ca Mâu Ni, Thánh Thích Ca…

Qua hơn 40 năm hoằng pháp và truyền đạt giáo lí khắp nước Ấn Độ Năm ông 80 tuổi thì qua đời, ông để lại cho nhân lọai những tư tưởng triết học Phật giáo vô cùng quý báu

2.1.3 Sự truyền bá đạo Phật vào Việt Nam

Việc xác định niên đại Phật giáo du nhập vào Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có đủ tư liệu đề biết chính xác Sử liệu chỉ nói đến tình hình Phật giáo nước ta từ thế kỉ thứ II sau công nguyên, lúc bấy giờ trung tâm Phật g iáo ở Luy Lâu ( vùng Dâu-Thuận Thành- Hà Bắc) đã khá thịnh đạt Điều đó khiến ta

có thể suy đoán rằng Phật giáo từ phía Nam Ấn Độ qua đường biển vào Việt Nam khoảng thế kỉ thứ I sau công nguyên Các vị sư đầu tiên là người Ấn

Độ, nhưng về sau lại thấy xuất hiện tên hiệu vị sư Trung Á và Trung Hoa

Trang 4

Có thể nói rằng, ngay từ thời rất xưa Việt nam đã đựơc cao tăng Ấn Độ đến để truyền giáo trực tiếp Trải qua các triều đại từ Đinh, Lê, Lý, Trần… Đặc biệt là dưới 2 triều đại Lý và Trần, Phật giáo đã để lại dấu ấn một thời vàng son Từ thế kỉ thứ XIII tuy Phật g iáo không còn là quốc giáo nhưng có sự kết hợp hài hòa với tinh thần “Tam Đạo Đồng Đường” đã tạo cho Phật giáo một nét mới, vẫn để lại nhiều dấu ấn trong tâm hồn, tình cảm, phong tục tập quán và cảnh quan của dân tộc Việt Nam.

2.2 Những tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo:

Tư tưởng triết học Phật giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đó được viết thành văn thể trong một khối kinh điển rất lớn, gọi là “ Tam Tạng”, gồm 3 Tạng kinh điển là: Tạng Kinh, Tạng Luật, và Tạng Luận Trong đó thể hiện các quan điểm về thế giới và con người

2.2.1 Quan Điểm của Phật giáo về thế giới quan

Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội dung của 3 cặp phạm trù: Vô ngã, Vô thường và Duyên

2.2.1.1 Vô thường

Trang 5

Nghĩa là vạn vật biến đổi cùng theo chu trình bất tận: Sinh-Trụ-Dị-Diệt Vậy thì “có có” – “không không” luân hồi bất tận, “thoáng có” - “thoáng không”,cái còn mà chẳng còn cái mất mà chẳng mất.

Đức Phật dạy, “tất cả những gì trong thế gian đó là biến đổi, hư hoại, đều là

vô thường” Vì vậy vô thường nghĩa là không thường, không mãi ở yên trong một trạng thái nhất định, luôn luôn thay đổi hình dạng, đi từ trạng thái hình thành đến biến dị rồi tan rã

Vô thường của đạo Phật là một phương pháp chỉ rõ mặt trái của đời, để bài trừ những sự mê lầm, ngăn chặn người chạy theo vật dục, nó chưa phải là thuyết tuyệt đối Vô thường là một định luật chi phối tất cả sự vật từ thân tâm cho đến hoàn cảnh Hiệu lý vô thường, con người dễ giữ được bình tĩnh, thản nhiên trướccảnh đổi thay bất ngờ

Một nhân không sinh ra quả, sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp của nhiều nhân duyên Cho nên không có nhân nào tự tạo thành quả được nếu không

có sự giúp đỡ của nhiều nhân khác, trong nhân có quả, trong quả có nhân Một

sự vật mà ta gọi là quả là khi nó biến chuyển hình thành ra trạng thái mà ta mong đợi, ước muốn Mỗi vật vì thế điều có thể gọi là nhân hay là quả đều được

cả Đối với quá khứ thì nó là quả, đối với tương lai thì nó là nhân Sự biến

Trang 6

chuyển từ nhân đến quả có khi nhanh khi chậm, chứ không phải bao giờ cũng diễn tiến trong một thời gian đồng nhất.

Tóm lại: Triết học Phật giáo bác bỏ quan niệm duy tâm cho rằng thần thánh sáng tạo ra con người và vũ trụ Phật giáo thừa nhận con người và sự vật được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần, các sự vật của thế giới trong sự biến đổi không ngừng Đó là quan điểm duy vật biện chứng về thế giới, mặc dùcòn chất phác, mộc mạc nhưng rất đáng trân trọng

2.2.2 Tư tưởng Phật giáo về nhân sinh quan

Quan điểm về nhân sinh quan của Phật Giáo bao gồm “Nghiệp”,

thuyết “Tứ Diệu Đế” và “Ngũ giới”

2.2.2.1 Nghiệp báo

Là một định luật nhân quả trong vấn đề luân lý, hay như người

phương tây thường nói là “ảnh hưởng của hành động” Phật giáo không nhìn nhận có một linh hồn trường cửu được tạo nên một cách ngẫu nhiên và độc đoán Phật giáo tin có định luật và công lý thiên nhiên, không phải do một đấng thượng đế toàn năng hay một Đức Phật đại từ đại bi tạo nên

Theo lý nghiệp báo, chúng ta không nhất định trói buộc trong một hoàn cảnh nào, vì nghiệp báo không phải là số mạng cũng không phải là tiền định do một oai lực huyền bí nào đó định đoạt cho ta một cách bất khả kháng Chúng ta

có đủ năng lực để chuyển phần nào cái nghiệp của ta theo ý muốn

Nghiệp không nhất thiết phải là hành động trong quá khứ mà thôi

Nghiệp bao chùm quá khứ và hiện tại là nơi trong quá khứ chúng ta hành động như thế nào và trong tương lai chúng ta sẽ là như thế nào cũng tùy nơi hành động chúng ta trong hiện tại

Tóm lại: tất cả nghiệp lực đều tùy thuộc nơi biến đổi của tâm lực và luôn luôn sẵn sàng phát hiện trong muôn ngàn hiện tượng mỗi khi có cơ hội Nghiệp

là năng lực cá biệt được chuyển từ kiếp này sang kiếp khác Nghiệp thủ một vai

Trang 7

trò quan trọng trong việc cấu tạo tâm tính con người, nghiệp giải thích những hiện tượng mà ta gọi là vĩ nhân, thiên tài, thần đồng.

2.2.1.1 Thuyết tứ Diệu đế

Nội dung triết lý nhân sinh của Phật giáo thể hiện trong “Tứ Diệu Đế” được Phật giáo coi là 4 chân lý vĩ đại Thông điệp tứ diệu đế được xem là một giải trình mà ở đó bao gồm cả hai mặt nhận thức và hành động, do đó con đường tu tập tứ đế không thể xét qua góc độ nhận thức mà vấn đề là mô thức biện chứng của nó

Đức Phật trong quá trình đi tìm con đường giải thoát, những kinh

nghiệm khổ đau của bản thân đã trải qua là những kinh nghiệm sâu sắc Do đó thuyết tứ diệu đế được xem như một quá trình biện chứng thực tại ngay đời sống của người và cái đỉnh cao tận cùng ấy được Đức Phật giảng giải qua dạng của tứ đế trên cơ sở tương quan nhân quả, đây chính là bằng chứng thực tại

mà Đức Phật đã đi qua Vì thế nó không phải là mẫu thức lý tưởng, cũng khôngphải là bản sao chép từ những ý nịêm

Tứ Diệu Đế được Đức Phật giải minh thông qua bốn tiền đề triết học cơ bản: Tri ân thực tại, sự chuyển hướng tư duy, sự chuyển hướng 2 chiều, giải trình tư duy

Là thực trạng đau khổ của con người, triết lý về cuộc đời mỗi người là một bể khổ, ràng buộc, hệ lụy, không tự do Có tám cái khổ: sinh, lão, bệnh , tử, thụ biệt khổ, sở cầu bất đắc, ngũ thụ uẩn, ta có thể chia thành ba phương diện

 Phương diện sinh lý: Khổ là một cảm giác khó chịu, bức xúc, đau đớn

 Phương diện tâm lý: Là sự đau khổ do không vừa ý, không vừa lòng… tạo nên đau khổ Những mất mát thua thiệt trong cuộc đời làm mình khổ

Trang 8

 Phương diện Phật học: Khổ là ngũ thụ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành

và thức) Khi ta bám víu vào năm yếu tố trên, coi đó là ta, là của ta, là tự ngã của

ta, thì sự khổ đau có mặt Ý niệm về “thân thể của tôi”, “tình cảm tôi”, “nhận thức của tôi”…hình thành một cái tôi ham muốn, vị kỷ, từ đó mọi đau khổ phát sinh đều gắn liền với ý niệm về cái tôi ấy

Tóm lại: Cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc của hoàn cảnh, sự không toại nguyện của tâm lý về bản chất Về phương triết học, khổ đau là một thực tại như thực đối với con người, khổ đế là một chân lý khách quan hiện thực, khổ hay hình thái bất an là kết quả hàng loạt nhân duyênđược tạo tác từ tâm thức Như vậy tri nhân thực tại là một cách trực tiếp đi vàosoi sáng mọi hình thái khổ đau của con người Để thấu hiểu triệt để cái căn nguyên của khổ đau, con người không thể dừng lại ở sự thật của đau khổ, hay quay mặt chạy trốn, mà phải đi vào soi sáng cái bản chất nội tại của nó

Chân lí về sự phát sinh của khổ: nguyên nhân của khổ là sự ham muốn,tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt Các loại ham muốn này là gốc của Luân hồi Có 12 nguyên nhân gây ra sự đau khổ (thập nhị nhân duyên)

Vô minh: Đây là danh từ mang hàm nghĩa chỉ sự không hiểu biết

chánh pháp, không thông hiểu bản chất của cuộc sống, chứ không phải mang nghĩa thông thường là không hiểu Vì do vô minh mà con người chỉ lo bám víu đời sống hôm nay, chỉ lo tìm kiếm lợi lạc cho riêng mình, mong muốn được thụ cảm những những hạnh phúc, vui sướng, thoải mái tạm bợ bên ngoài nhằm thỏa mãn giác quan Đó là một sự ngu muội vô cùng, vì rằng hạnh phúc vĩnh cửu chỉ xuất hiện từ trong nội tâm phát ra mà thôi Còn nương tựa bên ngoài thì không bao giờ là bền vững, nhất định nó sẽ tan biến và mất đi dù chúng ta có bám lấy sao đi nữa

Trang 9

 Hành: Chữ Hành ta có thể hiểu đó chính là những hành động, hành vi của thân, khẩu, ý gây tạo nên nghiệp quả Yếu tố này do vô minh dẫn đến, vì rằng không có hiểu biết mà con người hành động theo tham ái, hay dục vọng của mình mà không có điều hòa, chế ngự tâm nên tội lỗi, khổ đau, buồn phiền luôn xuất hiện theo sau.

 Thức: Đây là yếu tố do Hành dẫn đến Mang hàm nghĩa là thức nối tiếp, thức tái sinh hay thức nhận biết Khi chúng ta hành động không có Chánh kiến sẽ dẫn đến những nhận biết sai lầm, để rồi chúng ta trở nên vô minh nhiều hơn nữa

 Danh sắc: Yếu tố do Thức dẫn đến Danh Sắc hay còn được gọi

là tâm và thân Khi sự thấu hiểu sai lệch được hình thành làm cho Tâm (Danh) chúng ta có khuynh hướng lệ thuộc vào những quan kiến đó, khi đó bản ngã sẽ xuất hiện Cụm từ Danh Sắc bao hàm nên một con người

 Lục Căn: Đây là yếu tố do Danh Sắc dẫn đến Bao gồm có: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý và nó chỉ có khi con người tồn tại

 Xúc: Yếu tố do Lục Căn dẫn đến Bên cạnh lục căn gồm có Lục Trần: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp Cả hai Lục Căn và Lục Trần cấu tạonên Xúc của con người Tiếp xúc thế giới xung quanh sinh ra các cơ quan cảm giác

 Thọ: Yếu Tố do Xúc dẫn đến Thọ ta có thể hiểu nó chính là cảm giác hạnh phúc, đau khổ hay không hạnh phúc, không đau khổ Hiểu theo nghĩa thô đó chính là sự nhận, thụ hưởng Có nghĩa là khi mà Xúc phát xuất thì Thọ cũng sẽ xảy ra cùng lúc

 Ái: Yếu Tố do Thọ dẫn đến Chỉ những dục vọng mong muốn, yêu thích, thèm khát… Vì khi con người nhận được những xúc cảm bên ngoài tácđộng vào, họ phát sinh nên tham ái đối với những đối tượng giác quan đó

 Thủ: Yếu Tố do Ái dẫn đến Chỉ sự bám chặt, bám víu, thủ

Trang 10

chấp… Mang nghĩa gần giống với Luyến Đây là yếu tố dẫn con người đi trong vòng luân hồi mãi mãi Do chúng ta bám chấp vào đời sống.

 Hữu: Yếu tố do Thủ dẫn đến Đây chỉ về Nghiệp gồm có quá trình tạo tác, quá trình nhận lãnh Vì do bám víu, xem điều gì hay vật gì đó là củamình nên con người tạo những nghiệp quả nhằm đem lại lợi ích cho chính mình, tiến trình thông qua 3 hành động từ thân, khẩu và ý

 Sanh: Yếu tố do Hữu dẫn đến Yếu Tố Sanh mang hàm nghĩa là

sự hình thành của của năm uẩn trong bào thai của một người mẹ nào đó Do chịu lý của Nghiệp Quả mà thức tái sanh sẽ tiếp tục trở lại bào thai người mẹ và hình thành nên một con người để thụ lãnh Nghiệp đã vay tạo

 Lão và tử: Yếu tố cuối cùng do Sanh dẫn đến Đây là thuộc về luật tự nhiên và như một giai đoạn mà không một người nào thoát khỏi nếu như còn mang nặng ngũ uẩn Con người sẽ già theo năm tháng và cuối cùng

là phải giã từ cõi đời

Như thế 12 nhân duyên là hiện hữu của con người, đồng thời cũng là tiến trình hiện hữu của con người từ sinh thành đến hủy diệt Thập nhị nhân duyên

là triết lý về nguyên nhân của sự khổ, về nguồn gốc của sự khổ Khi nhận thức được bản chất của sự khổ một cách rõ ràng ta mới có thể đi vào con đường đọan tận khổ đau Nguyên nhân của khổ có nguồn gốc sâu xa trong tâm tưởng của con người Phật giáo cũng nhìn thấy các nguyên nhân đau khổ, có cái phát sinh

từ vật chất hay hoàn cảnh xã hội, nhưng nguyên nhân chính vẫn là tâm thức.Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê

không thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập

ở trong chúng Do không thấy rõ nên sinh tâm ham muốn, ôm giữ lấy các đối tượng lạc thú Do không thấy rõ mới lầm tưởng rằng "cái tôi" là quan trọng nhất, là cái có thật cần phải bám víu, củng cố và thỏa mãn nhu cầu của nó

Trang 11

Tóm lại: Chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lòng mình Hay nói cách khác, tùy theo cách nhìn của mỗi người đối với cuộc đời

mà có khổ hay không Nếu không bị sự chấp ngã và dục vọng, vị kỹ hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời đầy an lạc hạnh phúc

Phật giáo cho rằng mỗi nỗi khổ có thể tiêu diệt được để đạt đến trạng thái niết bàn có ngã là hạnh phúc, an lạc Đạo Phật quan niệm rằng, nguyên nhân khổ là do sự vận hành của thập nhị nhân duyên, trong đó gốc rễ sâu xa là sự vô minh Vậy muốn diệt khổ phải đi ngược lại sự vận động của 12 nhân duyên, bắt đầu tư diệt trừ vô minh Vô minh bị diệt, trí tuệ bừng sáng, hiểu rõ được bản chất tồn tại, thực tướng của vũ trụ và con người, không còn tham dục và kéo theo những hành động tạo nghiệp nữa, tức là thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử Nói cách khác, diệt trừ được vô minh, tham dục thì hoạt động ngũ uẩn dừng lại,

tu đến Niết bàn, tịch diệt, khi ấy mới hết luân hồi sinh tử Phật giáo cho rằng, một khi người ta đã làm lắng dịu lòng tham ái, chấp thủ, thì những nỗi lo âu, sợi hải, bất an giảm dần, thâm tâm của bạn trở nên thanh thản, đầu óc tĩnh táo hơn; lúc đó nhìn mọi vấn đề trở nên đơn giản hơn, rộng lượng hơn Đó là một hình thức hạnh phúc, cũng nhờ vậy tâm trí không bị chi phối bởi những tư tưởng chấp thủ, nhờ không bị nung núng bởi các ngọn lửa phiền muộn, lo lắng

sợ hải mà tâm lý của bạn trầm tĩnh và sáng suốt hơn, khả năng nhận thức sự vật hiện tượng sâu sắc hơn, chính xác hơn, thâm tâm được chuyển hóa, thái độ ứng xử của bạn với mọi người xung quanh rộng lượng và bao dung hơn Tùy vào khả năng giảm thiểu lòng tham, vô minh đến mức độ nào thì đời sống của bạn sẽ tăng phần hạnh phúc đến mức độ ấy

Là con đường phải theo để diệt trừ đau khổ Đạo Phật chủ trương vừa lấy trí tuệ diệt trừ vô minh, phá vòng luân hồi sinh tử, vừa thực hành tu tập, diệt trừ tham dục để chuyển nghiệp, đạt đến sự giải thoát Đây là con đường nhằm để

Trang 12

hoàn thiện đạo Đức cá nhân, con đường này là một bằng chứng về kiểu suy luận hơp lý và trí tuệ thực tiễn thông qua con đường Bát chính đạo:

 Chính kiến: Hiểu biết đứng đắn về tứ Diệu đế hãy từ bỏ mọi điều

mê tín, tư tưởng vạn vật hữu linh, các nghi thức cổ xưa, hãy từ bỏ niềm tin vàocác tục lệ gây nên sự không bình đẳng giữa người với người, từ bỏ niềm tin vào

sự hiện hữu của một đấng tối cao, hãy dựa vào khả năng suy luận thuần túy của mình Đây là bước giúp con người có một căn bản lý trí Nếu không có chính kiến thì mọi quyết định sẽ mắc sai lầm

 Chính tư duy: Hãy suy nghĩ chính chắn, suy nghĩ đúng là nền tảng để đạt được những thành tựu to lớn, miễn là dựa trên chính kiến

 Chính ngữ: Giữ lời nói chân chính, trung thực, trong sáng, không nói lời nóng nảy, thô tục, chửi bới, vu khống, phỉ bán

 Chính nghiệp: Hành động chân chính, không làm những việc tàn bạo, giả dối, không sát sinh, chộm cắp, rượu chè nghiện ngập

 Chính mạng: Sống chân chính, không tham lam, vụ lợi xa rời nhân nghĩa

 Chính tinh tiến: Rèn luyện, tu tập không mệt mỏi là sự nỗ lực cam go để nâng cao trí tuệ và đạo Đức của mình Con người phải cố gắng nỗ l ực

từ bỏ thói hư tật xấu, học tập các đức tính tốt, không để mình bị lôi kéo vào các đức tính xấu xa, hãy nâng cao phẩm chất mà mình có được

 Chính niệm : Là sự chú ý đến các hoạt động, cùng những chỗ yếu kém của bản thân và ý mình, là suy luận chân chính

 Chính định: Sự tập chung tâm trí và con đường chân chính, không để bẩt cứ điều gì lay chuyển, làm thoái trí, phân tâm

Trong bát chính đạo thì chính kiến, chính tư duy thuộc về trí tuệ; chínhngữ, chinh nghiệp, chính mệnh thuộc về giới luật; chính tinh tiến, chính niệm, chính định thuộc về định

Thế giới hiện nay đang từng bước phát triển, đi vào đa phương hóa toàn

Ngày đăng: 13/11/2016, 21:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w