KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ SỰ HỖ TRỢ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA NGƯỜI CHỒNG CÓ VỢ LÀM CÔNG NHÂN TẠI HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2015 I.. Nhiều nghiên cứu chỉ rằng có rất nhiều yếu tố ản
Trang 1KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ SỰ HỖ TRỢ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA NGƯỜI CHỒNG CÓ VỢ LÀM CÔNG NHÂN TẠI HUYỆN CẨM
GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2015
I Lý do lựa chọn vấn đề nghiên cứu
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời là cách tốt nhất phòng tránh
tử vong cho trẻ em Bú sữa mẹ là một cách vượt trội về sự cung cấp dinh dưỡng lý tưởng cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ sơ sinh Các khuyến cáo của y tế công cộng toàn cầu là trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu để đạt được sự tăng trưởng, phát triển tối ưu và có được sức khỏe tố Nếu mọi trẻ em được bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh và tiếp tục cho bú mẹ cho đến hai tuổi, thì khoảng
800 000 trẻ sẽ được cứu sống mỗi năm
Trong hai thập kỉ qua, tỷ lệ tử vong trẻ em đã giảm đáng kể, nhưng gần 7 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết mỗi năm, chủ yếu là do các nguyên nhân có thể phòng ngừa được Trong số đó, trường hợp tử vong sơ sinh hiện chiếm gần một nửa số trẻ tử vong dưới 5 tuổi Bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh sớm Tính trên toàn thế giới, thì chỉ có 2 trong 5 trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ trong 1 giờ đầu sau sinh và cũng tỷ lệ đó với những trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ toàn Mặc dù từ năm 1989 Tổ chức Y tế thế giới và Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc đã đưa
ra khuyến nghị cho trẻ bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh và bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho đến khi trẻ được 24 tháng tuổi Ở khu vực châu Á/ Thái Bình Dương, khoảng một nửa số quốc gia cung cấp dữ liệu có tỷ lệ BSMHT lớn hơn 40%, dưới mức 20% ở Thái Lan và Việt Nam Mặc dù sữa mẹ là công thức dinh dưỡng hoàn hảo nhất cho trẻ 6 tháng đầu đời của trẻ, hiện ở Việt Nam chỉ có 19.6% trẻ được
bú hoàn toàn trong giai đoạn quan trọng này Tỉ lệ này thấp hơn rất nhiều so với tỉ lệ trung bình của thế giới là 35% các bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu Trong khi đó chiến lược quốc gia về dinh dưỡng 2011 – 2020 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt rằng tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đạt 27% năm
2015 và đạt 35% vào năm 2020 Tuy nhiên, dù là thiên phú và góp phần tiết kiệm chi tiêu cho gia đình, việc nuôi con bằng sữa mẹ ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều
Trang 2thách thức Nhiều nghiên cứu chỉ rằng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc cho con bú sớm và bú hoàn toàn như : thông tin tiếp thị của các sản phẩm sữa bột dành cho trẻ nhỏ đang bủa vây các bà mẹ và gia đình, bà mẹ không tin rằng mình có đủ sữa
để nuôi con, bên cạnh đó một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thiếu sự hỗ trợ có ảnh hưởng đến BSMHT trong 6 tháng đầu Một nghiên cứu can thiệp được thực hiện vào năm 2012 nhằm kiểm định giả thuyết về sự cải thiện kiến thức của người chồng sau chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe cộng đồng cho thấy rằng sau khi đã được can thiệp thì kiến thức của người chồng về BSMHT trong 6 tháng đầu của người cha trong địa bàn can thiệp được cải thiện đáng kể so với địa bàn không được can thiệp, đồng thời tỉ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu ở địa bàn can thiệp cao gấp 2,6 lần so với địa bàn không can thiệp Việc thực hành NCBSM có mối liên quan đến các yếu tố kiến thức cá nhân, trình độ học vấn, thu nhập và vai trò của người cha hay kiến thức, thái độ chưa tốt về việc NCBSM Tuy nhiên cuộc điều tra của Alive & Thrive tại 11 tỉnh thành của Việt Nam chỉ ra rằng chỉ có 11.2% người chồng hỗ trợ vợ NCBSM, còn lại là sự hỗ trợ từ các nguồn khác Qua đó, cho thấy sự hỗ trợ của người cha tại Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức
Đến năm 2013, ít nhất 78 trên tổng số 167 quốc gia quy định hình thức nghỉ phép nhất định dành cho các bậc làm cha khi con mình chào đời Đó là một sự tiến bộ bởi vào năm 1994, chế độ nghỉ thai sản dành cho nam giới chỉ tồn tại ở 40 trên tổng số 141 quốc gia có số liệu Chế độ thai sản dành cho các bậc làm cha được áp dụng phổ biến nhất tại các nền kinh tế phát triển, châu Phi, Đông Âu và Trung Á Theo báo cáo mới của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Việt Nam có chế độ nghỉ thai sản cho các bà
mẹ ngang hàng với các nước phát triển nhưng lại không có chế độ nghỉ thai sản dành cho các ông bố trong khi gần một nửa các quốc gia trên toàn cầu khuyến khích các bậc làm cha tham gia nhiều hơn trong và sau quá trình con chào đời Nam giới tại Việt Nam không được nghỉ thai sản trong khi chế độ thai sản cho cha đang ngày càng trở nên phổ biển trên thế giới, nhưng dự thảo Luật Bảo hiểm Xã hội sửa đổi mở ra một hy vọng cho các ông bố đang làm việc Được sự đồng tình của Quốc hội, lao động nam
sẽ được nghỉ 5-7 ngày hưởng nguyên lương tùy vào việc vợ sinh thường hay phải phẫu thuật Chế độ thai sản dành cho nam giới khi có vợ sinh con được quy định tại Khoản 2, Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2016
Trang 3Tại Việt Nam có rất ít các nghiên cứu về sự hỗ trợ của người chồng/cha về việc NCBSM, đây sẽ là nghiên định hướng cho các chương trình can thiệp/nghiên cứu tiếp theo về thực hành bú sớm và BSMHT trên đối tượng các bà mẹ là công nhân
Từ những luận điểm trên nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và sự hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ của người chồng có vợ làm công nhân tại Huyện Cẩm Giàng – Hải Dương năm 2015” sẽ góp phần đánh giá thực trạng BSMHT và sự hỗ trợ BSM của
người cha, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hỗ trợ này của người cha Từ đó nhằm đưa ra khuyến nghị thúc đẩy sự tham gia của người chồng/cha trong việc BSMHT và chăm sóc dinh dưỡng của trẻ
II Vấn đề nghiên cứu:
- Tính cấp thiết của đề tài: Do thực trạng hiện nay Hải Dương là 1 trong 7 vùng kinh
tế trọng điểm miền Bắc, hiện có 10 khu công nghiệp và 35 cụm công nghiệp Các khu, cụm công nghiệp đã thu hút được 392 dự án trong đó trên 80% dự án có vốn đầu tư nước ngoài, thu hút trên 40.000 lao động Trong số 1.428 công nhân được khảo sát thì cơ cấu tuổi của công nhân nằm trong độ tuổi sinh đẻ cao, cụ thể, từ 18 đến 40 chiếm tỷ lệ cao nhất là 87,7% và dưới 18 là 1,3 % Năm 2011, khảo sát về thực hiện chính sách thai sản và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) trong lao động nữ trong các khu công nghiệp thực hiện bởi Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (TLĐ) cho thấy 78% lao động nữ nhận thức rằng “sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ nhỏ” nhưng chỉ có 36% lao động nữ duy trì nuôi con bằng sữa mẹ đến 19-24 tháng tuổi Trong rất nhiều nguyên nhân được đề cập, một nguyên nhân chính dẫn đến lao động nữ cai sữa sớm là họ phải “đi làm lại” Quay trở lại làm việc trước 6 tháng và không có thời gian cho bú là nguyên nhân khiến
bà mẹ tin rằng mình có ít sữa và phải dùng sữa bột thay thế Thêm vào đó, lao động nữ, đặc biệt là ở các khu công nghiệp, rất thiếu hụt kiến thức cập nhật về NCBSM
- Tính khả thi của nghiên cứu: nghiên cứu phù hợp về mặt thời gian theo kế hoạch
làm luận văn của nhà trường cũng như chi phí không lớn và cần ít nguồn nhân lực
- Tính trùng lặp: Hiện nay, tại Việt Nam chưa có đề tài nghiên cứu thuần tập tương
lai về vai trò của người cha trong việc hỗ trợ NCBSM
Trang 4- Sự chấp nhận của cộng đồng: Nghiên cứu đã được chấp nhận của chủ đề tài và
được sự đồng thuận của cơ quan chính quyền địa phương huyện Cẩm Giàng – Hải
Dương
- Tính ứng dụng của nghiên cứu: đề xuất cho địa phương có thêm những giải pháp,
phương cách nhằm nâng cao kiến thức, thái độ của người cha, khuyến khích họ
tham gia hỗ trợ thực hành cho con BSSS và NCBSM hoàn toàn cùng vợ Việc này
góp phần làm tăng tỷ lệ BSSS và NCBSM hoàn toàn tại địa phương Làm mô hình
mẫu để nhân rộng ra các địa phương khác trên cả nước
III Cây vấn đề/khung lý thuyết và mục tiêu nghiên cứu:
Mục Tiêu
1 Mô tả thực trạng BSMHT của nữ công nhân tại các thời điểm 1 – 4 – 6 tháng ở
huyện Cẩm Giàng – Hải Dương năm 2015
2 Mô tả Kiến thức và thái độ về NCBSM người cha ở các thời điểm trước sinh –
1 – 4 tháng tại huyện Cẩm Giàng – Hải Dương năm 2015
3 Mô tả thực hành hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ của người cha tại các thời điểm 1
– 4 tháng ở huyện Cẩm Giàng – Hải Dương năm 2015
4 Xác định mối liên quan giữa một số yếu tố của người cha ( Kiến thức và thái độ
về NCBSM, Nghề nghiệp, Trình độ học vấn) và yếu tố của bà mẹ (Áp lực công
việc, Thực hành cho trẻ trước bú, Nơi sinh, Phương pháp sinh, Trình độ học
vấn) đến thực hành NCBSM của các bà mẹ làm công nhân tại huyện Cẩm
Giàng – Hải Dương năm 2015
Khung lý Thuyết
THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA BÀ MẸ LÀM
CÔNG NHÂN
Tình trạng sức khỏe của trẻ
Trang 5IV Tham khảo nghiên cứu đã triển khai về chủ đề nghiên cứu:
- Nghiên cứu thuần tập tương lai ở Thụy Điển nhằm mục đích mô tả ảnh hưởng
của tình trạng kinh tế và chế độ thai sản của người cha ảnh hưởng như thế nào đến thời gian cho con bú Dữ liệu được lấy từ 51.671 trẻ ở 2 thành phố Orebro and Uppsala Nghiên cứu chỉ ra rằng những người cha được hưởng chế độ thai sản thì khả năng trẻ bú sữa mẹ cao hơn ở những thời điểm 2 – 4 – 6 tháng so với những người cha không được hưởng chế độ thai sản (tháng 2 (p <0,001), tháng 4 (p <0,001), và tháng 6(P <0,001)) Nếu như người cha được nhận chế
độ thai sản thì người cha sẽ tham gia tích cực trong việc NCBSM và gạt bỏ được những cảm giác thiếu tự tin và thiếu cơ hội để phát triển mối quan hệ cha con Chăm sóc trẻ nhỏ, người cha dành nhiều thời gian cho trẻ hơn
- Thay đổi kiến thức của người cha về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6
tháng đầu - Phát hiện từ chương trình can thiệp cộng đồng hướng tới người cha tại khu vực nông thôn Việt Nam: Nghiên cứu can thiệp trên 251 người cha có
vợ đang mang thai và 241 cặp vờ chồng tương ứng được chọn vào nhóm không can thiệp Hình thức can thiệp là các hoạt động truyền thông qua loa dài, tư vấn
cá nhân và nhóm; các hoạt động vui chơi tại cộng đồng cùng với các sản phẩm
Sự tự tin Chuẩn mực xã hội Niềm tin
Yếu tố cá nhân của cha:
Kiến thức về cho con bú Trình độ học vấn Nghề nghiệp
Yếu tố của bà mẹ làm công nhân
Áp lực công việc
Thực hành cho trẻ trước bú
Nơi sinh
Phương pháp sinh
Trình độ học vấn
THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA BÀ MẸ LÀM
CÔNG NHÂN
Sự hỗ trợ của người cha:
Chia sẻ công việc nhà
Hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ
Hỗ trợ tinh thần/ động viên Đáp ứng những nhu cầu của bà mẹ
Đặc điểm hộ gia đình: Điều kiện kinh tế HGD Loại hình gia đình
Yếu tố của con: Giới tính
Số con trong một gia đình và số thứ tự sinh
Tình trạng sức khỏe của trẻ
Trang 6truyền thông như pano, tờ rơi, cốc và áo phông có in hình ảnh và thông điệp của chương trình được gửi tới người cha Sau can thiệp, kiến thức về NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng của người cha ở địa bàn can thiệp được cải thiện một cách đáng kể so với người cha tại địa bàn không can thiệp Kiến thức về khái niệm đúng, tầm quan trọng của NCBSM hoàn toàn và thời gian NCBSM hoàn toàn là 6 tháng của người cha ở địa bàn can thiệp cao hơn gấp 2.6 lần, 1.86 lần
và 1.9 lần so với người cha ở địa bàn không can thiệp Chương trình đã thành công trong cải thiện kiến thức của người cha về NCBSM hoàn toàn
V Kế hoạch nghiên cứu:
TT Hoạt động Thời gian Người
thực hiện
Người giám sát, hỗ trợ
Kết quả
dự kiến
1 Xác định vấn đề nghiên cứu
Tìm hiểu các tài
liệu cho vấn đề
nghiên cứu
25/08-20/09/2015
Học viên Phòng đào tạo sau
ĐH
Vấn đề nghiên cứu được xác định
Bảo vệ vấn đề
nghiên cứu
21/09-25/09/2015
Học viên Hội đồng giám sát Vấn đề
được thông qua
2 Xây dựng đề cương nghiên cứu
Thu thập các tài
liệu có liên quan
25/8 – 15/9/2015
Học viên GV hướng dẫn Các tài liệu
có liên quan đế chủ đề nghiên cứu Viết đề cương 26/9 –
19/10/2015
Học viên GV hướng dẫn Bản đề
cương Xin ý kiến giáo
viên hướng dẫn
-22/10/2015
Học viên GV hướng dẫn Nhận xét
góp ý của giáo viên
Trang 7hướng dẫn Hoàn chỉnh đề
cương và nộp cho
phòng đào tạo sau
ĐH
23-25/10/2015
cương hoàn chỉnh
có chữ kí của GVHD
3 Bảo vệ đề cương
Chuẩn bị bảo vệ 01 –
05/11/2015
Học viên GV hướng dẫn Nội dung
và kỹ năng trình bày tốt
13/11/2015
Học viên Phòng đào tạo sau
ĐH
Đề cương được thông qua
Chỉnh sửa, hoàn
thiện đề cương
sau bảo vệ
18/11/2015 Học viên GVHD Đề cương
được hoàn thiện
Hoàn thiện hồ sơ
xin đánh giá đạo
đức trong nghiên
cứu
21/11/2015 Học viên Thư ký hội đồng đạo
đức
Hồ sơ xin đánh giá đạo đức trong nghiên cứu được hoàn thiện
4 Phân tích số liệu, viết báo cáo
Làm sạch và nhập
số liệu
3/1/2016 – 3/2/2016
Học viên GV hướng dẫn Số liệu
được nhập
và làm
Trang 8sạch Phân tích số liệu 29/2 –
11/6/2016
Học viên GV hướng dẫn Các kết
quả NC đáp ứng được đề cương Xin ý kiến giáo
viên hướng dẫn
30/6/2016
Học viên GV hướng dẫn Các ý kiến
đóng góp cho báo cáo NC Chỉnh sửa báo
cáo và nộp
10-15/7/2016
Học viên GV hướng dẫn,
phòng đào tạo SĐH
Báo cáo hoàn chỉnh
có chữ ký của GV hướng dẫn nộp cho phòng đào tạo SĐH
5 Bảo vệ luận văn
Chuẩn bị bảo vệ 25/8/2016
– 1/9/2016
Học viên GV hướng dẫn Hoàn thiện
tốt các kĩ năng và bài báo cáo trong thời gian cho phép
09/9/2016
Học viên Phòng đào tạo sau
đại học
Báo cáo
NC được thông qua Chỉnh sửa sau 20/9/2016 Học viên GV hướng dẫn, Báo cáo
Trang 9bảo vệ phòng đào tạo SĐH NC được
chỉnh sửa, hoàn thiện
6
Trình bày kết quả
nghiên cứu tại
thực địa
27/9/2016 Học viên Giám đốc TTYT Địa
phương có được kết quả nghiên cứu để phục vụ cho các hoạt động YTCC tiếp theo