BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU BÀI TẬP 1 THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA N
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
BÀI TẬP 1
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC
TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ LAM SƠN HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG, NĂM 2014
Nhóm Thanh Miện - CHYTCC 17
Học viên: 1 Ngô Thị Nhung
2 Vũ Thị Sao Chi
Giáo viên hướng dẫn: Ths Phạm Phương Liên
Hà Nội, năm 2014
Trang 2TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ LAM SƠN HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG, NĂM 2014
Nhóm Thanh Miện - CHYTCC 17
Học viên: 1 Ngô Thị Nhung
2 Vũ Thị Sao Chi
Giáo viên hướng dẫn: Th.s Phạm Phương Liên
Hà Nội, năm 2014
Trang 3
MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
là Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71 (EV71) Cho đến nay, bệnh TCM chưa có
vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu Phương châm phòng chống bệnh trên
Trang 6thế giới tập trung chủ yếu vào các can thiệp Y tế công cộng Hiệu quả của công tác phòng chống bệnh TCM phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức, thực hành của những người chăm sóc (NCS) trẻ Nhằm cung cấp thông tin về sự hiểu biết, thực hành phòng bệnh TCM của người chăm sóc (NCS) trẻ dưới 5 tuổi và giúp cho việc xây dựng kế hoạch, triển khai công tác phòng chống dịch bệnh TCM trên địa bàn xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương nói riêng được hiệu quả, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu: “Thực trạng kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến
phòng bệnh Tay chân miệng của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương, năm 2014”
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính được tiến hành từ 10/2014 – 12/2014 tại xã Lam Sơn với mục tiêu: (1) Mô tả kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM của người chăm sóc trẻ dưới 05 tuổi tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương năm 2014; (2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của người chăm sóc trẻ dưới 05 tuổi tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương năm 2014 Số liệu định lượng được thu thập qua phát vấn 384 NCS trẻ dưới 5 tuổi Thông tin định tính thu thập qua 2 cuộc phỏng vấn sâu cán bộ y tế (CBYT) và 2 cuộc thảo luận nhóm (TLN) NCS trẻ dưới 5 tuổi Phân tích và xử lý số liệu định lượng bằng phần mềm Epidata 3.0 và SPSS 16.0
Kết quả nghiên cứu sẽ chỉ ra được thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của NCS trẻ trong việc phòng bệnh TCM cho trẻ em dưới 5 tuổỉ tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương, năm 2014 Từ đó, chúng tôi hy vọng sẽ đưa ra được một số khuyến nghị phù hợp cho xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương trong công tác phòng chống dịch bệnh tay chân miệng những năm tiếp theo
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, nhất là sự xuất hiện của các loại dịch bệnh mới và sự quay trở lại của dịch bệnh cũ làm ảnh hưởng ngày càng lớn tới cuộc sống của người dân, là gánh nặng cho Ngành Y tế và ảnh hưởng tới toàn xã hội Hiện nay, dịch bệnh Tay chân miệng tuy có chững lại so với năm 2012 và 2013 nhưng bệnh vẫn mắc rải rác quanh năm, lây lan nhanh trong cộng đồng, bệnh thường gặp ở trẻ em nhất là trẻ dưới 5 tuổi và đặc biệt vẫn còn có trường hợp trẻ tử vong do bệnh gây ra
Bệnh Tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm do vi rút đường ruột gây ra (Enterovirus) Đây là bệnh nhiễm trùng cấp tính với những biểu hiện sốt, đau rát trong miệng, phát ban mà phần nhiều ban dạng mụn nước ở tay, chân, miệng Bệnh
có thể gây ra những biến chứng nặng nhiễm trùng thần kinh trung ương như viêm não, viêm não-màng não, bại liệt, ngoài ra còn viêm cơ tim, phù phổi cấp, có thể
dẫn đến tử vong Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71 là hai tác nhân chủ yếu gây
bệnh Tuy nhiên, bệnh Tay chân miệng vẫn chưa có vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu Phương châm phòng chống bệnh trên thế giới tập trung chủ yếu vào các can thiệp Y tế công cộng
Trên thế giới, bệnh Tay chân miệng có xu hướng tăng và duy trì ở mức cao tại một số nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương Theo thông báo của Tổ chức Y
tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương ngày 07/5/2014, số trường hợp mắc bệnh tay chân miệng tăng tại các nước và vùng lãnh thổ như Trung Quốc tăng 39,9%, Ma Cao tăng 47,8% và Singapore tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2013 Trong khi đó, tại Việt Nam, bệnh Tay chân miệng được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 2002 Những năm 2005-2010 số bệnh nhân có xu hướng gia tăng mạnh và gây tử vong ở nhiều tỉnh, huyện/thành phố trên cả nước Sáu tháng đầu năm 2014, cả nước ghi nhận 38.217 trường hợp mắc tại 62 tỉnh /thành phố, có 02 trường hợp tử vong tại tỉnh Long An (01) và Bà Rịa - Vũng Tàu (01) với tác nhân gây bệnh chính là EV71
So với cùng kỳ năm 2013 (40.429 mắc/14 trường hợp tử vong) tử vong giảm 12 trường hợp Tuy nhiên, số mắc tăng cao cục bộ tại một số địa phương như thành
Trang 8phố Hồ Chí Minh tăng 23,7%, Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 27,9%, Cà Mau tăng 17,2%, Bình Dương tăng 9,5%, Kon Tum tăng 44,6%
Huyện Thanh Miện là một huyện nông nghiệp, nằm ở phía Tây Nam tỉnh Hải Dương Huyện gồm 19 xã/thị trấn và 92 thôn, khu dân cư Diện tích tự nhiên 122,321 km2, dân số huyện là 127.999 người Trên địa bàn huyện từ đầu năm đến tháng 08/2014 ghi nhận 45 trường hợp mắc bệnh Tay chân miệng trong đó bệnh tập trung chủ yếu ở xã Lam Sơn với số ca mắc 30 trường hợp chiếm 60,3% so với toàn huyện và chưa có dấu hiệu cho thấy bệnh đã được kiểm soát vì đỉnh của dịch thường rơi vào tháng 9, 10 hàng năm Phân tích số liệu thứ cấp, chúng tôi nhận thấy các đơn vị y tế địa phương và cơ sở đã triển khai các hoạt động theo chỉ đạo của Bộ
Y tế về phòng, chống dịch bệnh Tay chân miệng Công tác truyền thông cũng đã được triển khai Tuy vậy, hiệu quả trong công tác phòng chống bệnh Tay chân miệng chưa cao Qua đánh giá nhanh tại cộng đồng, sự hiểu biết về bệnh Tay chân miệng của người chăm sóc trẻ chính còn khá sơ sài, thực hành vệ sinh còn nhiều hạn chế, hiệu quả của công tác phòng chống dịch bệnh phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức, thực hành của NCS trẻ Tại huyện hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu hoạt động phòng, chống bệnh Tay chân miệng của người dân Từ những lý do trên, nhằm cung cấp thông tin cho việc xây dựng kế hoạch và triển khai công tác phòng chống dịch bệnh TCM tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng kiến thức, thực hành và một số yếu
tố liên quan đến phòng bệnh Tay chân miệng của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương, năm 2014”
Trang 9MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức, thực hành phòng bệnh Tay chân miệng của người chăm sóc trẻ dưới 05 tuổi tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương, năm 2014
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh Tay chân miệng của người chăm sóc trẻ dưới 05 tuổi tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương năm 2014
Trang 10Chương I TỔNG QUAN
1 Định nghĩa bệnh Tay chân miệng
Bệnh TCM là một hội chứng bệnh ở người do virus đường ruột của họ Picornaviridae gây ra Giống vi rút gây bệnh TCM phổ biến nhất là Coxsackie A và virus Enterovirus 71 (EV-71) Đây là một bệnh thường gặp ở nhũ nhi và trẻ em Bệnh thường được đặc trưng bởi sốt, đau họng, đau miệng, loét miệng với vết loét
đỏ hay phỏng nước ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, phát ban dạng phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông Bệnh có thể gây biến chứng nguy hiểm thần kinh như viêm não - màng não; Biến chứng tuần hoàn, hô hấp: viêm cơ tim, phù phổi cấp
và dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử lý kịp thời Hiện nay bệnh chưa có vacxin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu
2 Đặc điểm dịch tễ bệnh Tay chân miệng
2.1 Tác nhân gây bệnh
Bệnh TCM do nhóm vi rút đường ruột (enterovirus) gây nên, phần nhiều là
do Coxsackie virus thuộc serotype A5, A9, A10, nhất là A16: gây bệnh lành tính, có thể tự khỏi trong 7 – 10 ngày Với Enterovirus 71 có liên quan đến các biến chứng
về thần kinh như: viêm não, viêm thân não, viêm thùy não, viêm màng não, bại liệt kiểu polio Biến chứng tim mạch, hô hấp: viêm cơ tim, phù phổi cấp do thần kinh, tăng huyết áp, suy tim, trụy mạch
2.2 Nguồn truyền nhiễm
Ổ chứa: Người bệnh hay người mang vi rút không có triệu chứng là nguồn
lây bệnh
Thời gian đào thải viurut: Virut tồn tại và đào thải qua phân trong vòng 2 - 4
tuần (Cá biệt 12 tuần) Virut tồn tại ở đường hô hấp trên và đào thải qua dịch tiết hầu họng trong vòng 2 tuần Virut tồn tại ở mụn nước cho đến khi mụn nước lành hẳn (1 -
2 tuần) Thời gian tồn tại của các Enterovirut trong môi trường tùy thuộc vào môi trường khô, ướt, nhiệt độ, tia xạ (tia cực tím của ánh sáng mặt trời), các hóa chất
Thời gian ủ bệnh: 3 đến 7 ngày, nếu có biến chứng thần kinh là 3 - 35 ngày Thời kỳ lây truyền: Enterovirus có khả năng lây bệnh trong thời kỳ ủ bệnh và
khả năng lây truyền cao nhất là 5 -7 ngày sau khi phát bệnh
Trang 112.3 Phương thức lây truyền
Enterovirut được xác định gây bệnh Tay chân miệng là một loại virut đường ruột, gây bệnh chủ yếu lây nhiễm qua đường tiêu hóa, trực tiếp phân – miệng hoặc gián tiếp qua nước, thực phẩm, tay bẩn… bị ô nhiễm phân người bệnh Một số ít trường hợp được ghi nhận lây lan qua đường hô hấp
2.4 Đặc điểm về tuổi mắc bệnh
Bệnh thường xảy ra ở trẻ dưới 10 tuổi, nhiều nhất ở trẻ 1- 3 tuổi Người đã mắc bệnh trong quá khứ vẫn có thể bị mắc bệnh do nhiễm loại vi rút khác
2.5 Phân bố theo mùa
Bệnh có thể xuất hiện quanh năm nhưng số mắc bệnh tăng cao vào những tháng đầu mùa hè và đầu mùa thu Ở Việt Nam bệnh xuất hiện nhiều trong thời gian tháng 3 đến tháng 5 và tháng 9 đến tháng 12
3 Chẩn đoán bệnh Tay chân miệng
3.1 Biểu hiện lâm sàng
* Các triệu chứng chính
- Ủ bệnh: 3 -7 ngày, nếu có biến chứng thần kinh là 3-35 ngày.
- Khởi đầu: sốt nhẹ, kém ăn, mệt mỏi, đau miệng, đau họng làm cho trẻ bỏ ăn.
- Loét miệng: sau sốt 1- 2 ngày, có sự xuất hiện các chấm đỏ nhỏ hoặc hồng
ban, phát triển thành các mụn nước trên nền các hồng ban, các mụn nước vỡ ra thành vết loét (vesicular exantheme) ở lưỡi, nướu răng, vòm họng và ở mặt trong má
- Ban ngoài da: (papulovesicular exantheme) phát triển trên 2 ngày với 2
dạng ban chính là ban sần (papules) và mụn nước (vesicles)
- Mụn nước: có kích thước từ 2 - 10 mm, màu xám, hình bầu dục
Các đốm phẳng có khi gồ lên (macular papules), hoặc có màu đỏ, một số là mụn nước
- Vị trí ban: lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, vùng đầu gối, khuỷu tay, bụng
Ban không ngứa, không đau
Có bệnh nhân chỉ phát ban hoặc chỉ có các vết loét ở miệng
Ban do Enterovirus 71 thường là ban sần và /hoặc những đốm đỏ và hồng ban rải rác thân mình và các chi Ban do Coxsackievirus A16 thường là mụn nước
Trang 12to Ở VN các ban ở dạng hỗn hợp (ban có các hình dạng ở nhiều giai đoạn khác nhau ở cùng một thời điểm trên một bệnh nhân)
Mụn nước sẽ tự xẹp đi và khỏi sau 5 đến 7 ngày, để lại vết thâm, không để lại sẹo
Một số trẻ có kèm nôn ói, tiêu chảy ngay khi nổi mụn nước hay khi mụn nước đã xẹp Cần theo dõi sát trẻ bị bệnh tay chân miệng ít nhất 8 ngày để phát hiện sớm các dấu hiệu nghi ngờ biến chứng và đưa trẻ đến bệnh viện
* Chẩn đoán xác định: Dựa vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học:
- Yếu tố dịch tễ: Căn cứ vào tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh
trong cùng một thời gian
- Lâm sàng: Phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối,
mông, kèm sốt hoặc không
- Xét nghiệm RT- PCR hoặc phân lập có vi rút gây bệnh
* Chẩn đoán phân biệt: với một số bệnh tương tự như Thủy đậu, Zona,
Herpes
4 Nguyên tắc điều trị
4.1 Bệnh TCM không biến chứng
- Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ
- Không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm
- Theo dõi sát, phát hiện sớm và điều trị biến chứng
- Bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng
Trang 13- Chỉ dùng kháng sinh khi có bội nhiễm
- Lọc máu
Điều trị bệnh nhân theo hướng dẫn “Chẩn đoán, điều trị Bệnh tay - miệng” ban hành kèm theo Quyết định số 1003/QĐ-BYT ngày 30/03/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế
chân-5 Phương pháp phòng chống dịch bệnh Tay chân miệng
5.1 Định nghĩa dịch
- Là bệnh truyền nhiễm nhóm B
- Một nơi (Thôn, khu, nhà trường…) được gọi là ổ dịch khi ghi nhận từ 02 trường hợp bệnh trở lên (lâm sàng hoặc xác định) khởi phát trong vòng 7 ngày có liên quan dịch tễ với nhau
5.2 Nguyên tắc phòng bệnh
- Hiện nay chưa có phương pháp phòng bệnh đặc hiệu cho bệnh Tay chân miệng, tuy nhiên biện pháp vệ sinh chặt chẽ có thể hạ thấp nguy cơ nhiễm bệnh Các biện pháp có tác dụng là thường xuyên rửa tay bằng xà phòng đặc biệt là sau mỗi lần thay tã lót cho trẻ, trước khi cho trẻ ăn và sau khi trẻ đi vệ sinh
- Phát hiện sớm các trường hợp mắc để xử lý kịp thời
- Cách ly các trường hợp mắc, không để lây lan ra cộng đồng
- Những nơi bị nhiễm bệnh có thể được làm sạch trước tiên bằng nước xà phòng sau đó khử trùng bằng dung dịch tẩy rửa thông thường tại gia đình Tránh các tiếp xúc thân mật với người bệnh như hôn, vuốt ve, dùng chung dụng cụ, đồ dùng đồ chơi và cho trẻ mắc bệnh tiếp xúc với trẻ khác
- Thực hiện tốt vệ sinh cá nhân rửa tay bằng xà phòng hoặc các dung dịch sát trùng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, vệ sinh môi trường thông thoáng nhà ở, nâng cao thể trạng
- Làm sạch bề mặt và khử trùng dụng cụ sinh hoạt, nhà vệ sinh bị nhiễm chất tiết và bài tiết của bệnh nhân bằng các dung dịch tẩy rửa sẵn có
- Điều trị đúng phác đồ Bộ Y tế đã ban hành
* Phòng chống bệnh Tay – Chân - Miệng trong nhà trẻ, trường Mần non
Trang 14Các vụ bùng phát dịch trong nhà trẻ, trường Mầm non thường xảy ra vào mùa hè, mùa thu đông và thường đồng thời với hiện tượng tăng các trường hợp nhiễm bệnh trong cộng đồng Để giảm số ca mắc bệnh TCM các trường Mầm non trên địa bàn cần duy trì các biện pháp:
Rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng hàng ngày trước khi chăm trẻ, nhất là sau khi
đi vệ sinh, thay tã hoặc dọn dẹp các vật dụng có phân trẻ
Hướng dẫn trẻ che miệng khi ho và hắt hơi
Vệ sinh đồ chơi, đồ dùng của trẻ, thông thoáng phòng học của trẻ
Cho nghỉ học những trẻ biểu hiện sốt hoặc có biểu hiện loét miệng, có nốt phỏng nước ở lòng bàn tay, bàn chân và đến khám điều trị tại các cơ sở y tế
5.3 Phương pháp phòng chống bệnh TCM ở Việt Nam
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, để phòng bệnh TCM cần: Phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh và điều trị kịp thời; Cách ly các trường hợp mới mắc, không để bệnh lây lan ra cộng đồng; Thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, nâng cao thể trạng; Làm sạch bề mặt và khử trùng dụng cụ sinh hoạt, nhà vệ sinh; Phòng chống dịch theo văn bản hướng dẫn “Giám sát và phòng chống bệnh tay chân miệng” ban hành theo quyết định số 1742/QĐ-BYT ngày 19/5/2008 của Bộ Y tế
Đáp ứng tình hình bệnh TCM gia tăng cao trong năm 2011, Bộ Y tế đã triển khai nhiều hoạt động phòng chống bệnh TCM như: ban hành hướng chẩn đoán, điều trị bệnh TCM, hướng dẫn này thay thế hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh TCM năm 2008; ban hành chỉ thị số 06/CT-BYT và công điện gửi các đơn vị trong ngành y tế về tăng cường công tác phòng chống bệnh TCM Thành lập 18 đoàn công tác của Bộ Y tế đi kiểm tra, chỉ đạo công tác phòng chống tay chân miệng và sốt xuất huyết Dengue tại 32 tỉnh, thành phố trọng điểm Xây dựng kế hoạch phối hợp liên ngành Y tế-Giáo dục trong phòng chống bệnh và cấp phát 22.415 kg Chloramin B, 16 bình phun MR8, 32 máy phun MD-150 DX, 20 máy phun ULV cho các Viện Pasteur TP
Hồ Chí Minh, Pasteur Nha Trang và các địa phương để phục vụ công tác phòng chống bệnh dịch [4] Tại các địa phương, thực hiện công điện của thủ tướng và Bộ Y
tế, nhiều địa phương cũng đã ban hành công văn, chỉ thị chỉ đạo tăng cường công tác phòng chống bệnh như TP Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Thanh Hóa, Tiền
Trang 15Giang…Sở Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng 63 tỉnh, thành phố đã ban hành 275 văn bản chỉ đạo các đơn vị liên quan trong ngành tăng cường công tác phòng chống bệnh TCM Đã tổ chức 105 lớp tập huấn về giám sát, phòng chống bệnh TCM cho cán bộ
Y tế dự phòng tỉnh, huyện, xã, giáo viên mầm non và 09 hội nghị triển khai, đánh giá công tác phòng chống bệnh TCM
6 Tình hình dịch Tay chân miệng trên thế giới và tại Việt Nam
6.1 Tình hình dịch Tay chân miệng trên thế
Kể từ khi tác nhân gây bệnh là EV71 lần đầu tiên được phát hiện ra ở Mỹ (tại California, 1969), bệnh lây lan sang nhiều nước và gây thành những vụ dịch lớn nhỏ tại các nước Châu Âu, trong đó có Úc và Thụy Điển Vào những năm 1970 của thế
kỷ trước, dịch xuất hiện ở Bulgari và Hungari mà tác nhân cũng do EV71 gây nên Chỉ riêng ở Hunggari đã có 1505 ca mắc và 45 ca chết Bulgari đã có 750 ca mắc bệnh, 149 ca bị liệt và 44 ca chết Những nước khác như Pháp, Ý, Hà Lan, Tây ban nha, Rumani, Brazin, Canada, Đức cũng thường xuyên xuất hiện dịch EV71
Tại Châu Á, Nhật bản là nước có lịch sử bệnh TCM sớm hơn đã xuất hiện một
số vụ dịch lớn do EV71 vào năm 1973 và 1978 Từ năm 1997 -2000, EV71 đã hoạt động trở lại Nhật Bản
Hồng Kông-Trung Quốc xảy ra dịch EV71 vào năm 1987 và năm 2001 có trường hợp tử vong đầu tiên Ca bệnh TCM đầu tiên xảy ra ở Trung Hoa đại lục là vào năm 1981 tại Thượng Hải Lần đầu tiên Viện vi rút học Vũ Hán phân lập được vi rút EV71 vào năm 1995 Tại Trung Quốc, chỉ trong vòng 3 tháng đầu năm 2009 đã
có 41.846 ca mắc bệnh TCM trong đó có 18 ca tử vong
Trong những năm gần đây, nhiều vụ dịch TCM được thông báo xảy ra tại các nước khác thuộc Châu Á và Đông Nam Á như: Đài Loan (1997-2008), Nhật Bản (2002-2004), Malaysia (1997-2008), Singapore (1997-2002), Thái Lan (2006-2008), Việt Nam (2005) , mà nguyên nhân chủ yếu do Enterovirus 71 gây nên
Nghiên cứu trong 1 thời gian dài, các nhà khoa học phát hiện ra rằng EV71 typ
A lây lan mạnh hơn ở Califonia, trong khi đó typ B và C lại lây lan mạnh ở Viễn Đông (Châu Á) thậm chí còn lan rộng ra toàn thế giới Nói cách khác, EV71 không xảy ra chỉ ở 1 nước mà còn là vấn đề chung của toàn cầu
Những vụ dịch lớn trên thế giới: Năm 1973, 1978: Dịch TCM xảy ra tại Nhật Bản với hơn 30.000 ca mắc; Năm 1978 dịch TCM tại Hungari với 1550 ca mắc; Năm
1998 dịch TCM tại Đài Loan với 130.000 ca mắc, 405 ca nặng, hơn 80 ca tử vong
Trang 16Năm 1999 tại Úc xảy ra dịch TCM với hơn 6.000 ca mắc; Năm 2008 tại Trung Quốc xảy ra dịch TCM với hơn 25.000 ca mắc, 26 ca tử vong Năm 2009 báo cáo đến 30/11/2009), theo báo cáo của CDC-Trung Quốc, dịch lớn về TCM xảy ra tại nhiều tỉnh/khu vực thuộc Trung Hoa Đại lục với khoảng 1.155.525 ca mắc và hơn 400 ca tử vong Trong khi đó đại dịch cúm A/H1N1 ở nước này chỉ gây ra cái chết cho 200 ca trong năm 2009
Bản đồ 1.1 Phân bố bệnh TCM trên thế giới, năm 2008
Kết quả cập nhật tình hình dịch TCM trên thế giới của WHO đến ngày 2/10/2011 cho biết dịch TCM đang có xu hướng giảm ở Trung Quốc, Ma Cao (Trung Quốc), Nhật Bản, Hàn Quốc nhưng lại có xu hướng gia tăng ở Việt Nam Số liệu cụ thể được mô tả trong bảng dưới đây:
Bảng 1.1 Số trường hợp mắc TCM được báo cáo đến ngày 2/10/2011
Chiều hướng
Số trường hợp báo cáo Tỷ suất
2011/2010
Trang 17có sự nhận định về tình hình dịch ở Việt Nam do Việt Nam chưa công bố số liệu chính thức trong năm 2010
Bảng 1.2 Số trường hợp mắc bệnh TCM tại một số quốc gia được WPRO báo cáo
đến ngày 6/9/2012.
Quốc gia/ vùng lãnh thổ Chiều
hướng
Số trường hợp báo cáo
Tỷ lệ mắc
2012/2011
Hồng Kông (Trung Quốc) 344 276 1,2
Ma Cao (Trung Quốc) 1.323 927 1.4
Trang 18Tại Việt Nam bệnh TCM được xếp vào loại bệnh truyền nhiễm mới nổi Bệnh gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trong cả nước, với sự phân bố tại các khu vực tương ứng: miền Nam: 48%, miền Bắc: 33%, miền Trung 14%, Tây Nguyên 5% Tại miền Nam dịch trầm trọng hơn miền Trung do số tử vong cao Số mắc bệnh TCM tập trung từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 Theo báo cáo của bệnh viện Nhi Đồng 1-TP Hồ Chí Minh (HCM), bệnh TCM bắt đầu xuất hiện vào năm 2002 Trong năm 2003 xảy ra vụ dịch TCM với hơn 1000 trẻ mắc, 20 trường hợp tử vong Những năm gần đây hàng năm có hàng ngàn trẻ mắc được ghi nhận tại Việt Nam Trong năm 2006 có 2.284 trường hợp mắc bệnh, 2007
là 5.719 trường hợp Năm 2008, theo báo cáo của Bộ Y tế, bệnh TCM xảy ra sớm hơn mọi năm (tháng 4,5) và xảy ra ở nhiều tỉnh thuộc cả 3 miền (Miền Bắc; Trung
và Nam) Trong năm 2008 có 10.958 trường hợp mắc, 25 trường hợp tử vong; năm
2009 có 10.632 trường hợp mắc và 23 trường hợp tử vong Chủ yếu các trường hợp xảy ra tại các tỉnh khu vực phía Nam Năm 2010, theo báo cáo của Bộ Y tế có hơn 10.000 trường hợp mắc
Biểu đồ 1.1 Số trường hợp mắc TCM ở Việt Nam từ 2006-2011
Năm 2011, bệnh đột ngột bùng phát ở hầu hết các tỉnh thành trên toàn quốc với số mắc là 112.370 trường hợp (tăng gấp10 lần so với các năm trước) và tử vong
Trang 19là 169 người Năm 2012, tính đến thời điểm 26/8 bệnh xuất hiện ở 63/63 tỉnh thành với số người mắc và tử vong tương ứng là 83.625 và 41
Biểu đồ 1.2: Số mắc và tử vong do bệnh TCM tại Việt Nam từ năm 2007 – 2013
Tại Việt Nam, tích lũy từ đầu năm đến tháng 06/2014 cả nước ghi nhận 38.217 trường hợp mắc tại 62 tỉnh /thành phố, có 02 trường hợp tử vong tại tỉnh Long An (01) và Bà Rịa - Vũng Tàu (01) với tác nhân gây bệnh chính là EV71 So với cùng
kỳ năm 2013 (40.429 mắc/14 trường hợp tử vong) tử vong giảm 12 trường hợp Tuy nhiên, số mắc tăng cao cục bộ tại một số địa phương như TP Hồ Chí Minh tăng 23,7%, Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 27,9%, Cà Mau tăng 17,2%, Bình Dương tăng 9,5%, Kon Tum tăng 44,6% Trên địa bàn huyện Thanh Miện tính từ đầu năm đến tháng 08/2014 ghi nhận 45 trường hợp mắc bệnh TCM trong đó bệnh tập trung chủ yếu ở xã Lam Sơn với số ca mắc 30 trường hợp chiếm 60,3% so với toàn huyện và chưa có dấu hiệu cho thấy bệnh đã được kiểm soát vì đỉnh của dịch thường rơi vào tháng 9, 10
7 Một số nghiên cứu về bệnh Tay chân miệng trên thế giới và tại Việt Nam
7.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Trong báo cáo về “Các chính sách quản lý và phòng ngừa bệnh TCM tại Trung Quốc năm 2011”, tác giả Zhang Yanpin thuộc tổ chức CDC Trung Quốc, nêu
rõ “một trong 04 lý do khiến dịch TCM vẫn tiếp tục gia tăng tại nước này sau khi các chính sách quản lý và phòng chống bệnh TCM được triển khai là sự thiếu kiến thức, thái độ, thực hành của người lớn về bệnh TCM và cách phòng chống”
Trang 20Một nghiên cứu bệnh chứng được tiến hành chọn ngẫu nhiên trên 283 trẻ dưới
06 tuổi có mắc bệnh TCM và Herpangina ở thị trấn Qiaosi, tỉnh Zhejiang, Trung Quốc để xác định các yếu tố nguy cơ về bệnh TCM và Herpangina và hiệu quả phòng bệnh bằng rửa tay xà phòng Hiệu quả của biện pháp rửa tay bằng xà phòng của trẻ được đánh giá thông qua 04 câu hỏi liên quan đến rửa tay Kết quả cho thấy 18% cha mẹ/NCS trẻ ở nhóm trẻ bệnh không biết về bệnh TCM trong khi con số tương ứng ở nhóm chứng là 9% Phần trả lời kiến thức về bệnh TCM cho thấy, trong nhóm bệnh có 50% trường hợp bệnh có kiến thức kém về bệnh TCM và chỉ trả lời được từ 01 đến 03 câu hỏi; chỉ có 12% có điểm số tốt ≥ 07; ở nhóm chứng các kết quả tương ứng là 2,5% và 78% Về thực hành rửa tay bằng xà phòng chỉ có 41% nhóm bệnh thực hiện trong khi con số này ở nhóm chứng là 75%
7.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Với mục tiêu thu thập thông tin về kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến bệnh TCM trên 02 nhóm đối tượng đích là người chăm sóc trẻ ở HGĐ và ở các điểm giữ trẻ không chính thức tại cộng đồng, năm 2011 VNRC đã phối hợp cùng IFRC tiến hành khảo sát ban đầu tại 08 tỉnh miền Nam: An Giang, Bến Tre, Long
An, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Quãng Ngãi và Đà Nẵng Khảo sát được tiến hành bằng phương pháp thu thập thông tin định lượng kết hợp với phỏng vấn sâu ở 146 NCS trẻ chính dưới 05 tuổi tại HGĐ và 70 NCS trẻ tại các điểm giữ trẻ Kết quả cho thấy, trong nhóm NCS trẻ tại nhà có đến 21,2% không biết về đường lây truyền của bệnh; 16,5% không hoặc ít quan tâm ngay cả khi trong thôn xóm có người bị bệnh TCM; chỉ có 45,9% luôn luôn sử dụng xà phòng hoặc các dung dịch sát khuẩn khi rửa tay cho trẻ; 64,2% lau rửa sàn nhà và 36,2% lau rửa đồ chơi của trẻ mỗi ngày Đây là khảo sát về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh TCM đầu tiên tại Việt Nam, với quy mô lớn nhất và nội dung hoàn chỉnh nhất cho đến thời điểm hiện tại Hạn chế của nghiên cứu là đã không loại trừ các ĐTNC ở các HGĐ đã có người mắc bệnh TCM trước đó
Nghiên cứu của Cao Thị Thuý Ngân (2012) cũng đã tiến hành nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh TCM tại phường Trung Liệt, quận Đống
Đa – Hà Nội, nghiên cứu chỉ tiến hành thu thập số liệu định lượng và chỉ trên đối
Trang 21tượng là bà mẹ có con dưới 03 tuổi Kết quả của nghiên cứu này cho thấy: tỷ lệ ĐTNC có kiến thức không đạt là 58,5% (61,2% ĐTNC không biết về triệu chứng bệnh; 19,2% không biết về đường lây truyền); tỷ lệ có thực hành không đúng về phòng chống bệnh TCM chung là 69,5% (trong đó tỉ lệ có rửa tay bằng xà phòng là 53,3%; 42,2% có lau rửa sàn nhà và 29,5% lau rửa đồ chơi cho trẻ) Nghiên cứu cũng không loại trừ các bà mẹ đã có con bị mắc bệnh TCM trước đó đến thời điểm nghiên cứu.
1.4 Khung lý thuyết
Yếu tố tăng cường Yếu tố tạo điều kiện
Tỷ lệ người chăm sóc trẻ ≤ 05 tuổi trên địa bàn xã Lam Sơn – huyện Thanh Miện – tỉnh Hải Dương có kiến thức, thực hành chưa đúng về phòng bệnh
TCM cao
Yếu tố cá nhân
Trang 22Cần có phần viết để giải thích cơ sở
hình thành và mô tả chi tiết khung lý
thuyết này
1.5 Thông tin về xã Lam Sơn –
huyện Thanh Miện – tỉnh Hải
Dương
Thanh Miện là một huyện nông nghiệp, nằm ở phía Tây Nam tỉnh
Hải Dương Phía Tây Bắc giáp huyện
Bình Giang; phía Đông Bắc giáp
Hoạt động tuyên truyền,
tư vấn,
hỗ trợ, theo dõi, giám sát của CBYT chưa hiệu quả
Tác động từ người khác chưa đúng/hiệu quả
Tác động
từ CBYT chưa hiệu quảTrình độ học vấn
từ người thân, CB chính quyền, Hội LHPN,
CB VHTT,
… chưa đúng/
chưa hiệu quả
Nội dungchưa đúng
Tuổi cao
Hình thức chưa phù hợp
Chương trình truyền thông phòng, chống bệnh TCM trên địa bàn xã chưa hiệu
quả
Trang 23huyện Gia Lộc, phía Đông Nam giáp huyện Ninh Giang; phía Nam giáp tỉnh Thái Bình; phía Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên Huyện gồm 19 xã/thị trấn và 92 thôn, khu dân cư Diện tích tự nhiên 122,321 km2, dân số huyện là 127.999 người.
Huyện có đường quốc lộ 38B chạy từ thành phố Hải Dương qua thị trấn Thanh Miện, nối tới tỉnh Ninh Bình và đi các tỉnh phía Nam Tỉnh lộ 20A nối Trung tâm huyện với huyện Bình Giang đi Hà Nội Các tuyến đường 20B và 39D chạy theo trục Bắc Nam, Đông Tây nối Thanh Miện với các huyện lân cận
Hệ thống y tế huyện Thanh Miện gồm có: Phòng Y tế, Trung tâm Y tế huyện, Bệnh viện đa khoa huyện và 19 Trạm Y tế xã, thị trấn
Xã Lam Sơn là một trong những xã kinh tế phát triển khá của huyện Thanh Miện vị trí nằm ở phía bắc cách trung tâm hành chính của huyện 5 km thuộc vùng châu thổ sông Hồng Phía bắc giáp xã Đoàn Tùng, phía tây giáp xã Lê Hồng, phía đông giáp xã Nhật Tân huyện Gia Lộc, phía nam giáp thị trấn Thanh Miện tỉnh Hải Dương Xã có 5 thôn gồm Kim Trang Đông, Kim Trang Tây, Thọ Trương, Thọ Sơn
và Thọ Xuyên Diện tích tự nhiên 554,39 ha Trong đó đất canh tác là 378,6 ha còn lại 175,79 ha là đất chuyên dùng Dân số của xã đầu năm 2014 là 7175 người Trên địa bàn huyện từ đầu năm đến tháng 08/2014 ghi nhận 45 trường hợp mắc bệnh Tay chân miệng trong đó bệnh tập trung chủ yếu ở xã Lam Sơn với số ca mắc 30 trường hợp chiếm 60,3% so với toàn huyện và chưa có dấu hiệu cho thấy bệnh đã được kiểm soát vì đỉnh của dịch thường rơi vào tháng 9, 10 hàng năm
Trang 24Chương II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng
NCS trẻ chính trong những HGĐ có trẻ ≤ 05 tuổi (trẻ được sinh từ tháng 09/2009 đến thời gian bắt đầu tiến hành nghiên cứu tháng 09/2014) đang thường trú tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương
Tiêu chuẩn lựa chọn: ĐTNC phải thỏa mãn đủ các điều kiện sau:
- Là NCS chínhchotrẻ ≤ 05 tuổi tại nhà
- Từ 18 tuổi trở lên
- Có thời gian cư trú liên tục trên địa bàn xã từ 06 tháng trở lên tính đến thời điểm tiến hành nghiên cứu
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: Loại bỏ đối tượng có ít nhất một trong các đặc điểm:
Trang 25- Người mắc bệnh câm, điếc, Tâm thần phân liệt, không thể trả lời phỏng vấn hoặc chưa đủ 18 tuổi.
- NCS trẻ tại các HGĐ có trẻ ≤ 05 tuổi đã từng mắc bệnh TCM tính từ thời điểm điều tra trở về trước (gồm trẻ năm 2012, 2013 và đến tháng 8 năm 2014 có danh sách lưu tại khoa kiểm soát dịch bệnh Trung tâm Y tế huyện, Trạm y tế xã vì những trẻ này đều đã được điều trị tại Trạm y tế xã, Bệnh viện huyện và bệnh viện Nhi tỉnh Hải Dương Những NCS này đã được Y bác sỹ điều trị trực tiếp tư vấn và cung cấp các kiến thức liên quan đến bệnh TCM Do vậy, kiến thức và hành vi liên quan đến thực hành phòng bệnh của họ có thể có sự thay đổi so với thời điểm trước đó)
- Đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính
- Lãnh đạo Trưởng hoặc phó khoa kiểm soát dịch TTYT huyện Thanh Miện
- Trưởng Lãnh đạo Trạm Y tế xã Lam Sơn
- NCS chính trẻ dưới 5 tuổi tại các HGĐ
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương
2.2.2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2014 đến tháng 01 năm 2015.
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích Kết hợp giữa nghiên cứu định lượng
và nghiên cứu định tính
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng
• Cỡ mẫu nghiên cứu:
Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức chọn mẫu nghiên cứu cắt ngang cho một quần thể :
2 2 /
d
P P
Z −α −
Trong đó:
Trang 26- n: Cỡ mẫu nghiên cứu
- Z2
1- α /2: Mức độ tin cậy 95% , Z= 1.96 P: Tỷ lệ người mẹ có kiến thức đạt, chọn p = 50% (p = 0,5) để có cỡ mẫu lớn nhất
- d: Mức sai số ước lượng chọn d = 0,05
Áp dụng công thức ta có cỡ mẫu nghiên cứu là:
n= 1.962*0.5*0.5/0.052 = 384 (ĐTNC).
Tổng số người cần điều tra: 384 người.
• Phương pháp chọn mẫu.
Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
Bước 1: Lập danh sách tất cả các trẻ ≤ 5 tuổi theo danh sách tiêm chủng mở
rộng tại phường trong các năm, (số thứ tự do cộng tác viên quy ước và thống nhất với nhóm nghiên cứu) Tổng số NCS trẻ ≤ 5 tuổi tại xã là 958 trẻ (Trừ 24 trẻ mắc bệnh năm 2012, 5 trẻ mắc bệnh TCM năm 2013 và 30 trẻ mắc bệnh trong 8 tháng đầu năm 2014) Tổng số trẻ còn lại là 899 trẻ
Bước 2: Chọn NCS trẻ ≤ 5 tuổi tại hộ gia đình
Tính khoảng cách lấy mẫu: k = N/n (Trong đó: k là khoảng cách mẫu, N là toàn bộ NCS trẻ ≤ 5 tuổi tại hộ gia đình trên địa bàn xã theo danh sách đã lập, n là
cỡ mẫu nghiên cứu).
k = 899/384 = 2,3 làm tròn giá trị là 2
Bước 3: Chọn một số ngẫu nhiên bất kỳ trong khoảng từ 1 đến 2, số ngẫu
nhiên đó là X, tương ứng người chăm sóc trẻ đầu tiên được chọn với khoảng cách mẫu và chọn cho đến khi đủ 384 người chăm sóc trẻ thì dừng chọn
Ví dụ: NCS trẻ thứ nhất là X, NCS trẻ thứ 2 sẽ là X + 2, NCS trẻ thứ 3 sẽ là (X +2)+2 và người thứ n là X + (n-1).k
+ Với mỗi HGĐ, thực hiện phỏng vấn nhanh nhằm xác định ai là NCS chính trẻ ≤ 05 tuổi tại nhà để mời tham gia nghiên cứu
+ Trường hợp đối tượng không đủ tiêu chuẩn lựa chọn hoặc từ chối tham gia nghiên cứu (sau khi thuyết phục nhưng không được) thì sẽ loại bỏ và chọn HGĐ khác để thay thế nhằm đảm bảo cỡ cỡ mẫu nghiên cứu là 384
* Cách chọn HGĐ thay thế như sau: Khi tiếp cận HGĐ có trong danh sách chọn, nếu NCS trẻ ≤ 05 tuổi từ chối tham gia nghiên cứu mặc dù đã được thuyết phục,
Trang 27hoặc NCS trẻ không đủ điều kiện lựa chọn, điều tra viên (ĐTV) sẽ tiếp cận HGĐ có trẻ
≤ 05 tuổi gần HGĐ đó nhất (không có trong danh sách chọn) để thay thế
2.4.2 Nghiên cứu định tính
Mục đích: Giải thích cho thực trạng về kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM ở
NCS chính cho trẻ dưới 5 tuổi; tìm hiểu nguyên nhân của sự khác biệt về kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM giữa các nhóm đối tượng nghiên cứu; các ý kiến đề xuất
và giải pháp nhằm nâng cao kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM
Chọn mẫu có chủ định: Tổ chức thảo luận nhóm trọng tâm, gồm 2 nhóm thảo luận, mỗi nhóm gồm 5 người chăm sóc trẻ tình nguyện tham gia
- Nhóm 1: Gồm 5 NCS trẻ có trẻ đi nhà trẻ, mẫu giáo (Đảm bảo cân bằng về địa bàn cư trú, trình độ học vấn, mối quan hệ với trẻ…)
- Nhóm 2: Gồm 5 NCS trẻ không có trẻ đi nhà trẻ, mẫu giáo
Tổng cộng sẽ có 10 người chăm sóc trẻ tình nguyện tham gia thảo luận nhóm trọng tâm
- Phỏng vấn: + 01 Trưởng khoa Kiểm soát dịch bệnh TTYT huyện
+ 01 Trạm trưởng trạm y tế xã
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Nghiên cứu định lượng
- Phỏng vấn trực tiếp tại nhà người chăm sóc trẻ ≤ 5 tuổi (trẻ sinh năm 2010 đến năm 2014)
- Công cụ thu thập số liệu:
Bộ câu hỏi phỏng vấn ( Phụ lục số 2).
Qui trình tiếp cận tuyển chọn đối tượng phỏng vấn và thu thập thông tin được tiến hành từ bước (1) đến bước (10) theo sơ đồ dưới đây:
Trang 28Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tiếp cận ĐTNC và thu thập thông tin
ĐTV đến tiếp xúc
HGĐ
(1)
Gặp: Giới thiệu, Xác định NCS trẻ chính
để tiếp xúc
(4)
Không gặp (2) Hẹn quay lại (3)
Thảo luận tham gia
Trang 29Sơ đồ này rất khó theo dõi, thực tế không phải là 10 bước, ví dụ bước 6 và bước 8 (từ chối hoặc đồng ý tham gia) là hai khả năng của một bước, không phải hai bước Có thể không cần sơ đồ, mô tả vắt tắt bằng lời, vì phần này không quan trọng, phần trên đã mô tả khá đầy đủ rồi.
Điều tra viên.
- 02 học viên lớp cán bộ Cao học y tế công cộng 17, 01 cán bộ nữ hộ sinh, 01 cán bộ phụ trách TCMR của Trạm y tế xã và 07 cán bộ y tế thôn đội của xã
- Điều tra viên sẽ được tập huấn và giám sát trong suốt quá trình thu thập số liệu
- Sau khi điều tra viên nộp phiếu điều tra cho nhóm nghiên cứu Nhóm nghiên cứu kiểm tra phiếu điều tra về số, chất lượng bộ câu hỏi và kiểm tra xác suất 10% số phiếu điều tra, nếu không đạt yêu cầu thì điều tra viên phỏng vấn lại toàn bộ phiếu điều tra
2.5.2 Nghiên cứu định tính.
Công cụ thu thập thông tin.
- Bản hướng dẫn thảo luận nhóm (phụ lục số… trang…?
- Bảng hướng dẫn thảo luận nhóm (phụ lục số… trang…?
Nếu định tính được tiến hành sau khi phân tích sơ bộ số liệu định lượng , cần nêu rõ công cụ sẽ được hoàn thiện và chỉnh sửa trước khi tiến hành thu thập số liệu định tính
- Máy ghi âm, máy ảnh, bút giấy
Phương pháp thu thập thông tin
- Nghiên cứu định tính được tiến hành sau khi có kết quả phân tích sơ bộ về kết quả nghiên cứu số liệu định lượng
Trang 30- Nghiên cứu viên trực tiếp thu thập số liệu định tính Cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu do nghiên cứu viên trực tiếp thực hiện theo bảng hướng dẫn thảo luận
nhóm, PVS (Phụ lục số 4,5,6) cùng với sự hỗ trợ của 1 thư ký là học viên lớp Cao học
17, 01 cán bộ y tế của phường Địa điểm tổ chức PVS và TLN tại hội trường Trạm y tế
xã Lam Sơn và Trung tâm y tế huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương
- Cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu được ghi âm với sự đồng ý của người trả lời Sau khi kết thúc thảo luận nhóm, phỏng vấn nghiên cứu viên gỡ băng, kiểm tra lại thông tin thu được, phân tích bằng cách mã hoá thông tin theo chủ đề
2.6 Các biến số nghiên cứu
2.6.1 Các biến số định lượng
Phương pháp thu thập Các biến số về thông tin chung
1 Tuổi
Số năm tính từ khi sinh ra đến năm
2014 (theo năm dương lịch) của ĐTNC
Thứ bậc Phỏng vấn
4 Nghề nghiệp Công việc chính đem lại thu nhập
nhiều nhất của ĐTNC Định danh Phỏng vấn
5 Thu nhập Là mức thu nhập bình quân đầu
người trong gia đình/tháng Định danh Phỏng vấn
Trang 31nhiều nhất 7
Phỏng vấn+Quan sát
Phương pháp thu thập Các biến số về kiến thức
1 Hiểu biết chung
1 Nước bọt của trẻ bệnh
2 Phân của trẻ bệnh
3 Dịch nốt phỏng nước, bọng nước của trẻ bệnh
Định danh Phỏng vấn
Trang 324 Đồ chơi, đồ dùng chung với trẻ bệnh
Đường lây truyền của bệnh TCM:
1 Qua nước bọt của trẻ bệnh
2 Qua phân của trẻ bị bệnh
3 Qua dịch nốt phỏng, bọng nước của trẻ bệnh
4 Qua đồ chơi, đồ dùng chung với
Định danh Phỏng vấn
Trang 331 Không rửa tay trước khi ăn
2 Không rửa tay trước khi chế biến thực phẩm
3 Không rửa tay sau khi đi vệ sinh
4 Không rửa tay sau khi thay quần áo, tã có chứa phân, nước bọt, dịch tiết của trẻ
5 Không vệ sinh sàn nhà
6 Không lau rửa đồ chơi, vật dụng mà trẻ thường xuyên tiếp xúc
1 Rửa tay trước khi ăn và trước khi chế biến đồ ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã lót cho trẻ
2 Thông gió nhà sạch sẽ hàng ngày
3 Làm sạch đồ chơi, dụng cụ sinh hoạt hàng ngày hay tiếp xúc với trẻ
4 Làm sạch sàn nhà
5 Khi trẻ có biểu hiện sốt nhẹ, có bọng nước thì báo cho cơ sở y tế gần nhất
6 Các ly các trường hợp nhiễm để tránh lây lan
7 Không biết
Định danh Phỏng vấn
Các biến số về thực hành:
1 VSRM cho trẻ ĐTNC có thực hiện VSRM cho
Trang 342 Thời điểm
VSRM cho trẻ
Các thời điểm trong ngày thực hiện VSRM cho trẻ Định danh Phỏng vấn3
Sử dụng xà
phòng để rửa
tay ĐTNC
ĐTNC có sử dụng xà phòng khi rửa tay hay không Nhị phân Phỏng vấn
Định danh Phỏng vấn
12 Dùng riêng vật
dụng ăn uống
ĐTNC có cho trẻ dùng riêng các vật dụng ăn uống hay không
Nhị phân Phỏng vấn
Trang 35Có hay không việc ĐYTDP/TYT
có phun hóa chất khử khuẩn nhà ở của ĐTNC
Nhị phân Phỏng vấn
5 Chiến dịch CBYT có tổ chức chiến dịch Nhị phân Phỏng vấn
Trang 36VSMT VSMT tại khu vực sống của
Trang 37phương triển khai tại địa phương
4 Nêu những hoạt động đã
triển khai tại địa bàn xã
Thu thập thông tin những hoạt động đã triển khai trên địa bàn xã Phỏng vấn sâu
5
Những thuận lợi và
khó khăn trong công
tác triển khai các hoạt
động tại địa phương
Là những việc đã làm được và những việc chưa làm được còn
có những khó khăn để thực hiện
- Thời gian cư trú liên tục của ĐTNC là thời gian đăng ký trong sổ Hộ khẩu tại Công an xã (yêu cầu trong nghiên cứu này là trên 06 tháng kể từ thời điểm bắt đầu nghiên cứu trở về trước)
- Nhà tiêu hợp vệ sinh: Nhà tiêu hợp vệ sinh là nhà tiêu bảo đảm cô lập được phân người, ngăn không cho phân chưa được xử lý tiếp xúc với động vật, côn trùng
Có khả năng tiêu diệt được các mầm bệnh có trong phân, không gây mùi khó chịu
và làm ô nhiễm môi trường xung quanh
- Thu nhập bình quân đầu người/tháng/hộ gia đinh:
+ Nghèo: Thu nhập bình đầu người < 500.000 đồng/tháng
+ Không nghèo: Thu nhập bình quân đầu người ≥ 500.000đồng/tháng
2.7.2 Các tiêu chuẩn đánh giá
Bộ công cụ nghiên cứu định lượng gồm có 40 câu hỏi bao gồm phần kiến thức, thực hành, Hoạt động Thông tin – giáo dục – truyền thông và Hoạt động hỗ
trợ y tế tại địa phương Đối tượng nghiên cứu trả lời đúng 2/3 số câu hỏi là đạt yêu
cầu thang điểm theo (phụ lục 7)
2.7.2.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về bệnh TCM
- Kiến thức về bệnh Tay chân miệng gồm 8 câu, từ câu 9 đến câu 16, tổng điểm là 34, điểm đạt từ 23– 34 điểm, < 23 điểm là kiến thức không đạt
Trang 382.7.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành phòng chống bệnh Tay chân miệng
- Thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng gồm 19 câu, từ câu 17 đến câu 34, tổng điểm là 45, điểm đạt từ 30 – 45 điểm, dưới 30 điểm là thực hành không đạt
2.7.2.3 Hoạt động thông tin – giáo dục – truyền thông tại địa phương
Hoạt động thông tin – giáo dục – truyền thông tại địa phương gồm 5 câu từ câu 35 đến câu 40, tổng số điểm là 36, điểm đạt từ 24 – 36 điểm, < 24 điểm là điểm không đạt
2.7.2.4 Hoạt động hỗ trợ người dân phòng bệnh TCM từ trạm y tế địa phương
Hoạt động hỗ trợ người dân phòng bệnh TCM từ trạm y tế địa phương gồm 8 câu từ câu 41 đến câu 48, tổng số điểm là 8 điểm, điểm đạt từ 6 – 8 điểm, < 6 điểm
là chưa đạt
2.8 Phương pháp phân tích số liệu
2.8.1 Nghiên cứu định lượng
Nhập số liệu bằng chương trình phần mềm Epidata, quản lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 Các phân tích mô tả được sử dụng phù hợp với các thông tin được phân tích Sử dụng kiểm định khi bình phương (χ2) để so sánh sự khác biệt giữa các tỷ lệ, sử dụng OR (tỷ suất chênh) và khoảng tin cậy để đo lường độ mạnh của sự kết hợp giữa các biến số và mối liên quan giữa các biến số cần quan tâm
2.8.2 Nghiên cứu định tính.
Gỡ băng, phân tích theo chủ để trích dẫn những thông tin liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM, những quan điểm, quan niệm về bệnh TCM, những khó khăn mà người chăm sóc trẻ cần được quan tâm trong việc phòng bệnh TCM
2.9 Đạo đức của nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành sau khi Hội đồng Khoa học và Hội đồng đạo đức trường Đại học y tế Công Cộng đã duyệt Nghiên cứu này chỉ tiến hành quan sát không có tác động trực tiếp nào đến đối tượng nghiên cứu
Các số liệu thu thập được chỉ phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu và chỉ được giữ lại ở xã không được thông báo ở đâu
Trang 39Nghiên cứu hoàn toàn được sự chấp thuận của cộng đồng, sự ủng hộ của chính quyền địa phương và lãnh đạo các cơ quan y tế cũng như các ban ngành đoàn thể khác trên địa bàn nghiên cứu Đối tượng tham gia nghiên cứu đủ 18 tuổi trở nên tình nguyện trả lời bộ câu hỏi phỏng vấn Nếu không đồng ý, đối tượng nghiên cứu
có quyền từ chối không tham gia trả lời câu hỏi nghiên cứu Toàn bộ những thông tin do các ĐTNC cung cấp đều được đảm bảo giữ kín, phiếu trả lời hoàn toàn không ghi lại tên, địa chỉ và thông tin nhận diện của người trả lời, các thông tin trong phiếu trả lời chỉ được sử dụng cho mục đích NC
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu
- Các kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM có thể khác so với thực tế vì ĐTNC ngại suy nghĩ và có thể trả lời bừa không suy nghĩ hoặc ĐTV có thể gợi ý các câu trả lời… Điều này ít nhiều ảnh hưởng tới chất lượng thực của thông tin từ đó ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng của nghiên cứu
- Chưa tham khảo được nhiều tài liệu, nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh TCM… nên một số tiêu chuẩn đánh giá, cũng như so sánh, đối chiếu bị hạn chế
2.10.2 Sai số và biện pháp khắc phục
- Sai số chọn: Nghiên cứu lựa chọn ngẫu nhiên HGĐ có trẻ ≤ 05 tuổi nên gặp phải sai số tiếp cận với những ĐTNC là những đối tượng không thật sự là NCS chính Khắc phục sai số này bằng cách khai thác kỹ thông tin để chọn đúng ĐTNC
là NCS chính
- Sai số thông tin: sai số nhớ lại (nhất là các câu hỏi liên quan đến phần thực hành), sai số do thu thập thông tin (các thông tin được thu thập không đầy đủ, ĐTV gợi ý câu trả lời cho ĐTNC…), sai số do nhập liệu
Một số biện pháp nhằm hạn chế được sai số này là:
+ Xây dựng bộ công cụ với những câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu
+ Thử nghiệm bộ công cụ/xin ý kiến chuyên gia trước khi tiến hành nghiên cứu để chuẩn hóa các nội dung
+ Tập huấn kỹ cho ĐTV; ĐTV hưỡng dẫn kỹ cho ĐTNC về cách thức trả lời
bộ câu hỏi phỏng vấn cũng như nói rõ mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra
+ Làm sạch và mã hóa số liệu trước khi nhập vào phần mềm
Trang 40+ Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1, với bộ check khống chế các sai số trong quá trình nhập liệu Quá trình nhập liệu được tiến hành bởi hai nghiên cứu viên hỗ trợ lẫn nhau, một người đọc, một người nhập vào máy Trong quá trình nhập, người đọc đồng thời là người hỗ trợ kiểm tra thông tin chính xác với phiếu phỏng vấn Sau khi nhập liệu xong, lấy ngẫu nhiên 10% phiếu nhập lại để kiểm tra, nếu có sai sót trên 10% thì sẽ tiến hành nhập lại toàn bộ để đảm bảo tính chính xác của thông tin.
Chương III DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 1: Thông tin chung về ĐTNC
Đặc điểm Nội dung thông tin n (người) Tỷ lệ(%)
Nhóm tuổi < 25 tuổiTừ 25 – 35 tuổi
> 35 tuổi Giới tính Nam
NữTrình độ học vấn Cấp 1
Cấp 2Cấp 3Trên PTTH (Trung cấp, Cao đẳng, Đại học, Trên ĐH)
Nghề nghiệp
Không có việc/ thất nghiệp Nông dân
Công nhân Cán bộ, công chức, viên chức nhà nước
Buôn bán/ kinh doanh Thu nhập bình quân
người/tháng
≥ 500.000đ