Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong quá trình đổi mới giáo dục của nước ta hiện nay ...8 II.1 Vật chất quyết định ý thức –thực tế khách quan , quy luật khách quan quyết đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM
TPHCM , ngày 21 tháng 1 năm 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
BỘ MÔN : NHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN TÊN TIỂU LUẬN : PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ Ý THỨC? VẬN DỤNG PHÂN TÍCH NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY TÍNH NĂNG ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY?
Mai Thị Thu Hiền
Thân Huyền Bảo Ngọc
Bùi Nhật Tân
Nguyễn Kim Thanh
Nguyễn Thị Mỹ Tiên
Nguyễn Hoàng Như Trang
Lê Thanh Toàn
1309889113093421130865611309998113092011131025411303242113092171131000611309198113094161
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Trong chương trình của sinh viên cao đẳng , đại học Học phần đầu tiên mà các chuyênngành đều phải trải qua là Triết học Triết học là khoa học có vai trò và vị trí quan trọngđối với tất cả các lĩnh vực khoa học khác Nghiên cứu Triết học góp phần tạo nên thếgiới quan khoa học cho sinh viên
Sau khoảng thời gian được học chương trình Triết học dành cho sinh viên , chúng tôicảm thấy mình đã được sự tận tâm hướng dẫn của quý thầy cô đảm nhiệm giảng dạy vàđược trang bị và bổ sung vốn kiến thức vô cùng bổ ích cho bản thân Nhân đây chúng tôixin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy Nguyễn Lâm Thanh Hoàng là giảng viên trựctiếp hướng dẫn chúng tôi học phần này Bên cạnh đó , tôi xin cảm ơn Trường Đại họcCông Nghiệp Tp Hồ Chí Minh đã tạo môi trường và điều kiện học tập rất tốt để sinhviên hoàn thành khóa học một cách tốt nhất
Với vốn kiến thức có hạn và khả năng nghiên cứu khoa học còn hạn chế , để thực hiện đềtài tiểu luận này chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy , bài tiểu luận của chúng tôi
sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và nội dung còn hạn chế , rất mong sự thông cảm củaquý Thầy!
Trang 4MỤC LỤC
Mở Đầu
Nội Dung
I Quan điểm của triết Mác-Lê về ý thức 1
I.1 Ý thức 1
I.2 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 5
II Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong quá trình đổi mới giáo dục của nước ta hiện nay .8
II.1 Vật chất quyết định ý thức –thực tế khách quan , quy luật khách quan quyết định sự năng động sáng tạo của sinh viên 9
II.1.1 Phân tích quá trình đổi mới giáo dục ở nước ta 9
II.1.2 Nhân tố vật chất và ý thức trong quá trình học tập của sinh viên 15
II.1.3 Vai trò quyết định của nhân tố vật chất với nhân tố ý thức trong lịch sử đổi mới giáo dục ở nước ta 17
Trang 5II.2 Ý thức có sự tác động trở lại vật chất 24 III Định hướng , giải pháp phát huy tính năng động sáng tạo của sinh viên trong quátrình đổi mới giáo dục 24 III.1 Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức với việc học hành của sinh viênhiện nay 24 III.2 Sự quan tâm của Đảng , nhà nước tới nền giáo dục đại học 28 III.3 Giải pháp 30
Kết Luận
Tài Liệu Tham Khảo
Trang 61.2 Lý do chọn đề tài:
Xu hướng của thời đại hiện nay là sự phát triển : phát triển kinh tế , xã hội , văn hóa ,khoa học Bước chuyển biến của thời đại “ bùng nổ thong tin ’’ đã tác động mạnh mẽđến giáo dục
Nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới – giai đoạn công nghiệp hóa , hiện đạihóa ; giai đoạn chuyển mình từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và tri thức Yếu tố quyết định cho sự thành công của sự nghiệp ấy là con người , vì vậy phải chăm lophát triển nguồn lực con người Nhà trường phải thay đổi nội dung và phương pháp giáodục để chuẩn bị cho xã hội một lớp người lao động mới , có những nhân lực và phẩmchất phù hợp với yêu cầu của đất nước trong thời kì mới
Bên cạnh đó , xu thế phát triển , đổi mới phương pháp giáo dục của các nước trong khuvực và trên thế giới buộc Việt Nam cũng phải đổi mới Xu thế ấy đã được UNESCO đề
Trang 7xướng với bốn trụ cột : học để biết , học để làm , học để chung sống, học để tự khẳngđịnh mình
Càng nhìn ra thế giới , chúng ta càng mong muốn tiếp xúc tiến gấp việc đổi mới phươngpháp khoa học và giáo dục Sự tác động của điều kiện , môi trường hoạt động giáo dụctrong mối quan hệ với hoàn cảnh , tình hình chính trị - xã hội chung của đất nước Nhưchủ tịch Hồ Chí Minh đã nói : “ chế độ nào , nhà trường ấy ” Thêm vào đó , trong quátrình học tập Triết học, chúng ta càng nhận thấy rỏ ràng mối quan hệ này
2 Mục đích – yêu cầu :
2.1 Mục đích :
Để chứng minh được tính khoa học của thế giới duy vật biện chứng, thông qua phân tíchvấn đề cơ bản của triết học phạm trù vật chất và ý thức, tính thống nhất vật chất của thếgiới
Hình thành nguyên tắc khách quan, tránh thái độ chủ quan trong nhận thức cũng nhưtrong thực tiễn
Cơ sở giải quyết theo quan điểm duy vật biện chứng đối với vấn đề cơ bản của triết học
Đó là điều kiện tiên quyết để nghiên cứu toàn bộ hệ thống quan điểm khoa học của chủnghĩa Mác- Lênin
2.2 Yêu cầu :
* Phương pháp khảo sát, nghiên cứu:
Trang 8Dựa vào bộ sách “ Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin”.
Qua các sách báo, tài liệu, mạng internet
Chủ nghĩa Mác- Lênin
* Khả năng vận dụng vào thực tiễn:
Biết được tầm quan trọng về bản chất của ý thức theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin.Biết được việc tìm hiểu vấn đề trong quá trình phát huy tính năng động, sáng tạo của ýthức trong việc học tập của mình, rèn luyện cho chúng ta để hình thành, phải tự giác tudưỡng, cũng cố nhân sinh quan cách mạng, tình cảm nghị lực cách mạng để có sự thốngnhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong định hướng hành động
Phòng chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, đó là những hành động lấy ý chí ápđặt cho thực tiễn, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy ý muốn chủ quan làm chính sách,lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách lược,…
3 Đối tượng nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu môn học: Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin lànhững quan điểm và học thuyết của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin trong phạm vinhững quan điểm, học thuyết cơ bản nhất thuộc bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩaMác- Lênin
Đối tượng nghiên cứu của lý luận và thực tiễn bao gồm hai măt chủ yếu sau đây:
Trang 9+ Một là, tất cả tài liệu hình thành do kết qủa hoạt động của con người trong mọi
lĩnh vực của đời sống và tự nhiên( bao gồm tài liệu hành chính, tài liệu khoa học
kỹ thuật, tài liệu ảnh, tài liệu phim điện ảnh, tài liệu ghi âm) thuộc diện cần đưa vào bảo quản hoặc đã được bảo quản trong các phòng, kho lưu trữ
+ Hai là, những công việc và quá trình về tổ chức khoa học, tổ chức sử dụng và
bảo quản tài liệu( phân loại, xác định giá trị, bổ sung, thống kê, biên mục, tổ chức
sử dụng tài liệu) và việc biên soạn cơ sở lý luận và phương pháp của quá trình này
Ngoài ra, lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ còn nghiên cứu những vấn đề tổ chức côngtác của các cơ quan lưu trữ như công tác quản lý, công tác nghiên cứu khoa học, tổ chứclao động khoa học Qúa trình phát triển lịch sử về lý luận và phương pháp của các nghiệp
vụ lưu trữ nước ở nước ta và các nước trên thế giới cũng thuộc đối tượng nghiên cứu củamôn khoa học này
4 Phương pháp nghiên cứu :
Tiểu luận dựa trên một số phương pháp nghiên cứu :
Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như tổng hợp hệ thống hóa, phân tích từ đórút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng
Phương pháp logic_lịch sử
Trang 10 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
Phương pháp liên ngành
5 Phạm vi nghiên cứu : Tiểu luận được tiến hành vào ngày 10-1-2014 Được thực hiện bởi
nhóm BB&BG , có sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm , được làm ở nhà từngthành viên , ở thư viện và trên lớp học , trên mạng xã hội Nội dung cần nghiên cứu củatiểu luận : tìm hiểu về ý thức trong triết học Mác-Lênin , ý thức ảnh hưởng đến sự đổimới giáo dục ở Việt Nam , những định hướng , giải pháp phát huy tính năng động sángtạo của sinh viên trong quá trình đổi mới giáo dục ở nước ta
6 Kết quả nghiên cứu :
Sau khi nghiên cứu tiểu luận ,chúng tôi rút ra được vấn đề: ý thức có sự tác động mạnh
mẽ đến quá trình học tập sáng tạo của sinh viên Việt Nam trong quá trình đổi mới giáodục ở nước ta Qua đó đề ra những giải pháp nhằm phát huy tính năng động sáng tạo củasinh viên trong quá trình đổi mới giáo dục , giúp ích cho đất nước , con người
Trang 11NỘI DUNG TIỂU LUẬN
I Quan điểm của triết học Mác_Lê về ý thức :
I.1 Ý thức :
I.1.1 Khái niệm ý thức :
Ý thức là toàn bộ những quan điểm , quan niệm của con người về thế giới và mối quan
hệ của con người trong thế giới Ý thức là hình ảnh chủ quan trong thế giới khách quan
I.1.2 Kết cấu của ý thức :
Cũng như vật chất có rất nhiều quan niệm về ý thức theo các trường phái khác nhau Theo quan điểm của CNDVBC khẳng định rằng ý thức là đặc tính và là sản phẩm của vậtchất , là sự phản ánh khách quan và bộ óc của con người thông qua lao động và ngôn ngữ Mác nhấn mạnh rằng tinh thần ý thức là chẳng qua là cái vật chất được di chuyển vào bộ
óc con người và được cải biến trong đó Ý thức là một hiện tượng tâm lí xã hội có kếtcấu phức tạp gồm ý thức tri thức , tình cảm , ý trí trong đó tri thức là quan trọng nhất , làphương thức tồn tại của ý thức , vì sự hình thành và phát triển của ý thức có lien quanmật thiết với quá trình con người nhận thức và cải biến giới tự nhiên Tri thức càng đượctích lũy con người càng đi sâu vào bản chất của sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn ,tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng hơn Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bảnquan trọng có ý nghĩa chống quan điểm đơn giản coi ý thức là tình cảm , niềm tin …Quan điểm đó chính là bệnh chủ quan duy ý trí của niềm tin mù quáng Tuy nhiên việc
Trang 12nhấn mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phũ nhận coi nhẹ yếu tố vaitrò tình cảm ý chí.
Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực thể độc lập cósẵn trong cá nhân , biểu hiện xu hướng về bản thân mình , tự khẳng định cái tôi riêng biệttách rời xã hội Trái lại CNDVBC tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức bản thân mìnhthông qua quan hệ với thế giới bên ngoài Khi phản ánh thế giới khách quan con người
tự phân biệt mình , đối lập với thế giới đó là sự nhận thức mình như là một thực thể vậnđộng , có cảm giác , tư duy có các hành vi đạo đức và vị trí xã hội Mặt khác sự giao tiếp
xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người nhận rõ bản thân mình và tự điềuchỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn mà xã hội đề ra Ngoài ra văn hóa cũng đóng vai trò cáigương soi giúp cho con người tự ý thức bản thân
Vô thức là một hiện tượng tâm lí , nhưng có liên quan đến hoạt động xảy ra ở ngoàiphạm vi của ý thức Có 2 loại vô thức : loại thứ nhất lien quan đến những hành vi chưađược con người ý thức , loại thứ hai liên quan đến các hành vi trước kia đã được ý thứcnhưng do lặp lại nên trở thành thói quen , có thể diễn ra tự động bên ngoài sự chỉ đạo của
ý thức Vô thức ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người Trong nhữnghoàn cảnh đó nó có thể giúp con người giảm bớt sự căng thẳng trong hoạt động Việctăng cường rèn luyện để biến thành hành vi tích cực thành thói quen , có vai trò quantrọng trong đời sống
I.1.3 Nguồn gốc của ý thức :
I.1.3.1 Nguồn gốc tự nhiên :
Trang 13Ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiệncon người và bộ óc Khoa học chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và Trái Đấtnói riêng đã tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người , rằng hoạt động ý thức của conngười diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh bộ não người Không thể tách rời ýthức ra khỏi bộ não vì ý thức là chức năng bộ não , bộ não là khí quản của ý thức Sự phụthuộc ý thức vào hoạt động bộ não thể hiện khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức
sẽ bị rối loạn Tuy nhiên không thể quy một cách đơn giản ý thức về quá trình sinh lí bởi
vì óc chỉ là cơ quan phản ánh Sự xuất hiện của ý thức gắn liền sự phát triển đặc tínhphản ánh , nó phát triển cùng với sự phát triển của tự nhiên Sự phát triển của xã hội loàingười đưa lại hình thức cao nhất của sự phản ánh , đó là sự phản ánh ý thức luôn gắn liềnvới việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hội
I.1.3.2 Nguồn gốc xã hội
Sự ra đời của ý thức gắn liền hình thành với sự phát triển của bộ óc con người dướiảnh hưởng của lao động và giao tiếp QHXH
Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính xã hội nhằm cải tạo tự nhiên ,thỏa mãn nhu cầu và phục vụ mục đích bản thân con người Nhờ nó mà con người và xãhội loài người mới hình thành và phát triển Lao động là phương thức tồn tại cơ bản đầutiên của con người , đồng thời ngay từ đầu đã liên kết con người lại với nhau trong mốiquan hệ khách quan, tất yếu ; mối quan hệ này đến lượt nó nảy sinh nhu cầu trao đổi kinhnghiệm và tổ chức lao động , nhu cầu “ cần phải nói với nhau một cái gì ” Và kết quảngôn ngữ ra đời Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư duy , với sự xuất hiện của
Trang 14ngôn ngữ , tư tưởng của con người có khả năng biểu hiện thành hiện thực trực tiếp , trởthành tính hiệu vật chất tác động tới giác quan của con người và gây ra cảm giác Nhờ có
nó mà con người có thể giao tiếp , trao đổi , truyền đạt kinh nghiệm cho nhau , thông qua
đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội , và ngược lại Chính nhờ trừu tượng hóa vàkhái quát hóa tức là quá trình hình thành thực hiện ý thức , chính nhờ nó mà con người cóthể đi sâu vào bản chất của sự vật , hiện tượng đồng thời tổng kết hoạt động của mìnhtrong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử
I.1.4 Bản chất ý thức
Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức , có thể thấy rỏ ý thức có bản tính phản ánh ,sáng tạo và bản tính xã hội
Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài , là biểu thị nội dung được
từ vật gây tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh Bản tính của nó quy địnhmặt khách quan của ý thức , tức là phải lấy khách quan làm tiền đề , bị nó quy định nộidung phản ánh là thế giới khách quan
Ý thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động, trong hoạt động sang tạo cải biến vàthống trị tự nhiên của con người và trở thành mặt không thể thiếu của lao động đó Tínhsang tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không chụp lại một cách thụ động nguyên xi màgắn liền với cải biến , quá trình thu nhập thông tin gắn liền với quá trình xử lí thông tin Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp khái quát thế giới khách quan
ở quá trình chủ động , tác động vào thế giới đó
Trang 15Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau , không thể tách rời , không có phảnánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở của sang tạo Đó làMQHBC giữa thu nhận xử lí thông tin , là sự thống nhất mặt khách quan của ý thức
Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động , hoạt động cải tạo thế giới của con người Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội Ý thức trước hết làthức của con người về xã hội và hoàn cảnh và những gì đang diễn ra ở thế giới kháchquan về mối lien hệ giữa người và người trong xã hội Do đó ý thức xã hội hình thành và
bị chi phối bởi tồn tại xã hội và các quy luật của tồn tại xã hội đó … ý thức của mỗi cánhân mang trong lòng nó ý thức xã hội Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất vớibản tính phản ánh trong sang tạo Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng động chủ quancủa ý thức , ở quan hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tạo thếgiới quan của con người
I.2 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Theo CNDT thì ý thức quyết định vật chất Thuyết nhị tâm một mặt thừa nhận vật chất
là thực tại khách quan , mặt khác thừa nhận ý thức là một khởi nguyên đọc lập không phụthuộc vào vật chất Nhà duy tâm chủ quan Beccoli thì cho rằng : “Tồn tại có nghĩa là bịtri giác” , Ông coi tồn tại là không khách quan , bị tri giác , do cảm giác sinh ra Nhữngcái vốn là thực tại khách quan nhưng không được tri giác thì cũng không tồn tại Khácvới các quan điểm trên , CNDVBC cho rằng vật chất là thực tại khách quan , đối lập với
ý thức Vật chất là tính chất thứ nhất , cảm giác ý thức là tính thứ hai Vật chất là cáiđược phản ánh còn ý thức là cái phản ánh Quan điểm này đã được đề cập ngay trong
Trang 16định nghĩa của Lenin về vật chất Với định nghĩa này , Lenin đã phân biệt CNDVBC vớiCNDT đồng thời cũng nêu lên mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức , giảiquyết vấn đề cơ bản của Triết học Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức thểhiện qua vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức và độc lập tương đối , sự tác độngtrở lại của ý thức đối với vật chất
I.2.1 Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức
Trước hết , vật chất quyết định nguồn gốc , nội dung và sự biến đổi , phát triển của ýthức
I.2.1.1 Về nguồn gốc
Ý thức là một dạng sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người Con người là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất , là sản phẩmcủa thế giới vật chất Như vậy xét đến cùng , vật chất có trước , ý thức có sau, vật chất lànguồn gốc sinh ra ý thức Theo Cacmac và Ăngghen , “ ý thức cũng là tư duy của chúng
ta dù có vẻ siêu cảm giác như thế nào đi chăng nữa cũng chỉ là sản vật của một khí quanvật chất , nhục thể , tức là bộ óc
Bên cạnh bộ óc , thế giới quan tự nhiên cũng quyết định sự ra đời của ý thức Nếu có
bộ óc phát triển mà không sống trong thế giới tự nhiên đa dạng phong phú tức là không
có sự tác động của thế giới tự nhiên vào bộ não thì ý thức con người chẳng khác nào loàivật , khó nhận thức đầy đủ được
Trang 17Lao động và ngôn ngữ là nguồn gốc xã hội của ý thức Chúng là những dạng tồn tạicủa vật chất , cùng với nguồn gốc tự nhiên quyết định sự hình thành , tồn tại , phát triểncủa ý thức
I.2.1.2 Về nội dung
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người , là hình ảnhchủ quan của thế giới khách quan Tất cả những hiện tượng ý thức đều hình thành trênnhững điều kiện sống và hoạt động thực tiễn của con người và xã hội loài người
I.2.1.3 Sự biến đổi , phát triển của ý thức
Vật chất là tiền đề cho sự phát triển của ý thức nên khi vật chất thay đổi thì ý thức thayđổi theo Ví dụ những sinh hoạt vật chất thay đổi sẽ làm cho thói quen , tâm lý của conngười thay đổi Hay một người bình thường nếu vì lí do nào đó mà não bị tổn thương thìhoạt động ý thức cũng bị rối loạn Cơ sở vật chất của trường học được nâng cấp cải tiếnthì trình độ dạy và học cũng được nâng cao
Bên cạnh đó, vật chất là điều kiện khách quan để hiện thực hóa ý thức tư tưởng Những chủ trương , kế hoạch của con người chỉ được thực hiện trên những cơ sở vật chấtnhất định
Vật chất quyết định tính năng động ,sáng tạo của ý thức trong hoạt động thực tiễn Dovậy , vật chất quyết định tính phong phú , đa dạng, nhìêu vẻ của ý thức
I.2.2 Sự tác động trở lại vật chất của ý thức
Nói ý thức là tính thứ hai , CNDV không hề hạ thấp mà hiều đúng vai trò thực sự của
ý thức Nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người vì ý thức là của con
Trang 18người và bản thân ý thức không làm thay đổi gì hiện thực Ý thức có tính tương đối tácdụng trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Ý thức trang
bị cho con người tri thức về thực tại khách quan trên cơ sở ấy con người đề ra phươnghướng , xây dựng kế hoạch , lựa chọn phương pháp để thực hiện mục tiêu làm thay đổihiện thực Sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh tinh thần , sang tạo chủđộng chứ không máy móc , nguyên xi thế giới vật chất Ý thức chỉ phát huy được tínhvai trò của mình khi được kết hợp chặt chẽ giữa nhân tố chủ quan và điều kiện kháchquan Nhiều công trình nghiên cứu đã xác nhận trạng thái tâm lí ( vui , buồn , phấn khởi ,chán nản ,…) ảnh hưởng trực tiếp , mạnh mẽ đến trạng thái thể lực , tốc độ , năng suất laođộng ,…
Ý thức tác động đến vật chất theo hai hướng chủ yếu :
Nếu ý thức phản ánh đúng điều kiện vật chất , hoàn cảnh khách quan thì sẽ thúc đẩy ,tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng vật chất Trong trường hợp này ý thức có
sự tác động trở lại tích cực đối với thực tiễn , đặc biệt là sự tác động của khoa học , líluận Đây là cơ sở quan trọng cho việc xác định mục tiêu , phương hướng và biện phápchính xác trong hành động và thực tiễn
Ngược lại nếu ý thức phản ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con ngườikhông phù hợp với quy luật khách quan và kìm hãm sự phát triển của vật chất Tức là ýthức đã có tác động tiêu cực đối với thực tiễn Khi con người không nhận thức đúng ,không hiểu rỏ sự việc hiện tượng thì họ sẽ hành động sai và thường chịu những thất bạitrong cuộc sống
Trang 19Ví dụ : Thuyết nhật tâm phản ánh đúng thế giới sẽ giúp khoa học phát triển Cònthuyết địa tâm của Aristot coi Trái Đất là trung tâm của vũ trụ đã kìm hãm sự phát triểncủa thế giới vật chất , làm cho “ loài người ngủ trong giấc ngủ triền miên của những đêmdài trung cổ.”
Vì vậy con người phải thừa nhận tính khách quan của vật chất , thừa nhận quy luật tựnhiên của xã hội để phát huy tính năng động của ý thức , nhận thức đúng sự vật hiệntượng Thế giới vật chất với những thuộc tính , quy luật của nó tồn tại khách quan khôngphụ thuộc vào ý thức con người nên trong hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tếkhách quan làm căn cứ cho hoạt động của mình
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối Vậtchất quyết định ý thức là tuyệt đối Nhưng trong một số trường hợp cụ thể hoặc trongmột giai đoạn ngắn , ý thức lại quyết định vật chất Mác chỉ rõ lí luận sẽ trờ thành lựclượng vật chất khi nó thâm nhập vào lực lượng quần chúng
Biểu hiện của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệgiữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội , trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và ýthức xã hội có tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội Ngoài ra , mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để xem xét các mối quan hệ như chủ thể và kháchthể , lí luận và thực tiễn , điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan ,…
II Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong quá trình đổi mới giáo dục của nước ta hiện nay
Trang 20II.1 Vật chất quyết định ý thức – thực tế khách quan , quy luật khách quan quyết định sự năng động sang tạo của sinh viên
II.1.1 Phân tích quá trình đổi mới giáo dục ở nước ta
Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa , là động lực thúc đẩynền kinh tế phát triển Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thếgiới , các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách hang đầu Vậy tại sao giáo dục đào tạolại có tầm quan trọng đến chiến lược phát triển đất nước như vậy ?
_ Thứ nhất : Giáo dục đào tạolà điều kiện kiên quyết góp phần phát triển kinh tế _ Thứ hai : Giáo dục đào tạo góp phần ổn định chính trị xã hội
_ Thứ ba : Và trên hết giáo dục đào tạo nâng cao chỉ số phát triển con người
Hiểu được điều này , Việt Nam cũng là một trong những quốc gia rất coi trọng sự pháttriển của nền giáo dục , đã và đang củng cố xây dựng nền giáo dục thực vững mạnh và cóchất lượng Vì vậy mà trong suốt những năm qua Đảng và nhà nước đã luôn quan tâm vàtập trung đầu tư rất nhiều cho nền giáo dục Việt Nam
Hơn nữa thế kỷ qua nền giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng đãđạt nhiều thành tích to lớn trong sự nghiệp giải phóng , xây dựng và phát triển đất nước Giáo dục đại học đã đào tạo bài bản và cung cấp cho đất nước một đội ngũ cán bộ đôngđảo có trình độ đại học , trên đại học đáp ứng nhu cầu thực tiễn của đất nước , cũng nhưyêu cầu của sự hội nhập khu vực và thế giới trên mọi lĩnh vực Với quan điểm “ Đầu tưcho giáo dục là quốc sách” , Đảng và nhà nước đã đưa ra nhiều nghị quyết về phát triểngiáo dục , đào tạo khoa học và công nghệ khẳng định tầm quan trọng , định hướng cũng
Trang 21như xác định mục tiêu , nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đại học Thựchiện nghị quyết của Đảng , Chính phủ và Bộ giáo dục đào tạo đã đưa ra nhiều mô hìnhđào tạo đại học Do vậy , tốc độ tăng của giáo dục và đào tạo đại học tăng nhanh Hiệntrên cả nước có gần 90 cơ sở đào tạo đại học bao gồm các trường đại học quốc gia , đạihọc vùng , các trường đại học công lập , bán công , dân lập và các học viện Tới đây sẽ cóthêm một số trường đại học tư thục ra đời Lực lượng giảng viên không ngừng nâng caochất lượng và quy mô , số lượng sinh viên tăng đáng kể( tăng khoảng 15 lần so với 20năm trước ) và do đó làm cho trình độ dân trí tăng rõ rệt Thành tích trên là đáng trântrọng và tôn vinh Mặc dù như vậy , nhưng chất lượng giáo dục ở Việt Nam vẫn chưacao , nói một cách nom na là số lượng thì tăng rất nhanh nhưng chất lượng vẫn khôngtăng thậm chí còn tuột dốc , chưa theo kịp với sự đổi mới của thế giới
II.1.1.1 Thực trạng nền giáo dục Việt Nam hiện hành
Hiện nay có khuynh hướng đề cao khái niệm “ đại học quốc tế chất lượng cao” , cơ bảnxây dựng trường đại học tốt là điều kiện “ cần có” nhưng điều kiện “đủ” là chúng ta phải
có bản thân sinh viên là những hạt giống tốt , nhân tố tốt Rỏ ràng lâu nay giáo dục ViệtNam chỉ lo đào số lượng sinh viên đầu ra mà quên đi vấn đề quan trọng là thế hệ sinhviên thật sự đóng góp như thế nào vào sự nghiệp phát triển đất nước Hàng loạt kỹ sư, cửnhân Việt Nam ra trường nhưng thử hỏi có bao nhiêu người đạt được trình độ kỹ thuậtcủa kỹ sư? Bao nhiêu người dùng được? Bao nhiêu người làm việc theo đúng ngành nghềmình đã học, đó là một sự lãng phí lớn Thậm chí ngày nay học sinh, sinh viên chỉ lo đạtbằng TOEFL này, TOEIC kia nhưng chính tiếng Việt lại sử dụng không chuẩn Trong khi
Trang 22cha ông ta ngày xưa số lượng ông Cử đếm trên đầu ngón tay nhưng đào tạo người nào rangười nấy Họ không chỉ thông thạo ngoại ngữ mà còn giỏi thơ văn, rành văn hóa nướcnhà Vì sao lại có nghịch lý như thế? Hiện nay chúng ta cũng không có một ngành thống
kê thực tế phục vụ nghiên cứu chính sách Xây dựng trường đại học mang tầm quốc tế chỉ
là điều kiện“cần” nhưng chưa “đủ” Trên thế giới người ta rất quan tâm đến những thợ
giỏi, chuyên viên kỹ thuật cao Đất nước đang trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đạihóa mà sinh viên không chịu học kỹ thuật, chỉ tập trung không cân bằng vào các ngành
dễ được xã hội “chấp nhận” thì làm sao phát triển công nghiệp, làm sao hiện đại hoá đấtnước? Việt Nam muốn phát triển nền khoa học kỹ thuật thì phải đào tạo khoa học kỹthuật trên bình diện rộng
Nền giáo dục chúng ta có thể xem như đang mắc bệnh mà không chữa trị, đua nhaunhồi nhét học thuộc lòng theo sách vở để có điểm cao mà sách chưa chuẩn, năm nào thi
cử cũng gian lận, đề thi sai, trẻ con thì bị bỏ mặc lang thang trên đường phố, ma túy tronghọc đường, ý thức công dân rất kém Càng nói càng thấy nguy cơ, nhưng không thấy xãhội thật sự quản ngại vì bao nhiêu năm rồi chưa thấy biện pháp giải quyết, chỉ nghe đượcnhững hứa hẹn cải cách Giáo dục Việt Nam muốn phát triển phải giải phẫu đúng bệnh.Bệnh chẩn đoán đúng nhưng không chịu giải phẫu làm sao chữa trị? Thực tế, các cơ quanchức năng đều nhận thấy hết căn bệnh giáo dục nước nhà Trong các cuộc hội thảo, hầunhư mỗi vấn đề đều đã được phân tích, đã chỉ ra cái đúng cái sai nhưng điều lạ lùng là nókhông được đúc kết để đưa vào thực hiện thực tế Tình trạng “nói” nhưng không “làm” là
Trang 23căn bệnh nan giải nhất của hầu hết nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội chứ không phảicủa riêng ngành giáo dục Việt Nam.
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có nhữngthành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực chocông cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩnchứa rất nhiều yếu kém, bất cập:
- Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục; chấtlượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; so vớiyêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sáchhàng đầu
-Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm hiệnđại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huy tínhsáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên
- Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lốisống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy “nghề” vẫnyếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc, tư duy sáng tạo, kỹnăng thực hành, kỹ năng sống…
- Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cânđối
- Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới, lànguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi
Trang 24mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh tế thịtrường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước.
- Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và nănglực của một bộ phận còn thấp
- Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng liênkết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác định rõphương châm
- Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nướctrong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dục chưađược quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất cập
- Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành cơ chế,chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu những quyếtsách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo
tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một số chính sách về giáo dụccòn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội
Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể giải quyếtkhắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt nhất thời, thiếuchiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chưa đạt tới chiều sâu bảnchất của vấn đề Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những người lãnh đạo -quản lý, những nhà khoa học, những người làm giáo dục phải có cách nhìn toàn diện, đầy
Trang 25đủ, khách quan, như các văn kiện của Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn những gì nêutrên báo chí và những báo cáo tổng kết thành tích.
II.1.2 Nhân tố vật chất và ý thức trong quá trình học tập của sinh viên
II.1.2.1 Nhân tố vật chất
Trong hoạt động thực tiễn , nhân tố vật chất là thực thể khách quan , quy luật kháchquan trong miền hoạt động của con người
Thực tế khách quan trong hoạt động học tập bao gồm các yếu tố cơ bản sau :
Điều kiện – kinh tế xã hội ở trường nơi học tập , cơ sở vật chất , trang thiết bị , đồ dungphục vụ cho hoạt động học tập , tâm sinh lý của học sinh ,…
Cơ sở vật chất của trường học là tất cả các phương tiện vật chất được giáo viên và họcsinh sử dụng nhằm thực hiện hiện hiểu quả các chương trình giảng dạy và học tập Cốtlõi của cơ sở vật chất trường học chính là trang thiết bị để dạy và học tập Trang thiết bị
là công cụ lao động của người giáo viên , là công cụ nhận thức của học sinh , sinh viênnhờ đó mà học sinh , sinh viên hiểu biết được thế giới xung quanh
Quy luật khách quan : trong hoạt động học tập gồm một số quy luật : quy luật nhậnthức , quy luật tâm lý , quy luật xã hội
Ta biết rằng , bản chất của quá trình học tập là hoạt động nhận thức chu đáo của họcsinh, sinh viên dưới sự hướng dẫn của giáo viên Lênin đã xác định con đường biệnchứng nhận thức là “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng , rồi từ tư duy trừutượng lại đến thực tiễn , đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý , nhận thứchiện thực khách quan” Đối với học sinh phổ thông quá trình nhận thức có đặc điểm riêng