Kết quả nghiên cứu này không chỉ là nghiên cứu khoa học mang tính lý luận mà nó sẽ giúp cho ban ngành, cán bộ xây dựng chiến lược chương trình xã hội hóa Methadone tại TP.HCM có kế hoạch
Trang 1(thực hiện năm 2012)
Chủ nhiệm đề tài : BS Tiêu Thị Thu Vân
Cơ quan thực hiện : Ủy ban phòng chống AIDS TP.HCM
Cơ quan quản lý đề tài : Cục Phòng, chống HIV/AIDS
Mã số đề tài (nếu có) : 20
Năm 2012
Trang 2CỤC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài:
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG CHI TRẢ CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ
METHADONE CỦA BỆNH NHÂN CHUẨN BỊ THAM GIA MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA METHADONE TẠI TP HỒ CHÍ MINH
(thực hiện năm 2012)
Chủ nhiệm đề tài : BS CKI.Tiêu Thị Thu Vân
Cơ quan thực hiện đề tài : Ủy ban phòng chống AIDS TP.HCM
Cấp quản lý : Cục Phòng, chống HIV/AIDS
Mã số đề tài (nếu có) : 20
Thời gian thực hiện : từ tháng 01/ 2012 đến tháng 12 /2012
Tổng kinh phí thực hiện đề tài : 32.998.400 vnd
Trong đó: kinh phí SNKH :32.998.400 vnd
Nguồn khác (nếu có) : 0 triệu đồng
Năm 2012
Trang 3BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
1 Tên đề tài: Khảo sát khả năng chi trả chi phí điều trị Methadone của bệnh nhân chuẩn bị tham gia mô hình xã hội hóa Methadone tại TP
Hồ Chí Minh (thực hiện năm 2012)
2 Chủ nhiệm đề tài : BS CKI Tiêu Thị Thu Vân
3 Cơ quan thực hiện đề tài :Ủy ban phòng chống AIDS TP.HCM
4 Cơ quan quản lý đề tài : Cục Phòng, Chống HIV/AIDS
5 Thư ký đề tài : không
6 Phó chủ nhiệm đề tài hoặc ban chủ nhiệm đề tài (nếu có): không có
7 Danh sách những người thực hiện chính:
- BS CKI Tiêu Thị Thu Vân
- ThS Nguyễn Thị Thúy Ngà
- CN Phạm Thị Thu Thúy
- CN.Hán Đình Hòe
- CN.Vũ Thị Tường Vi
8 Các đề tài nhánh (đề mục) của đề tài (nếu có): không có
9 Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 12 năm 2012
Trang 4MỤC LỤC
1.Đặt vấn đề 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
2 Tổng quan tài liệu 4
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 9
3.1 Thiết kế nghiên cứu 9
3.2 Cỡ mẫu, chọn mẫu và đối tượng nghiên cứu 10
3.3 Phương pháp nghiên cứu 12
3.4 Phương pháp xử lý dữ liệu 14
3.5 Quản lý và phân tích dữ liệu 14
3.6 Đạo đức trong nghiên cứu 15
4 Kết quả nghiên cứu 17
4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 17
4.2 Khả năng chi trả chi phí 23
4.3 Vai trò của gia đình 28
4.4 Nhu cầu của bệnh nhân 34
5 Bàn luận 42
6 Kết luận và khuyến nghị 44
7 Tài liệu tham khảo 49
8 Phụ lục 52
Trang 5NHỮNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CDTP : Chất dạng thuốc phiện
HIV/AIDS : Virus gây suy giảm miễn dịch ở người
MMT : Liệu pháp điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện
thay thế bằng Methadone TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
UBPC AIDS : Ủy ban phòng chống AIDS TP.HCM
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 6Phần A - Tóm tắt các kết quả nổi bật của đề tài
(chủ nhiệm đề tài tự đánh giá)
1.Kết quả nổi bật của đề tài
a) Đóng góp mới của đề tài
Nghiên cứu cho thấy trên 90% bệnh nhân đang điều trị và người chưa điều trị MMT đều mong muốn tiếp tục tham gia chương trình có đóng phí thay
vì được miễn phí như hiện nay 42% bệnh nhân là người đang điều trị MMT hay người chuẩn bị điều trị đều cho rằng họ có thể đóng góp chi phí điều trị từ 10.000 vnd – 20.000 vnd/ngày Mức chi phí trung bình bệnh nhân có thể trả 20.693 đ/ngày/bệnh nhân
- Xác định được vai trò của gia đình, đặc biệt là cha mẹ bệnh nhân trong việc hỗ trợ kinh phí, tình cảm chăm sóc sức khỏe cho con em họ khi tham gia điều trị Methadone có đóng phí
- Nghiên cứu xác định được các dịch vụ ưu tiên theo sự lựa chọn của bệnh nhân khi họ tham gia đóng phí điều trị MMT Ngoài dịch vụ phát thuốc định kỳ, đa số bệnh nhân lựa chọn các dịch vụ khám sức khỏe định kỳ, tư vấn tâm lý – tư vấn tuân thủ điều trị là 2 dịch vụ ưu tiên hàng đầu, còn lại là các dịch khác
c) Hiệu quả về đào tạo
Trang 7Nghiên cứu này là cơ hội nâng cao năng lực nghiên cứu ít nhất là cho thành viên của nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài này, giúp họ phát huy năng lực nghiên cứu bản thân và tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học Thứ hai, giúp các nhà nghiên cứu phát huy năng lực nghiên cứu linh hoạt trong tất cả các mảng nghiên cứu, không chỉ đơn giản
là bồi dưỡng thêm kiến thức về cách thức thực hiện nghiên cứu mà còn
giúp trong việc đưa các nghiên cứu khoa học vào ứng dụng trong thực tiễn d) Hiệu quả về kinh tế và xã hội
Kết quả nghiên cứu này không chỉ là nghiên cứu khoa học mang tính lý luận mà nó sẽ giúp cho ban ngành, cán bộ xây dựng chiến lược chương trình xã hội hóa Methadone tại TP.HCM có kế hoạch triển khai chương trình phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam nói chung, TP.HCM nói riêng và quan trọng hơn cả là đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của bệnh nhân khi họ tham gia đóng phí điều trị Methadone
Áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội
Kết quả nghiên cứu là bằng chứng khoa học trong việc chỉ ra khả năng chi trả chi phí điều trị Methadone của bệnh nhân đang điều trị và những người
có nhu cầu nhưng chưa được điều trị khi tham gia vào chương trình xã hội hóa MMT tại TP.HCM
Kết quả nghiên cứu giúp cho các ban ngành liên quan, những cán bộ quản
lý điều phối chương trình có những kế hoạch triển khai chương trình xã hội hóa phù hợp với tình hình thực tế tại TP.HCM từ nay đến năm 2015, cũng như đáp ứng được nhu cầu và khả năng của bệnh nhân khi tham gia điều trị Methadone có đóng phí
Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt
Trang 8- Lý do phải kéo dài: ngân sách về chậm (10/2012), thời gian thu
thập mẫu kéo dài 3 tháng thay vì 1 tháng
b) Thực hiện mục tiêu nghiên cứu
Thực hiện được các mục tiêu đề ra nhưng không hoàn chỉnh
Chỉ thực hiện được một số mục tiêu đề ra
Những mục tiêu không thực hiện được (ghi rõ)
c) Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương
Chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu như đã ghi trong đề cương
Tạo ra đầy đủ các sản phẩm nhưng chất lượng có sản phẩm chưa đạt
Tạo ra đầy đủ các sản phẩm nhưng tất cả các sản phẩm đều chưa đạt chất lượng
Tạo ra được một số sản phẩm đạt chất lượng
Những sản phẩm chưa thực hiện được (ghi rõ)
d) Đánh giá việc sử dụng kinh phí
- Tổng kinh phí thực hiện đề tài : 32.998.400 đồng
- Trong đó: kinh phí SNKH :32.998.400 đồng
Trang 9- Nguồn khác (nếu có) : 0 đồng
- Toàn bộ kinh phí đã được thanh quyết toán : 32.998.400 đồng
- Chưa thanh quyết toán xong : 0 đồng
Các ý kiến đề xuất
Không có ý kiến
Trang 11Phần B Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở
1 Đặt vấn đề:
1.1 Tính cấp thiết cần nghiên cứu của đề tài
Ma túy đã trở thành hiểm họa lớn của toàn nhân loại, nó đã hủy hoại sức khỏe, trí tuệ của con người, không những gây ra vi phạm pháp luật, đạo đức, mà còn làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội Vấn đề nghiện
và tái nghiện luôn là nỗi ám ảnh không chỉ của cá nhân người sử dụng ma túy mà còn là của cả gia đình và xã hội Về khoa học, nghiện được xem như là bệnh mãn tính của não bộ nên người nghiện được xem như là bệnh nhân cần được điều trị lâu dài hoặc suốt đời
Trên thế giới đã có rất nhiều liệu pháp điều trị khác nhau, trong đó phương pháp điều trị các chất dạng thuốc phiện thay thế bằng Methadone được đánh giá khá cao về hiệu quả điều trị cho bệnh nhân có tiền sử nghiện ma túy thuộc nhóm Heroin lâu năm Ở Việt Nam, Methadone đã được phép đưa vào điều trị thí điểm tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh từ năm
2008 và hiện nay đã mở rộng ra một số tỉnh thành khác trên cả nước Cho đến nay đã có 9 tỉnh, thành phố triển khai 30 điểm với 4.883 bệnh nhân đang được điều trị Căn cứ trên những kết quả đã đạt được của chương trình Methadone từ năm 2008 đến nay, Chính phủ đã đồng ý về chủ trương
mở rộng Chương trình Methadone ra các tỉnh/thành phố trọng điểm về ma túy và HIV/AIDS Dự kiến đến năm 2015 chương trình sẽ được triển khai trên 30 tỉnh/thành phố trên cả nước, phấn đấu đạt mục tiêu điều trị cho khoảng 80.000 người nghiện chích ma túy
Trang 12Thành phố Hồ Chí Minh được xem là một trong những nơi có số người nghiện ma túy cao, ước tính có khoảng trên 15.000 người sử dụng ma túy1
Do đó với năm (05) điểm điều trị Methadone như hiện nay gồm Quận 4, 6,
8, Thủ Đức và Bình Thạnh chỉ mới có thể đáp ứng được một phần nhỏ số người có nhu cầu tham gia điều trị của người sử dụng ma tuý cơ sở điều trị Methadone hiện nay chủ yếu do tài trợ, bệnh nhân tham gia chương trình được điều trị miễn phí hoàn toàn Tuy nhiên từ cuối năm 2011, ngân sách tài trợ cắt giảm một cách nhanh chóng và nhất thiết cần phải tìm kiếm các
mô hình với chi phí hiệu quả và bền vững và chuyển sang cơ chế bền vững cho Nhà nước
Theo Kế hoạch Phát triển bền vững Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại TP.HCM giai đoạn 2012 –
20152: Thực hiện xã hội hóa chương trình Methadone, triển khai việc thu phí từ bệnh nhân và sử dụng nguồn thu để vận hành cơ sở và bao gồm trả một phần hoặc toàn bộ lương cho nhân viên, tiến tới giảm dần ngân sách Nhà nước chi cho chương trình theo công thức 1/3: ngân sách Nhà nước 1/3, viện trợ 1/3 và bệnh nhân tham gia trả 1/3 Dự kiến tới năm 2015, TP.HCM sẽ có 19 điểm Methadone (7 điểm chính và 12 điểm vệ tinh) với quy mô đồng bộ, cung cấp dịch vụ cho khoảng 4.000 bệnh nhân
Ngoài việc mở rộng các điểm cung cấp dịch vụ, chương trình Methadone sẽ tập trung vào hoạt động tư vấn tâm lý xã hội, quan tâm đến các vấn đề về việc làm, y tế cho bệnh nhân để phát huy hết khả tác dụng và hiệu quả chương trình Tuy nhiên, các điểm cung cấp sẽ đảm bảo chất lượng và quy trình chuẩn của Bộ Y tế
Để thực hiện tốt kế hoạch xã hội hóa chương trình Methadone trong thời gian tới, kết quả nghiên cứu của đề tài là bằng chứng khoa học về khả năng
1
UBPC AIDS TP.HCM, 2011, Kế hoạch hoat động chương trình phòng chống AIDS giai đoạn 2012 –
2015
Trang 13chi trả chi phí điều trị, nhu cầu gói dịch vụ của bệnh nhân Methadone khi
họ tham gia chương trình xã hội hóa Methadone Đó là lý do nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “Khảo sát khả năng chi trả chi phí điều trị Methadone của bệnh nhân chuẩn bị tham gia mô hình xã hội hóa Methadone tại TP.HCM”
1.2 Câu hỏi nghiên cứu
1 Mức độ chi trả chi phí điều trị của bệnh nhân tham gia điều trị Methadone là như thế nào?
2 Gia đình đóng vai trò như thế nào trong viêc hỗ trợ bệnh nhân chi trả chi phí điều trị?
3 Bệnh nhân mong đợi được nhận gói dịch vụ gì trong quá trình tham gia điều trị Methadone?
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát:
Tìm hiểu khả năng chi trả chi phí điều trị Methadone của bệnh nhân chuẩn
bị tham gia mô hình xã hội hóa chương trình Methadone tại TP.HCM
Mục tiêu cụ thể:
- Xác định khả năng chi trả phí tham gia điều trị của bệnh nhân
Methadone
- Xác định vai trò của gia đình trong việc hỗ trợ bệnh nhân tham gia
chi trả chi phí điều trị Methadone
- Xác định nhu cầu của bệnh nhân về gói dịch vụ ưu tiên khi tham gia
mô hình xã hội hóa Methadone
Trang 14
2 Tổng quan đề tài:
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan tới đề tài
Sử dụng chất dạng thuốc phiện (Heroin) được xem như là một vấn đề nghiêm trọng trên toàn cầu Trên thế giới, hiện có khoảng 16 triệu người tiêm chích ma túy trong đó 3 triệu người có HIV3
Quy mô chương trình
Bên cạnh những biện pháp dự phòng, chương trình giảm hại, hiện có 70 quốc gia triển khai chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện thay thế bằng Methadone với gần 800.000 bệnh nhân được điều trị (trong
đó có khoảng 580.000 bệnh nhân tại Châu Âu và hơn 200.000 bệnh nhân Châu Á):
- Mỹ: Bắt đầu áp dụng rộng rãi vào 1964, trở thành quốc sách từ 1985 1/4 trong tổng số 600.000 nghiện ma túy tại Mỹ đang được điều trị bằng Methadone
- Pháp: Đầu năm 1994, mới có 52 cơ sở điều trị, nhưng do số lượng người nhiễm HIV vì tiêm chích ma túy ngày càng tăng nhanh và không
có giải pháp nào hữu hiệu bằng Methadone nên Bộ Y tế nước này đã kiến nghị thành lập 5.000 cơ sở điều trị cho cả nước và số lượng người điều trị lên tới 30.000
- Châu Âu: Đa số các nước đều chấp thuận phương pháp này LPM chiếm ưu thế tuyệt đối ở Hà Lan Thống kê năm 1994 cho thấy, tại Thụy Sĩ có 3.000 cơ sở điều trị Methadone và ở Đức có 4.000 cơ sở
- Hồng Kông là nước đầu tiên trong khu vực Tây Thái Bình Dương đưa
mô hình điều trị nghiện Heroin bằng Methadone (1972) và chương trình đã đạt hiệu quả cao trong việc giảm tỉ lệ người nghiện chích ma túy trong xã hội Ngoài ra, Australia cũng đưa chương trình điều trị nghiện bằng Methadone lên thành quốc sách từ năm 1993 cho thấy tầm
Trang 15
quan trọng của chương trình Năm 2004, Trung Quốc bắt đầu thử nghiệm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone và đã nhân rộng mô hình này vào năm 2006 Đến cuối
2009, có 112.000 người được điều trị Methadone tích cực tại 680 trạm
y tế
Hiệu quả chương trình
Theo nghiên cứu của tổ chức UNODC về hiệu quả của chương trình Methadone4, tác giả Emran Mohammad Razzaghi cho thấy Methadone giúp bệnh nhân giảm lạm dụng các chất gây nghiện bất hợp pháp, giảm hành vi tội phạm và hành vi bạo lực, đồng thời giúp bệnh nhân chi tiêu một cách hợp lý hơn thay vì trước đây phần lớn tiền của được đổ vào mua
ma túy, tính trung bình bệnh nhân tiết kiệm được 100 usd/tháng Kết quả nghiên cứu cho thấy 59% bệnh nhân còn điều trị duy trì và tuân thủ điều trị sau 3 tháng tham gia chương trình Methadone Đối với những bệnh nhân đang điều trị với 75mg/ngày có tỉ lệ duy trì điều trị sau 3 tháng là 75% cao hơn so với bệnh nhân đang điều trị với độ dung nạp là 40mg/ngày (40% duy trì điều trị sau 3 tháng) 60% duy trì điều trị sau 6 tháng tham gia chương trình điều trị Methadone Nghiên cứu cũng chỉ ra hiệu quả chi phí chương trình mang lại cho bệnh nhân là họ chỉ phải trả 15 usd/tháng cho việc điều trị Methadone thay vì sử dụng ma túy sẽ mất gấp gần 10 lần số tiền này5
Nghiên cứu của Trường đại học Bristol, Cambridge và Edinburgh cho thấy: điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện thay thế bằng Methadone làm giảm tần số sử dụng ma túy và giảm nguy cơ tử vong 13% mỗi năm Tuy nhiên nghiện Heroin là bệnh mãn tính, do đó cần phải điều trị lâu dài
4
Emran Mohammad Razzaghi MD, he United Nations Office on Drugs and Crime, January 2005,
Effectiveness of methadone maintenance program in reducing illicit drug use and HIV related high-risk behavior:
A multi-center study
Trang 16Theo nghiên cứu về Đánh giá hiệu quả điều trị Methadone ở Ireland (4/2010) của Tiến sĩ Catherine Comiskey và Maynooth, Ủy ban Cố vấn Quốc gia về Thuốc (NACD) cho thấy: sau một năm điều trị đã giảm số người tiêm chích ma túy và tần suất tiêm chích ma túy, các hành vi nguy
cơ có liên quan đến tiêm chích là thấp hơn và triệu chứng sức khỏe thể chất và tinh thần cao hơn6
Bên cạnh các nghiên cứu hiệu quả điều trị lâm sàng, chương trình điều trị nghiện bằng Methadone cho thấy hiệu quả cả về kinh tế và xã hội Nghiên cứu của Rufener, 1997 cũng đưa ra kết luận: chi phí xã hội cho hoạt động phòng chống tội phạm ma túy và hoạt động liên quan cao gấp 4 lần chi phí cho hoạt động duy trì điều trị Methadone7 Chúng bao gồm chi phí y tế, chi phí thực thi pháp luật, chi phí hệ thống tư pháp, chi phí phòng chống tội phạm ma túy, phòng chống lạm dụng ma túy, chi phí thất nghiệp và cả chi phí cho những ca tử vong liên quan đến sử dụng ma túy
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan tới đề tài
Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng thuốc Methadone đã được triển khai thí điểm tại Hải Phòng và TP.Hồ Chí Minh
từ đầu năm 2008 Đây là hai thành phố có quần thể người nghiện chích ma túy lớn nhất cả nước chương trình được triển khai nhằm mục đích góp phần làm giảm lây nhiễm HIV và một số bệnh có liên quan trong nhóm những người nghiện các CDTP và từ nhóm người nghiện các CDTP sang các quần thể khác, cải thiện sức khoẻ và chất lượng cuộc sống, hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng
5
FHI Việt Nam, 2009, Đánh giá bước đầu triển khai thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh
6
http://www.nacd.ie/news/launch_event26042007.html
7
http://international.drugabuse.gov/educational-opportunities/certificate-programs/methadone-research-web-guide/part-b/question-15-are-t
Trang 17 Hiệu quả chương trình
Theo nghiên cứu của Viện Sức khỏe Tâm thần Trung ương Việt Nam, thuốc Methadone có những ưu điểm sau: Làm giảm hành vi sử dụng các chất dạng thuốc phiện khác (từ 100% xuống 18% sau 6 tháng và 9% sau 2 năm điều trị; Giảm tỉ lệ tiêm chích: từ 35% xuống 3.2%; giảm các hành vi nguy cơ như: phạm pháp trong gia đình, phạm pháp ngoài xã hội; và đặc biệt làm giảm rất nhiều về số tiền chi cho mua ma túy bất hợp pháp, liều Methadone trung bình phù hợp với cơ địa người Việt Nam: 20 – 60mg/ngày8
Theo nghiên cứu của Cục Phòng, Chống HIV/AIDS (2009) cho thấy sau một thời gian điều trị, sức khỏe của bệnh nhân tốt lên, cân nặng tăng lên và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được tăng lên rõ rệt9
Nghiên cứu mới nhất10 của Dự án Sáng kiến Chính sách y tế của USAID tại Việt Nam năm 2011 đã chỉ ra rằng: Với phương án tổ chức hợp lý, chi phí
trên ngày/người của chương trình Methadone có thể đạt đến mức chỉ còn 12.500 đồng (0.76 USD) tại các điểm Methadone có quy mô điều trị 400 bệnh nhân
Kế hoạch xã hội hóa chương trình Methadone
Theo Kế hoạch Phát triển bền vững Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại TP.HCM giai đoạn 2012 – 2015: Thực hiện xã hội hóa chương trình Methadone, triển khai việc thu phí từ bệnh nhân và sử dụng nguồn thu để vận hành cơ sở và bao gồm trả một phần hoặc toàn bộ lương cho nhân viên, tiến tới giảm dần ngân sách Nhà nước chi cho chương trình theo công thức 1/3: ngân sách Nhà nước
Trang 181/3, viện trợ 1/3 và bệnh nhân tham gia trả 1/311 Dự kiến tới năm 2015, TP.HCM sẽ có 19 điểm Methadone (7 điểm chính và 12 điểm vệ tinh) với quy mô đồng bộ, cung cấp dịch vụ cho khoảng 4.000 bệnh nhân
Việc thu phí bệnh nhân được thực hiện dựa trên nguyên tắc thu đủ bù chi12 Tuy nhiên để đảm bảo chương trình được khả thi cần có lộ trình, cụ thể:Trong hai năm đầu tiên (2013 – 2014) nguồn ngân sách thành phố và các nguồn tài trợ sẽ đảm bảo việc chi trả lương, các khoản phụ cấp cho cán
bộ viên chức và tiền thuốc cho bệnh nhân Các khoản chi phí hoạt động thường xuyên như: phí vận hành, phí hỗ trợ điều trị, phí hỗ trợ kỹ thuật, huấn luyện bổ sung và nâng cao cho nhân viên… được sử dụng từ nguồn thu phí bệnh nhân với mức thu phí tối đa là 10.000đ/bệnh nhân/cơ sở điều trị chính và 8.000đ/bệnh nhân/điểm phát thuốc Năm 2015 khi các nguồn tài trợ nước ngoài bị cắt giảm, nguồn ngân sách thành phố vẫn tiếp tục hỗ trợ tiền lương và các khoản phụ cấp, các khoản chi phí hoạt động thường xuyên và tiền thuốc được sử dụng từ nguồn thu phí bệnh nhân, dự kiến mức thu phí tối đa tại 1 cơ sở điều trị chính là 20.000 đồng/ngày/bệnh nhân, tại điểm phát thuốc vệ tinh là 18.000đ/ngày (các khoản thu này đã tính giảm trừ (miễn phí) khoản thu trên bệnh nhân nghèo, ước tính tỉ lệ bệnh nhân nghèo được miễn giảm là 20, và bệnh nhân gián đoạn liều trong quá trình điều trị là 5%)
Trong quá trình tổng quan tài liệu, so sánh giữa các nghiên cứu đã thực hiện trước, tác giả nhận thấy: điểm chung của các nghiên cứu trên là tập trung tìm hiểu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả chương trình Methadone hiện nay Do đó, ngoài việc kế thừa, rút ra bài học kinh nghiệm
từ các nghiên cứu trước cả về phương pháp và nội dung nghiên cứu Đề tài đưa ra những điểm mới, điểm khác biệt so với những nghiên cứu trước đó
Trang 19
như: mô tả vai trò của gia đình trong việc hỗ trợ con em họ tham gia điều trị MMT, khả năng chi trả chi phí điều trị và nhu cầu dịch vụ ưu tiên của bệnh nhân Methadone khi tham gia vào mô hình xã hội hóa MMT tại TP.HCM trong thời gian tới
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
3.1.Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu đánh giá này sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô
tả Kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính Dữ liệu được thu thập thông qua các cuộc phỏng vấn cá nhân bệnh nhân đang điều trị tại 5 phòng khám MMT tại TP.HCM: Phòng khám Methadone quận 4, 6, 8, Bình Thạnh và quận Thủ Đức Phương pháp định tính sẽ thực hiện phỏng vấn sâu đối với gia đình bệnh nhân đang/chuẩn bị điều trị Methadone
3.2.Chọn mẫu, cỡ mẫu và đối tượng nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành trên 3 đối tượng chính đó là:
a) Bệnh nhân đang điều trị Methadone
b) Những người chưa điều trị (những người đã đăng ký điều trị Methadone nhưng hiện tại vẫn chưa được điều trị, hay nói khác đi là những người nằm trong danh sách đã được xét duyệt nhưng chưa điều trị, tính đến thời điểm thu thập thông tin ( tháng 6 – 9/2012) c) Gia đình/thân nhân của bệnh nhân đang điều trị/có nhu cầu điều trị Methadone tại TP.HCM
3.2.2 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu cho phương pháp nghiên cứu định lượng
12
Quyết định số 5928/QĐ – UBND, ngày 20/11/2012 của Ủy ban nhân dân TP.HCM: Quyết định về ban hành kế hoạch xã hội hóa chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại TP.HCM giai đoạn 2012 – 2015
Trang 20Tính đến tháng 02/2012, tổng số bệnh nhân đang điều trị Methadone tại TP.HCM là 1,200 người
Dựa theo Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản:
6, 8, Bình Thạnh và Thủ Đức
Thời gian thu thập mẫu nghiên
cứu diễn ra từ tháng 6 đến tháng
9/2012, tuy nhiên số mẫu mong
muốn lấy như kế hoạch ban đầu
không thực hiện được vì: 4/5
quận đã có đủ số lượng bệnh
nhân đang điều trị duy trì theo
2
2 / 1 2
) 1 ( Z
d
P xP
n
Trang 21quy định của chương trình là 300 bệnh nhân trên một phòng khám do đó chỉ lấy được số bệnh nhân chưa điều trị tại phòng khám của quận Thủ Đức
vì đây là Phòng khám mới đi vào hoạt động, tuy nhiên trong 3 tháng chờ đợi từng đợt xét duyệt bệnh nhân, số lượng mẫu mới chỉ lấy được 27 người
Cỡ mẫu cho phương pháp nghiên cứu định tính
- Nhóm nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 15 gia đình đại diện cho bệnh nhân đang điều trị và người chuẩn bị điều trị MMT tại 5 phòng khám của 5 quận tại TP.HCM Mục đích để nhằm làm rõ thêm các thông tin của bản hỏi định lượng về khả năng chi trả chi phí điều trị Methadone khi thành viên gia đình tham gia điều trị theo mô hình xã hội hóa Tuy nhiên qua quá trình gỡ băng phỏng vấn, nhóm nghiên cứu nhận thấy các thông tin thu được từ phỏng vấn sâu giữa các gia đình bão hòa nhau, không có sự khác biệt là mấy Do đó, nhóm nghiên cứu chỉ sử dụng mẫu phỏng vấn được cho là có sự khác biệt nhau về thông tin liên quan đến chủ đề nghiên cứu
3.2.3 Kỹ thuật chọn mẫu:
- Đối với số bệnh nhân đang điều trị tại phòng khám: Kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản sẽ được sử dụng để chọn ra số mẫu cần thiến cho nghiên cứu.Dựa vào danh sách bệnh nhân có sẵn của phòng khám và điều trị Methadone của 5 quận, sau đó chọn ngẫu nhiên từ 1 đến 150
- Đối với số người có nhu cầu nhưng chưa được điều trị: Dựa vào danh sách những người đăng ký điều trị Methadone (danh sách chờ), sau
đó lấy mẫu toàn bộ vì số người trong danh sách chờ quá ít, do đó không cần phải chọn mẫu
- Đối với 15 mẫu phỏng vấn sâu gia đình/thân nhân của bệnh nhân đang điều trị và người chưa điều trị Methadone Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện
3.2.4 Tiêu chí chọn mẫu:
Trang 22 Tiêu chuẩn đưa vào
- Bệnh nhân đang điều trị Methadone tại TP.HCM
- Người nghiện heroin đang có nhu cầu điều trị/người đã đăng ký trong danh sách chờ tham gia điều trị Methadone tại TP.HCM
- Đồng ý và ký xác nhận tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Người không có tên trong danh sách đăng ký chờ điều trị Methadone tại 5 phòng khám của TP.Hồ Chí Minh
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Chỉ tiêu nghiên cứu
- Đặc điểm thông tin nhân khẩu học: giới; năm sinh; trình độ học vấn; tình trạng hôn nhân; việc làm; thu nhập; điều kiện kinh tế gia đình…
- Tham gia chương trình và khả năng chi trả chi phí điều trị MMT: mức
độ hài lòng với chương trình hiện tại; tình trạng tham gia điều trị; lý
do tiếp tục/không tham gia điều trị; khả năng chi trả phí điều trị; thời gian trả phí điều trị
- Vai trò của gia đình trong việc hỗ trợ con em họ khi tham gia điều trị Methadone
- Nhu cầu của bệnh nhân khi tham gia đóng phí điều trị Methadone: hình thức trả phí điều trị; lựa chọn dịch vụ ưu tiên; thái độ nhân viên, chất lượng dịch vụ…
3.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu
Phương pháp định lượng: đối với các chỉ tiêu nghiên cứu về đặc
điểm nhân khẩu học; mức độ tham gia vàkhả năng chi trả chi phí điều trị MMT; nhu cầu của bệnh nhân khi tham gia mô hình xã hội hóa MMT
- Cách thu thập: dựa trên danh sách bệnh nhân được chọn tham gia
Trang 23nghiên cứu, các điều tra viên tiếp cận với bệnh nhân được chọn tại các phòng khám, thông tin về nghiên cứu và mời họ tham gia vào nghiên cứu.Sau khi bệnh nhân đồng ý, tiến hành phỏng vấn Khi đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu, điều tra viên ghi nhận và báo ngay cho người phụ trách nghiên cứu biết và tìm người thay thế người không tham gia
- Thời gian thực hiện: sau khi bệnh nhân đã hoàn tất việc khám, tư
vấn và uống thuốc đối với bệnh nhân đang điều trị Đối với người chưa điều trị, thực hiện phỏng vấn ngay sau khi họ có mặt tại phòng khám theo thư mời của tư vấn viên MMT để tham gia nghiên cứu
- Địa điểm phỏng vấn: thực hiện phỏng vấn ngay tại phòng của cơ sở
điều trị, nơi phỏng vấn bệnh nhân đảm bảo không gian thoải mái, và
đủ riêng tư cho người tham gia nghiên cứu trả lời câu hỏi
Phương pháp định tính: đối với chỉ tiêu về vai trò của gia đình trong
việc hỗ trợ con em họ khi tham gia mô hình xã hội hóa Methadone
- Cách thu thập: dựa vào danh sách các bệnh nhân đang điều trị MMT
của 5 quận, nhóm nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 15 gia đình và mời họ tham gia nghiên cứu Khi họ đồng ý tham gia nghiên cứu, điều tra viên sẽ hẹn thời gian và địa điểm để có thể gặp được đại diện gia đình bệnh nhân để thực hiện phỏng vấn sâu
- Thời gian và địa điểm phỏng vấn chủ yếu do gia đình bệnh nhân tự
quyết định, đa phần là thực hiện tại gia đình họ, và tại phòng khám MMT của quận
3.3.3 Các công cụ nghiên cứu cụ thể
Đối với nghiên cứu định lượng: bộ câu hỏi cấu trúc đã được soạn sẵn
dùng để phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu là người chuẩn bị điều trị và bệnh nhân đang điều trị Methadone tại 5 phòng khám của 5
quận tại TP.HCM (xem phụ lục 2.1)
Trang 24 Đối với nghiên cứu định tính: sử dụng bộ câu hỏi bán cấu trúc để
phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu là gia đình của bệnh nhân để tìm hiểu sâu thêm về sự hỗ trợ của gia đình, nhằm làm rõ các thông tin
mà bảng hỏi định lượng không thể thu thập hết được: chủ yếu tập trung làm rõ vai trò của gia đình (cha mẹ) trong việc hỗ trợ thành viên/con
em họ khi tham gia vào điều trị Methadone có đóng phí (xem phụ lục 2.2)
3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS 17.0 để xử lý những thông tin từ bảng hỏi định lượng và thưc hiện gỡ băng theo chủ đề trên phần mềm Word 2007 đối với những thông tin thu thập được qua những cuộc phỏng vấn sâu
3.5 Quản lý và phân tích dữ liệu
Quản lý số liệu
Nhóm nghiên cứu là người trực tiếp đi phỏng vấn đối tượng nghiên cứu, kiểm tra, làm sạch và nhập dữ liệu từ bảng hỏi sang phần mềm nhập liệu SPSS 17.0 và gỡ băng phỏng vấn sâu sang phần mềm Word 2007
Các biên bản phỏng vấn, dữ liệu thu thập từ các bảng hỏi sẽ được lưu giữ tại UBPC AIDS TP.HCM, do nhóm nghiên cứu quản lý trực tiếp
Phân tích số liệu
Nghiên cứu tiến hành phân tích mô tả các biến số bao gồm các tính toán tỉ
lệ phần trăm, trung bình, bên cạnh đó sử dụng Chi – square Test, Correlations khi kiểm định sự khác nhau và xem xét mối tương quan giữa các yếu tố: học vấn, việc làm, thu nhập, điều kiện kinh tế gia đình với yếu
tố tham gia chương trình, khả năng chi trả, lựa chọn dịch vụ ưu tiên,…
Trang 253.6 Đạo đức trong nghiên cứu
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên sự thỏa thuận giữa hai bên là nhóm thực hiện nghiên cứu và người tham gia nghiên cứu (đối tượng nghiên cứu) Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Y đức của Cục Phòng, Chống HIV/AIDS
Ngay sau khi đề cương nghiên cứu được Hội đồng xét duyệt thông qua, nhóm nghiên cứu chịu trách nhiệm báo cáo tiến độ thực hiện cũng như báo cáo tính bảo mật thông tin của người tham gia nghiên cứu
Thoả thuận tham gia
Thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu của đối tượng nghiên cứu được thỏa thuận bằng văn bản Đối tượng nghiên cứu đọc/được đọc bản thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu, khi đồng ý đã ký vào bản thỏa thuận thao gia nghiên cứu tự nguyện bằng cách trả lời các câu hỏi liên quan Các đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu, không cần ký tên vào bản thỏa thuận và không tham gia vào nghiên cứu Trong trường hợp người tham gia nghiên cứu không biết đọc, sẽ có bên thứ ba là tư vấn viên của chương trình MMT đứng ra làm chứng về việc ký thỏa thuận tham gia nghiên cứu
Nguy cơ
Không có nguy cơ cho người tham gia nghiên cứu Các thông tin điều tra hoàn toàn vô danh Các thành viên của nhóm nghiên cứu ký cam kết không tiết lộ thông tin thu thập trong quá trình thực hiện nghiên cứu (tất cả các thông tin cá nhân người tham gia nghiên cứu và các thông tin liên quan) Thông tin thu thập được đã chỉ sử dụng cho nghiên cứu, không phục vụ các mục đích khác ngoài nghiên cứu này
Trang 26 Lợi ích
Đối tượng tham gia nghiên cứu không nhận được những lợi ích trước mắt nào, nhưng những ý kiến đóng góp của họ được ghi nhận để cải thiện chất lượng chương trình ngày một tốt hơn
Bảo mật
Quy trình thực hiện thu thập thông tin đã được tiến hành một cách bảo mật tuyết đối Địa điểm thực hiện nghiên cứu đảm bảo tính thoải mái, riêng tư cho người cung cấp thông tin Mọi thông tin liên quan đến nghiên cứu được lưu trữ an toàn trong tủ đựng hồ sơ có khóa của Phòng nghiên cứu của nhóm nghiên cứu tại Ủy ban phòng chống AIDS Sau một ngày thu thập thông tin, mọi phiếu thu thập được nộp lại cho nhóm nghiên cứu lưu trữ đúng quy trình bảo mật thông tin
Các phiếu thu thập thông tin của từng đối tượng trên từng địa điểm nghiên cứu đều được đánh mã số để bảo mật thông tin
Bồi dưỡng
Người tham gia nghiên cứu nhận được khoản bồi dưỡng phù hợp với thời gian và công sức của họ khi tham gia vào nghiên cứu Số tiền bồi dưỡng đã được nêu rõ trong Phiếu thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu
Trang 274 Kết quả nghiên cứu:
4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Đặc điểm nhân khẩu
học
Tổng số người tham gia
nghiên cứu là 300, trong đó
90.7% là nam giới, chỉ có
một phần nhỏ là nữ giới
50% không theo một tôn
giáo nào, 35,7% theo tôn
giáo Phật giáo, 12% theo
Thiên chúa giáo và 2,3%
theo đạo Tin Lành Về
thành phần dân tộc, 95% là
người kinh và còn lại là
người gốc Hoa Tuổi trung
bình của người tham gia
nghiên cứu là 33 tuổi
độ cấp I và 1,3% bệnh nhân chưa từng đi học
Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học
Thông tin chung N % Tổng mẫu
14 4,7
Tình trạng hôn nhân N = 300 Chưa kết hôn 159 53,0
Đã kết hôn 119 39,7
Trang 28Về tình trạng hôn nhân: bệnh nhân chưa từng kết hôn (kết hôn được hiểu đã đăng ký kết hôn và được pháp luật công nhận, không tính trường hợp sống chung với nhau như vợ chồng), 39,7% đã kết hôn, còn lại đã ly thân, ly dị hoặc góa vợ/chồng
Tình trạng việc làm
38% bệnh nhân có việc làm
toàn thời gian hoặc bán thời
gian, 35,7% bệnh nhân làm
việc cho gia đình như: phụ
giúp công việc kinh doanh
hoặc làm nghề truyền thống
của gia đình, 3% hiện đang
học văn hóa, học nghề Tuy
nhiên, vẫn còn 23,3% hiện
nay đang thất nghiệp, có
người đang tìm kiếm việc làm,
Thu nhập trung bình của bệnh nhân ở khoảng gần 3,2 triệu đồng/tháng (Mean = 3.186), thấp nhất là 0 đồng và cao nhất là 20.000.000 vnd/tháng Tổng thu nhập được tính là tổng số tiền bệnh nhân có được từ lương và các
hỗ trợ khác từ gia đình, anh em hay bạn bè,…Có người được nhận cả hai nguồn, có người chỉ có một nguồn hoặc từ thu nhập chính là lương hoặc từ
Trang 29hỗ trợ mà có
Trong số 53/300 người có thu nhập dưới 2 triệu đồng/tháng, ngoài những người có cả hai nguồn từ lương và từ nguồn ngoài lương, 14% tổng thu nhập ngoài lương và 9,3% tổng thu nhập từ lương
Trong số 168/300 bệnh nhân có thu nhập từ 2 triệu đến 5,9 triệu đồng, 48%
có tổng thu nhập từ lương và 12% tổng thu nhập từ nguồn hỗ trợ ngoài lương
Trong số 33/300 người có mức thu nhập từ 6 triệu đồng trở lên, chỉ có 7,7% tổng thu nhập thu nhập từ lương và 2,3% tổng thu nhập từ nguồn hỗ trợ ngoài lương
Bảng 3 Tình hình về thu nhập/tháng của bệnh nhân Methadone
Trang 30 Hoàn cảnh gia đình
295/300 người tham gia trả lời
câu hỏi về hoàn cảnh sống của
bản thân, 78,3% hiện đang
sống cùng gia đình: bao gồm
cha mẹ, vợ chồng và con cái,
và cả các anh chị em ruột nếu
có, 18,7% hiện đang sống
cùng vợ/chồng hoặc bạn tình
của họ
Điều kiện kinh tế gia đình
78,7% bệnh nhân trả lời theo
cách suy nghĩ của bản thân họ,
điều kiện kinh tế gia đình họ
thuộc dạng trung bình so với
mức sống của TP.HCM 12% cho rằng gia đình họ đang gặp khó khăn về mặt tài chính và 3% (9/300 người) cho rằng điều kiện kinh tế gia đình họ đang thực sự rất khó khăn, chỉ có một số rất ít 6,3% có điều kiện kinh tế gia đình thuộc diện khá giả
Chi phí mua ma túy/ngày trước khi tham gia chương trình MMT
Đa số người nghiện ma túy đều phải bỏ ra từ 50.000 vnd – 200.000 vnd/ngày để mua ma túy (51%), đây là số tiền thấp nhất mà người nghiện phải bỏ ra hàng ngày để phục vụ cơn nghiền thuốc của họ Tiếp theo 31,3% người nghiện chi ra từ 210.000 vnd – 400.000 vnd/ngày để mua ma túy, 10% phải chi từ 410.000 vnd – 600.000 vnd/ngày mua ma túy, gần 8% có mức chi từ trên 600.000 vnd trở lên
Bảng 4 Hoàn cảnh gia đình và điều kiện kinh tế gia đình
Thông tin chung N % Tổng
Trang 31Bảng 5 chi phí mua ma túy/ngày
Như vậy tính trung bình mỗi một người nghiện sẽ phải bỏ ra khoảng 307.966 vnd/ngày để mua ma túy (Mean = 307.966; Min = 50.000; Max = 150.000)
Thời gian điều trị và mức độ hài lòng về chương trình
Trong số 267 bệnh nhân đang điều trị Methadone, có khoảng 10,3% cho biết trong gia đình họ, ngoài bản thân họ, còn có anh/chị em ruột cũng đang tham gia chương trình MMT
Trang 32Về thời gian điều trị, trong
4,7% tương đối hài lòng và
một số còn lại chỉ hơi hài
về thái độ phục vụ của nhân viên: “không thân thiện, khó chịu”, cụ thể như
“khi em muốn biết về liều (thuốc Methadone) mà em đang dùng, nhân viên không chịu nói cho em biết”
Bảng 6 Thời gian điều trị và mức độ hài lòng về chương trình MMT
Thông tin chung
Thời gian tham gia điều trị N = 267 Dưới 12 tháng 56 21,0
Từ 13 – 24 tháng
45 16,9
Trên 24 tháng 166 62,2 Mức độ hài lòng về chương trình
N = 267
Không hài lòng
Hơi hài lòng 4 1,3 Tương đối hài
lòng
14 4,7
Hài lòng 208 69,3 Rất hài lòng 40 13,3
Trang 334.2 Khả năng chi trả chi phí của bệnh nhân khi tham gia chương trình xã hội hóa Methadone
Mức độ tham gia chương trình
Hiệu quả của việc điều trị
MMT trong những năm qua
đã được chứng minh qua
nhiều đề tài ngiên cứu trong
những năm gần đây, việc điều
lượng cuộc sống của bệnh nhân cũng được cải thiện rõ rệt Đó là một số lý
do tiêu biểu khiến chương trình MMT ngày càng được nhân rộng và được
sự đồng tình hưởng ứng của bệnh nhân cũng như gia đình họ
Ngoài ra, cha mẹ của bệnh nhân cũng khẳng định “Lợi ích đầu tiên mà gia đình chúng tôi thấy là không còn tốn tiền cho cháu mỗi ngày sử dụng ma túy, trước đây cháu nó sử dụng 100 -150 nghìn đồng/ngày, giờ nó không còn sử dụng nữa , đặc biệt từ khi nó vào uống thuốc ổn định nó đã kiếm được việc làm, giờ nó làm thợ điện cho một công ty trên Bình Dương, tuy hơi xa nhưng cháu nó rất vui, thỉnh thoảng tôi bảo nó nghĩ làm một buổi nhưng nhất quyết nó không nghỉ, đi làm hàng tháng lương của nó được 4.500.000…” (Biên bản PVS, GĐ Quận 8) Hay: “Methadone có nhiều lợi ích lắm, lợi ích trước mắt là cháu nhà tôi bỏ được ma túy, từ ngày nó vào uống thuốc MMT sức khỏe nó càng càng tốt lên, … sinh hoạt điều độ chứ không thất thường như ngày xưa,…., hiện tại nó đang phụ giúp gia đình tôi buôn bán, chở hàng và nhận hàng, cháu nó rất tập trung vào công việc không còn lo nghĩ những chuyện bậy bạ trước đây nữa, trước đây ngày nào
Trang 34cháu cũng sử dụng 2 lần mỗi lần 100.000đ như vậy mỗi ngày cháu sử dụng 200.000, mỗi tháng là 6 triệu đồng, một năm là 72 triệu đồng, mà cháu nhà tôi nó sử dụng 7 – 8 năm nay rồi…”( PVS, GĐ Thủ Đức)
Không có sự khác biệt nào có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân đang điều trị và người chưa điều trị trong việc sẵn sàng đóng phí điều trị Methadone Cụ thể, 93,9% nhóm người chưa điều trị và 91,4% bệnh nhân đang điều trị đồng ý sẵn sàng chi trả chi phí điều trị Về số người không đồng ý trả phí hoặc không thể trả phí ở nhóm người đang điều trị chỉ chiếm 1.9%
Điều kiện kinh tế gia đình cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng đóng phí điều trị của bệnh nhân Kinh tế gia đình càng khá giả thì mức độ sẵn sàng đóng phí điều trị càng cao và ngược lại 100% những bệnh nhân có điều kiện kinh tế gia đình khá giả và 94,9% những người có điều kiện kinh tế trung bình đều trả lời họ sẵn sàng đóng phí điều trị MMT trong thời gian Trong khi tỉ lệ ở nhóm những người có điều kiện kinh tế khó khăn là 72,2% và 66,7% những người thuộc diện rất khó khăn sẵn sàng đóng phí điều trị MMT trong thời gian tới
Bảng 8: Điều kiện kinh tế gia đình có ảnh hưởng tới việc sẵn sàng đóng
phí điều trị MMT của bệnh nhân
Trang 35Như vậy, qua kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có khả năng đóng góp một phần chi phí điều trị MMT trong thời gian sắp tới, phù hợp với thu nhập cũng như điều kiện kinh tế của gia đình Tỷ lệ không thể đóng góp rất thấp và thuộc vào gia đình khó khăn hoặc bản thân bệnh nhân không có việc làm do sức khỏe kém
Lý do tiếp tục tham gia chương trình Methadone khi phải đóng phí điều trị
Nghiện là bệnh mãn tính
của não bộ nên việc điều trị
phải lâu dài, việc ngừng sử
dụng ma túy không có nghĩa
là người đó hoàn toàn thoát
khỏi tình trạng không lệ
thuộc vào ma túy mãi mãi,
ngược lại nếu có điều kiện
thuận lợi thì nguy cơ tái
nghiện lại ma túy là rất cao
Do đó, đa số người nghiện
đều nhận thức được những
lợi ích mà chương trình MMT mang lại cho bệnh nhân Trong các lý do đưa ra để giải thích cho việc tại sao vẫn tiếp tục tham gia điều trị MMT phải trả phí trong khi hiện nay mọi bệnh nhân đều được miễn phí hoàn toàn Có 40% bệnh nhân cho rằng họ sẵn sàng trả phí điều trị với mong muốn được duy trì uống thuốc Methadone, gần 20% cho rằng họ sẵn sàng trả phí điều trị vì Methadone giúp họ không tái nghiện lại ma túy Ngoài ra còn một số lý do khác như uống thuốc Methadone giúp cho sức khỏe bản
thân tốt hơn, lấy lại lòng tin của gia đình và bạn bè hoặc “so với số tiền
Bảng 9 Lý do tiếp tục tham gia điều trị MMT có đóng phí
Tốt cho sức khỏe, lấy lại niềm tin 33 11.0
Chi phí rẻ hơn SDMT trước đó 16 5.3
Trang 36trước kia họ phải bỏ ra mua ma túy thì số tiền chi trả cho việc điều trị MMT vẫn rất rẻ”
Lý do không tiếp tục tham gia
Trong tổng số 300 người tham gia nghiên cứu, có 27 người trả lời không tiếp tục tham gia điều trị Methadone khi phải đóng phí điều trị Một số
người tỏ thái độ khó chịu và cho rằng “đang miễn phí thì miễn phí luôn đi, tại sao đang yên lại thu tiền, tôi không tham gia” Đa số đều cho rằng hiện
tại điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên thật khó tham gia khi phải đóng
tiền “gia đình em thực sự rất khó khăn, nếu đóng phí thì em đành bỏ vì không có tiền đâu”, hoặc “gia đình em ba mẹ già lắm rồi, chẳng có ai đi làm, lấy tiền đâu mà đóng”…
Thời gian đóng phí điều trị
Trong tổng số 268/300
bệnh nhân đồng ý trả lời
thông tin này, 75% có khả
năng trả tiền suốt quá trình
điều trị, 12,3% chưa dám
khẳng định ngay lúc này,
họ vẫn tiếp tục trả khi họ
còn đủ khả năng cho đến
khi nào không còn khả
năng hoặc họ gặp khó khăn
liên quan thì sẽ ngưng điều
Trang 37 Khả năng chi trả phí điều trị
Đa phần bệnh nhân đang điều trị MMT cũng như chưa điều trị MMT đều sẵn sàng đóng góp chi phí điều trị, nhưng khả năng chi trả ở mức độ nào và trong thời gian bao lâu là vấn đề cần quan tâm
Về khả năng đóng góp chi phí điều trị từng ngày, 42% đồng ý đóng góp chi phí từ 10.000 vnd – 20.000 vnd/ngày, 27% có khả năng đóng dưới 10.000 vnd/ngày, 19% có khả năng đóng từ từ 21.000 vnd -30.000vnd/ngày, và 12% còn lại có khả năng đóng từ 31.000 vnd – trên 50.000 vnd/ngày
Số tiền trung bình bệnh nhân có khả năng đóng góp là 20.693đ/ngày (trung bình =20.693; thấp nhất =1000; cao nhất = 100.000)
Bảng 11 Khả năng đóng phí điều trị của bệnh nhân MMT
Điều kiện kinh tế gia đình có ảnh hưởng lớn tới khả năng chi trả chi phí điều trị của bệnh nhân khi tham gia chương trình MMT có đóng phí điều trị 83,3% bệnh nhân có điều kiện kinh tế gia đình rất khó khăn trả lời họ có khả năng đóng phí dưới 10.000 vnd/ ngày và 16,7% có khả năng đóng phí
từ 10.000 vnd – 20.000 vnd/ngày
Mức đóng phí điều trị dưới 10.000 vnd/ngày chiếm tỉ lệ cao nhất là sự lựa chọn của nhóm những bệnh nhân có điều kiện kinh tế gia đình rất khó khăn
Trang 38(83,3%) Mức đóng từ 10.000 vnd – 20.000 vnd/ngày được cho là phù hợp với đa số bệnh nhân hơn, nhưng chiếm tỉ lệ cao nhất vẫn là nhóm có điều kiện kinh tế khó khăn (44,4%), tiếp theo 42,2% nhóm điều kiện kinh tế trung bình và 42,1% nhóm có điều kiện kinh tế khá giả lựa chọn Mức đóng
từ 21.000 vnd – 30.000 vnd/ngày được 31,6% bệnh nhân có điều kiện kinh
tế gia đình khá giả lựa chọn, và mức này rất ít được các nhóm BN có điều kiện kinh tế trung bình trở xuống lựa chọn
Bảng 12: Điều kiện kinh tế gia đình ảnh hưởng tới khả năng chi trả phí
điều trị của bệnh nhân MMT
4.3 Vai trò của gia đình
Bên cạnh sự nỗ lực của bệnh nhân khi tham gia vào điều trị thì vai trò gia đình cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả điều trị MMT của các bệnh nhân khi tham gia vào chương trình Như trên đã phân tích, có đến trên 90% bệnh nhân đồng ý đóng góp một phần kinh phí nhỏ vào điều trị MMT, và cũng trong số người này thì có một số không dám khẳng định có thể đóng góp hay không bởi lẽ bản thân họ không có thu nhập, kinh phí gia đình khó khăn dù bản thân họ nhận thức rất rõ cũng như so sánh chi phí phải trả cho việc sử dụng ma túy là thấp hơn hẳn Bởi vậy với nhóm bệnh nhân này nói