1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đời sống và nguy cơ lấy nhiễm HIVAIDS của phụ nữ mại dâm sử dụng đá (crystal methamphetamine) tại hà nội

127 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là nhóm đối tượng ẩn, vì vậy thông tin về đời sống của PNMD và các mối quan hệ của họ liên quan đến việc sử dụng ATS, các yếu tố cá nhân và môi trường ảnh hưởng đến sử dụng ATS cũng

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

1 Tên đề tài: Đời sống và nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ mại

dâm sử dụng đá (crystal methamphetamine) tại Hà Nội

2 Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Hồ Thị Hiền, Phó trưởng Bộ môn Phòng

chống HIV/AIDS, trường Đại học Y tế Công cộng

3 Cơ quan thực hiện đề tài: Trường Đại học Y tế Công cộng

4 Cơ quan quản lý đề tài: Cục Phòng, chống HIV/AIDS

5 Thư ký đề tài: Ths Phạm Vân Anh, Giảng viên Bộ môn Phòng chống

HIV/AIDS, trường Đại học Y tế Công cộng

6 Phó chủ nhiệm đề tài hoặc ban chủ nhiệm đề tài (nếu có):

7 Danh sách những người thực hiện chính:

- TS Hồ Thị Hiền

- Ths Phạm Vân Anh

- Ths Phạm Thị Vinh Hoa

- Ths Nguyễn Thị Ngọc Bích

- CN Nguyễn Hằng Nguyệt Vân

8 Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 12 năm

2013

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN A – TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI 5 

PHẦN B NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NGHIÊN CƯÚ 9 

1  ĐẶT VẤN ĐỀ 9 

2  MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 13 

3  TỔNG QUAN TÀI LIỆU 14 

3.1 Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu 14 

3.2 Tổng quan các nghiên cứu về đá trong nhóm PNMD trên thế giới 16 

3.2.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng methamphetamine trên thế giới   20 

3.2.2 Hành vi lây nhiễm HIV trên đối tượng sử dụng ATS trên thế giới  22 

3.3 Tổng quan nghiên cứu về đá trong nhóm phụ nữ mại dâm tại Việt nam 25 

3.3.1.Tình hình mại dâm tại Việt nam   25 

3.3.2 Tình hình sử dụng ATS tại Việt nam   28 

3.3.3 Một số yếu tố liên quan đến sử dụng ATS trong PNMD tại Việt nam   30 

3.3.4 Hành vi lây nhiễm HIV trên đối tượng sử dụng ATS tại Việt nam   32 

4  PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33 

4.1 Thiết kế nghiên cứu 33 

4.2 Đối tượng nghiên cứu 33 

4.3 Phương pháp chọn mẫu 34 

4.4 Thu thập thông tin 35 

4.5 Xử lý và phân tích số liệu 38 

4.6 Đạo đức trong nghiên cứu 38 

5  KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39 

5.1 Thông tin chung về PNMD tham gia nghiên cứu 39 

5.2 Đặc điểm đời sống và các mối quan hệ xã hội có liên quan đến việc sử dụng đá của phụ nữ mại dâm 40 

5.2.1 Đặc điểm của PNMD sử dụng đá   40 

5.2.2 Đời sống và mối quan hệ của PNMD sử dụng ma túy đá   46 

5.3 Yếu tố cá nhân và môi trường nguy cơ ảnh hưởng đến sử dụng đá trong nhóm PNMD 55 

5.3.1 Yếu tố cá nhân 56

5.3.2 Yếu tố môi trường 62

Trang 3

5.3 Bối cảnh của hành vi tình dục nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS dưới tác động

qua lại giữa hành vi mại dâm và sử dụng đá 75 

5.3.1 Hoàn cảnh thực hiện hành vi quan hệ tình dục 75

5.3.2 QHTD không an toàn 77

5.3.3 Quan hệ tình dục tập thể 81

5.3.4 Ép buộc tình dục, bạo lực tình dục 84

6  BÀN LUẬN 86 

7  KẾT LUẬN 99 

8  KHUYẾN NGHỊ 101 

9  TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 

Tiếng Việt 102 

Tiếng Anh 103 

10  PHỤ LỤC 108 

Phụ lục 1: Mẫu phiếu sàng lọc đối tượng nghiên cứu 108 

Phụ lục 2: Phiếu tình nguyện tham gia nghiên cứu 110 

Phụ lục 3: Hướng dẫn phỏng vấn sâu PNMD 111 

Phụ lục 4: Hướng dẫn phỏng vấn sâu đối tượng bảo kê 116 

Phụ lục 5: Hướng dẫn phỏng vấn sâu khách hàng 119 

Phụ lục 6: Hướng dẫn phỏng vấn sâu bạn tình 121 

Phụ lục 7: Hướng dẫn phỏng vấn sâu đồng đẳng viên 124 

Phụ lục 8: Phiếu cam kết tuân thủ đạo đức nghiên cứu 126 

Phụ lục 9: Trang thông tin dành cho người tham gia nghiên cứu 127 

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

ATS Các chất kích thích dạng amphetamine (Amphetamine-Type

Stimulants)

BCS Bao Cao Su

MDĐP Mại dâm đường phố

SODC Văn phòng thường trực phòng chống tội phạm và ma túy – Bộ

Công An (Standing Office for Drugs and Crime)

STIs Các bệnh nhiễm trùng lây qua đường tình dục

TDTT Tình dục tập thể

VAAC Cục phòng, chống HIV/AIDS (Vietnam Administration for

HIV/AIDS Control)

UNODC Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên hợp quốc

(United Nations Drugs and Crime)

Trang 5

PHẦN A – TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI

1 Kết quả nổi bật của đề tài:

(a) Đóng góp mới của đề tài Đây là một đề tài có chủ đề mới, có ý nghĩa thực tiễn cao trong bối cảnh dịch HIV có xu hướng dịch chuyển sang

nữ giới và xu hướng lây truyền qua đường tình dục tăng

Sử dụng ma túy tổng hợp nói chung, đặc biệt là các chất kích thích dạng amphetamine đang có xu hướng tăng nhanh ở khu vực Đông Nam Á và Việt nam nói riêng Đối tượng phụ nữ mại dâm (PNMD) là đối tượng có nguy cơ cao sử dụng ATS và lây nhiễm HIV ở Việt nam Đây là nhóm đối tượng ẩn, vì vậy thông tin về đời sống của PNMD và các mối quan hệ của họ liên quan đến việc sử dụng ATS, các yếu tố cá nhân và môi trường ảnh hưởng đến sử dụng ATS cũng như các bối cảnh xảy ra hành vi tình dục có nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cũng như các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) còn quá ít ở Việt nam

Vì vậy, đề tài nghiên cứu này đã phần nào bổ sung vào khoảng trống thông tin nói trên, xây dựng một bức tranh tương đối toàn diện về PNMD có sử dụng ma túy đá, các đặc điểm đời sống và các mối quan hệ xã hội liên quan đến ma túy đá của họ Đặc biệt là, nghiên cứu đã chỉ ra và phân tích các bối cảnh dẫn đến hành vi tình dục có nguy

cơ lây nhiễm HIV/AIDS cũng như các bệnh STDs khác,

từ đó giúp cho các nhà hoạch định chính sách và chương trình có giải pháp phù hợp để can thiệp dự phòng lây

Trang 6

nhiễm HIV cũng như can thiệp giảm sử dụng, giảm tác hại

do ma túy đá gây nên đối với nhóm đối tượng này cũng như mạng lưới xã hội liên quan đến sử dụng đá của họ

(b) Kết quả cụ thể (sản phẩm cụ thể): Báo cáo nghiên cứu cuối cùng

(c) Hiệu quả về đào tạo Các học viên và giảng viên trường Đại học Y tế Công cộng đã được nâng cao năng lực nghiên cứu khi tham gia

dự án này Việc tiếp xúc, phỏng vấn đối tượng phụ nữ mại dâm đã mang lại kinh nghiệm quý báu trong việc tiếp cận đối tượng nhạy cảm cho các cán bộ, giảng viên, sinh viên tham gia nghiên cứu với tư cách là nghiên cứu viên

(d) Hiệu quả về kinh tế Đây là nghiên cứu công phu, được thực hiện trong khuôn khổ hạn hẹp về kinh phí, song đã đưa ra được nhiều kết quả nghiên cứu có chất lượng, có ý nghĩa thực tiễn cao

(e) Hiệu quả về xã hội HIV và vấn đề lây nhiễm HIV trong nhóm PNMD, vấn đề

sử dụng ATS trong nhóm PNMD là vấn đề y tế và xã hội đang được quan tâm Hiểu được đời sống, các yếu tố môi trường, bối cảnh và mạng lưới xã hội liên quan đến sử dụng đá và nguy cơ lây nhiễm HIV cũng như các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, giúp ích cho việc đề ra các giải pháp phòng ngừa lây nhiễm trong nhóm PNMD

sử dụng ma túy đá

2 Áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội

Trang 7

Đề tài có ý nghĩa thực tiễn cao Đề tài đã cung cấp thông tin quan trọng về đời sống, bối cảnh liên quan đến thực hành sử dụng ma túy đá cũng như các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS trong nhóm PNMD tại Hà nội, từ đó đưa ra các đề xuất, giải pháp trong dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm đối tượng phụ nữ mại dâm nói chung và phụ nữ mại dâm sử dụng ATS nói riêng

3 Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã

được phê duyệt

a Tiến độ:

b Thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đề ra:

c Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến trong bản đề cương:

• Tạo ra đầy đủ các sản phẩm đã dự kiến trong đề cương X

• Chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu như đã ghi trong đề cương X

d Đánh giá việc sử dụng kinh phí: đã giải ngân toàn bộ kinh phí

của dự án phê duyệt

- Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 82.067.000 đồng

- Trong đó Kinh phí sự nghiệp khoa học: 82.067.000 đồng

Trang 8

4 Các ý kiến đề xuất:

Thời gian thực hiện đề tài là tương đối do nhóm nghiên cứu tiếp cận

nhóm đối tượng ẩn là phụ nữ mại dâm sử dụng chất kích thích dạng

amphetamine Hơn nữa, nhiều đối tượng trong nghiên cứu cần được

phỏng vấn nhiều lần Chúng tôi mong muốn có thêm thời gian để

phân tích số liệu sâu hơn nữa

Kinh phí chi trả cho dự án theo định mức hiện hành là tương đối

hạn hẹp

Trang 9

PHẦN B NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI

NGHIÊN CƯÚ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hơn một thập kỷ qua, xu hướng sử dụng amphetamine (Amphetamine

Type Stimulants – gọi tắt là ATS) không chỉ gia tăng ở các nước phát triển

mà cả ở những nước đang phát triển Trong số 200 triệu người sử dụng ma

túy trên thế giới có đến hơn 35 triệu người sử dụng ATS Con số này nhiều

hơn cả tổng số người sử dụng cocaine (13 triệu người) và heroin (16 triệu

người) cộng lại [46]

Đông Nam Á là nơi chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi ATS, với hơn 60%

số lượng ma túy bị bắt giữ trên toàn cầu xảy ra ở khu vực này Trong các loại

ATS, methamphetamine dạng tinh thể (thường được gọi là đá) đã gây ra mối

lo ngại lớn nhất do việc sản xuất và buôn lậu loại ma túy này rất phố biến và

ngày càng có xu hướng tăng nhanh trong khu vực [46] Theo Tổ chức phòng

chống ma túy và tội phạm liên hợp quốc (UNODC), số lượng viên

methamphetamine bị bắt giữ ở khu vực Đông Nam Á tăng nhanh, từ 32 triệu

(2008) đến 93 triệu (2009) và đến năm 2010 con số này lên tới 133 triệu [46]

Tại Việt Nam xu hướng sử dụng ma túy tổng hợp dạng amphetamine

(Amphetamine Type Stimulants – ATS) đã tăng đáng kể từ năm 2003, đặc

biệt ở những thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng [47]

Tương tự xu hướng chung của khu vực, đá (crystal methamphetamine) là loại

ATS được sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay Mặc dù, mới xuất hiện ở

nước ta vào năm 2007, theo báo cáo năm 2011, đá đã trở thành loại ma túy

được sử dụng phổ biến thứ hai sau heroin [47]

Sử dụng ATS làm tăng nguy cơ nhiễm HIV, đặc biệt là do quan hệ tình

dục (QHTD) không an toàn Nghiên cứu tại Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia chỉ

ra rằng những người sử dụng ATS có tần suất hoạt động tình dục cao và tăng

nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục [33] Đối với

amphetamine, người sử dụng thường có các hành vi tình dục nguy cơ cao

Trang 10

[53], như tăng tần suất quan hệ tình dục [40] và tình dục không an toàn [33]

Người sử dụng Methamphetamine (gọi tắt là meth) thường có nhiều bạn tình

[37], quan hệ tình dục với bạn tình bất chợt [19], quan hệ tình dục với người

tiêm chích ma túy (TCMT) [19, 37], tình dục không an toàn qua đường âm

đạo [37], và đường hậu môn hơn những người không sử dụng ATS [22]

Ngoài ra, dùng chung bơm kim tiêm cũng đã được báo cáo là có liên quan

đến lây nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ATS [27] Phụ nữ sử dụng Meth

trong nghiên cứu của Dreisback và cộng sự cũng báo cáo là họ có sử dụng

chung bơm kim tiêm với bạn tình của họ [25]

Sử dụng ATS gây ra nguy cơ cao lây nhiễm STIs bao gồm cả HIV trong

nhóm phụ nữ mại dâm Phụ nữ mại dâm sử dụng ATS có nhiều nguy cơ lây

nhiễm STIs, bao gồm cả HIV Một nghiên cứu ở Campuchia cho thấy sử

dụng ATS có tác động lớn tới việc hành nghề của phụ nữ mại dâm và xu

hướng bình thường hóa sử dụng ATS trong nhóm này [33] Sử dụng ATS có

mối liên quan độc lập với STIs, sử dụng bao cao su không thường xuyên, và

tăng số lượng bạn tình trong nhóm phụ nữ làm việc tại nhiều tụ điểm [23,

38]

Trên thế giới, lây nhiễm HIV qua đường tình dục vẫn chiếm ưu thế Cứ

4 trường hợp nhiễm HIV thì có ba trường hợp nhiễm qua đường tình dục

Trong số trường hợp nhiễm HIV qua đường tình dục, 75% là qua đường tình

dục khác giới [51] Phụ nữ là nhóm dễ bị tổn thương dó HIV, và tỉ lệ phụ nữ

nhiễm HIV cao ở khu vực Nam và Đông Nam Á Phụ nữ chiếm 29% số

người trưởng thành đang sống chung với HIV năm 2007, và 40% thanh niên

nhiễm HIV là phụ nữ [42]

Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, phụ nữ Việt nam, đặc biệt là phụ

nữ mại dâm có nguy cơ nhiễm HIV ngày càng tăng Theo số liệu giám sát

quốc gia, tỉ lệ phụ nữ nhiễm HIV ngày càng tăng, trong đó lây nhiễm qua

quan hệ tình dục khác giới chiếm ưu thế [4]

Phụ nữ mại dâm (PNMD) là một trong những nhóm có nguy cơ cao sử

dụng đá Tỷ lệ sử dụng ATS trong nhóm dân cư nói chung tại khu vực Đông

Nam Á được ước tính là 0,6% [47] Tuy nhiên, tỷ lệ PNMD đã từng sử dụng

Trang 11

đá được báo cáo tại một số nước trong khu vực là rất cao, gấp 30 đến 50 lần

con số tính chung cho cộng đồng Nghiên cứu của Urada tại Philippines năm

2009-2010 công bố tỷ lệ PNMD đã từng sử dụng đá là 18% [52] Tại Phnom

Penh, Cambodia, nghiên cứu của Couture và cộng sự thực hiện năm

2007-2008 trong nhóm PNMD trẻ cho thấy con số này là 23,1% [55] Tại Việt

Nam, tỷ lệ PNMD đã từng sử dụng đá tại ba tỉnh Hà Nội, Đà Nẵng, thành

phố Hồ Chí Minh được Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên hợp

quốc (UNODC) năm 2010 báo cáo lên tới 57,8% [43]

Nhiều nghiên trên thế giới đã chỉ ra các hành vi nguy cơ nhiễm HIV,

trong đó có sử dụng ma túy, thường có đặc điểm và ý nghĩa khác nhau trong

bối cảnh văn hóa xã hội khác nhau [16], [31] Vậy, đối với PNMD - nhóm

người coi hành nghề mại dâm như một mục đích mưu sinh, hành vi sử dụng

đá, đời sống và các mối quan hệ xã hội liên quan đến sử dụng đá của họ như

thế nào? Các yếu tố cá nhân và môi trường ảnh hưởng đến hành vi sử dụng

đá của nhóm đối tượng này là gì? Các yếu tố này tương tác với nhau như thế

nào? Đặc biệt là, những bối cảnh nào dẫn đến những nguy cơ về HIV/AIDS

và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác của họ? Trả lời được các

câu hỏi trên góp phần giúp cho các nhà hoạch định chính sách và chương

trình, những nhà nghiên cứu cũng như những người thực hiện chương trình

và cộng đồng hiểu rõ hơn về nhóm đối tượng này, để từ đó tìm ra giải pháp

phù hợp nhất để giảm sử dụng ma túy đá cũng như giảm các hành vi nguy

cơ liên quan đến sử dụng ma túy đá trong nhóm này

Tuy nhiên, các nghiên cứu ở Việt nam về vấn đề nêu trên còn rất hạn

chế Các nỗ lực cung cấp dịch vụ điều trị nghiện ATS cũng như các biện

pháp dự phòng, giảm hại hậu quả của loại ma túy này ở các nước trong khu

vực cũng vậy[47] Các nghiên cứu về ATS nói chung và đá nói riêng trên

thế giới chủ yếu tập trung vào nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới

(MSM) Tại Việt nam, một số nghiên cứu được thực hiện liên quan đến sử

dụng ATS nói chung trên các nhóm đối tượng nguy cơ khác nhau chứ chưa

có nghiên cứu nào đi sâu vào ma túy đá nói riêng trong nhóm phụ nữ mại

dâm Nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, còn ít nghiên cứu

Trang 12

sử dụng thiết kế định tính được áp dụng Thêm vào đó, các thông tin về

hành vi nguy cơ HIV được cho là quan trọng thường khó tiếp cận đối với

nhà nghiên cứu, như các vấn đề mà người ta không cảm thấy thoải mái trao

đổi với người lạ, chẳng hạn như mối quan hệ tình cảm và những hành vi

không thể chấp nhận về văn hóa (hành vi lệch chuẩn) Do vậy, việc sử dụng

cách tiếp cận dân tộc học giúp khám phá những góc cạnh ẩn của thực tế xã

hội, đặc biệt trong các bối cảnh được đặc trưng bởi sự kỳ thị, phân biệt đối

xử Thực tế chỉ ra rằng kết quả của nghiên cứu sử dụng thiết kế dân tộc học

góp phần xây dựng nền tảng cho việc xây dựng những chương trình phòng

chống HIV hiệu quả [21] Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, số lượng

nghiên cứu có sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học còn rất ít, đồng

thời, việc áp dụng các lý thuyết xã hội trong phân tích bối cảnh liên quan

đến nội dung nghiên cứu cũng còn hạn chế [16] Nghiên cứu “Đời sống và

nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ mại dâm sử dụng đá (crystal

methamphetamine) tại Hà Nội” đã được thực hiện sử dụng phương pháp

điền dã dân tộc học nhằm mô tả bức tranh cụ thể về đời sống cũng như các

mối quan hệ xã hội của phụ nữ mại dâm sử dụng đá

Trang 13

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả đặc điểm đời sống và các mối quan hệ xã hội có liên quan đến

việc sử dụng đá của PNMD tại Hà Nội năm 2013

2 Xác định các yếu tố cá nhân và môi trường nguy cơ ảnh hưởng sử

dụng đá trong nhóm PNMD tại Hà Nội 2013

3 Phân tích bối cảnh của hành vi tình dục nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS

dưới tác động qua lại giữa hành vi mại dâm và sử dụng đá ở PNMD tại Hà

Nội năm 2013

Trang 14

3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3.1 Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu

Ma túy

Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi đưa vào cơ

thể, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái, ý thức và sinh lý người đó Nếu

lạm dụng ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và

nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng [12]

Phân loại ma túy

Căn cứ vào nguồn gốc, ma túy được chia thành ba nhóm chính: Ma túy

tự nhiên, ma túy bán tổng hợp, ma túy tổng hợp

Ma túy tự nhiên: Ma túy tự nhiên là sản phẩm của các cây trồng tự nhiện

hoặc nuôi trồng, và các chế phẩm của chúng Ví dụ: thuốc phiện và các sản

phẩm của thuốc phiện như Morphin, narcotics, coca và các hoạt chất của nó

như cocain, cần sa và các sản phẩm của cần sa …[11]

Ma túy bán tổng hợp là các chất ma túy được điều chế từ ma túy tự

nhiên, có tác dụng mạnh hơn chất ma túy ban đầu Ví dụ: Heroin là chất

MTTH từ morphin bằng cách acetyl hóa morphin…[11]

MTTH được điều chế bằng phương pháp tổng hợp hóa học toàn phần từ

các hóa chất ban đầu (còn gọi là tiền chất) Một số loại MTTH điển hình như

Amphetamine, Methamphetamie, Ecstasy…Các chất MTTH có tác dụng

mạnh, nhanh hơn ma túy bán tổng hợp [11]

Trong nghiên cứu này, Amphetamine Type Stimulants (viết tắt là ATS)

với ba dạng chính là amphetamine, methamphetamine (Meth) và ecstasy, ở

Việt Nam thường gọi lần lượt là hồng phiến, methamphetamine, và thuốc lắc

Đá là methamphetamine dạng tinh thể (crystal methamphetamine) Tại Việt

Trang 15

Nam, cả ba loại MTTH kể trên đều thuộc danh mục các chất cần kiểm soát và

bị cấm sử dụng [64]

Amphetamine và Methamphetamine có mối liên quan chặt chẽ với nhau

(Methamphetamine là một dẫn xuất amin của Amphetamine) Trước đây,

Meth/amphetamine thường xuất hiện ở Việt Nam dưới dạng viên, được dùng

với hình thức cắn, nuốt Ngoài ra, theo báo cáo của UNODC, dạng tinh thể

của Meth (Crystaline Methamphetamine) được phát hiện lần đầu tiên tại Hà

Nội năm 2008, người dân Việt Nam thường gọi là “đá” hay “ma túy đá” [46]

“Đá” là loại ma túy nguyên chất, có độ tinh khiết cao, có thể lên đến 99%

[14]

Phụ nữ mại dâm

Mại dâm được hiểu là dùng các dịch vụ tình dục để trao đổi tiền bạc

hoặc vật chất (quần áo, nữ trang, ma túy…) Trong nghiên cứu này, khái

niệm phụ nữ mại dâm được định nghĩa như sau: “Phụ nữ mại dâm (PNMD)

là nữ giới có quan hệ tình dục bằng đường âm đạo hoặc đường hậu môn với

nam giới với mục đích lấy tiền hoặc hiện vật” [15]

Tại Việt Nam, mại dâm là bất hợp pháp và được coi như một “tệ nạn xã

hội” Chính vì bất hợp pháp nên hoạt động mại dâm tại Việt Nam diễn ra

dưới nhiều hình thức trá hình như nhân viên gội đầu, massage, tiếp viên nhà

hàng, karaoke… Trong nghiên cứu này, phụ nữ mại dâm được phân loại

thành hai nhóm chính căn cứ theo đặc điểm và tính chất công việc, gồm: mại

dâm đường phố (MDĐP) – làm việc trên các đường phố; và mại dâm nhà

hàng (MDNH) – làm việc trong các tụ điểm như quán karaoke, các điểm

massage… Hai nhóm trên có sự khác nhau cơ bản về nơi làm việc và kinh tế

Phụ nữ MDĐP đa phần lớn tuổi hơn, bị coi là kém hấp dẫn hơn và có thu

nhập thấp hơn so với nhóm MDNH Đồng thời, MDĐP cũng là nhóm có xu

hướng báo cáo nhiều hành vi nguy cơ hơn PNMD hoạt động trong các nhà

hàng, tụ điểm [15]

Trang 16

3.2 Tổng quan các nghiên cứu về đá trong nhóm PNMD trên thế giới

Ma túy đá thuộc nhóm các chất kích thích dạng Amphetamine Theo

UNODC, các chất kích thích dạng Amphetamine (Amphetamine Type

Stimulants - viết tắt là ATS) là một nhóm các chất kích thích được tổng hợp

từ Amphetamine, bao gồm amphetamine, methamphetamine (Meth) và

ecstacy (thuốc lắc) [45] (chư màu này là từ De cuong ats 2013)

ATS là loại ma túy được sử dụng phổ biến thứ hai trên thế giới, sau

cần sa Ước tính số người sử dụng amphetamine và Meth năm 2010 khoảng

33 triệu người Nếu tính cả số người sử dụng ecstacy thì số người sử dụng

ATS trên toàn thế giới lên đến gần 53 triệu người, lớn hơn rất nhiều so với

tổng số người sử dụng cocaine (16 triệu người) và thuốc phiện (16 triệu

người) gộp lại [45]

Đi cùng với xu hướng sử dụng đá gia tăng là những hậu quả nghiêm

trọng về sức khỏe của một bộ phận dân cư trong xã hội Ma túy đá không

chỉ gây nghiện, mà còn kích thích mạnh đến thần kinh trung ương, gây ảo

giác, hưng phấn, tạo cảm giác bay bổng, dễ bị kích động Đồng thời, đá

cũng khiến cho người sử dụng có nguy cơ cao nhiễm HIV đặc biệt do quan

hệ tình dục không an toàn Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, phụ nữ Việt

nam, đặc biệt là phụ nữ mại dâm (PNMD) có nguy cơ nhiễm HIV ngày càng

tăng Theo số liệu giám sát quốc gia, phân bố nhiễm HIV theo giới có xu

hướng chuyển dịch trong những năm gần đây Lây truyền do quan hệ tình

dục không an toàn ngày càng chiếm tỷ lệ cao hơn so với các nhóm khác [3]

Đáng chú ý, trong khi số lượng amphetamine và ecstacy bị bắt giữ

không có sự thay đổi đáng kể trong những năm gần đây, số lượng Meth bị

tịch thu có xu hướng tăng mạnh Năm 2010 lượng Meth bị bắt giữ trên toàn

thế giới lên đến 45 tấn, tăng 44% so với con số 31 tấn năm 2009 và gấp đôi

so với 22 tấn của năm 2008 Trong đó, dạng Meth được sử dụng chủ yếu trên

thế giới là ma túy đá [20] Được tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1919 [7], ma

Trang 17

túy đá (crystal methamphetamine) thực chất là methamphetamine (Meth) ở

dạng bột tinh thể có công thức là d- methamphetamine hydrochloride [20]

Đông Nam Á là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi ATS nói chung

và Meth nói riêng, với 63% số lượng ATS bị bắt giữ trên thế giới xảy ra ở

khu vực này [45] Số lượng Meth bị bắt giữ ở Đông Nam Á năm 2010 cũng

tăng hơn 25% so với năm 2009 và 74% so với năm 2008 [45] Việc gia tăng

sản xuất và buôn bán đồng nghĩa với việc gia tăng số người sử dụng Meth

trong khu vực Số người sử dụng Meth cư trú tại Đông và Đông Nam Á được

ước tính khoảng 16 triệu người, chiếm hơn một nửa số người sử dụng Meth

trên thế giới [36]

Trong các loại Meth, đá là mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia trong

khu vực, bởi việc sản xuất và buôn lậu loại ma túy này rất phổ biến và có xu

hướng gia tăng trong thời gian gần đây [45] Đá là loại ma túy có độ tinh

khiết cao, hàm lượng Meth khoảng 80% đến 84%; cao hơn rất nhiều so với

con số 15% của Meth dạng viên [56] Với hàm lượng Meth cao, khi vào cơ

thể đá kích thích hệ thần kinh trung ương gây ra ảo giác hưng phấn, tỉnh táo,

tăng huyết áp, nhịp tim, thở gấp, sốt [30] Sử dụng Meth trong thời gian dài

cũng có thể dẫn tới tiêu cơ vân và mắc một số vấn đề tim mạch [30] Bên

cạnh đó, Meth cũng kích thích hệ thần kinh giao cảm gây ức chế hoạt động

của dạ dày và ruột làm giảm cảm giác thèm ăn [20] Chính ảo giác hưng

phấn, hoạt động nhiều, không ăn, không ngủ trong khoảng thời gian dài do

loại ma túy này gây ra đã dẫn đến tình trạng kiệt sức, suy sụp cơ thể nhanh

chóng ở người sử dụng Thêm vào đó, sử dụng Meth ở liều cao trong thời

gian dài có thể gây tâm thần, triệu chứng tương tự như tâm thần phân liệt:

hoang tưởng hình ảnh, hoang tưởng âm thanh, khứu giác [7]

Hầu hết các quốc gia có báo cáo về việc sử dụng đá đều khẳng định hút

là đường dùng chủ yếu của loại ma túy này [19], [66], [57], [59] Tuy nhiên,

rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra mối liên quan giữa việc sử dụng

Trang 18

ma túy đá và tăng nguy cơ nhiễm HIV và các bệnh nhiễm trùng lây truyền

qua đường tình dục [66], [54], [23] Bởi lẽ, một trong những đặc điểm không

thể không kể đến của Meth là làm tăng hưng phấn tình dục Mặc dù có tác

dụng kích thích tình dục, Meth còn làm khô niêm mạc, làm giảm độ nhạy

cảm khu vực hậu môn và bộ phận sinh dục [39] Điều này góp phần làm hành

vi quan hệ tình dục trở nên thô bạo, dễ làm rách niêm mạc và tăng khả năng

lây nhiễm HIV Mặt khác, trong quá trình sử dụng Meth, cơ thể luôn ở trạng

thái bị kích thích và ảo giác, do vậy người dùng khó có thể kiểm soát các

hành vi của bản thân, thường xuất hiện nhiều hành vi QHTD bừa bãi, QHTD

không sử dụng bao cao su [37], [65]

Tỷ lệ sử dụng amphetamine và Meth trong cộng đồng dân cư tại khu

vực Đông Nam Á được ước tính là 0,6% Tuy nhiên, tỷ lệ PNMD đã từng sử

dụng ma túy đá được phản ánh trong các nghiên cứu tại một số nước trong

khu vực là rất cao, gấp 30 đến 50 lần con số tính chung cho cộng đồng Bằng

chứng trong nghiên cứu tại Philippines, Lianne và cộng sự đã công bố tỷ lệ

PNMD đã từng sử dụng đá là 18%, và tỷ lệ vẫn tiếp tục sử dụng loại ma túy

này thường xuyên là 12% [48] Tại Phnom Penh, Cambodia, nghiên cứu của

Marie và cộng sự cho thấy tỷ lệ đã dùng đá trong nhóm PNMD trẻ là 23,1%

và có sử dụng trong ba tháng gần đây là 13,6% [56] Mặt khác, phụ nữ sử

dụng Meth thường có xu hướng dễ bị phụ thuộc, thời gian từ khi bắt đầu sử

dụng đến khi nghiện ngắn hơn ở nam giới [24] Đồng thời, nữ giới sử dụng

meth cũng chịu ảnh hưởng của các bất lợi cá nhân và xã hội, gia tăng các

hành vi tình dục nguy cơ cao trong trạng thái tâm thần không tỉnh táo như

quan hệ tình dục với nhiều đối tác, cả những người không quen biết, quan hệ

tình dục không được bảo vệ [61] Một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan

giữa hành vi sử dụng Meth ở nữ giới và việc họ phải chịu bạo lực, tình dục

không an toàn, tổn thương thể xác từ bạn tình của mình [50], [18]

Trang 19

Mặc dù có xu hướng sử dụng tăng mạnh và ảnh hưởng nghiêm trọng đến

sức khỏe người sử dụng, tuy nhiên, các nỗ lực cung cấp điều trị nghiện đá

cũng như các biện pháp dự phòng, giảm hại hậu quả do loại ma túy này gây

ra cho cộng đồng nói chung và nhóm PNMD nói riêng ở các quốc gia trong

khu vực Đông Nam Á vẫn còn hạn chế [44]

Hành vi sử dụng MTTH, đặc biệt là đá, thường tập trung ở những nhóm

đối tượng dễ bị tổn thương như nhóm thanh thiếu niên, nhóm nam quan hệ

tình dục đồng giới và nhóm PNMD Theo báo cáo về tình hình sử dụng ma

túy trên thế giới năm 2010 của cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên

hợp quốc (UNODC) đã ước lượng số người trong độ tuổi từ 15-64 sử dụng

ma túy bất hợp pháp ít nhất một lần trong năm 2008 khoảng 155 đến 250

triệu người (chiếm từ 3,5% đến 5,7% dân số trong độ tuổi từ 15-49) Trong

đó, loại ma túy được sử dụng nhiều nhất là cần sa với 129-190 triệu người;

đứng thứ hai là MTTH dòng ATS với số người sử dụng dao động trong

khoảng 24,16 - 78,72 triệu người, xếp sau đó là chất dạng thuốc phiện và

cocaine

Nghiên cứu về việc sử dụng MTTH dạng tinh thể của phụ nữ MDĐP tại

Canada do Shannon và cộng sự tiến hành năm 2010 trên 225 phụ nữ MDĐP,

kết quả cho thấy có tới 78 đối tượng (chiếm 32%) báo cáo có sử dụng MTTH

dạng tinh thể/“đá” và 24% số đối tượng cho biết đã sử dụng “đá” hơn hai

năm tính đến trước cuộc điều tra (với 12% sử dụng bằng đường tiêm chích,

9% vừa tiêm chích vừa không tiêm chích và chỉ có 3% không sử dụng bằng

đường tiêm chích) Trong số các đối tượng có sử dụng “đá”, 40% cho biết lần

dùng ma túy “đá” đầu tiên là bằng đường tiêm, 47% dùng bằng đường hút và

13% nuốt/uống ma túy trong lần sử dụng “đá” đầu tiên [28]

Tại Phnompenh, Campuchia, Maher và cộng sự tiến hành một nghiên

cứu định tính vào năm 2010 trên 33 đối tượng PNMD độ tuổi 15-29 nhằm

tìm hiểu việc sử dụng ATS và một số hành vi nguy cơ nhiễm HIV/AIDS

Trang 20

trong nhóm này Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các đối tượng PNMD ở đây chủ

yếu dùng “đá” dưới dạng viên và dạng tinh thể với giá rẻ Việc sử dụng ATS

cũng phổ biến trong nhóm khách mua dâm, và có sự trao đổi về ma túy và

tình dục giữa PNMD và khách mua dâm [33]

3.2.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng methamphetamine trên thế

giới

Một số nghiên cứu trên thế giới đã tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến

việc sử dụng MTTH được các nghiên cứu đề cập đến bao gồm: (1) Các yếu tố

về đặc điểm nhân khẩu: tuổi, giới, tiền sử gia đình có người phạm tội hoặc sử

dụng chất gây nghiện… (2) Các yếu tố liên quan đến nhận thức về tác dụng

của MTTH; (3) ảnh hưởng của việc sử dụng các chất gây nghiện khác như

heroin, chất dạng thuốc phiện, thuốc lá, rượu Cho đến nay, chưa có nghiên

cứu nào tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đá nói riêng trong nhóm

PNMD

Nghiên cứu tổng quan “Các yếu tố nguy cơ dẫn đến sử dụng

methamphetamine ở giới trẻ” [41] được thực hiện bằng việc tổng quan 12 tài

liệu quan trọng được chọn ra từ 2376 tài liệu có liên quan qua hơn 40 cơ sở

dữ liệu nghiên cứu y học Kết quả cho thấy trong số những thanh niên nguy

cơ thấp (thanh niên chưa khai báo việc sử lạm dụng chất gây nghiện, phần

lớn được tuyển chọn tại trường học), các yếu tố liên quan tới việc sử dụng

Meth là tiền sử của việc sử dụng heroin, dạng thuốc phiện (OR=29,3; 95%

CI: 9,8 – 87,8%); tiền sử gia đình sử dụng ma túy (OR = 4,7; 95% CI:

2,8-7,9); hành vi tình dục nguy hiểm (OR = 2,79; 95% CI: 2,25-3,46) và một số

rối loạn tâm thần Ngoài ra, tiền sử sử dụng rượu và hút thuốc lá cũng liên

quan đáng kể tới việc sử dụng meth Đối với nhóm thanh niên nguy cơ cao

(nhóm được tuyển chọn từ trại cai nghiện, đã có báo cáo về việc sử dụng ma

túy bất hợp pháp), các yếu tố liên kết với việc sử dụng meth là: tiền sử gia

đình có người phạm tội (OR=2,0; 95% CI: 1,2-3,3); gia đình có tiền sử sử

Trang 21

dụng ma túy (OR=4,7; 95% CI: 2,8-7,9), gia đình có tiền sử lạm dụng rượu

(OR=3,2; 95% CI: 1,8-5,6), và điều trị tâm thần (OR=6,8; 95% CI: 3,6-12,9)

[41]

Nghiên cứu “Đặc điểm xã hội và hành vi tình dục nguy cơ của những

phụ nữ sử dụng methamphetamine [60] được thực hiện nhằm mục đích mở

rộng kiến thức về đặc điểm cá nhân, xã hội, động cơ sử dụng, mô hình sử

dụng meth, các vấn đề y tế, xã hội liên quan đến việc sử dụng meth và các

mối quan hệ giữa việc sử dụng meth và hành vi tình dục nguy cơ cao Nghiên

cứu được thực hiện trên 98 phụ nữ có HIV âm tính, có QHTD khác giới và sử

dụng meth tại San Diego, California Kết quả về hoàn cảnh sử dụng meth của

các phụ nữ này cho thấy, họ thường sử dụng chủ yếu với một người bạn

(95%) hoặc một bạn tình (84%) Ngoài ra, người khác tham gia sử dụng meth

cùng họ bao gồm: người lạ mặt (33%), đồng nghiệp (18%), thành viên gia

đình (16%) Nơi sử dụng là nhà đối tượng nghiên cứu (45%), nhà một người

bạn (33%) Phụ nữ không thường xuyên sử dụng meth tại các địa điểm công

cộng như công viên Lý do phổ biến nhất dẫn đến việc sử dụng meth của họ

bao gồm: để đạt được ảo giác sảng khoái (56%), tăng năng lượng (37%), đối

phó với tâm trạng (34%), giảm cân (29%), dự tiệc (28%), để giải tỏa stress

(27%) Bên cạnh đó, có 18% số người tham gia nghiên cứu cho rằng việc sử

dụng meth của họ nhằm tăng cường khoái cảm tình dục Điều này phù hợp

với việc 41% các phụ nữ này đã đi đến một địa điểm cụ thể để tìm bạn tình

sau khi sử dụng Meth Nơi họ tìm bạn tình thường là bữa tiệc tại một nhà

người bạn (n=16), quán bar (n=10) một góc phố (n=7) Nơi QHTD dưới tác

dụng của meth là tại nhà riêng của họ (65%), tại nhà bạn tình (51%), công

viên (12%), nhà bạn (7%)

Nghiên cứu “Lý do sử dụng ma túy trong giới trẻ”[35] gồm 364 người

trẻ tuổi sử dụng ma túy được lựa chọn bằng phương pháp chọn mẫu hòn tuyết

Trang 22

lăn Ngoài việc tìm ra cường độ, tần số và hình thức sử dụng rượu, cần sa,

cocaine, nghiên cứu cũng đề cập đến lý do sử dụng amphetamines và ecstasy

3.2.2 Hành vi lây nhiễm HIV trên đối tượng sử dụng ATS trên thế giới

Có ít các nghiên cứu về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS trên thế

giới tập trung chỉ riêng vào nhóm sử dụng đá Vì vậy, trong phần này, chúng

tôi chỉ tổng hợp một số nghiên cứu về hành vi lây nhiễm HIV trong các nhóm

sử dụng ATS khác nhau

Nghiên cứu “Sử dụng methamphetamine và hành vi quan hệ tình dục

khác giới nguy cơ” [49] khẳng định mối liên quan giữa việc sử dụng Meth và

hành vi QHTD nguy cơ Thông tin được thu thập bằng việc phỏng vấn 703

người tiêm chích ma túy ở Bắc Carolina Kết quả cho thấy Meth được sử

dụng trong 7% các lần quan hệ Một trong hai đối tác hoặc cả hai sử dụng

meth làm tăng khả năng giao hợp qua đường hậu môn (OR = 2,41; khoảng tin

cậy (CI) 95%: 1,29 – 4,53); giao hợp qua âm đạo và hậu môn (OR=2,41; 95%

CI:1,09 – 3,61) Ngoài những hành vi trên, việc với hai đối tác cùng sử dụng

Meth có liên quan đáng kể đến hành vi QHTD không bảo vệ đối với bạn tình

mới (OR=5,2; 95% CI: 2,09 – 12,93); quan hệ không được bảo vệ qua đường

hậu môn (OR = 4,63, 95% CI: 1,69 – 12,7)

Nghiên cứu “Hành vi nguy cơ nhiễm HIV trong những người sử dụng

amphetamine ở Sydney, Úc” [39] được thực hiện nhằm khảo sát hành vi sử

dụng chung bơm kim tiêm (BKT) và QHTD nguy cơ cao trong số 231 người

sử dụng amphetamine tại Úc Kết quả cho thấy, một nửa trong số đó thường

xuyên tiêm chích Tỷ lệ sử dụng chung chung BKT và QHTD nguy cơ cao

trong nghiên cứu này là tương tự với các nghiên cứu gần đây tại Úc Khoảng

1/3 số người đã từng tiêm chích dùng chung BKT Sử dụng bao cao su (BCS)

với bạn tình thường xuyên và không thường xuyên đều thấp QHTD nguy cơ

không liên quan đến việc dùng chung BKT và sử dụng amphetamine Kết quả

Trang 23

này khẳng định vẫn còn đáng kể những người sử dụng hai loại ma túy trên có

hành vi sử dụng chung BKT và tình dục không an toàn

Tại Trung Quốc, việc gia tăng tình trạng sử dụng các loại ma túy mới có

liên quan tới việc lây truyền HIV, đặc biệt là hành vi QHTD không an toàn

Nghiên cứu “Thực trạng sử dụng ma túy tổng hợp Methamphetamine và tỷ lệ

và các hành vi nguy cơ nhiễm HIV ở PNMD tại Trung Quốc” với số liệu sử

dụng được lấy từ báo cáo của một phòng khám sản phụ khoa ở Jiaozhou, tỉnh

Shangdong, nơi khám chữa bệnh cho PNMD và khách hàng của họ trong hơn

5 năm Kết quả nghiên cứu cho thấy, sử dụng Methamphetamine có liên quan

trực tiếp tới các bệnh lây truyền qua đường tình dục Những PNMD có sử

dụng Meth có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp 2,29 lần so với những PNMD

không sử dụng Nghiên cứu đã nhấn mạnh tới việc can thiệp phòng ngừa sự

lây lan STIs và HIV nên tập trung vào nhóm PNMD sử dụng

Methamphetamine Tuy nhiên, một trong những giới hạn của nghiên cứu là

chưa tìm hiểu được các hành vi tình dục liên quan đến tình dục an toàn (sử

dụng BCS) trong nhóm này [66]

Nghiên cứu thuần tập “Nghiện ma túy tổng hợp dạng Amphetamine và

những hành vi bạo lực của phụ nữ mại dâm ở Campuchia: những điều gợi ý

cho can thiệp lây nhiễm HIV” được thực hiện trên 220 PNMD từ các trung

tâm giải trí, nhà nghỉ, đường phố và công viên từ năm 2009 tới năm 2010, với

mục đích tìm hiểu thực trạng sử dụng ATS và mô tả những vấn đề bạo lực mà

PNMD gặp phải Trong tổng số 220 PNMD tham gia nghiên cứu có tới

23,3% báo cáo có sử dụng ATS trong vòng 3 tháng trước nghiên cứu, 15%

nghiện nặng Ở những PNMD sử dụng ATS, có 35,5% PNMD bị bạo lực thể

xác ở mức trung bình, 20,9% bị bạo lực thể xác ở mức nghiêm trọng, và có

tới 26,8% báo cáo bị bạo lực tình dục Bạo lực về thể xác và tinh thần ở nhóm

nghiện ATS mức độ nặng cao hơn nhóm không nghiện Đây là những yếu tố

Trang 24

ảnh hưởng tới sức khỏe và xã hội, trong đó vấn đề bạo lực tình dục là một

trong những yếu tố góp phần làm lây lan dịch HIV/AIDS [32]

Cũng trong nghiên cứu “Thực trạng sử dụng MTTH dạng Amphetamine

và các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/STI ở PNMD trẻ tuổi tại Phnompenh,

Campuchia” nêu trên đã chỉ ra rằng, việc sử dụng MTTH làm cho PNMD

cảm thấy hạnh phúc hơn và không nghĩ đến việc dùng BCS Những phát hiện

này chỉ ra rằng việc sử dụng MTTH dạng Amphetamine có liên quan tới việc

quyết định hành vi tình dục của PNMD trong nghiên cứu [33]

QHTD với nhiều bạn tình do ảnh hưởng của ATS cũng đã được chứng

minh là một hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS Nghiên cứu về mối tương

quan giữa việc sử dụng MTTH dạng Amphetamine với các hành vi nguy cơ

lây nhiễm HIV trong nhóm PNMD trẻ tuổi tại Phnompenh, Campuchia do

Couture và cộng sự thực hiện đã chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê

giữa việc sử dụng ATS với số lượng bạn tình, trong đó, những PNMD báo

cáo sử dụng ATS có xu hướng có nhiều bạn tình hơn các PNMD không sử

dụng ATS Việc QHTD với nhiều bạn tình cũng đồng nghĩa với khả năng lây

lan HIV/STI cao hơn, đặc biệt nếu đối tượng không sử dụng các biện pháp an

toàn khi QHTD Ngoài ra, cũng trong nghiên cứu này, các tác giả còn tìm ra

được mối liên quan giữa việc sử dụng ATS của PNMD với các bệnh lây

truyền qua đường tình dục (STIs) – một trong những yếu tố làm gia tăng khả

năng nhiễm HIV rất cao PNMD sử dụng MTTH dạng Amphetamine có nguy

cơ mắc STIs cao gấp 4,25 lần so với những người không sử dụng loại ma túy

này) [34]

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh mối liên quan chặt chẽ

giữa hành vi tiêm chích ma túy và nguy cơ lây nhiễm HIV/STI, trong đó,

những người tiêm chích ma túy (đặc biệt những đối tượng có hành vi sử dụng

chung BKT hoặc dùng chung các dụng cụ pha chế ma túy) thường có tỷ lệ

nhiễm HIV cao hơn nhiều so với nhóm không tiêm chích ma túy [29] Hành

Trang 25

vi tiêm chích MTTH dòng ATS ở PNMD cũng đã được báo cáo trong nhiều

tài liệu của các tổ chức như UNODC, Trung tâm kiểm soát ma túy và lạm

dụng ma túy Châu Âu (EMCDDA) [43] Tại Việt Nam, báo cáo của UNODC

năm 2012 đã cho biết tỷ lệ tiêm chích ATS của PNMD Hà Nội là tương đối

cao so với các tỉnh/thành phố khác Cụ thể, tỷ lệ PNMD dùng Meth dưới

dạng tiêm là 5,7%; với ma túy “đá”, tỷ lệ này là 1,8%; và tỷ lệ tiêm chích các

loại ATS khác dao động trong khoảng 4% [43] Mặc dù tiêm chích không

phải là một hình thức được sử dụng phổ biến nhất đối với ATS, tuy nhiên,

việc PNMD có thực hiện hành vi này trong bối cảnh ATS đang được sử dụng

ngày càng nhiều và lan tràn mạnh mẽ dẫn tới những mối nguy cơ rất lớn đối

với việc lây nhiễm HIV/AIDS trong các nhóm PNMD sử dụng ATS nói riêng

và toàn cộng đồng nói chung

3.3 Tổng quan nghiên cứu về đá trong nhóm phụ nữ mại dâm tại Việt

nam

3.3.1.Tình hình mại dâm tại Việt nam

Theo báo cáo Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình phòng,

chống mại dâm giai đoạn 2006 – 2010 của Bộ lao động, thương binh và xã

hội, năm 2010 cả nước ước tính có gần 31.000 PNMD [2] Tuy nhiên, con số

này trên thực tế còn cao hơn rất nhiều do tính chất di biến động và trá hình

của hoạt động mại dâm tại Việt Nam [26] Ngoài ra, báo cáo trên cũng cho

biết xu hướng tập trung cao của PNMD tại một số thành phố sầm uất đông

dân cư và các khu du lịch như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng,

Quảng Ninh, Cần Thơ [[2, 15]

PNMD tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đang có xu hướng

trẻ hóa, tuổi hành nghề lần đầu đều giảm dần trong cả hai nhóm MDĐP và

MDNH [15] Trong khi đó, kết quả điều tra hai vòng của Chương trình giám

sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI trên toàn quốc (IBBS)

Trang 26

năm 2006 và 2009 đã cho thấy một sự gia tăng đáng kể về số khách trung

bình trong 1 tuần trước cuộc điều tra của cả phụ nữ MDĐP và MDNH tại Hà

Nội (tăng từ 5,63 lên 7,0 khách/tuần đối với MDĐP; và từ 5,23 lên 6,8

khách/tuần đối với MDNH) [[5, 15] Cũng theo IBBS vòng II (2009), Hà Nội

là một trong hai khu vực có tỷ lệ PNMD sử dụng ma túy cao nhất Tiền sử sử

dụng ma túy liên quan rất chặt chẽ đến tình trạng nhiễm HIV/AIDS của

PNMD Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm PNMD tại Hà Nội lần lượt là

19,7% đối với MDĐP và 17,7% đối với MDNH, cao nhất trong 11 tỉnh/thành

phố được điều tra [15] Số liệu trên đã phần nào phản ánh mức độ nhạy cảm

và nguy cơ nhiễm HIV/AIDS của nhóm đối tượng PNMD tại Hà Nội

Hà Nội là một thành phố sầm uất với nhiều khu dịch vụ vui chơi giải trí

như nhà hàng, quán bar, vũ trường, karaoke, mát xa… Đây cũng là điều kiện

thuận lợi phát triển hoạt động mại dâm Theo ước tính của Bộ Lao động

Thương binh và Xã hội, số lượng PNMD trên địa bàn Hà Nội ngày một gia

tăng, năm 2009 có tới gần 1800 người gấp gần 1,5 lần năm 2007 và gấp hơn

4 lần năm 2005 [1] Đó là con số thống kê từ số sách, còn thực tế, hoạt động

mại dâm tại Hà Nội diễn ra phức tạp dưới nhiều hình thức, do đó khó có thể

đưa ra một con số chính xác

Nghiên cứu “Xây dựng mô hình phòng chống HIV/AIDS cho gái mại

dâm tỉnh Quảng Ninh” [13] đã chỉ ra có đến 70% PNMD xuất thân từ nông

thôn; độ tuổi chủ yếu từ 18-35 tuổi (khoảng 80%) và nhóm phụ nữ này có xu

hướng ngày càng trẻ hóa (khoảng 70% dưới 25 tuổi và 13,4% dưới 18 tuổi)

Địa điểm và phương thức hành nghề của PNMD rất đa dạng, phụ thuộc chủ

yếu vàp sự “phân hạng”, “đẳng cấp” và thời gian hành nghề Thường khi mới

vào nghề, còn trẻ, PNMD làm việc dưới sự quản lý trong các nhà hàng,

karaoke, cơ sở massage, nhà nghỉ, khách sạn Sau một thời gian “xuống cấp”,

họ trở thành MDĐP, hành nghề nơi công cộng Ngoài ra PNMD có tính di

Trang 27

biến động cao (thường xuyên thay đổi nơi làm việc) là nguy cơ tiềm ẩn nhiễm

HIV

Nghiên cứu định tính về “Đời sống mại dâm ở Việt Nam”(2009) cho

thấy có mối quan hệ ràng buộc của PNMD với khách hàng, chủ chứa, những

người bảo kê, môi giới tình dục… và những PNMD khác Đó là những mối

quan hệ phức tạp mà PNMD luôn là người yếu thế, là nạn nhân của việc lạm

dụng, bóc lột, bạo hành tình dục, đồng thời hành vi QHTD của họ cũng bị chi

phối nặng nề bởi những mối quan hệ này [9] Đối với mối quan hệ với khách

hàng, PNMD thường yếu thế trong việc bảo vệ bản thân vì nghề của họ là bất

hợp pháp và họ không mạnh mẽ như nam giới Phần lớn họ bị ngược đãi, lạm

dụng và bóc lột tình dục bởi các khách hàng bạo lực Các khách hàng thường

yêu cầu nhiều động tác tình dục khác nhau, nếu không thỏa mãn, PNMD có

thể bị đánh hoặc không được trả tiền

Trong quan hệ với chủ chứa, những phụ nữ trẻ, hấp dẫn thường bị lợi

dụng dưới nhiều hình thức: từ dụ dỗ đến sử dụng bạo lực, đôi khi còn bị chủ

làm cho phụ thuộc vào ma túy để dễ quản lý Hơn thế nữa, các mối quan hệ

của PNMD còn trở nên phức tạp hơn khi các chủ tụ điểm giải trí tình dục còn

thuê một số nam giới để quản lý PNMD Họ thường thể hiện quyền lực và

quyền thế mà người chủ trao cho họ, sử dụng bạo lực về thể chất hoặc bạo

lực tình dục nhằm kiểm soát PNMD

Hành vi sử dụng ma túy trong nhóm PNMD là khá phổ biến Tỷ lệ

PNMD nghiện ma túy này càng tăng, năm 2004 tỷ lệ này là 32,6% gấp gần 2

lần so với năm 2001 [6] Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ nhiễm

HIV trong nhóm PNMD cao với hơn 10% PNMD đã nhiễm HIV tại 5/7 tỉnh

trong nghiên cứu IBBS năm 2006 [5] Ma túy làm cho mại dâm trở nên phức

tạp hơn, buộc người hành nghề mại dâm phải bán dâm nhiều hơn, đáp ứng

nhiều hành vi tình dục nguy cơ cao để đổi lấy ma túy

Trang 28

3.3.2 Tình hình sử dụng ATS tại Việt nam

Tại Việt Nam, xu hướng sử dụng ma túy tổng hợp dạng amphetamine đã

tăng đáng kể từ năm 2003, đặc biệt ở những khu đô thị lớn như Hà Nội, thành

phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng với đối tượng chính là thanh niên, lái xe, phụ

nữ mại dâm Năm 2004, số lượng ATS do các lực lượng chức năng thu giữ

được là gần 50.000 viên, năm 2005 là 230.000 viên và đến năm 2008 thống

kê cho thấy số lượng này đã lên đến hơn một triệu viên [63] Với tốc độ gia

tăng nhanh chóng như trên, ATS đã, đang và sẽ là thách thức lớn đối với Việt

Nam

Trong năm 2009, số người nghiện ma túy trên cả nước đã lên đến

147.731 người [46], tăng 15% so với cùng kỳ năm trước đó Loại ma túy

được sử dụng phổ biến ở Việt Nam hiện nay vẫn là heroin, với 83% số người

nghiện sử dụng [46] Xuất hiện ở Việt Nam vào giữa thập kỷ 90 của thế kỷ

XX, sau gần 15 năm kể từ đó, MTTH đã trở thành loại ma túy được sử dụng

phổ biến thứ 3 tại Việt Nam, với khoảng 4% năm 2009 [62]

MTTH được sử dụng ở Việt Nam chủ yếu là dòng ATS với ba dạng

chính là amphetamine, Meth và ecstasy (thuốc lắc) Ngoài dạng viên, hiện

nay MTTH dạng tinh thể gọi là “ma túy đá” với tên khoa học là Crystalline

mathamphetamine đã xuất hiện tại Việt Nam Đến 2009, Việt Nam đã phát

hiện và thu giữ được 3,9 kgma túy này [46] UNODC cũng dự báo cả ba loại

MTTH đang sử dụng ở Việt Nam đều có xu hướng gia tăng trong thời gian

tới, đặc biệt là ma túy đá – thứ mà rất được ưa chuộng trong giới trẻ ở những

thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh [46]

Mặc dù, hiện tại chưa có số liệu thống kê cụ thể về tình hình sử dụng

MTTH, tuy nhiên cũng như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội thường là đích

đến của các buôn lậu ma túy Bằng chứng là trong tháng 7 năm 2008 cảnh sát

đã bắt giữ Meth dạng viên với trọng lượng lên đến 53,9 kg đang được vận

Trang 29

chuyển từ Lào vào Quảng Trị và thị trường cuối cùng được đưa đến là Hà

Nội và TP Hồ Chí Minh [46]

Mặc đù đã xuất hiện ở Việt Nam hơn một thập kỷ, tuy nhiên số lượng

nghiên cứu về ma túy tổng hợp dạng ATS ở Việt Nam còn rất ít Tính đến

thời điểm hiện tại mới chỉ có 3 nghiên cứu về chủ đề ATS ở Việt Nam được

công bố, cụ thể như sau:

Thứ nhất là nghiên cứu về “Thực trạng chất ma túy tổng hợp ATS ở các

tỉnh thành phố phía Nam” do Nguyễn Đức Tiến và Bùi Tùng Hiệp thực hiện

nhằm khảo sát tổng quan về chất ma túy tổng hợp và đánh giá, phân tích,

phân loại các chất, các dạng, lô gô, màu sắc của chế phẩm ATS có trên thị

trường Việt Nam [10]

Thứ hai là nghiên cứu định tính về “Sử dụng chất gây nghiện và nguy cơ

nhiễm HIV trong nhóm nam tình dục đồng giới, mại dâm nam, và người

chuyển giới tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh”đã phỏng vấn sâu 62 người sử

dụng chất gây nghiện trong đó có ma túy tổng hợp (lắc, đá, ketamine, bồ đà

và kẹo) và 4 cuộc thảo luận nhóm Kết quả cho thấy lý do chính bắt đầu sử

dụng chất gây nghiện gồm: Tìm khoái cảm; đối phó với cảm xúc; nhận thức

về lợi ích sử dụng chất gây nghiện: thuốc lắc làm tăng độ vui vẻ, sảng khoái,

sung sức hơn; đá có tác dụng giảm cân, tăng sự tự tin, tăng khả năng tình

dục…Thêm vào đó, các đối tượng mại dâm còn dùng chất gây nghiện để hỗ

trợ công việc mại dâm của họ [17]

Được công bố gần đây nhất (2012) là nghiên cứu do UNODC tài trợ

[43] Đây là nghiên cứu đầu tiên thực hiện tại Việt Nam sử dụng ATS trong

nhóm các nhóm nguy cơ cao với HIV và sử dụng ATS, bao gồm nhóm lái xe

taxi và lái xe đường dài, nhóm đi vũ trường và quán bar, nhóm tiêm chích ma

túy, nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới và nhóm phụ nữ mại dâm tại ba

thành phố Hà nội, Đà nẵng và thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu bước đầu

đưa ra một bức tranh sơ bộ về thực trang sử dụng ATS trong nhóm phụ nữ

Trang 30

mại dâm tại Trong tổng số 270 PNMD tham gia cuộc điều tra, 21,4% báo

cáo có sử dụng Methamphetamine, 54,4% sử dụng Ecstasy/thuốc lắc, và phổ

biến nhất là ma túy “đá” với tỷ lệ sử dụng ở mức 57,8% So với PNMD tại

Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, PNMD tại Hà Nội có xu hướng sử

dụng Meth dạng viên nhiều, tuy nhiên tỷ lệ này vẫn thấp hơn đáng kể so với

tỷ lệ sử dụng thuốc lắc và “đá” Lý do sử dụng ATS trong của phụ nữ mại

dâm được phát hiện trong nghiên cứu này là sự tò mò về tác dụng của ATS,

áp lực nhóm, áp lực bạn tình, tính phổ biến của ATS Hành vi nguy cơ nhiễm

HIV được ghi nhận trong nghiên cứu này là quan hệ tình dục bừa bãi

Nghiên cứu “Đánh giá thực trạng, kiến thức, thái độ, thực hành, các yếu

tố ảnh hưởng đến việc sử dụng ma túy tổng hợp dạng Amphetamine và hành

vi nguy cơ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mại dâm” [8] do Hồ Thị Hiền và

cộng sự thực hiện năm 2012 dưới sự tài trợ của Cục Phòng, Chống

HIV/AIDS đã cung cấp thông tin về thực trạng, mức độ ảnh hưởng của ATS

đối với nhóm phụ nữ mại dâm ở Hà Nội Nghiên cứu này cho thấy ma túy đá

là loại ATS được sử dụng nhiều nhất, chiếm 50,6%[8]

3.3.3 Một số yếu tố liên quan đến sử dụng ATS trong PNMD tại Việt nam

Các nghiên cứu đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng

MTTH trong nhóm PNMD tại Việt nam còn rất hạn chế Nghiên cứu do

UNDOC tài trợ có tìm hiểu khái quát tình hình sử dụng ATS trong nhóm

nguy cơ cao nói chung và trong nhóm PNMD nói riêng Kết quả cho thấy lý

do PNMD thường sử dụng ATS là: sự tò mò về tác dụng của MTTH, áp lực

nhóm, áp lực bạn tình, tính phổ biến của MTTH Tuổi, kiến thức về khả năng

làm tăng năng lượng chơi của MTTH, nơi đón khách như (nhà hàng, quán

bar, karaoke…), đã từng sử dụng heroin, biết người khác sử dùng MTTH và

có đi bar/vũ trường trong vòng 90 ngày qua là các yếu tố liên quan tới việc sử

dụng MTTH dòng ATS [43] Nghiên cứu của Hồ Thị Hiền và cộng sự năm

2012 cho thấy, những chị em đã từng sử dụng ma túy đá có khả năng quan hệ

Trang 31

tình dục tập thể có khả năng quan hệ tình dục tập thể (QHTDTT) cao gấp 4,5

lần so với những người không sử dụng ma túy đá[8] Nghiên cứu này cho

thấy tỷ lệ đã từng sử dụng ATS trong nhóm PNMD từ 18 – 45 tuổi là khá

cao, 64,5% Đá là loại ATS được sử dụng phổ biến nhất (50,6%), đa phần

loại ma túy này được sử dụng theo nhóm, và nhà nghỉ là địa điểm lý tưởng để

sử dụng Đa số PNMD có kiến thức không đầy đủ, và thái độ chưa đúng về

việc sử dụng ATS Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã xác định sự tồn tại của các

hành vi tình dục nguy cơ nhiễm HIV dưới tác dụng của đá, như hành vi quan

hệ tập thể, không sử dụng bao cao su Kết quả nghiên cứu đã đưa ra các

khuyến nghị góp phần cho việc xây dựng các chương trình truyền thông về sử

dụng ma túy đá Tuy nhiên, do chưa tìm hiểu chi tiết về các hành vi, cũng

như các bối cảnh xảy ra hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV, đặc biệt là các yếu

tố liên quan đến đời sống, các mối quan hệ phức tạp trong mạng lưới PNMD

sử dụng đá (bao gồm các mối quan hệ giữa khách làng chơi, bạn tình, bảo kê,

chủ chứa, các nhóm sử dụng ma túy khác với các nhóm PNMD), nghiên cứu

này chưa đủ cơ sở để đề xuất xây dựng các chương trình can thiệp giảm hại

cụ thể liên quan đến tình dục nguy cơ nhiễm HIV

Thứ hai phải kể đến là điều tra “ATS ở Việt Nam: đánh giá tính sẵn có,

việc sử dụng và hậu quả đến sức khỏe, an ninh” [43] được thực hiện năm

2010, dưới sự tài trợ của UNODC Nghiên cứu này được thực hiện nhằm

tìm hiểu về việc sử dụng ATS trong 5 nhóm quần thể là: nam sử dụng

heroin, MSM, nữ mại dâm, thanh niên hay đi bar vũ trường và công nhân

xây dựng hoặc lái xe ô tô ở Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh

Kết quả cho thấy, tỷ lệ sử dụng ma túy đá chung cho tất cả các đối tượng

tham gia nghiên cứu là 62,68% Đối với PNMD, tỷ lệ đã từng sử dụng ma

túy đá tại ba tỉnh được điều tra trong nghiên cứu này là 57,78% [43]

Một nghiên cứu khác thực hiện tại Việt Nam năm 2009 là“Sử dụng

chất gây nghiện và nguy cơ nhiễm HIV trong nhóm nam tình dục đồng giới,

Trang 32

mại dâm nam, và người chuyển giới tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh” [17]

Nghiên cứu này sử dụng định tính, phỏng vấn sâu 62 nam tình dục đồng

giới, người chuyển giới và mại dâm nam; 4 thảo luận nhóm để tìm hiểu về

các chất gây nghiện trong đó có (lắc, đá, ketamine…) Kết quả cho thấy lý

do bắt đầu sử dụng chất gây nghiện gồm: Tìm khoái cảm; đối phó với cảm

xúc; nhận thức về lợi ích sử dụng chất gây nghiện: thuốc lắc làm tăng độ vui

vẻ, sảng khoái, sung sức hơn; đá có tác dụng giảm cân, tăng sự tự tin, tăng

khả năng tình dục…Thêm vào đó, các đối tượng mại dâm còn dùng chất gây

nghiện để hỗ trợ công việc mại dâm của họ Tuy nhiên, nghiên cứu mới đưa

ra các lý do ở cập độ cá nhân mà chưa đề cấp đến các ảnh hưởng của môi

trường trong việc sử dụng đá Ngoài ra, một nghiên cứu khác không thuộc

nhóm nghiên cứu tìm hiểu về hành vi“Thực trạng chất ma túy tổng hợp ATS

ở các tỉnh thành phố phía Nam” [10] nhằm khảo sát tổng quan về chất ma

túy tổng hợp và đánh giá, phân tích, phân loại các chất, các dạng, lô gô, màu

sắc của chế phẩm ATS có trên thị trường Việt Nam

Tóm lại, phần tổng quan các nghiên cứu trong nước cho thấy bối cảnh

sử dụng các chất kích thích dạng amphetamine ngày càng gia tăng ở Việt

Nam và nguy cơ lây nhiễm HIV cao đã được báo cáo Tuy nhiên, vẫn còn

thiếu hụt lớn về các nghiên cứu về các chất kích thích dạng Amphetamine

nói chung và ma túy đá nói riêng tại Việt Nam, đặc biệt là trong nhóm

PNMD Hơn nữa việc sử dụng các thiết kế định tính trong các thiết kế ngày

còn sơ sài, chưa thấy được yếu tố về đời sống, hoàn cảnh (bao gồm các yếu

tố vật lý và yếu tố xã hội như các mối quan hệ phức tạp với các nhóm khác

nhau) tác động như thế nào đến việc thực hiện các hành vi nguy cơ lây

nhiễm HIV đối với PNMD nhà hàng và đường phố.

3.3.4 Hành vi lây nhiễm HIV trên đối tượng sử dụng ATS tại Việt nam

Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc giáo

dục, truyền thông sức khỏe nhằm nâng cao hiểu biết của người dân nói chung

Trang 33

và của các nhóm dân cư có nguy cơ cao nói riêng về HIV/AIDS và các bệnh

lây truyền qua đường tình dục Các chương trình này đã góp phần đáng kể

vào việc tăng tỷ lệ sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục lần gần đây nhất

với khách hàng ở phụ nữ mại dâm trên 7 tỉnh trong chương trình giám sát kết

hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STIs (IBBS) năm 2006 là hơn 90 %

[5] Tuy nhiên, những thách thức mới do ATS gây ra đòi hỏi sự đánh giá sâu

sắc về vấn đề sử dụng nó ở nhóm nguy cơ cao với HIV, trong đó phải kể đến

là phụ nữ mại dâm và nhóm sử dụng ma túy khác PNMD sử dụng ATS có

nhiều nguy cơ liên quan đến lây nhiễm HIV Theo Hồ Thị Hiền và cộng sự,

PNMD có sử dụng ATS thường sử dụng ATS theo nhóm, chung tiền mua

ATS trong nhóm, có quan hệ tình dục tập thể, tình dục không an toàn trong

nhóm sau khi sử dụng ATS, bạo lực tình dục sau khi sử dụng đá [58]

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế định tính (phương pháp thiết kế dân tộc

học), được thực hiện trong 7 tháng tại Hà Nội Việc sử dụng thiết kế dân tộc

học nhằm mô tả chi tiết đặc điểm đời sống và mối quan hệ xã hội phức tạp

của PNMD có sử dụng đá Đồng thời, nghiên cứu xác định các yếu tố cá

nhân và môi trường tác động đến việc bắt đầu và duy trì sử dụng đá trong

nhóm đối tượng này và phân tích bối cảnh hành vi tình dục nguy cơ lây

nhiễm HIV bao gồm sự tương tác giữa các mối quan hệ xã hội của nhóm

PNMD lên hành vi tình dục của họ, vị thế của PNMD ảnh hưởng đến việc

thương thuyết sử dụng bao cao su và sự chấp nhận tình dục không an toàn

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là PNMD, các đối tượng thuộc mạng lưới của họ bao

gồm bảo kê, chủ khách sạn, nhà nghỉ, bạn tình thường xuyên, khách làm

chơi có và không sử dụng đá Số lượng đối tượng được phỏng vấn bao gồm:

Trang 34

- Phụ nữ mại dâm: 50 người

- Bảo kê: 03 người

- Cán bộ trung tâm sức khỏe phụ nữ: 02 người

- Bạn tình của PNMD: 3 người

- Khách hàng của PNMD: 7 người

♦ Phụ nữ mại dâm

9 Tiêu chí lựa chọn đối tượng PNMD bao gồm:

- Tuổi từ 18 – 45 (lựa chọn tiêu chí này dựa trên việc tổng quan

các nghiên cứu gần đây)

- Có sử dụng ma túy đá ít nhất một lần trong vòng 3 tháng tính

đến thời điểm nghiên cứu (để tránh trường hợp nếu họ sử dụng ma túy

cách đây quá lâu thì các thông tin thu được có thể gặp phải sai số do

nhớ lại);

- Các đối tượng nhiệt tình, sẵn sàng chia sẻ và tỉnh táo trong quá

trình phỏng vấn

♦ Các đối tượng khác:

9 Thông qua PNMD, nghiên cứu đã phỏng vấn thêm khách hàng,

bảo kê, người dẫn, chủ chứa, đồng đẳng viên, nhằm tìm hiểu thông

tin từ nhiều góc độ, đồng thời hữu hiệu cho việc đối chiếu và

phiên giải thông tin Dự kiến phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm các

đối tượng khoảng 50 người (cho tất cả các đối tượng) Cần chú ý

rằng, số lượng đối tượng này sẽ thay đổi phụ thuộc vào chất lượng

thông tin và quá trình thực địa

4.3 Phương pháp chọn mẫu

9 Do chủ đề nghiên cứu mang tính nhạy cảm cao, liên quan tới nhóm

đối tượng vừa có độ ẩn lớn, vừa có sự di động thường xuyên nên

việc sử dụng phương pháp chọn mẫu hòn tuyết lăn (snowball

Trang 35

sampling) được coi là lý tưởng trong việc lựa chọn đối tượng

nghiên cứu

9 Ở giai đoạn đầu, các đối tượng phỏng vấn đầu tiên sẽ được tuyển

trọn thông qua các đồng đẳng viên, hoặc chủ tịch các câu lạc bộ tự

lực của nhóm mại tại các khu vực khác nhau ở nội thành Hà Nội

Các đồng đẳng viên hoặc chủ tịch câu lạc bộ sẽ được hướng dẫn về

tiêu chí tuyển chọn đối đối tượng nghiên cứu, sau đó họ sẽ tiếp cận

phụ nữ mại dâm mà họ thấy phù hợp các tiêu chuẩn ở các Khi đối

tượng đã được sàng lọc, đủ tiêu chuẩn thì sẽ tham gia vào phỏng

vấn chính thức

9 Sau đó, để tiếp cận những phụ nữ mại dâm khác, nghiên cứu sử

dụng phương pháp hòn tuyết lăn Cụ thể, điều tra viên sẽ yêu cầu

các đối tượng đã được phỏng vấn giới thiệu những đối tượng khác

có đủ các đặc điểm nghiên cứu tương tự như họ để tiếp tục tham gia

cung cấp thông tin Việc chọn đối tượng nghiên cứu sẽ tiếp tục diễn

ra như vậy cho đến khi không phát hiện thêm các thông tin mới từ

việc phỏng vấn các đối tượng

4.4 Thu thập thông tin

Nghiên cứu thiết kế theo phương pháp dân tộc học (ethnographic study), số

liệu được thu thập qua hai hình thức:

- Phỏng vấn sâu: phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu dựa trên

hướng dẫn phỏng vấn bán cấu trúc (xem phụ lục) được xây dựng và

phát triển trong quá trình thực địa Trung bình việc phỏng vấn sẽ

được thực hiện từ 1-3 lần đối với mỗi PNMD và phỏng vấn 1-3 lần

đối với các đối tượng khác, nhằm thu thập được những thông tin sâu

và chính xác mà mục tiêu đề ra Dự kiến thực hiện 2 thảo luận nhóm

tập trung với đối tượng PNMD được thực hiện giai đoạn đầu và giai

đoạn sau của phỏng vấn

Trang 36

- Quan sát: Bên cạnh phỏng vấn, thông tin còn được thu thập thông qua

việc quan sát không tham dự về nơi làm việc, nơi ở, điều kiện vệ sinh

của PNMD và các mối quan hệ của đối tượng tại nơi làm việc Việc

quan sát này sẽ giúp mô tả rõ hơn bối đặc điểm sống, mối quan hệ xã

hội, điều kiện vệ sinh của PNMD tham gia nghiên cứu

4.5 Nội dung nghiên cứu

9 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (tuổi, trình độ văn hóa,

tình trạng hôn nhân, thu nhập, địa chỉ, thời gian hành nghề, xung quanh có

2 Đặc điểm đời sống và mối quan hệ xã hội trong nhóm PNMD có sử dụng ma túy đá

tại Hà Nội, năm 2013

- Quan hệ với khách hàng đặc điểm khách hàng (MDĐP vs

MDNH): Sự khác biệt giữa hai nhóm phụ nữ mại dâm

- Đặc điểm và sự khác biệt giữa các mối quan hệ xã hội và quan

hệ quyền lực (power relations) giữa hai nhóm PNMD nhà hàng

và đường phố

- Mối quan hệ với chủ (MDNH)

- Mối quan hệ với bảo kê, người dẫn mối

- Mối quan hệ với PNMD khác

- Mối quan hệ trong mạng lưới sử dụng đá, ATS, và các loại ma

Trang 37

- Chi tiêu trung bình (nuôi con)

- Đặc điểm kinh tế: Cờ bạc lô đề, nợ nần

2.4 Điều kiện sống - Điều kiện sống, vệ sinh của PNMD nhà hàng

- Điều kiện sống, vệ sinh của PNMD đường phố

- Thời gian làm việc

- Điều kiện vệ sinh nơi làm việc

3 Xác định các yếu tố cá nhân và môi trường nguy cơ sử dụng ma túy đá trong nhóm

PNMD tại Hà Nội năm 2013

- Thái độ (Cảm nghĩ về hành vi, niềm tin về hành vi )

- Chuẩn mực (niềm tin theo chuẩn – Mong đợi của người

Tiền sử : Vô gia cư, bắt nạt, đi

tù, thiếu sự chăm sóc

Việc buôn bán vận chuyển đá/ma túy khác

MT xã hội:

- Văn hóa nhóm tham gia

- Mối quan hệ xã hội và kết

- Việc trao đổi mại dâm,

- Giá của các dịch vụ giảm

- Môi trường kinh tế

chung của khu vực

- Sự phát triển kinh tế,

khung hoảng kinh tế

Trang 38

4 Phân tích hành vi tình dục nguy cơ nhiễm HIV/AIDS trong bối cảnh tác động qua

lại giữa mại dâm và hành vi sử dụng đá ở PNMD tại Hà Nội, năm 2013

4.1 Tác động của ma túy đá đến hành nghề mại dâm (Đá phục vụ mại dâm)

4.2 Tác động của mại dâm đến việc sử dụng ma túy đá (mại dâm để có đá, thỏa mãn

nhu cầu sau khi dùng đá)

4.3 Hành vi tình dục nguy cơ ( môi tả hành vi, bối cảnh thực hiện hành vi, phân tích vị

thế, khả năng thương thuyết tình dục an toàn của PNMD khi sử dụng đá, và việc ép

buộc, chấp nhận hành vi tình dục nguy cơ, đặc biệt là quan hệ tập thể)

Mối quan hệ xã hội và vị thế của PNMD trong các mối quan hệ đó ảnh hưởng đến

việc thương thuyết và thực hiện hành vi tình dục nguy cơ cao

Sự phản ứng, khả năng thương thuyết, vai trò trong việc đưa ra quyết định và thực

hiện hành vi tình dục an toàn

4.5 Xử lý và phân tích số liệu

Toàn bộ phỏng vấn sâu sẽ được ghi âm điện tử và gỡ băng sử dụng

phần mềm MS Word Số liệu được quản lý và phân tích theo chủ đề sử

dụng phần mềm NVIVO 8.0

4.6 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu tuân thủ các quy định của hội đồng đạo đức y sinh học của

cục phòng chống AIDS

Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể về

mục đích và nội dung nghiên cứu theo Trang thông tin cho đối tượng nghiên

cứu Nghiên cứu chỉ tiến hành khi nhận được sự tự nguyện chấp thuận tham

Trang 39

gia của đối tượng nghiên cứu trong Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu Đối

tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu hoặc yêu cầu dừng cuộc phỏng

vấn bất cứ lúc nào Trong quá trình nghiên cứu không có sự có mặt của chính

quyền địa phương hay bất cứ cá nhân/tổ chức nào có thế gây áp lực tới việc

tham gia nghiên cứu tự nguyện của đối tượng

Phiếu điều tra không ghi tên của đối tượng nghiên cứu, các băng ghi âm

phỏng vấn được quản lý nghiêm ngặt, do đó các thông tin liên quan của đối

tượng được đảm bảo giữ kín Các thông tin cá nhân của đối tượng không

nhằm mục đích nào khác ngoài mục đích nghiên cứu.

5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong phần này, các kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày theo mục tiêu

nghiên cứu Các thông tin chung về đối tượng tham gia phỏng vấn được trình

bày, tiếp đó là đến nội dung mô tả về đặc điểm đời sống và các mối quan hệ

xã hội có liên quan đến việc sử dụng đá của PNMD tại Hà nội năm 2013

(mục tiêu 1) Sau đó, mục tiêu 2 nhằm xác định các yếu tố cá nhân và môi

trường nguy cơ ảnh hưởng đến sử dụng đá trong nhóm PNMD sẽ được phân

tích Phần cuối cùng sẽ cung cấp kết quả của mục tiêu 3 về bối cảnh của hành

vi tình dục nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS dưới tác động qua lại của hành vi

mại dâm và sử dụng đá của nhóm PNMD tham gia nghiên cứu

5.1 Thông tin chung về PNMD tham gia nghiên cứu

(Min; Max)

Tuổi

18-2526-40

Trang 40

5.2 Đặc điểm đời sống và các mối quan hệ xã hội có liên quan đến việc

sử dụng đá của phụ nữ mại dâm

5.2.1 Đặc điểm của PNMD sử dụng đá

Việc phỏng vấn các nhóm đối tượng nghiên cứu khác nhau cho thấy,

PNMD nhà hàng và đường phố có tỷ lệ sử dụng đá tương đối cao Hai nhóm

Ngày đăng: 12/11/2016, 14:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Ngô Đức Anh và S.A. Mccurdy (2009), " Đời sống của nữ mại dâm ở Việt Nam: Các phát hiện từ một nghiên cứu định tính ", Tạp chí giới và sức khỏe tình dục . 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống của nữ mại dâm ở Việt Nam: Các phát hiện từ một nghiên cứu định tính
Tác giả: Ngô Đức Anh và S.A. Mccurdy
Năm: 2009
11. Nguyễn Văn Luyện (2006), Tìm hiểu công tác phòng, chống ma túy, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu công tác phòng, chống ma túy
Tác giả: Nguyễn Văn Luyện
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2006
16. Vũ Đức Việt và Lê Minh Giang (2012), "Tiếp cận điền dã dân tộc học trong nghiên cứu HIV/AIDS chia sẻ của nghiên cứu viên trẻ tham gia dự án STAR", Nghiên cứu gia đình và giới. 22(6), tr. 64 - 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận điền dã dân tộc học trong nghiên cứu HIV/AIDS chia sẻ của nghiên cứu viên trẻ tham gia dự án STAR
Tác giả: Vũ Đức Việt và Lê Minh Giang
Năm: 2012
17. Vũ Ngọc Bảo (2010), "Sử dụng chất gây nghiện và nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm Nam tình dục Đồng giới, mại dâm nam và người chuyển giới tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh".Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng chất gây nghiện và nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm Nam tình dục Đồng giới, mại dâm nam và người chuyển giới tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Vũ Ngọc Bảo
Năm: 2010
1. Bộ Lao động Thương binh & Xã hội (2009), Số đối tượng mại dâm có hồ sơ quản lý chia theo tỉnh, giai đoạn 2002-2007 Khác
2. Bộ Lao động Thương binh & Xã hội (2010), Báo cáo 108/BC- BLĐTBXH về kết quả Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình phòng, chống mại dâm giai đoạn 2006 - 2010 và mục tiêu, phương hướng, giải pháp giai đoạn 2011 - 2015 Khác
3. Bộ Y tế (2012), Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS và các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS năm 2011, phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu của năm 2012 Khác
4. Bộ Y tế (2012), Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS và hoạt động phòng, chống HIV/AIDS năm 2011, phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu năm 2012 Khác
5. Bộ y tế (2005-2006), "Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) tại Việt Nam.&#34 Khác
6. chống HIV/AIDS Cục phòng (2005), " Báo cáo phối hợp công tác giảm thiểu tác hại phòng, chống AIDS trong phòng chống tệ nạn mại dâm &#34 Khác
8. Hồ Thị Hiền và các cộng sự. (2012), Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành liên quan đến việc sử dụng ma túy tổng hợp dạng amphetamine và hành vi tình dục nguy cơ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mại dâm tại Hà nội Khác
10. Nguyễn Đức Tiến và Bùi Tùng Hiệp (2009), Thực trạng chất ma túy tổng hợp ATS ở các tỉnh thành phố phía Nam Khác
12. Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam (2008), Luật sửa đổi bổ sung Luật phòng, chống ma túy được Quốc hội thông qua ngày 9/12/2000, bổ sung năm 2008, chủ biên Khác
13. TS. Nguyễn Thị Minh Tâm (2006), " Báo cáo kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình phòng chống HIV/AIDS cho gái mại dâm tỉnh Quảng Ninh &#34 Khác
14. UNAIDS (2012 ), Tư vấn điều trị nghiện ma túy: Chất gây nghiện hướng thần - sử dụng và hậu quả Khác
15. Viện vệ sinh dịch tễ trung ương và FHI (2011), Kết quả giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) tại Việt Nam - Vòng II - 2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các chủ đề nghiên cứu - Đời sống và nguy cơ lấy nhiễm HIVAIDS của phụ nữ mại dâm sử dụng đá (crystal methamphetamine) tại hà nội
Bảng 1 Các chủ đề nghiên cứu (Trang 36)
Bảng sau: - Đời sống và nguy cơ lấy nhiễm HIVAIDS của phụ nữ mại dâm sử dụng đá (crystal methamphetamine) tại hà nội
Bảng sau (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w