Một số nghiên cứu tại Việt Nam chỉ ra rằng chương trình điều trị Methadone có hiệu quả trong việc làm giảm các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV [6], cải thiện chất lượng cuộc sống và sức kh
Trang 1Đồng chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Lê Thị Hương
Cơ quan thực hiện đề tài: Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội
Cơ quan quản lý đề tài: Cục Phòng, chống HIV/AIDS
Mã số đề tài:
Hà Nội, 12/2014
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng thuốc Methadone là việc sử dụng thuốc, kết hợp với liệu pháp tư vấn và hành vi để điều trị toàn diện cho người sử dụng ma túy (SDMT) Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã chứng minh điều trị bằng Methadone có hiệu quả trong việc làm giảm sử dụng heroin , , , ,, dự phòng lây nhiễm HIV , , tăng tuân thủ điều trị ARV và giảm tỷ lệ tử vong cho những bệnh nhân tham gia điều trị Methadone
Tại nước ta, chương trình điều trị bằng Methadone được triển khai thí điểm tại Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh từ năm 2008 Cho đến nay chương trình đã được triển khai rộng rãi tại 32 tỉnh, thành phố Một số nghiên cứu tại Việt Nam chỉ ra rằng chương trình điều trị Methadone có hiệu quả trong việc làm giảm các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV [6], cải thiện chất lượng cuộc sống
và sức khỏe cho những người nghiện ma tuý được điều trị thay thế bằng Methadone , [31],
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, để liệu pháp điều trị Methadone mang lại lợi ích tối đa, độ bao phủ của chương trình cần đạt được mức tối thiểu là 20% đến 30% [10] Tại Việt Nam, khi tỷ lệ này vượt mức 40% thì dịch HIV ở nhóm người nghiện chích ma túy (NCMT) sẽ được khống chế và giảm [6] Tuy nhiên, cho đến nay tại Việt Nam mới chỉ điều trị được khoảng 25.000 người sử dụng ma túy (SDMT) tại 41 tỉnh thành phố trong cả nước Trong thời gian qua việc điều trị Methadone gặp khó khăn tại một số địa phương do thuốc từ nguồn viện trợ và được nhập khẩu nên không chủ động nguồn thuốc, giá thành cao và việc triển khai chương trình còn phụ thuộc quá nhiều vào nguồn lực đầu tư, viện trợ , , Chương trình còn gặp khó khăn do thiếu nhân lực thực hiện và thủ tục hành chính còn phức tạp Những khó khăn này sẽ ảnh hưởng tới độ bao phủ và tính bền vững của chương trình tại Việt Nam trong tương lai, nhất là ở các vùng khó khăn, miền núi như miền núi phía Bắc
Các tỉnh miền núi phía Bắc thường có điều kiện kinh tế, địa lý khó khăn nên
tỷ lệ người nghiện chích ma túy còn cao, khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế, dịch vụ chăm sóc sức khỏe còn nhiều bất cập Hơn nữa, các tỉnh miền núi phía Bắc thường có đường biên giới dài; tình hình vận chuyển, buôn bán và
sử dụng ma túy trên địa bàn diễn ra hết sức phức tạp và khó kiểm soát làm cho công tác điều trị bằng Methadone gặp nhiều thách thức Tuy nhiên, hiện nay lại có ít các nghiên cứu về chương trình điều trị bằng Methadone, đặc biệt
là ở các vùng miền núi của cả nước nói chung và các tỉnh miền núi phía Bắc
nói riêng Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Điều tra ban đầu
về bệnh nhân mới điều trị bằng thuốc Methadone trong dự phòng HIV tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam năm 2014” Kết quả nghiên
cứu sẽ là cơ sở đánh giá hiệu quả chương trình điều trị nghiện các chất dạng
Trang 3thuốc phiện (CDTP) bằng thuốc Methadone trong tương lai tại các tỉnh miền núi thuộc vùng này, với các mục tiêu cụ thể như sau:
1 Mô tả kiến thức và hành vi phòng chống HIV/AIDS của bệnh nhân mới điều trị bằng thuốc Methadone tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt nam năm 2014
2 Mô tả tình trạng sức khoẻ và chất lượng cuộc sống có liên quan tới sức khoẻ của bệnh nhân mới bắt đầu tham gia điều trị bằng thuốc Methadone tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam năm 2014
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Các khái niệm cơ bản về điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone và HIV/AIDS:
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone:
Chất ma tuý là các chất gây nghiện được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành
Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid) là tên gọi chung cho nhiều chất như thuốc phiện, morphine, heroin, methadone, buprenorphine, LAAM… có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não
Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma tuý và bị lệ thuộc vào các chất này
Dung nạp là tình trạng đáp ứng của cơ thể với một chất, được biểu hiện bằng sức chịu đựng của cơ thể ở liều lượng nhất định của chất đó Khả năng dung nạp phụ thuộc vào cơ địa và tình trạng của cơ thể Khi khả năng dung nạp thay đổi, cần thiết phải thay đổi liều lượng của chất đã sử dụng để đạt được cùng một hiệu quả
Hội chứng cai là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc giảm chất ma tuý đang sử dụng ở những người nghiện ma tuý Biểu hiện lâm sàng của hội chứng cai khác nhau phụ thuộc vào loại ma tuý đang sử dụng
Cai nghiện là ngừng sử dụng hoặc giảm đáng kể chất ma túy mà người nghiện thường sử dụng (nghiện) dẫn đến việc xuất hiện hội chứng cai và vì vậy người bệnh cần phải được điều trị
Nhiễm độc hệ thần kinh trung ương cấp là một tình trạng bệnh lý liên quan tới việc sử dụng một chất gây nghiện với liều lượng vượt quá khả năng dung nạp của người bệnh, dẫn tới sự biến đổi bất thường về ý thức, hành vi, cũng như các hoạt động tâm thần khác của người sử dụng Tình trạng nhiễm độc này rất khác nhau ở mỗi người, phụ thuộc vào chất gây nghiện sử dụng, liều lượng, tình huống sử dụng, đường sử dụng và độ dung nạp với CDTP của người sử dụng
Quá liều là tình trạng sử dụng một lượng chất ma túy lớn hơn khả năng dung nạp của cơ thể ở thời điểm đó, đe dọa tới tính mạng của người sử dụng nếu không được cấp cứu kịp thời
Sử dụng chất gây nghiện hợp pháp là việc sử dụng chất gây nghiện được pháp luật cho phép, vì mục đích chữa bệnh, theo chỉ định chuyên môn
Trang 5Lạm dụng chất gây nghiện là việc sử dụng chất gây nghiện không đúng chỉ định chuyên môn, quá liều qui định, và (hoặc) thời gian cho phép
Kê đơn methadone là việc thầy thuốc cho y lệnh điều trị methadone trong hồ
sơ bệnh án
Cơ sở điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone trong hướng dẫn này gọi tắt là cơ sở điều trị methadone
1.1.2 Các kiến thức cơ bản liên quan đến HIV/AIDS.
1.1.2.1.Định nghĩa về HIV và AIDS
Theo qui định tại Điều 2 của Pháp lệnh phòng chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS): HIV (Human Immunodeficiency Virus) là loại virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người AIDS (Acquired Immune Deficiency Syndrome) là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV gây tổn thương hệ thống miễn dịch của
cơ thể, làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh
và dẫn đến chết người [2]
Hiện nay, nhờ sự phát triển, tiến bộ của khoa học, kỹ thuật mà HIV/AIDS đã được hiểu sâu sắc và rõ ràng hơn Theo đó, HIV (Human Immunodeficiency Virus) là virus suy giảm miễn dịch ở người, có khả năng gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), một tình trạng làm hệ miễn dịch của con người bị suy giảm cấp tiến, tạo điều kiện cho những nhiễm trùng cơ hội và ung thư phát triển mạnh làm đe dọa đến mạng sống của người bị nhiễm AIDS là viết tắt của Tiếng Anh (Acquered Immuno Deficiency Syndrome) có nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, viết tắt theo tiếng Pháp là SIDA (Syndrome de Immuno Deficience Acquise), dùng để chỉ giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV/AIDS Ở giai đoạn này hệ thống miễn dịch của
cơ thể đã suy yếu nên người nhiễm HIV dễ dàng mắc bệnh như ung thư, viêm phổi, lao, viêm da, lở loét toàn thân hay suy kiệt, nặng dần dẫn đến cái chết 1.1.2.2 Các thời kỳ, giai đoạn và triệu chứng biểu hiện của nhiễm HIV
Hiện nay, người nhiễm HIV được chia ra làm 4 thời kỳ mắc bệnh
- Thời kỳ cửa sổ (phơi nhiễm): Thời kỳ này rất dễ lây lan cho người khác vì
số lượng virus trong máu rất cao, nhưng chưa có kháng thể Người bệnh thường bị sốt, viêm họng, nổi hạch, nhức đầu, khó chịu, phát ban Do không
có triệu chứng đặc hiệu nên thầy thuốc thường hay chuẩn đoán chung là nhiễm siêu vi Vì vậy, nếu sau khi quan hệ tình dục không an toàn (hay một
sự cố nào gây nghi ngờ nhiễm HIV), bệnh nhân cần xét nghiệm máu (kỹ thuật
Trang 6PCR) tìm ARN của HIV Kháng thể kháng HIV xuất hiện trong máu muộn hơn, sau 6 tuần (thông thường là 3 tháng) mới xét nghiệm tìm kháng thể.
- Thời kỳ nhiễm không triệu chứng: Số lượng tế bào T4 giảm, nhưng lượng T4 không giống nhau ở mỗi người và sự giảm lượng T4 cũng không tỉ lệ thuận với mức độ nặng của bệnh Lượng kháng nguyên tăng lên phản ánh sự nhân lên của virus mà hệ thống miễn dịch của cơ thể không khống chế được
- Thời kỳ nhiễm có triệu chứng, giai đoạn sớm: Việc chuyển giai đoạn thể hiện qua các triệu chứng: sốt, vã mồ hôi về đêm, tiêu chảy mãn tính (do HIV xâm nhập tế bào ở niêm mạc ruột), nổi hạch và đau đầu Có thể có sarcome Kaposi xuất hiện sớm Bắt đầu mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội như: nhiễm nấm Candida albicans ở niêm mạc miệng, nhiễm khuẩn hô hấp, viêm nha chu
- Thời kỳ nhiễm có triệu chứng, giai đoạn muộn: Số lượng tế bào T4 ngày càng giảm thì khả năng mắc bệnh cơ hội ngày càng tăng Khi T4 còn 200 tế
bào/µL máu thì dễ bị viêm phổi và viêm màng não do Toxoplasma gondii, khi còn 100 tế bào/µL máu thì dễ bị nhiễm nhiều loại: Mycobacterium
tuberculosis, nấm Candida albicans ở thực quản, viêm phổi do Herpes virus
và nhiều loại khác
1.1.2.3 Các con đường lây truyền HIV/AIDS chủ yếu trong cộng đồng
Vì HIV có nhiều trong máu, tinh dịch, âm đạo của người bị nhiễm nên HIV chủ yếu lây qua 3 con đường chính:
-Qua hoạt động tình dục: đây được coi là phương thức lây truyền HIV quan trọng và phổ biến nhất trên thế giới Khoảng 70-80% tổng số người nhiễm HIV trên toàn cầu là bị lây nhiễm qua con đường này Quan hê tình dục sẽ gia tăng lây nhiễm lên rất nhiều nếu một bên có bệnh lây truyền qua đường tình dục khác Liên quan chặt chẽ với lây truyền HIV qua con đường này là cách thức và số lần hành vi tình dục, như không dùng bao cao su, tình dục quá độ
và tình dục với quá nhiều bạn tình
-Qua đường máu: đầu tiên phải kể đến tiêm chích ma túy Tiêm chích ma túy làm lây truyền HIV gặp ở rất nhiều nơi trên thế giới Số người tiêm chích ma túy bị nhiễm HIV rất cao (chiếm 10-50% hoặc cao hơn nữa trong tổng số người nhiễm HIV) Ngoài ra, truyền máu và các chế phẩm của máu đóng vai trò quan trọng trong lây truyền HIV nếu các ngân hàng máu không thực hiện nghiêm túc việc truyền máu an toàn Cán bộ y tế tiếp xúc trực tiếp với máu nhiễm HIV và vật sắc nhọn đâm vào da có thể bị nhiễm tới 0,5%
- Mẹ bị nhiễm HIV truyền cho con lúc mang thai hoặc sinh nở: Phụ nữ nhiễm virus HIV nếu sinh con sẽ có khả nǎng khoảng 30% là con nhiễm HIV theo
mẹ, có nghĩa là cứ 100 bà mẹ nhiễm HIV sinh con thì có khoảng 30 trẻ bị
Trang 7nhiễm Virus HIV có thể lây sang trẻ qua nhau thai khi trẻ còn nằm trong bụng mẹ, qua máu và chất dịch của mẹ khi sinh, và một số nhỏ lây qua sữa
mẹ khi mẹ cho bé bú Trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV thường không sống được quá
ba nǎm
1.2 Một số đặc điểm dịch tễ học và tình hình nhiễm HIV tại Việt Nam
Theo thống kê của Bộ Y tế vào tháng 4/2010, tổng số trường hợp nhiễm HIV còn sống là 164.788, số người mắc AIDS còn sống khoảng 37.498.tổng số trường hợp đã chết do AIDS: 45.564 Trong số đó, có 85% là nam, 57% do tiêm chích ma túy Báo cáo cho thấy, đa số người nhiễm HIV/AIDS mới được phát hiện ở lứa tuổi còn trẻ (nhóm tuổi từ 20-39 chiếm tới 90%) Khoảng 5% PNBD có xét nghiệm HIV dương tính Tuy nhiên, Tổ chức Y tế thế giới ước lượng rằng ở Việt Nam có tới hơn 80% trường hợp nhiễm HIV không được báo cáo và 77% là lây truyền qua đường tình dục
Theo báo cáo “Tổng kết công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 và định hướng kế hoạch năm 2014”, tính đến hết 30/11/2013, tức là sau khoảng hơn 3 năm so với thống kê của Bộ Y tế vào 4/2010, các con số liên quan đến HIV
đã có sự tăng lên khá lớn Số lũy tích các trường hợp báo cáo hiện nhiễm HIV
là 216.254 trường hợp, số bệnh nhân AIDS là 66.533 và đã có 68.977 trường hợp tử vong do AIDS Riêng trong 11 tháng đầu năm 2013, cả nước xét nghiệm phát hiện mới 11.567 trường hợp nhiễm HIV, trong đó 5.493 bệnh nhân AIDS và 2.097 người tử vong do AIDS Tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc theo báo cáo giám sát là 248/100.000 dân Điện Biên vẫn là tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân cao nhất cả nước (1029), tiếp đến là Thành phố
Hồ Chí Minh (682), thứ 3 là Thái Nguyên (632) So sánh tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân theo khu vực thì thấy tỷ lệ tại miền Đông Nam Bộ cao nhất
cả nước (408/100.000), khu vực miền núi phía Bắc đứng thứ hai với 357/100.000 dân mắc HIV
Trang 8Biểu đồ 1.1: số phát hiện HIV/AIDS-tử vong qua các năm và so sánh
tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân của cả nước và các khu vực
Phân bố người nhiễm HIV theo giới: tỷ lệ nam giới nhiễm HIV chiếm 67,5%, cao hơn gấp 2 lần so với nữ giới, nữ giới chiếm 32,5%, không thay đổi so với cùng kỳ năm trước Ngoài ra, theo dõi qua các năm tỷ lệ nhiễm HIV tăng dần trong nhóm nữ giới
Biểu đồ 1.2: Phân bố người nhiễm HIV theo giới và năm
Phân bố nhiễm HIV mới phát hiện trong năm 2013 chủ yếu vẫn tập trung ở nhóm tuổi từ 20-39, chiếm tới 79% tổng số người nhiễm So sánh qua các năm, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tuổi từ 30-39 có xu hướng tăng dần vào cuối năm 2012, tỷ lệ người nhiễm HIV ở nhóm tuổi 30-39 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,6% và trong năm 2013 tỷ lệ này là 45,1% trong khi tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm 20-29 tuổi có xu hướng giảm, đến cuối năm
2012 tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm 20-29 tuổi chiếm 35,1% và trong năm 2013 tỷ lệ là 32,9% Cùng với đó tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm 40-
49 tuổi cũng có xu hướng tăng chậm đến hết năm 2012 tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm này là 12,2% và trong năm 2013 tỷ lệ là 13,7%
Biểu đồ 1.3: phân bố tỷ lệ nhiễm HIV theo nhóm tuổi và năm
Trang 9Nếu xem xét phân bố người lây nhiễm HIV theo đường truyền thì tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện lây truyền qua đường tình dục ngày càng gia tăng trong khi lây truyền qua đường máu có xu hướng giảm Trong năm 2013, số người lây truyền qua đường tình dục chiếm tỷ lệ cao nhất 45% tiếp đến số lây truyền qua đường máu chiếm 42,4%, tỷ lệ nhiễm HIV lây truyền từ mẹ sang con 2,4%, vẫn có 10,1% tỷ lệ người nhiễm HIV không rõ đường lây truyền.Theo kết quả có được từ Hệ thống giám sát trọng điểm (GSTĐ) HIV (được triển khai từ năm 1994 tại 10 tỉnh/thành phố Hệ thống này đã được mở rộng, tới năm 2013 có 41 tỉnh/thành phố tham gia, chương trình GSTĐ được thực hiện trên nhóm phụ nữ bán dâm (PNBD), người tiêm chích ma túy (TCMT), nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM), bệnh nhân nam mắc STI, bệnh nhân lao, phụ nữ mang thai và thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự) cho thấy rằng: Chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm NCMT giảm dần qua các năm Tỷ
lệ nhiễm HIV trong nhóm nam NCMT tại khu vực miền Bắc có xu hướng giảm dần qua các năm nhưng vẫn cao hơn so với tỷ lệ chung của toàn quốc Ở nhóm phụ nữ bán dâm, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong năm 2013 là 2,6% (giảm 0,1% so với năm 2012) Tỷ lệ này tại khu vực miền Bắc mặc dù có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao so với tỷ lệ chung của toàn quốc Phân tích chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm qua các năm cho thấy tỷ lệ tăng lên nhanh chóng từ 0,6% năm 1994 lên 5,9% năm 2012 Trong giai đoạn
2002 đến 2010, tỷ lệ có sự biến động không ổn định, tuy nhiên trong 3 năm trở lại đây, tỷ lệ này có xu hướng giảm dần Ngoài ra, tuy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới vẫn ở mức thấp so với các đối tượng còn lại nhưng lại đang có xu hướng tăng nhẹ
Vậy nhìn chung, tình hình lây nhiễm HIV trong nước ta vẫn đang tồn tại nhiều vấn đề phức tạp, đồng thời cũng đang nổi lên những vấn đề mới cần giải quyết
1.3 Chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone:
1.3.1 Lịch sử điều trị Methadone
Methadone là một chất dạng thuốc phiện (CDTP) tổng hợp có tác dụng kéo dài được sản xuất với mục đích ban đầu là làm thuốc giảm đau trong Chiến tranh thế giới thứ II Methadonecó tác dụng dược lý tương tự như các CDTP khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là
24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài
Trang 10Năm 1964, tại New York, bác sỹ Marie Nyswander và Vincent Dole nghiên cứu về thuốc điều trị cho những người nghiện heroin, họ phát hiện ra methadone giúp người bệnh của họ ngừng sử dụng heroin và hầu như không
bị tăng liều khi dùng trong thời gian dài, do đó liệu pháp điều trị duy trì bằng thuốc methadone ra đời Tiếp sau đó các nước cũng bắt đầu sử dụng methadone trong điều trị giảm tác hại của nghiện chất: như Hồng Kông bắt đầu đưa methadone vào điều trị năm 1972, tiếp sau đó vào năm 1979 là Thái Lan Sau năm 2000, có rất nhiều nước đã áp dụng điều trị methadone, trong
đó có nhiều nước ở khu vực Đông Nam Á như Indonexia (2003), Trung Quốc (4/2004), Malayxia (10/2005), Đài Loan (2006), Việt Nam (2008),…
1.3.2.Biện pháp điều trị bằng thuốc Methadone
Theo Cơ quan điều trị lạm dụng ma túy và rượu Hoa Kỳ (SAMHSA), điều trị thay thế hay còn gọi là điều trị hỗ trợ bằng thuốc là việc sử dụng thuốc, kết hợp với liệu pháp tư vấn và hành vi để điều trị toàn diện cho người sử dụng
ma tuý Các nghiên cứu chỉ ra rằng khi điều trị rối loại nghiện ma túy, sự kết hợp giữa thuốc và liệu pháp hành vi là biện pháp điều trị hiệu quả và thành công nhất Còn theo Bộ Y tế Việt Nam, điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone là một điều trị lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được
sử dụng theo đường uống, duới dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, viêm gan C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hoà nhập cộng đồng Ðiều trị methadone chỉ áp dụng với người nghiện CDTP (heroin) mà không áp dụng với những trường hợp nghiện rượu, thuốc lá, benzodiazepine
và ma túy tổng hợp dạng amphetamine
Trong những thập kỷ đầu tiên sau khi ra đời, phương thức điều trị methadone được coi là một biện pháp điều trị tạm thời nhằm mục đích cuối cùng là giảm liều và bệnh nhân sẽ ngừng sử dụng methadone một cách hoàn toàn Ngày nay, điều trị duy trì methadone không còn được coi là một biện pháp trị liệu tạm thời nữa mà là một biện pháp điều trị lâu dài, thường là suốt đời Như vậy nếu bệnh nhân thỉnh thoảng có một đợt dùng lại heroin (hoặc các chất ma túy khác) là bằng chứng chứng tỏ sự thất bại của liệu pháp điều trị bằng methadone.Việc tái sử dụng ma túy là một chỉ số đánh giá mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân tham gia điều trị Methadone Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng đối với nhiều bệnh mạn tính như bệnh tim mạch, cao huyết áp hay đái tháo đường thì mức độ tuân thủ điều trị thường ở mức thấp
Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone nhằm 3 mục đích chủ yếu sau: 1, Giảm tác hại
do nghiện các CDTP gây ra như: lây nhiễm HIV, viêm gan B, viêm gan C do
sử dụng chung dụng cụ tiêm chích, tử vong do sử dụng quá liều các CDTP và hoạt động tội phạm; 2 Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ
Trang 11tiêm chích CDTP; 3 Cải thiện sức khoẻ và giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn định cuộc sống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội.
1.3.3 Lợi ích, ưu điểm và nhược điểm của điều trị Methadone với người
bệnh.
Điều trị methadone mang rất nhiều lợi ích cho bệnh nhân, cụ thể như:
• Tác dụng liên tục và kéo dài;
• Giảm nguy cơ quá liều heroin
Ðiều này có nghĩa với những người không thể từ bỏ heroin, methadone là thuốc có độ an toàn cao và giúp người bệnh dần dần hồi phục khỏi trạng thái nghiện
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ưu điểm của điều trị duy trì bằng thuốc methadone là có thể giúp người nghiện heroin: 1, Dừng sử dụng hoặc giảm đáng kể luợng heroin sử dụng; 2, Dừng tiêm chích heroin (hoặc giảm đáng kể tần suất tiêm chích và giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường máu và nguy cơ quá liều); 3, Cải thiện tình trạng sức khỏe, dinh duỡng; 4, Dừng các hành vi phạm pháp liên quan đến việc kiếm tiền mua heroin; 5, Cải thiện và ổn định quan hệ với gia đình; 6, Có công việc ổn định hơn và học tập tốt hơn Ðiều đó có nghĩa là khi tham gia chương trìnhmethadone, bệnh nhân
có cơ hội tiếp cận với nhiều dịch vụ ytế và xã hội khác Do đó, họ sẽ ít phải chịu áp lực trong cuộc sống, giảm nguy cơ sử dụng và cuối cùng không dùng heroin nữa
Tuy nhiên, nhược điểm của điều trị bằng methadone cũng có khá nhiều, đó là:
1, Bệnh nhân phải cam kết đến cơ sở diều trị hàng ngày để uống thuốc; 2, Khó thực hiện các chuyến đi, các kỳ nghỉ xa khỏi nơi cơ trú; 3, Có thể gặp các tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe; 4, Vẫn bị lệ thuộc vào thuốc cho đến khi kết thúc chương trình điều trị Methadone là một thuốc có tác dụng mạnh và có thể nguy hiểm nếu dùng không đúng cách Nó cũng có thể gây tình trạng quá liều khi sử dụng quá nhiều methadone
1.3.4 Các chính sách liên quan và tình hình điều trị thay thế nghiện các chất
dạng thuốc phiện bằng Methadone tại nước ta.
Điều trị thay thế bằng Methadone còn là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Trang 12Methadone đã được triển khai thí điểm tại thành phố Hải Phòng và thành phố
Hồ Chí Minh với 06 cơ sở điều trị từ tháng 4/2008 Ngay sau đó, vào tháng 10/2008, Bộ Y tế đã ra quyết định số 4230/QĐ-BYT về việc ban hành tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp dược phẩm tham gia sản xuất thuốc methadone tại Việt Nam để phục vụ cho đề án thí điểm này Ngày 15/11/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 96/2012/NĐ-CP về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định
số 96/2012/NĐ-CP, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 12/2013/TT-BYT ngày 12/4/2013 về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 96 Cũng theo nội dung của hai văn bản này, trong giai đoạn tiếp theo, chương trình Methadone có thể được mở rộng với tốc độ nhanh hơn, cứ mỗi quận/huyện có trên 250 người nghiện chích ma túy thì UBND tỉnh/thành phố phải thành lập
cơ sở điều trị Methadone Liên quan đến cơ sở điều trị methadone này thì vào ngày 15/10/2013, Bộ Y tế đã có công văn số 6544/BYT-KH-TC về việc hướng dẫn thực hiện khung giá dịch vụ điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện tại các cơ sở điều trị nghiện CDTP quy định tại Nghị định số 96/2012/NĐ-CP Sở Y tế các tỉnh/thành phố cần căn cứ theo công văn này để xác định khung giá chi tiết của từng dịch vụ khi thực hiện xã hội hóa chương trình Methadone tại địa phương Trong năm 2013, nhiều tỉnh trên cả nước đã triển khai đồng bộ “Dự án điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone mô hình xã hội hóa” theo chỉ thị của chính phủ với mục tiêu
mở rộng và duy trì hiệu quả của chương trình điều trị bằng methadone Với các hoạt động chỉ đạo cụ thể như vậy, tính đến ngày 30/11/2013, trên toàn quốc đã có 75 cơ sở điều trị Methadone được triển khai và dự kiến sẽ còn nhiều hơn nữa các cơ sở điều trị Methadone được mở trong tương lai gần.Tuy vậy cho đến nay, Việt Nam cũng mới chỉ điều trị được khoảng 17.000 người nghiện tại 32 tỉnh, thành phố trong cả nước Trong khi đó, mục tiêu mà Chính phủ và Nhà nước đề ra là cuối năm 2015 sẽ điều trị cho khoảng 80.000 người nghiện ma túy tại 30 tỉnh, thành phố Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề này,
cụ thể là vào ngày 20/6/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 1008/QĐ-TTg về việc giao chỉ tiêu bệnh nhân được điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone năm 2014 và 2015.Thêm vào đó, để thực hiện được mục tiêu đặt ra trong bối cảnh nguồn tài trợ tài chính quốc tế đang rút dần và sẽ rút hẳn khỏi nước ta vào năm 2015, vào ngày 31/10/2014, Thủ tướng chính phủ đã ra chỉ thị số 32/CT-TTg về đẩy mạnh điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Trong văn bản này đã nêu rõ trách nhiệm của từng đơn vị trong công tác điều trị methadone chung của cả nước: như UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW cần rà soát, cập nhật số lượng người nghiện chất dạng thuốc phiện để lập kế hoạch, cân đối thu chi từ đó thực hiện chương trình tốt hơn; Bộ Y tế thì cần đôn đốc, chỉ đạo thành lập các cơ sở điều trị methadone, kết hợp cùng với Bộ tài chính, Bộ Công an trong thực hiện các hoạt động khác
Trang 13Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, để liệu pháp điều trị này có thể mang lại lợi ích tối đa, độ bao phủ của Chương trình cần đạt được mức tối thiểu là 20% đến 30% [10] Nhận xét của Chuyên gia y tế Việt Nam cũng cho biết khi độ bao phủ điều trị nghiện bằng thuốc Methadone vượt mức 40% thì dịch HIV ở nhóm người nghiện chích ma túy được khống chế và giảm [6] Bởi vậy, Nhà nước cần có thêm nhiều biện pháp cụ thể, rõ ràng hơn nữa để đạt được mục tiêu này.
1.3.5 Những ưu điểm và hạn chế trong công tác điều trị Methadone tại Việt
Nam
- Ưu điểm:
Chương trình điều trị Methadone tại Việt Nam có nhiều ưu điểm rõ rệt Ưu điểm đầu tiên phải kể đến là từ khi được triển khai thí điểm tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Mình, chương trình đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân, đặc biệt là những người bị nhiễm HIV và người thân, gia đình của
họ Chương trình đã và đang từng bước được triển khai trên diện rộng Điều trị Methadone luôn hướng tới những đối tượng dễ bị tổn thương trong cộng đồng và các đối tượng chính sách, điều đó đã cho thấy chính sách nhân đạo rõ ràng, mang tính nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta Minh chứng thể hiện rõ việc này là hoạt động triển khai mô hình điều trị nghiện các dạng chất thuốc phiện bằng thuốc thay thế methadone trong các trại giam, tạm giam và trường giáo dưỡng cho phạm nhân (Cục Y tế-Bộ Công An đã phối hợp với Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế xây dựng kế hoạch triển khai thí điểm điều trị nghiện các dạng thuốc phiện bằng methadone trong trại giam, tạm giam)
- Hạn chế:
Mặc dù, chương trình điều trị bằng thuốc Methadone triển khai trên thực tiễn
có hiệu quả, được dư luận xã hội đánh giá cao kết quả điều trị, nhưng việc triển khai chương trình vẫn gặp khó khăn bất cập trong việc mở rộng quy mô
và nâng cao chất lượng điều trị Trong thời gian đầu mới triển khai, theo các chuyên gia y tế, việc điều trị bằng thuốc methadone gặp nhiều trở ngại do thiếu thuốc Vì thực tế, trong giai đoạn đầu triển khai chương trình, toàn bộ thuốc sử dụng cho việc điều trị đều dược nhập khẩu từ nước ngoài, thủ tục nhập khẩu thuốc mất nhiều thời gian nên trong thời gian đầu triển khai có sự hạn chế tăng bệnh nhân cũng như mở rộng chương trình Ngoài ra, thuốc methadone nằm trong danh mục thuốc gây nghiện, việc phân phối, cấp phát
và bảo quản thuốc phải thực hiện theo những quy định rất chặt chẽ cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc mở rộng chương trình
Hạn chế khác của chương trình điều trị methadone tại nước ta là hiện nay, chương trình này còn quá phụ thuộc vào những nguồn lực đầu tư, viện trợ từ nước ngoài, nhà nước chưa nắm thế chủ động về tài chính Tại Hải Phòng, có
Trang 14tới 80-90% nguồn lực là từ các tổ chức nước ngoài tài trợ cho chương trình phòng chống HIV/AIDS bao gồm cả methadone Tuy nhiên từ năm 2013, một
số nhà tài trợ đã rút khỏi Hải Phòng (CESVI, PSI, NAV…), một số nhà tài trợ khác (Quỹ hỗ trợ khẩn cấp cho phòng, chống AIDS của Tổng thống Hoa Kỳ - PEPFAR, Ngân hàng Thế giới - WB, Quỹ Toàn cầu (chiếm tới 80% kinh phí tài trợ) đã thông báo cắt giảm kinh phí hỗ trợ đến năm 2015 Mặc dù vậy, theo các chuyên gia điều hành chương trình, hiện tại, các tổ chức quốc tế đã cắt giảm tới 95% kinh phí cho chương trình Chỉ còn tổ chức PEPFAR (Mỹ) cam kết tài trợ cho 2 điểm (An Dương, An Lão) và Quỹ toàn cầu tài trợ cho 9 điểm còn lại Chính bởi vậy, nước ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi nguồn viện trợ quốc tế bị cắt giảm hoàn toàn Thêm vào đó, theo Nghị định số 96/2012NĐ-CP của Chính phủ quy định về điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng methadone thì ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ cho các đối tượng bắt buộc cai nghiện tập trung và 5 đối tượng chính sách (thương binh, bệnh hiểm nghèo, nghèo, cận nghèo, người cô đơn) , mà thực tế, đối tượng này lại chiếm một tỷ lệ rất ít trong những người điều trị Điều này có nghĩa là phần lớn những người còn lại sẽ phải chịu gánh nặng rất lớn nếu viện trợ bị cắt Theo tính toán của Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương, chỉ có 40% bệnh nhân đang điều trị methadone ở Hải Phòng mong muốn tham gia chương trình với điều kiện phải chi trả ở mức đóng góp thấp nhất, khoảng 450.000 đồng/tháng (tức 15.000 đồng/ngày), 60% còn lại cho biết sẽ từ bỏ chương trình nếu mức quá cao, ngoài khả năng của họ
Theo thông tin từ Bộ Y tế, một hạn chế nữa là các địa phương gặp khó khăn
về nhân lực, không có đủ biên chế để bố trí cho các cơ sở điều trị methadone Lý do là vì mức lương hiện tại của nhân viên là chưa thỏa đáng (1.500.000đồng/tháng cho nhân viên tại Hải Phòng) cho công việc kéo dài liên tục tất cả các ngày trong năm Trong khi, chính sách cho các nhân viên này còn nhiều hạn hẹp nên nhiều người không tha thiết với công việc và không muốn gắn bó dài lâu Cùng với đó, do thiếu sự đồng thuận, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành liên quan như Bộ Y tế, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Công An, nên ngân sách đầu tư cho chương trình Methadone chưa được thỏa đáng và tài chính phân bổ giữa các Bộ cũng chưa hiệu quả Ngoài ra, thủ tục hành chính để đưa người nghiện vào điều trị bằng Methaodone vẫn còn chưa thuận lợi và phức tạp, trong đó có việc phải có xác nhận của chính quyền địa phương là không thuộc đối tượng phải đưa đi cai nghiện bắt buộc Không chỉ vậy, chương trình điều trị methadone được triển khai chậm và hiệu quả thấp ở các địa bàn xa xôi, hẻo lánh, ở các vùng khó khăn, miền núi do nhiều lý do như giao thông khó khăn, phong tục tập quán lạc hậu tại địa phương, người dân chưa có ý thức tự giác và nhận thức chưa đầy đủ về lợi ích, hiệu quả mà việc điều trị này mang lại
Nhìn chung, điều trị bằng methadone tại nước ta đã đạt được hiệu quả đáng
kể, nhưng những kết quả này lại khó có thể tồn tại được bền vững vì các khó
Trang 15khăn và hạn chế nêu trên Vậy vậy, Chính phủ và Nhà nước cần có các biện pháp chính sách hữu hiệu hơn để giải quyết những hạn chế nhằm nâng cao chất lượng và duy trì chương trình điều trị Methadone cho bệnh nhân nghiện chất dạng thuốc phiện.
1.4 Các nghiên cứu về điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone trên thế giới và Việt Nam.
1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Các nghiên cứu trên Thế giới chủ yếu tập trung vào đánh giá hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone Các kết quả cho thấy điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone có hiệu quả trong việc làm giảm lây nhiễm HIV và các hậu quả do sử dụng ma túy gây ra
Trên thế giới, điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone (gọi tắt là điều trị thay thế bằng Methadone) được triển khai tại Mỹ từ năm 1965 Đây
là một giải pháp mới trong hoạt động can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV mà
đã được triển khai trên 80 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới như Úc, Mỹ,
Hà Lan, Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc, Hồng Kông… Toàn thế giới đã có trên 1.000.000 người được điều trị thay thế Chương trình điều trị methadone đã góp phần giảm đáng kể tội phạm, giảm sự lây truyền HIV trong nhóm người nghiện ma tuý và từ nhóm người nghiện ma tuý ra cộng đồng Nhiều nghiên cứu đã chứng minh chương trình có hiệu quả trong việc làm giảm sử dụng heroin ,,,,, dự phòng lây nhiễm HIV ,, tăng tuân thủ điều trị ARV và giảm tỷ lệ tử vong trong số những bệnh nhân tham gia điều trị Methadone
Tại các nước đã phát triển, nhiều nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, nghiên cứu dọc thời gian và quan sát đã được thực hiện và chỉ ra rằng Methadone có kết quả: 1) giảm sử dụng chất dạng thuốc phiện phi pháp, 2) giảm hành vi có liên quan đến tiêm chích ma túy, 3) giảm hành vi phạm pháp, 4) giảm tử vong do quá liều, và 5) giảm nguy cơ dùng lại bơm kim tiêm làm lan tràn HIV/AIDS ,
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nghiên cứu về kết quả điều trị thay thế bằng methadone tại các nước mới triển khai chương trình methadone từ đầu thập niên 2000 như ở Trung quốc, Thái Lan, Indonesia Trên các tạp chí chuyên
đề, và trên các diễn đàn quốc tế như Hội nghị AIDS 2011 Busan, các nhà nghiên cứu Trung quốc, Thái Lan, Indonesia cũng đã báo cáo hiệu quả của điều trị thay thế tình trạng nghiện chất dạng thuốc phiện trong lĩnh vực HIV/AIDS và dự phòng tại một số các nước đang phát triển hoặc đang chuyển đổi (developing and transitional economies) ở châu Á, Đông Âu Tiêu chí đánh giá của các nghiên cứu này đều tập trung vào 5 yếu tố kể trên
Trang 16Nghiên cứu vào giữa thập kỷ 80 của Ball JC và Ross A về hiệu quả của việc điều trị thay thế bằng Methadone cho thấy 77% bệnh nhân ngừng sử dụng Heroin bằng đường tiêm chích trong 6 tháng đầu tiên tham gia điều trị, sau 4 đến 5 năm điều trị tỷ lệ bệnh nhân ngừng sử dụng Heroin tăng lên tới 92%, 96% bệnh nhân báo cáo không dùng ma túy tổng hợp và 83% bệnh nhân không dùng Cocaine
Chương trình Methadone cũng làm giảm các hành vi nguy cơ làm lây nhiễm HIV như tiêm chích ma túy, sử dụng chung bơm kim tiêm, có nhiều bạn tình hay bán dâm Điều trị thay thế bằng Methadone đường uống làm giảm nguy
cơ lây nhiễm HIV trong nhóm người nghiện các CDTP do giảm việc tiêm chích, giảm tỷ lệ sử dụng chung BKT Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy người NCMT không được điều trị bằng Methadone có tỷ lệ huyết thanh dương tính với HIV tăng từ 21% tới trên 51% sau 5 năm theo dõi; với nhóm người NCMT được điều trị bằng Methadone, tỷ lệ này chỉ tăng từ 13% đến 21% Metzger DS và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu trong 18 tháng về nhóm người SDMT có HIV âm tính tham gia điều trị Methadone và không điều trị Methadone, kết quả cho thấy sau 18 tháng, tỷ lệ có HIV dương tính trong nhóm bệnh nhân điều trị Methadone là 3,5% và tỷ lệ này ở nhóm không được điều trị Methadone là 22% ,
Tỷ lệ tử vong ở người nghiện Heroin tham gia điều trị thay thế bằng Methadone thấp hơn ở nhóm người không được điều trị bằng Methadone từ 3 đến 4 lần tùy theo nghiên cứu Theo nghiên cứu của Trường Y tế công cộng, đại học Nam Trung, Trung Quốc, chất lượng cuộc sống của những người tham gia điều trị cũng được cải thiện rõ rệt, sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tâm thần là những lĩnh vực được cải thiện đáng kể nhất trong những người nghiện ma tuý được điều trị thay thế bằng Methadone Bên cạnh đó, Methadone cũng giúp bệnh nhân hồi phục khả năng lao động và cải thiện các mối quan hệ trong xã hội, Đặc biệt, điều trị thay thế bằng Methadone cho thấy rõ hiệu quả về mặt kinh tế Theo kinh nghiệm quốc tế, chương trình điều trị thay thế bằng Methadone sẽ giúp cộng đồng tiết kiệm được từ 7 đến 10 lần các chi phí liên quan đến luật pháp, hành pháp, y tế, xã hội, bảo hiểm, hải quan v.v…,
Như vậy, các nghiên cứu trên Thế giới cho thấy điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone có hiệu quả trong việc làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV và các hậu quả do sử dụng ma túy gây ra
Ngoài các nghiên cứu về hiệu quả của chương trình điều trị Methadone, trên thế giới cũng có nhiều nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp tục sử dụng Heroin trên bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc Methadone Thuốc Methadone tương tác với thuốc kháng virus ARV, khi sử dụng cả 2 loại thuốc thì thuốc ARV sẽ làm giảm nồng độ thuốc Methadone trong máu Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối tương quan giữa liều sử dụng Methadone
Trang 17và hành vi sử dụng ma túy: bệnh nhân sử dụng liều Methadone càng cao thì càng giảm khả năng sử dụng ma túy trong quá trình điều trị Bệnh nhân càng tham gia lâu vào chương trình điều trị Methadone thì tính tuân thủ của bệnh nhân càng giảm Bệnh nhân tuân thủ điều trị kém thì khả năng tái nghiện càng cao
1.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
1.4.2.1 Các nghiên cứu về hiệu quả chương trình điều trị Methadone:
Cho tới nay, các nghiên cứu về chương trình Methadone được thực hiện ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào đánh giá hiệu quả của chương trình, có ít nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của những người tham gia điều trị Methadone về phòng chống HIV/AIDS
Các nghiên cứu tại Việt nam cũng cho thấy hiệu quả tương tự như nhiều nghiên cứu trước đó trên thế giới, đó là việc giảm SDMT bất hợp pháp, tăng khả năng lao động, giảm chi tiêu cho việc mua ma túy và giảm hành vi sai phạm và cải thiện sức khỏe thể chất, tâm thần
Kết quả nghiên cứu tại Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn thí điểm tại 6 cơ sở điều trị Methadone hoạt động từ tháng 4/2008 cho thấy, sau
3 và 6 tháng theo dõi việc sử dụng heroin và các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV giảm đi đáng kể Đánh giá thang điểm Chất lượng sống của Tổ chức Y
tế Thế giới tăng lên: về thể chất (81 so với 69), tâm lý (69 so với 56) và xã hội (56 so với 50) Tỉ lệ người tham gia điều trị có việc làm tăng từ 55% lên 66% (p=0,028) Chi phí ước tính của chương trình methadone là 15.000 – 20.000 VNĐ/người bệnh/ngày Tuy nhiên, tất cả 06 cơ sở điều trị tham gia nghiên cứu này đều cung cấp dịch vụ miễn phí [6]
Báo cáo gần đây nhất của tỉnh Điện Biên cũng đã cho thấy nhiều kết quả khả quan về hiệu quả của chương trình Sau 3 năm triển khai chương trình điều trị Methadone tại Điện Biên cho thấy chỉ còn 7,3% người sử dụng ma túy không thường xuyên, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt là 78,5%; hầu hết các bệnh nhân đánh giá về chương trình điều trị Methadone và đánh giá chất lượng hoạt động của cơ sở điều trị Methadone là tốt và rất tốt (>98%)
Nghiên cứu của Hoàng Đình Cảnh và Nguyễn Thanh Long vào năm 2009 cho biết rằng, điều trị bằng Methadone đã đem lại nhiều kết quả khả quan Cụ thể,
từ khi bắt đầu điều trị đến thời điểm 2009, chưa có bệnh nhân nào xuất hiện các tác dụng phụ nghiêm trọng Tác dụng phụ hay gặp nhất là táo bón (61%), các triệu chứng khác như suy giảm tình dục, mất ngủ, buồn nôn… chiếm tỷ lệ thấp (10%) Tuy nhiên, các triệu chứng này lại nhanh chóng mất đi theo thời gian điều trị của bệnh nhân Chưa có bệnh nhân nào bị tử vong do tác dụng phụ của thuốc Ngoài ra, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm bệnh nhân trước điều trị là 37,6% tại thời điểm năm 2008, đến năm 2009, tỷ lệ này đã giảm rất rõ
Trang 18rệt Thêm vào đó, trước thời gian điều trị Methdone có 24% bệnh nhân tại Hải Phòng và 44% bệnh nhân tại TP Hồ Chí Minh sử dụng chung bơm kim tiêm, nhưng đến thời điểm nghiên cứu lại không còn Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục ở bệnh nhân điều trị bằng Methadone tăng lên đáng kể (tăng lên khoảng 19% trong khoảng thời gian trước và sau điều trị Methadone) Bệnh nhân còn được cải thiện về thể chất: 390 bệnh nhân được nghiên cứu tăng khoảng 2-4 kg sau 3 tháng điều trị (chiếm 74,8%); 114 bệnh nhân thất nghiệp tìm được việc làm sau 6 tháng điều trị, chứng tỏ rằng khi tham gia vào chương trình điều trị bằng Methadone, các bệnh nhân đó đã quan tâm hơn đến bản thân và gia đình mình
Tác giả Vũ Văn Công trong nghiên cứu của mình ở Hải Phòng năm 2009, cho thấy rằng điều trị thay thế bằng thuốc Methadone đã đem lại hiệu quả với việc giảm tỷ lệ sử dụng ma túy và dùng chung bơm kim tiêm trong cộng đồng người nghiện chất ma túy: tỷ lệ bệnh nhân phụ thuộc vào ma túy giảm rõ rệt,
số ngày trung bình bệnh nhân dùng Heroin trước khi vào điều trị Methadone
so với sau điều trị Methadone 30 ngày, 30-60 ngày và trên 60 ngày là 29,1; 12,4; 2,3 và 0,5 Tỷ lệ bệnh nhân trước khi vào điều trị MMT sử dụng chung bơm kim tiêm khi chích ma túy là 24% đã giảm xuống còn 12,7% chỉ sau 3 tháng điều trị Bệnh nhân tái hòa nhập được với cuộc sống cộng đồng, bệnh nhân tìm được việc làm là 15,3%
Tuy nhiên, nghiên cứu của Vũ Việt Hưng lại chỉ ra rằng, nhiều bệnh nhân có
xu hướng từ bỏ điều trị do họ thấy rằng Methadone có tác dụng gây nghiện như Heroin Bệnh nhân cảm thấy khó chịu khi bị các tác dụng phụ như ra mồ hôi, hay khô miệng làm họ thấy chán ăn Tác dụng phụ của Methadone đã ảnh hưởng đến tâm lý của một số bệnh nhân đang điều trị: nghi ngại về thuốc ảnh hưởng đến sức khỏe của họ và ngoài ra, bệnh nhân cảm thấy khó khăn và ngại với việc hằng ngày phải đi đến cơ sở y tế để uống thuốc Tuy nhu cầu điều trị methadone tại huyện Từ Liêm là rất lớn, họ nhận thức được tham gia
là giúp bản thân, người thân và gia đình, nhưng việc tiếp cận chương trình của họ lại gặp phải nhiều khó khăn, cản trở: đó là vì tâm lý của chính người nghiện lo ngại về thủ tục vì phải có xác nhận của công an; họ sợ phải đi cai nghiện bắt buộc; sợ bị ảnh hưởng đến công việc, học tập khi tham gia; một số khác lại chưa tin tưởng vào điều trị, sợ nghiện methadone Ngoài ra, còn do yếu tố là một số gia đình thiếu kiến thức về điều trị methadone Tại địa phương, thiếu đi công tác truyền thông về chương trình, thời gian chờ đợi xét duyệt lâu làm nhiều người không thể tham gia vào chương trình
Trang 191.4.3 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của người nghiện
chích ma túy được điều trị bằng thuốc Methadone.
Hiện nay, tại nước ta, có rất nhiều các nghiên cứu về kiến thức, thực hành của người nghiện ma túy, tuy nhiên nghiên cứu liên quan đến kiến thức, thái độ
và thực hành của những người nghiện ma túy đang được điều trị bằng thuốc methadone là rất ít, phần lớn vấn đề này chỉ được tìm hiểu bằng cách lồng ghép vào một dự án nào đó, chứ hầu như chưa có sự tập trung chuyên biệt riêng
Về kiến thức, trong nghiên cứu “Mô tả thực trạng cung cấp dịch vụ y tế chương trình dùng thuốc thay thế methadone can thiệp trong nhóm nghiện chích ma túy tại thành phố Hà Nội” năm 2012, các tác giả đã cho thấy nhóm đối tượng nghiên cứu còn thiếu hiểu biết về nguyên nhân cũng như nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS: như với câu hỏi luôn sử dụng BCS đúng cách khi QHTD dự phòng lây nhiễm HIV là 86,3%, còn khi QHTD đường hậu môn phòng được lây nhiễm HIV tỷ lệ trả lời đúng chỉ là 59,5%, 72% trả lời đúng câu hỏi dùng chung BKT khi TCMT làm tăng nguy cơ nhiễm HIV; còn với các câu hỏi khác, tỷ lệ có kiến thức đúng chỉ từ 67,3%-72,3%
Một nghiên cứu khác vào năm 2013 đã chỉ ra rằng so với trước can thiệp thì
tỷ lệ đối tượng NCMT hiểu biết đúng về nguy cơ lây nhiễm HIV đã tăng lên
rõ rệt: hiểu biết về nguy cơ nhận máu truyền tăng từ 10,3% lên 15,3%, hiểu biết về tiêm chích ma túy tăng từ 58,5% lên 64,5% Ngoài ra, hiểu biết của người NCMT về triệu chứng của các bệnh lây truyền qua đường tình dục đã cải thiện đáng kể
Về mặt nhận thức, thái độ của bệnh nhân cũng có sự chuyển đổi sau khi được điều trị methadone Trong một nghiên cứu của Nguyễn Anh Quang (2013), cho thấy tỷ lệ đối tượng thay đổi nhận thức lợi ích khi tham gia chương trình methadone đã tăng lên khá nhiều (từ 57,3% lên 91,5%) Người điều trị ngày càng có thái độ hợp tác và tin tưởng hơn vào phương pháp điều trị này, một phần là vì hiệu quả mà điều trị bằng methadone đã mang lại, phần khác chính
là nhờ những thay đổi trong thái độ của nhân viên y tế và quy trình điều trị.Người bệnh hài lòng hơn với quy trình xét nghiệm, thời gian nộp đơn và quy trình tiếp đón bệnh nhân Thêm vào đó là sự hài lòng về thời gian tiếp đón bệnh nhân (tăng từ 2,5% lên 3,5%), về thái độ làm việc của bác sỹ tăng
từ 2,7% lên 3,3% Nghiên cứu khác vào năm 2012 cũng cho nhận định tương
tự khi đa số bệnh nhân hiện đang được điều trị cho biết họ rất hài lòng và hài lòng với các dịch vụ đón tiếp bệnh nhân, thái độ bác sỹ làm việc, thái độ của nhân viên tư vấn… Tuy vậy, vẫn còn khoảng 1% bệnh nhân có góp ý thêm Nhưng nhìn chung, hầu hết bệnh nhân cho rằng, về mặt tổng thể thì chương trình điều trị thay thế nghiện các chất CDTP bằng methadone hữu ích với bản thân họ, đáp ứng được mong muốn của bệnh nhân
Trang 20Ngoài kiến thức và thái độ thì hành vi của các bệnh nhân cũng thay đổi khá
rõ Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Anh Quang và cộng sự vào năm
2012 cho thấy sau khi điều trị duy trì có tới 98,7% người NCMT có QHTD với vợ/bạn tình trong 1 tháng trở lại đó Trong khi, hành vi sử dụng BCS thường xuyên khi quan hệ thì có tỷ lệ trước điều trị là 97,8%, cao hơn sau khi điều trị là 77,2% Trước khi điều trị methadone, có 8,3% bệnh nhân tại Hà Đông và Từ Liêm cho biết có hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm Trong quá trình điều trị thì không còn trường hợp nào còn sử dụng chung nữa Mặc
dù chưa có đủ bằng chứng để kết luận hiệu quả của điều trị Methadone giúp bệnh nhân thay đổi hành vi dùng chung bơm kim tiêm, tuy nhiên có thể thấy việc giảm tần suất tiêm chích ma túy cũng đã góp phần hạn chế khả năng dùng chung bơm kim tiêm, ngay cả trong nhóm những bệnh nhân vẫn tiếp tục tiêm chích Thêm vào đó, có sự thay đổi tích cực trong việc sử dụng BCS với PNBD trước và sau điều trị: tỷ lệ người bệnh có sử dụng BCS tăng lên từ 83,4% lên 87,9% Tỷ lệ sử dụng BCS được cải thiện đặc biệt có ý nghĩa trong dự phòng lây truyền HIV từ quần thể có tiêm chích ma túy sang các nhóm quần thể khác
Nghiên cứu của một số tác giả thuộc Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hà Nội năm 2013 cho thấy những thay đổi trong một các hành vi của đối tượng NCMT Một là tần suất tiêm chích ma túy trong 1 tháng qua của những đối tượng này đã giảm dần.Trong đó, mức độ NCMT 2-3 lần ngày giảm từ 53,3% xuống 45,5%, tần suất tiêm chích trên 3 lần/ngày giảm từ 6% xuống 3,2% Thêm nữa, tỷ lệ đối tượng không bao giờ sử dụng chung BKT trong 1 tháng trở lại đã tăng từ 93,9% lên 94,7% Nếu vào năm 2012 có tới 7,8% bệnh nhân cho biết có sử dụng chung BKT thì đến thời điểm năm 2013, tỷ lệ này đã giảm rất rõ rệt (chỉ còn 0,3%)
Nhìn chung, các nghiên cứu này đã cho thấy những thay đổi khá rõ nét theo hướng tích cực về các mặt kiến thức, thái độ và thực hành của bệnh nhân khi được tham gia điều trị methadone Đây là một tín hiệu đáng mừng, tạo động lực hơn cho không chỉ người bệnh nghiện ma túy tiếp tục điều trị methadone lâu dài, mà còn giúp cho các hoạt động liên quan đến điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone sẽ phát triển sâu và rộng hơn trong thời gian tới
1.5 Tình hình nhiễm HIV và hoạt động triển khai chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại các tỉnh miền núi phía Bắc:
1.5.1 Tình hình nhiễm HIV tại các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta.
Các tỉnh miền núi phía Bắc thuộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ có vị trí địa lý khá đặc biệt, là khu vực giáp ranh nhiều nước nên đây được xem như một vùng trọng điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội cần được quan tâm và phát
Trang 21triển hiện nay Mặc dù đã được Nhà Nước và Chính phủ quan tâm về mọi mặt, giúp đời sống của nhân dân nơi đây có nhiều chuyển biến tích cực, tuy vậy, sự đầu tư, xây dựng vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn, bất cập chưa có hướng giải quyết Do địa hình hiểm trở nên việc đi lại,giao lưu buôn bán, sinh hoạt kinh tế xã hội còn khó khăn, đặc biệt ảnh hưởng cho giao thông vận tải
và hoạt động y tế tại các tuyến cơ sở Nhiều người dân tộc thiểu số trình độ học vấn còn chưa cao nên khả năng tiếp cận để học hỏi kiến thức, kinh nghiệm đang là vấn đề đặt ra hàng đầu Đa số ở các tỉnh này, tập quán sản xuất còn mang nặng tính tự nhiên từ xa xưa như hái lượm, phát rẫy làm nương, chăn nuôi theo tập quán cũ lạc hậu, công cụ sản xuất thô sơ, thiếu thốn, thiếu đất hoặc chưa có đất canh tác sản xuất Sự lạc hậu đã dẫn đến tình trạng yếu kém, đặt ra vô vàn khó khăn và thách thức cho các tỉnh miền núi phía Bắc, không chỉ về kinh tế mà còn ảnh hưởng lên cả hệ thống Y tế
Trong mảng y tế ở những năm gần đây, vấn đề sử dụng ma túy, lây nhiễm HIV/AIDS lại đang có xu hướng tăng cao Dù tình hình về tỉ lệ nghiện chích
ma túy có chững lại tuy nhiên số lượng người nhiễm HIV/AIDS vẫn tăng lên hàng năm và vẫn giữ một mức độ đáng quan tâm Theo số liệu thống kế của Cục phòng chống HIV/AIDS, số lượng bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS hiện đang tăng cao tại các tỉnh miền núi phía Bắc Nếu như vào năm 2012, trong
10 tỉnh có tỷ lệ người nhiễm HIV cao nhất nước có tới 7 tỉnh thuộc miền núi phía Bắc như Thái Nguyên, Sơn La, Điện Biên… thì vào năm 2013, riêng ở khu vực này hiện đã có 8/10 tỉnh có số người nhiễm HIV/AIDS cao nhất cả nước Trong đó, Điện Biên là tỉnh có tỷ lệ người nhiễm HIV cao nhất so với tất cả các tỉnh thành trên cả nước (với tỷ lệ nhiễm HIV lên tới 980/100.000 người dân), hay tại Sơn La, năm 2000 mới có khoảng 4.000 người nghiện có
hồ sơ quản lý thì tới năm 2008 đã phát hiện trên 16.000 người nghiện và nếu
kể cả số nghi nghiện thì con số trên lên tới 23.000 người Cũng theo số liệu thống kê vào tháng 11/2013, nhìn chung khu vực miền núi phía Bắc có tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân rất cao, đứng thứ 2 cả nước (357/100.000), chỉ đứng sau miền Đông Nam Bộ (408/100.000)
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình hình nhiễm HIV cao ở các tỉnh miền núi phía Bắc: Một là do đặc điểm về địa lý (khu vực vùng sâu, vùng xa, giáp biên với nhiều nước) nên tình hình buôn bán và sử dụng ma túy ở khu vực này diễn biến rất phức tạp Trình độ dân trí thấp, đa phần người dân ở khu vực miền núi lại là người dân tộc thiểu số nên việc tiếp cận với thông tin về
dự phòng lây nhiễm HIV cũng như tiếp cận với chương trình can thiệp giarm tác hại còn hạn chế (như không được tiếp cận với chương trình bơm kim tiêm, bao cao su) Thứ hai là do người dân tại các tỉnh này vẫn trồng cây thuốc phiện tại nhiều khu vực miền núi địa bàn khó tiếp cận nên đây cũng là nguyên nhân làm gia tăng số người nghiện do thiếu hiểu biết và sử dụng chính những sản phẩm thuốc phiện mà mình trồng được Hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc là các tỉnh nghèo nên không có đủ khả năng và nguồn lực
Trang 22để triển khai các biện pháp dự phòng chống AIDS và cung cấp dịch vụ phòng chống AIDS tới từng hộ dân, nên nguy cơ lây nhiễm HIV cũng tăng so với các địa bàn khác trong cả nước
1.5.2 Hoạt động điều trị methadone tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
Kể từ khi chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone được triển khai thí điểm ở nước ta từ tháng 4/2008 tại Thành phố Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh ở miền núi phía Bắc đã thực hiện rất tích cực các hoạt động của chương trình.Tại tỉnh Điện Biên, Chương trình điều trị Methadone được triển khai từ năm 2011.Từ tháng 3/2011 đến nay, tỉnh Điện Biên đã triển khai 05 cơ sở điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone, tổng số bệnh nhân tham gia điều trị tại các cơ sở Methadone tính đến tháng 6/2014 là 1.339 bệnh nhân, độ bao phủ đạt 14% số người nghiện chích trong tỉnh Trong khoảng thời gian tiếp theo của năm 2014 tỉnh Điện Biên sẽ triển khai 8 cơ sở điều trị và 7 cơ sở cấp phát thuốc Methadone (trong đó có 5 cơ sở cũ), điều trị cho 3.040 người bệnh Mục tiêu vào năm 2015, duy trì 8 cơ sở điều trị và thành lập mới 14 cơ sở cấp phát thuốc Methadone, nâng tổng số cơ sở cấp phát thuốc Methadone trong toàn tỉnh lên 21 cơ sở, điều trị cho 4.400 bệnh nhân tại các huyện Điện Biên, Điện Biên Đông, Tuần Giao, Mường Chà, Mường Ảng, Tùa Chùa, thị xã Mường Lay và thành phố Điện Biên Phủ Ngoài ra, báo cáo của “Hội nghị sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện Dự án điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone xã hội hóa trên địa bàn tỉnh Lào cai” vào tháng 8/2014 cho biết, sau gần 1 năm triển khai Chương trình, tỉnh đã có 500 hồ sơ đăng kí tự nguyện, cơ sở tiếp nhận và điều trị cho 340 bệnh nhân, biến động giảm 30 và hiện đang điều trị 310 người bệnh Trong đó, 221/310 bệnh nhân
đã được chuyển vào giai đoạn duy trì ổn định đạt 71,29%, còn 99 người tiếp tục trong giai đoạn điều chỉnh liều, tỉ lệ bỏ điều trị là 3,5% Tại tỉnh Thái Nguyên, báo cáo của sở Y tế tỉnh cho biết, sau 3 năm triển khai hoạt động điều trị Methadone, hiện toàn tỉnh có khoảng 1.500 người đang điều trị methadone tại 6 huyện, thành thị trên địa bàn tỉnh, tức lượng người điều trị Methadone đã tăng gần gấp 3 lần so với thời điểm mới triển khai năm 2011 (566 người) Chương trình đã đem lại những hiệu quả rõ rệt khi bởi sau điều trị, tỷ lệ bệnh nhân còn sử dụng ma túy đã giảm từ 100% xuống còn 37,6% trong nhóm bệnh nhân điều trị dưới 6 tháng và 9,1% trong nhóm bệnh nhân điều trị trên 6 tháng; tình hình sức khỏe của bệnh nhân được cải thiện hơn Tỉnh Yên Bái cũng là một tỉnh đang có nhiều kế hoạch triển khai, đẩy mạnh thêm các hoạt động điều trị methadone trên địa bàn tỉnh Cơ sở điều trị methadone đầu tiên thuộc Trung tâm phòng, chống HIV/AISD tại Yên Bái bắt đầu khởi liều Methadone và chính thức hoạt động từ tháng 9/2013 Việc điều trị thay thế cainghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS của Sở Y tế tỉnh Yên Bái ban đầu đã cho kết quả rất khả quan Hiện cơ sở điều trị này có 114 bệnh nhân được điều trị
Trang 23Trong đó có 4 người vì các lý do khác nhau phải ngừng điều trị, còn lại 110 bệnh nhân đang được điều trị và đã có tới 70 bệnh nhân đã ổn định liều, không bị tái nghiện, không bị hội chứng cai hành hạ, không sử dụng heroin nữa Ngày 24/3/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái Quyết định số 361/QĐ-UBND về việc phê duyệt Dự án” Triển khai điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Trung tâm y tế thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái”,triển khai băng hoạt động khởi liều đầu tiên điều trị cho 16 bệnh nhân nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone Ngoài ra, nhằm mục đích đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dự phòng và điều trị nghiện nhằm giảm tác hại của nghiện ma túy, kiềm chế gia tăng người nghiện mới, góp phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội và nâng cao sức khỏe cho nhân dân, hỗ trợ người nghiện tái hòa nhập cộng đồng, vừa qua, Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái đã phê duyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái đến năm 2020 với rất nhiều mục tiêu cụ thể như: Phấn đấu 50% cán bộ chính quyền các cấp và 50% người dân ở độ tuổi trưởng thành hiểu biết cơ bản về nghiện ma túy, các biện pháp điều trị nghiện; trong giai đoạn 2014-2015, Yên Bái phấn đấu 50% cán bộ dự phòng và điều trị nghiện được đào tạo kiến thức
cơ bản về điều trị nghiện; 50% cán bộ làm công tác tư vấn về dự phòng và điều trị nghiện được đào tạo và được cấp chứng chỉ; 60% cán bộ y tế công tác tại các cơ sở điều trị nghiện có văn bằng chứng chỉ theo quy định về điều trị nghiện Bên cạnh đó, nâng tỷ lệ số người nghiện được điều trị so với số người nghiện có hồ sơ quản lý từ trên 30,0% hiện nay lên 50% vào năm 2015 và nâng số người nghiện được điều trị thay thế bằng Methadone lên 1.200 vào năm 2015 Tăng tỷ lệ người nghiện hoà nhập cộng đồng có việc làm đạt 40% vào năm 2015 Ngoài ra, các tỉnh khác thuộc khu vực miền núi phía Bắc như Bắc Kạn, Cao Bằng,… cũng đã và đang thực hiện tích cực chương trình điều trị methadone cho bệnh nhân nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh mình
Nhìn chung, việc điều trị HIV/AIDS cũng như cai nghiện ma túy đang được các chuyên gia, các nhà nghiên cứu thực hiện trên quy mô rộng khắp mỗi năm Nghiên cứu của Bộ Y tế năm 2009 đã đưa ra những hiệu quả rất khả quan của chương trình methadone trong giai đoạn thí điểm Tuy nhiên những kết quả này chưa thể hiện được hết những đặc điểm riêng biệt theo từng vùng, miền nói chung và của các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng Chính bởi vậy, cần thiết phải có một nghiên cứu tập trung phân tích sâu về hiệu quả của chương trình methadone đối với các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi những điều kiện về kinh tế xã hội còn khó khăn, có nhiều đồng bào dân tộc là người nghiện ma túy lâu năm và có tỉnh có số người nhiễm HIV trong cả nước (ví
dụ tỉnh Điện Biên) Từ đó sẽ góp phần tìm ra các giải pháp hạn chế tối đa việc tiếp tục sử dụng chất dạng thuốc phiện trong nhóm bệnh nhân tham gia điều trị, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và giảm thiểu hậu quả do việc tiếp tục sử dụng ma túy gây ra
Trang 24CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân nghiện chất dạng thuốc phiện bắt đầu tham gia điều trị bằng thuốc methadone tại thời điểm nghiên cứu tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
Tiêu chuẩn lựa chọn: đối tượng nghiên cứu cần đáp ứng được các tiêu chí
sau:
- Là người bệnh bắt đầu tham gia điều trị (trong vòng 3 tháng) tại thời điểm nghiên cứu trong năm 2014
- Tự nguyện và đồng ý tham gia nghiên cứu
- Có đủ sức khỏe về thể chất và tinh thần để tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những đối tượng không đủ sức khỏe để tham gia nghiên cứu
- Những đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu…
2.2 Địa bàn nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu: tại các cơ sở Methadone của một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam bao gồm: Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái
Miền núi và trung du phía Bắc Việt Nam bao gồm 15 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình Trong số các tỉnh này, một số tỉnh có nền kinh tế phát triển hơn, địa bàn giao thông đi lại cũng thuận tiện hơn như Bắc Giang, Quảng Ninh Trong khuôn khổ nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu muốn tập trung tìm hiểu đặc điểm ban đầu của nhóm nghiện chích ma túy tham gia điều trị nghiện bằng thuốc Methadone tại các tỉnh miền núi nghèo, địa bàn đi lại có nhiều khó khăn Ngoài ra, do nghiên cứu được tiến hành trong thời gian ngắn, việc lựa chọn tất
cả các tỉnh triển khai chương trình methadone thuộc khu vực địa lý này vào nghiên cứu là điều rất khó thực hiện Nhóm nghiên cứu đã căn cứ trên tiêu chí
về địa bàn nghiên cứu, tình hình nghiện chích ma túy và tình hình nhiễm HIV của các tỉnh cũng như căn cứ theo số lượng bệnh nhân tham gia điều trị bằng thuốc Methadone tăng trong 5 tháng trước khi tiến hành nghiên cứu để chọn ra
ba tỉnh: Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái làm địa bàn cho nghiên cứu này Các cơ sở điều trị được lựa chọn vào nghiên cứu là toàn bộ các cơ sở điều trị thuộc địa bàn 03 tỉnh trên và có bệnh nhân mới trong thời gian thực hiện
Trang 25nghiên cứu
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4 Thời gian nghiên cứu:
- n cỡ mẫu tối thiểu nghiên cứu
- Z( 1 − α / 2 ) là hệ số tin cậy, với mức xác suất 95% (= 1,96)
- p là tỷ lệ bệnh nhân bắt đầu tham gia điều trị nghiện bằng thuốc Methadone nhiễm HIV, ước lượng p =22,5% [31]
-d : sai số tuyệt đối (ước tính là 0,05)
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu trên, nhóm nghiên cứu đã tính ra cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu này là: 267 bệnh nhân điều trị methadone, dự phòng 20% không tham gia đầy đủ hoặc từ chối tham gia nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn 300 bệnh nhân bắt đầu tham gia điều trị Methadone Như vậy trong nghiên cứu này, nghiên cứu tại 3 tỉnh nên mỗi tỉnh triển khai nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn ít nhất 100 bệnh nhân tham gia điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone, riêng tỉnh Yên Bái là 101 bệnh nhân Thực tế đã lựa chọn tổng cộng 301 bệnh nhân tại 3 tỉnh (phần kết quả nghiên cứu)
2.5.2 Phương pháp chọn mẫu
Việc tuyển chọn đối tượng tham gia nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện đối với người bệnh bắt đầu nhận điều trị tại cơ sở điều trị methadone và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu
Trang 26Với mỗi bệnh nhân, cán bộ nghiên cứu giải thích về nghiên cứu và tiến hành sàng lọc Nếu đáp ứng được tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu, những người này được yêu cầu đồng ý tham gia nghiên cứu bằng văn bản và chính thức được tuyển chọn Khi tham gia, đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn bằng các biểu mẫu thu thập số liệu (phụ lục 1)
Quá trình thực hiện nghiên cứu tiến hành liên tục từ tháng 10 đến tháng 11 trong năm 2014 cho tới khi đạt đủ 300 bệnh nhân tại các cơ sở điều trị methadone của 3 tỉnh miền núi phía Bắc Mỗi tỉnh lựa chọn 1-2 cơ sở điều trị methadone, tùy thuộc vào số lượng cơ sở hiện có tại mỗi tỉnh
Tiêu chuẩn lựa chọn cơ sở điều trị Methadone: 1) hợp tác với nhóm nghiên cứu; 2) dễ tiếp cận đối tượng nghiên cứu ; 3) có hồ sơ bảo quản tốt
2.6 Nội dung, chỉ số nghiên cứu
+ Đặc trưng đối tượng nghiên cứu:
Đặc điểm xã hội: giới, tuổi, trình độ học vấn, dân tộc, tình trạng hôn nhân, điều kiện kinh tế gia đình, tiền án/tiền sự, tình trạng việc làm, thu nhập hàng tháng hiện tại
Tiền sử sử dụng chất gây nghiện: Thời gian sử dụng chất gây nghiện, loại chất gây nghiện đã sử dụng, hình thức sử dụng ma túy, số lần và hình thức cai nghiện, tiền sử sốc quá liều
+ Mục tiêu 1: Kiến thức và hành vi phòng chống HIV/AIDS của người
nghiện ma tuý được điều trị bằng thuốc Methadone
1.1.Kiến thức: khái niệm, đường lây truyền, các biện pháp phòng chống
Các chỉ số dự kiến bao gồm:
• Tỷ lệ đối tượng (ĐTNC) nghe nói đến HIV/AIDS
• Phân bố các đường lây truyền HIV/AIDS mà ĐTNC đề cập
• Phân bố đối tượng dễ bị lây nhiễm HIV/AIDS mà ĐTNC đề cập
• Tỷ lệ ĐTNC biết các biện pháp phòng tránh lây nhiễm HIV
• Tỷ lệ ĐTNC đã từng được tư vấn và xét nghiệm về HIV
• Phân bố hoàn cảnh được tư vấn và xét nghiệm HIV
• Kết quả xét nghiệm HIV
1.2 Hành vi nguy cơ:
Tiêm chích ma túy, dùng chung bơm kim tiêm, quan hệ tình dục và sử dụng bao cao su, quan hệ tình dục với bạn tình thường xuyên, quan hệ tình dục với PNBD, quan hệ tình dục với MSM
Trang 27 Hành vi sử dụng các chất kích thích: hút thuốc lá, rượu trong 30 ngày quaCác chỉ số dự kiến bao gồm:
• Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu sử dụng ma tuý
• Các loại chất gây nghiện đối tượng sử dụng
• Tỷ lệ ĐTNC sử dụng ma túy đường tiêm chích
• Tỷ lệ ĐTNC đã từng sử dụng chung BKT
• Tỷ lệ đối tượng NC từng có quan hệ tình dục
• Đối tượng quan hệ tình dục (bạn tình, PNBD, MSM)
• Tỷ lệ ĐTNC sử dụng biện pháp tránh thai trong các lần QHTD
• Tỷ lệ ĐTNC sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất
• Tỷ lệ ĐTNC hút thuốc lá, uống rượu trong 30 ngày qua
Mục tiêu 2: Tình trạng sức khoẻ và chất lượng cuộc sống liên quan tới
sức khoẻ của bệnh nhân khi bắt đầu tham gia điều trị nghiện bằng thuốc Methadone
2.2 Chất lượng cuộc sống liên quan tới sức khoẻ:
Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được đo lường qua 26 câu hỏi trong bộ công cụ đo lường tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (phụ lục 1) Trong đó, hai câu hỏi đo lường đánh giá tổng thể, và mức độ hài lòng về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân 24 câu hỏi còn lại đo lường chất lượng cuộc sống của bệnh nhân theo bốn lĩnh vực: sức khỏe thể chất, tâm lý, xã hội và môi trường Trên thang điểm 100, tổng điểm bệnh nhân càng cao, phản ánh chất lượng cuộc sống tốt hơn (điểm tối đa là 100 cho mỗi lĩnh vực)
• Đánh giá tổng thể chất lượng cuộc sống (rất tốt, tốt, trung bình, xấu, rất xấu)
• Mức độ hài lòng về sức khỏe của bệnh nhân (rất hài lòng, hài lòng, bình thường, không hài lòng, rất không hài lòng)
• Điểm trung bình sức khoẻ thể chất, tâm lý, xã hội và môi trường
Trang 282.7 Phương pháp thu thập số liệu
Tất cả điều tra viên được tập huấn bộ câu hỏi, mục đích điều tra trong 2 ngày tại Viện Đào tạo YHDP và YTCC, Trường Đại học Y Hà Nội
Tất cả điều tra viên đều tham gia điều tra thử trên 10 đối tượng tại cơ sở điều trị Methadone quận Hai Bà Trưng để hoàn thiện bộ câu hỏi trước khi điều tra chính thức cũng như ước lượng thời gian phỏng vấn, cách tổ chức thu thập số liệu tại thực địa
Mỗi người tham gia nghiên cứu được sàng lọc, đánh giá khi đối tượng nghiên cứu đang tham gia cơ sở điều trị Methadone
Quy trình sàng lọc bao gồm:
- Thu thập thoả thuận đồng ý tham gia nghiên cứu: Cán bộ nghiên cứu giải thích chi tiết về nghiên cứu, bao gồm những nguy cơ và lợi ích của việc tham gia nghiên cứu trước khi tiến hành sàng lọc
- Sàng lọc sử dụng bảng kiểm: Điều tra viên đã được tập huấn sẽ tiến hành phỏng vấn sử dụng một bảng kiểm để đánh giá tiêu chuẩn tuyển chọn đối với những người tới đăng ký tham gia nghiên cứu
- Thu thập thông tin nơi cư trú: Thông tin này chỉ được sử dụng cho mục đích duy trì sự tham gia nghiên cứu
Sau khi được tuyển chọn, người tham gia sẽ được phỏng vấn, sử dụng các biểu mẫu thu thập thông tin, bao gồm:
- Thông tin cơ bản và đặc điểm nhân khẩu Người tham gia sẽ được phỏng vấn về các đặc điểm nhân khẩu, tiền sử sử dụng các CDTP và điều trị cai nghiện khi tham gia chương trình điều trị thay thế bằng Methadone
- Phỏng vấn về kiến thức và hành vi phòng chống HIV/AIDS
-Phỏng vấn về tình trạng sức khoẻ và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ theo bộ câu hỏi của tổ chức Y tế thế giới
2.8 Quản lý và phân tích số liệu
2.8.1 Thu thập dữ liệu và quản lý số liệu
Nghiên cứu viên tiến hành thu thập số liệu sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc thông qua phỏng vấn bệnh nhân (phụ lục 1)
Cơ sở dữ liệu được cập nhật bằng phần mềm Epi Info cho Window được sử dụng cho nhập và lưu trữ số liệu của dữ liệu đã thu thập
Trang 292.8.2 Phân tích số liệu
Sau khi liên kết các dữ liệu nhận dạng cá nhân, nghiên cứu sử dụng phần mềm STATA 10 để tiến hành các thống kê mô tả và phân tích
2.9 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu này được phê duyệt bởi Ủy ban đạo đức Cục Phòng, chống HIV/AIDS Trong các biểu mẫu thu thập thông tin đảm bảo việc bảo mật danh tính bệnh nhân và các dữ liệu liên quan đến bệnh nhân Toàn bộ phiếu nghiên cứu được lưu trữ theo đúng quy định của pháp luật về bảo mật thông tin
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc trưng đối tượng nghiên cứu:
Bảng 3 1 Đặc điểm xã hội học của đối tượng nghiên cứu
Trang 30Nhận xét:
- Tổng số đối tượng nghiên cứu tại 3 tỉnh là 301, trong đó hơn 99% là nam
giới chỉ có 2 nữ giới Độ tuổi của đối tượng chủ yếu nằm trong khoảng 30-40 tuổi, độ tuổi trung bình của đối tượng là 35,4
- Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu chủ yếu là dân tộc Kinh chiếm 57,5%, còn lại 42,5% đối tượng là các dân tộc khác Đa số các đối tượng không theo tôn giáo nào (92,7%)
Bảng 3 2 Tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp của
đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm xã hội học của
đối tượng nghiên cứu
Lai Châu (n=100) n(%)
Điện Biên (n=100) n(%)
Yên Bái (n=101) n(%)
Tổng cộng (n=301) n(%)
Trang 31là học sinh sinh viên.
- Hơn một nửa số đối tượng hiện có việc làm ổn định (56,8%) Thu nhập trung bình của các đối tượng trên dưới 3 triệu đồng/tháng,
Trang 32Bảng 3 3 Cuộc sống hiện tại của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét:
- Mặc dù hiện là đối tượng theo chương trình Methadone nhưng hầu hết các đối tượng đều có người sống phụ thuộc vào đối tượng, trung bình 1,22 người khác sống phụ thuộc vào đối tượng
- Đa số đối tượng hiện sống với bố mẹ, vợ/chồng hoặc anh/chị/em (>60%), rất ít đối tượng sống với người yêu, người tình (3/301 đối tượng) hoặc với người khác (13/301 đối tượng) Một tỷ lệ rất nhỏ (<3%, 15/301)) đối tượng có người sống chung trong gia đình có sử dụng chất gây nghiện bao gồm cả bố
mẹ, vợ, con và anh chị em
Bảng 3 4 Mối quan hệ của đối tượng nghiên cứu với gia đình và xã hội
Mối quan hệ của đối
tượng
Lai Châu (n=100) n(%)
Điện Biên (n=100) n(%)
Yên Bái (n=101) n(%)
Tổng cộng (n=301) n(%)
Trang 33Nhận xét:
- Các mâu thuẫn bất đồng của đối tượng với người thân trong gia đình rất ít (<2%), tuy nhiên tỷ lệ đối tượng có các hành vi như bán đồ đạc của bản thân, gia đình, cầm đồ đồ đạc của bản thân, gia đình, nói dối gia đình để có tiền mua ma túy hay lấy tiền của gia đình để mua ma túy là không nhỏ, dao động
từ 15% đến 50% tùy hành vi và tùy từng địa phương mặc dù tỷ lệ đối tượng cưỡng ép đe dọa người thân thấp chỉ 1,2%
- Tỷ lệ đối tượng có tiền án, tiền sự chung cho cả 3 tỉnh là 22,9%
3.2 Tiền sử sử dụng chất gây nghiện
Bảng 3 5.Tuổi lần đầu sử dụng chất gây nghiện của đối tượng nghiên
cứu tại 3 tỉnh
Đối tượng thường mâu thuẫn
bất đồng
Lai Châu (n=100) n(%)
Điện Biên (n=100) n(%)
Yên Bái (n=101) n(%)
Tổng cộng (n=301) n(%)
Trang 34Nhận xét: Tuổi lần đầu sử dụng ma túy của đối tượng thấp nhất là 8 tuổi và
cao nhất là 54 tuổi Tuổi trung bình sử dụng ma túy lần đầu là 23,9 tuổi chung cho cả 3 tỉnh
Biểu đồ 3 1.Tỷ lệ loại chất gây nghiện đối tượng nghiên cứu
sử dụng lần đầu Nhận xét: Loại chất gây nghiện đối tượng sử dụng lần đầu tại cả 3 tỉnh chủ
yếu là heroin và thuốc phiện (trên 90%), còn lại một tỷ lệ rất nhỏ là thuốc lắc
và loại khác (chưa đến 1%),
Tuổi lần đầu sử dụng ma
túy
Lai Châu (n=100)
Điện Biên (n=100)
Yên Bái (n=101)
Tổng cộng (n=301)
Trang 35Biểu đồ 3 2.Hình thức sử dụng chất gây nghiện trước khi tham gia
điều trị Methadone Nhận xét: Hình thức sử dụng chất gây nghiện của đối tượng nghiên cứu gồm
có 5 hình thức cao nhất là tỷ lệ tiêm ven với 62,5%, tiếp đến là hít (47,5%), hút (43,5%) Ít nhất là tiêm dưới da và uống
Biểu đồ 3 3.Tần suất sử dụng chất gây nghiện cao nhất của đối tượng trước khi tham gia điều trị Methadone theo các hình thức (lần/ngày) Nhận xét: Loại chất gây nghiện mà đối tượng sử dụng rất phong phú từ
heroin, morphine, thuốc phiện, amphetamin, thuốc lắc, cần sa, tài ma, thuốc ngủ Tần suất sử dụng cao nhất là 6 lần/ngày rơi vào nhóm đối tượng sử dụng cần sa, tiếp đến là nhóm thuốc phiện với tần suất cao nhất 3 lần/ngày Với các đối tượng sử dụng các loại còn lại chỉ 1 lần/ngày
Trang 36Bảng 3 6.Tiền sử sử dụng chất gây nghiện của đối tượng nghiên cứu
trong vòng 30 ngày qua
Nhận xét: Trong vòng 30 ngày qua tỷ lệ đối tượng nghiên cứu sử dụng chất
gây nghiện không nhiều (trên 30%), Đa số các đối tượng này sử dụng heroin, một số rất ít sử dụng thuốc phiện, thuốc ngủ và loại khác,
Biểu đồ 3 4.Tỷ lệ sử dụng lại bơm kim tiêm mà người khác đã hoặc
vừa sử dụng tại các tỉnh Nhận xét: Vẫn còn một tỷ lệ nhất định (trên 10%) đối tượng còn sử dụng lại
bơm kim tiêm mà người khác đã hoặc vừa sử dụng tại các tỉnh,
Tiền sử sử dụng chất gây
nghiện trong vòng 30 ngày Lai Châu (n=100)
n(%)
Điện Biên (n=100) n(%)
Yên Bái (n=101) n(%)
Tổng cộng (n=301) n(%) Loại ma túy
Trang 37Bảng 3 7.Tiền sử cai nghiện ma túy của đối tượng tại từng tỉnh
Nhận xét:
- Trong số những đối tượng nghiên cứu có đến trên 60% đối tượng đã từng đi cai nghiện với nhiều hình thức khác nhau như cai nghiện tập trung tại trung tâm, cơ sở tư nhân, cắt cơn tại cộng đồng, tự mua thuốc cai, cai khan trong đó
tỷ lệ tự mua thuốc cai chiếm tỷ lệ cao nhất,
- Số lần cai nghiện trung bình của các đối tượng khoảng 4,4 lần, nhưng số lần cai nghiện cao nhất lên tới 41 lần và thấp nhất là không lần nào
Tiền sử cai nghiện Lai Châu
(n=100)
Điện Biên (n=100)
Yên Bái (n=101)
Tổng cộng (n=301)
Trang 38Bảng 3 8 Lý do tái nghiện và thời gian sử dụng chất gây nghiện của
đối tượng nghiên cứu
- Lý do cai nghiện phần lớn do bạn bè rủ rê (43,8%) và thèm muốn ma túy (43,5%), ngoài ra là do buồn chán thất vọng (18,6%) và lý do khác (4,0%),
- Thời gian sử dụng ma túy tính cho đến thời điểm nghiên cứu trung bình là 116,5 tháng (9,7 năm)
- Tỷ lệ sốc thuốc do sử dụng ma túy ở đối tượng nghiên cứu là 10%
Lý do tái nghiện Lai Châu
(n=100)
Điện Biên (n=100)
Yên Bái (n=101)
Tổng cộng (n=301)
Trang 39Biểu đồ 3 5 Số tiền trung bình mà đối tượng phải chi trả cho 01 ngày dùng chất ma túy tại các tỉnh trước khi tham gia điều trị
Nhận xét: Số tiền trung bình mà đối tượng phải bỏ ra mỗi ngày cho việc sử
dụng chất gây nghiện ít nhất mỗi người là 50.000 đến 100.000 mỗi ngày và cao nhất mỗi người cần đến 1.000.000 đồng chi trả cho việc sử dụng chất gây nghiện hàng ngày của mình
Trang 40Bảng 3 9 Tỷ lệ các hành vi nguy cơ của đối tượng trước khi tham gia
điều trị Methadone
Nhận xét:
- Hiện vẫn còn một số đối tượng sử dụng bơm kim tiêm chung ở thời điểm trước khi đối tượng tham gia điều trị Methadone (8,6%)
- Tỷ lệ đối tượng hút thuốc lá rất cao với 87%
- Tỷ lệ đối tượng dùng đồ uống có cồn thường xuyên tuy thấp hơn tỷ lệ đối tượng hút thuốc lá nhưng cũng ở mức cao với 56,5%
- Đối với rượu, không có đối tượng nào uống trên 500ml/ngày mà chủ yếu là dưới 250ml, tỷ lệ uống từ 250-500ml thấp hơn
(n=100) n(%)
Điện Biên (n=100) n(%)
Yên Bái (n=101) n(%)
Tổng cộng (n=301) n(%)