động thiếu việc làm và dôi dư còn nhiều; trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp còn yếu… Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trên xuất phát từ nhiều phía như: nhận thức về v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Nguyễn Mạnh Cường
Những điểm mới cơ bản của luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003
Luận văn Thạc sĩ
Hà Nội - 2005
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa (“XHCN”) ở nước ta
đã đặt ra cho thành phần kinh tế nhà nước và hệ thống các doanh nghiệp nhà nước (“DNNN”) một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Bởi vì, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay, Nhà nước muốn giữ được định hướng phát triển thì cần phải có một lực lượng kinh
tế làm công cụ và chỗ dựa Nếu không có lực lượng này thì mục tiêu XHCN
mà Nhà nước nỗ lực vươn tới sẽ trở thành ảo tưởng Chính vì vậy, thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã tập trung mọi nỗ lực để phát triển thành phần kinh tế nhà nước, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc đổi mới, cải cách DNNN để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN nhằm phát huy vai trò nòng cốt của DNNN
Sau những đợt sắp xếp, đổi mới DNNN và đặc biệt là khi Luật DNNN
1995 ra đời, đã tạo nền tảng cho DNNN phát triển theo hướng tích cực và
“góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước; đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [2,3] Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, trước yêu cầu đổi mới, DNNN đã bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém như: DNNN còn nhỏ về quy mô, còn dàn trải, chồng chéo theo cơ quan quản lý và ngành nghề; trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu; hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh của DNNN còn thấp, tốc độ phát triển chưa cao; công nợ của DNNN lớn, lao
Trang 3động thiếu việc làm và dôi dư còn nhiều; trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp còn yếu…
Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trên xuất phát từ nhiều phía như: nhận thức về vai trò của DNNN chưa được thông suốt; cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước về DNNN chưa thật sự phù hợp, việc học tập, quán triệt các chủ trương chính sách đó chưa tốt; hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với DNNN chưa cao; đội ngũ cán bộ chủ chốt doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu… Nhìn chung, nguyên nhân thì có nhiều, nhưng theo quan điểm của chúng tôi, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến hoạt động của các DNNN chưa thực sự có hiệu quả, chưa phát huy tốt vai trò chủ đạo của mình là khung pháp lý về cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ và hoạt động của DNNN còn nhiều bất cập, đặc biệt là Luật DNNN 1995 và các văn bản hướng dẫn sau một thời gian áp dụng đã thể hiện nhiều hạn chế, chưa tạo được cho DNNN sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường XHCN Trước nhu cầu đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, nhận thức yêu cầu phải hoàn thiện pháp luật về DNNN, ngày 26/11/2003, tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XI, Quốc hội đã thông qua Luật DNNN 2003 Sự ra đời của Luật DNNN 2003 thay thế Luật DNNN 1995 đã thể hiện một bước tiến mới trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về DNNN nói riêng
và pháp luật về kinh tế nói chung Luật DNNN 2003 đã khắc phục được những hạn chế, bất cập của Luật DNNN 1995 và những văn bản hướng dẫn thi hành, thể hiện sự nhận thức đúng đắn về vai trò của DNNN, đã “cắt phao
về bao cấp và trách nhiệm; cởi trói về quyền hạn; giảm tải về vấn đề xã hội” cho DNNN [43,2], đồng thời, Luật cũng quy định những vấn đề mới góp phần tăng cường sự độc lập, tự chủ của các DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và trong hội nhập kinh tế quốc tế Sự ra đời của Luật
Trang 4DNNN 2003 đã đáp ứng những mong mỏi và thu hút sự quan tâm, tìm hiểu của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu một cách toàn diện trên cơ sở khoa học một số điểm mới của Luật DNNN 2003 để chứng minh rằng Luật DNNN 2003 đã tạo ra một môi trường pháp lý tốt hơn cho hoạt động của các DNNN, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp nhằm triển khai một cách có hiệu quả Luật DNNN 2003 vào cuộc sống là một việc làm cần thiết Với những lý
do trên, tác giả chọn đề tài “Những điểm mới cơ bản của Luật DNNN năm
2003” làm luận văn thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về DNNN và pháp luật về DNNN hiện nay không còn là vấn
đề hoàn toàn mới mẻ ở Việt nam Xoay quanh vấn đề này, đã có nhiều công trình nghiên cứu do các nhà khoa học trong và ngoài nước thực hiện Trong những năm gần đây, với xu hướng cải cách DNNN của Đảng và Nhà nước ta nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có chú trọng đến việc đổi mới khung pháp lý về DNNN thì vấn đề nghiên cứu DNNN và đổi mới khung pháp luật về DNNN lại càng được nhiều nhà khoa học quan tâm Các công trình nghiên cứu về vấn đề trên đa dạng và phong phú về hình thức cũng như cấp độ
Về luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ: Luận án PTS Luật học “Địa vị pháp
lý của DNNN trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” của tác giả
Trần Thị Hòa Bình năm 1996; luận văn cao học Luật “Địa vị pháp lý của
DNNN theo Luật DNNN” của tác giả Nguyễn Trung Nghĩa năm 1996; luận
văn thạc sĩ Luật học của tác giả Bùi Văn Lành năm 2000 với đề tài “Những
vấn đề của pháp luật về DNNN và giải pháp khắc phục”; luận văn thạc sĩ luật
Trang 5học “Chế độ pháp lý về quyền sở hữu vốn và tài sản trong DNNN-Thực trạng
và phương hướng hoàn thiện” của tác giả Phạm Bình An năm 2001;…
Về các công trình nghiên cứu khác: có một số công trình nghiên cứu về
DNNN và pháp luật về DNNN đã xuất bản thành sách hoặc thể hiện dưới
hình thức những bài viết đăng trên các tạp chí như: sách chuyên khảo “Cổ
phần hóa DNNN-Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS.TS Lê Hồng
Hạnh, NXB CTQG, Hà Nội, 2004; tác giả Võ Đại Lược (chủ biên) có “Đổi
mới DNNN ở Việt Nam”, NXB CTQG, Hà Nội, 1997; PGS.TS Nguyễn Như
Phát có bài viết “An toàn pháp lý trong DNNN”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/1997; bài viết “Cải cách DNNN” của TS Trương Công Hùng, Tạp
chí Nghiên cứu kinh tế số 257 tháng 10/1999; bài viết của PGS.TS Nguyễn
Văn Thao, TS Nguyễn Hữu Đạt “Quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ
bản giải quyết vấn đề sở hữu trong DNNN”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số
287 tháng 4/2002… Đặc biệt trong thời gian gần đây, sau khi Luật DNNN
2003 được ban hành, một số tác giả đã tập trung nghiên cứu về những điểm
mới của Luật DNNN 2003 như: bài viết “Về Luật DNNN 2003” của ThS
Phạm Đức Trung, Tạp chí Quản lý Nhà nước số 101 tháng 6/2004
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu và bài viết như chúng tôi đã trình bày, chỉ đề cập đến DNNN và pháp luật về DNNN trước khi Luật DNNN
2003 được ban hành; hoặc nếu nghiên cứu sau khi Luật DNNN 2003 được ban hành và có hiệu lực thì cũng chỉ dừng lại ở việc nêu ra những điểm mới của Luật DNNN 2003, chưa đi sâu phân tích những điểm mới ấy đã tạo ra những thuận lợi gì cho DNNN hoạt động có hiệu quả hơn và việc nghiên cứu chưa thể hiện tính hệ thống, toàn diện
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích cơ bản nhất của đề tài là thông qua việc phân tích các quy định mới trong Luật DNNN 2003 để khẳng định rằng: một trong những thành công
Trang 6cơ bản nhất của Luật DNNN 2003 là tạo ra một nền tảng pháp lý mới, một động lực mới để các DNNN ở Việt Nam có thể hoạt động hiệu quả hơn trước đây
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trước hết, luận văn trình bày thực trạng pháp luật điều chỉnh về DNNN trước khi ban hành Luật DNNN 2003, trong đó chỉ rõ Luật DNNN 1995 là bộ phận cơ bản nhất trong pháp luật điều chỉnh cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ và hoạt động của DNNN – một đạo luật đã có những đóng góp tích cực giúp cho DNNN giữ vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, luận văn cũng làm sáng tỏ những nhược điểm của Luật DNNN 1995 với tư cách là những “rào cản”, đã cản trở đối với hoạt động của DNNN ở nước ta trong thời gian qua
Thứ hai, trên cơ sở những hạn chế của Luật DNNN 1995 và những quy định mới của Luật DNNN 2003, luận văn đi sâu vào phân tích tính ưu việt của một số cơ chế, chính sách cơ bản trong Luật DNNN 2003 sẽ góp phần tạo điều kiện cho các DNNN hoạt động có hiệu quả hơn trong tương lai
Thứ ba, luận văn cũng đưa ra những đề xuất nhằm góp phần triển khai có hiệu quả Luật DNNN 2003 trên thực tế
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp luận để nghiên cứu, giải quyết đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật của Triết học Mác – Lênin, với các quan điểm: khách quan, toàn diện, lịch sử-cụ thể, phát triển và thực tiễn
Phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là:
- Phương pháp sưu tập, kế thừa, nhằm tiếp thu có chọn lọc những kết quả tối ưu từ những công trình nghiên cứu có giá trị trước đây về DNNN và pháp luật về DNNN
Trang 7- Phương pháp so sánh, so sánh giữa các quy định của Luật DNNN cũ và mới nhằm tìm ra những ưu điểm trong quy định của Luật mới tạo nền tảng pháp lý mới để DNNN hoạt động có hiệu quả hơn
- Phương pháp chứng minh, nhằm mục đích đưa ra những số liệu, dữ liệu, quy định cụ thể của pháp luật thông qua những điều luật chứng minh cho lời bình luận của tác giả
- Phương pháp phân tích, tổng hợp là phương pháp bao trùm và xuyên suốt đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về DNNN để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của DNNN trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta, các nhà luật học, cũng như mọi tầng lớp nhân dân quan tâm Luật DNNN 2003 ra đời là kết quả của sự đổi mới về nhận thức vị trí, vai trò của DNNN Nghiên cứu về Luật DNNN 2003
là vấn đề còn khá mới trong khoa học pháp lý Việt Nam vì Luật DNNN 2003 mới được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 Ý nghĩa và điểm mới của luận văn là:
Thứ nhất, luận văn đã chỉ ra một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho DNNN hoạt động kém hiệu quả trong thời gian qua là do Luật DNNN 1995 còn nhiều hạn chế, bất cập; đồng thời phân tích rõ những hạn chế của Luật DNNN 1995 để tìm hướng khắc phục
Thứ hai, luận văn đi sâu nghiên cứu những quy định mới trong Luật DNNN 2003, so sánh những quy định của luật mới và luật cũ để chứng minh rằng Luật DNNN 2003 đã đặt một nền tảng pháp lý mới, tạo ra một động lực mới để các DNNN ở nước ta hoạt động hiệu quả hơn
Thứ ba, luận văn góp phần không nhỏ vào việc đưa Luật DNNN 2003 vào cuộc sống Luận văn là tài liệu bổ ích phục vụ cho việc tuyên truyền, phổ biến
Trang 8Luật DNNN 2003 đến các đối tượng có liên quan Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu cho sinh viên Luật, làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp, nhà quản lý doanh nghiệp trong quá trình áp dụng Luật DNNN 2003
7 Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp nhà nước trước khi ban
hành Luật DNNN 2003
Chương 2: Luật DNNN 2003 một bước phát triển quan trọng của pháp
luật về DNNN ở nước ta
Chương 3: Những giải pháp góp phần triển khai Luật DNNN 2003 trên
thực tế
Trang 9CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT DNNN 2003
1.1 Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995 - bộ phận cơ bản nhất trong pháp luật điều chỉnh cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ và hoạt động
của các DNNN ở Việt Nam
Kể từ sau công cuộc “Đổi mới” được Đảng và Nhà nước ta khởi xướng, Việt Nam đã và đang xây dựng, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Theo cơ chế kinh tế này, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng với nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật Tuy nhiên, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo Bởi vì, “Kinh tế quốc doanh
được củng cố và phát triển nhất là trong những ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân”[3] , “Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế DNNN giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật”[2]
Việc thành lập doanh nghiệp nhà nước ở những lĩnh vực then chốt là một công cụ vật chất quan trọng của Nhà nước để điều tiết nền kinh tế thị trường
Để doanh nghiệp nhà nước có một khung pháp lý cho vận hành, Nhà nước đã không ngừng xây dựng và ban hành một loạt văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này
Trang 10Trước khi Luật DNNN ra đời, đã có một số văn bản quan trọng tạo khung pháp lý cho cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ và hoạt động của DNNN trong thời kỳ này, như:
- Quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 của HĐBT ban hành chính sách đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh XHCN đối với xí nghiệp quốc doanh (XNQD);
- Nghị định 27/HĐBT ngày 22/3/1989 của HĐBT ban hành Điều lệ Liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh;
- Chỉ thị số 138/ CT ngày 25/4/1991 của Chủ tịch HĐBT v/v mở rộng diện trao quyền sử dụng và trách nhiệm bảo toàn vốn sản xuất, kinh doanh cho các đơn vị cơ sở quốc doanh;
- Quyết định 332/HĐBT ngày 23/10/1991 của HĐBT về bảo toàn vốn kinh doanh đối với các DNNN;
- Nghị định 338/HĐBT ngày 20/11/1991 của HĐBT về thành lập và tổ chức lại DNNN
Trong hai đợt sắp xếp lại DNNN tiếp theo:
- Đợt thứ nhất từ năm 1991 đến 1993, để tập trung giải quyết về tổ chức, xây dựng cơ chế, chính sách tài chính cho sắp xếp các đơn vị cơ sở, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 315/HĐBT ngày 01/9/1990 về giải thể và tổ chức lại những DNNN yếu kém và Nghị định số 388/HĐBT ngày 20/11/1991
về nguyên tắc, điều kiện thành lập lại DNNN;
- Đợt thứ hai từ năm 1994 đến trước khi Luật DNNN ban hành, để hình thành hệ thống DNNN, giải thể các Tổng Công ty, Liên hiệp xí nghiệp có tính chất hành chính trung gian và tổ chức những Tổng Công ty có quy mô lớn và quy mô vừa phù hợp với yêu cầu khách quan, bỏ dần chế độ Bộ chủ quản và
các cấp hành chính chủ quản, tạo điều kiện thực hiện một bước tập trung hoá