1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm Một vài biện pháp rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7

23 1,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 714,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như chúng ta đã biết, mỗi môn học trong nhà trường đều cung cấp nguồn tri thức một chuyên ngành nào đó. Riêng môn Ngữ văn có vị trí hết sức quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng tình cảm nhân văn, phát triển năng lực, hình thành nhân cách cho người học. Đồng thời cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn Văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn học khác. Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt môn Văn. Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống . Văn bản nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đời sống xã hội của con người, có vai trò rèn luyện tư duy, năng lực biểu đạt những quan niệm, tư tưởng sâu sắc trước đời sống. Trước tác của các nhà tư tưởng, nhà lí luận, nhà triết học, nhà chính trị đều viết dưới hình thức nghị luận. Có thể nói, không có văn nghị luận thì khó mà hình thành các tư tưởng mạch lạc và sâu sắc. Có năng lực nghị luận là một điều kiện cơ bản để con người thành đạt trong cuộc sống xã hội

Trang 1

I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1 Họ và tên : Mai Thị Thanh Duyên

2 Ngày tháng năm sinh : 28/02/1972

8 Đơn vị công tác : Trường THCS Võ Trường Toản

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Học vị : Cử nhân Văn

- Năm nhận bằng : 2011

- Chuyên ngành đào tạo : Ngữ văn

III KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm : Dạy lớp

- Số năm có kinh nghiệm : 18

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây :

+ Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà môn Ngữ văn

+ Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học nhằm nâng cao chất lượng bộ môn

+ Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng viết bài văn biểu cảm cho học sinh trung học

cơ sở

+ Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục lớp chủ nhiệm

Trang 2

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT VÀI BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 7

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Như chúng ta đã biết, mỗi môn học trong nhà trường đều cung cấp nguồn tri thức một chuyên ngành nào đó Riêng môn Ngữ văn có vị trí hết sức quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng tình cảm nhân văn, phát triển năng lực, hình thành nhân cách cho người học

Đồng thời cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn Văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn học khác Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt môn Văn Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống

Văn bản nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đời sống

xã hội của con người, có vai trò rèn luyện tư duy, năng lực biểu đạt những quan niệm, tư tưởng sâu sắc trước đời sống Trước tác của các nhà tư tưởng, nhà lí luận, nhà triết học, nhà chính trị đều viết dưới hình thức nghị luận Có thể nói, không có văn nghị luận thì khó mà hình thành các tư tưởng mạch lạc và sâu sắc Có năng lực nghị luận là một điều kiện cơ bản để con người thành đạt trong cuộc sống xã hội

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói : “Dạy làm văn chủ yếu là dạy cho học sinh diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung thành, sáng,

tỏ chính xác, làm nổi bật điều mình muốn nói” (Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện, Nghiên cứu giáo dục, số 28/11/1973)

Trong đời sống, người ta phải luôn luôn bày tỏ ý kiến của mình về các hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra xung quanh Một cuộc thảo luận tổ, một cuộc họp, một vấn đề trong cuộc sống, một chính sách mới, một tác phẩm nghệ thuật, đều đòi hỏi mọi người bày tỏ thái độ của mình Khi đó, ta đã làm văn nghị luận Khác với lối bày tỏ tình cảm, cảm xúc trong văn nghị luận, việc bày tỏ ý kiến trong văn nghị luận nhằm giải thích, chứng minh, thuyết phục người nghe, người đọc một tư tưởng, một quan điểm nào đó

Môn Ngữ văn trong nhà trường bậc THCS chia làm ba phân môn :Văn bản, Tiếng Việt và Tập làm văn Trong đó, phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ tổng hợp, vận dụng vốn kiến thức của hai phân môn còn lại cùng với vốn kiến thức đời sống của học sinh để diễn đạt một vấn đề thuộc lĩnh vực đời sống xã hội hoặc trong lĩnh vực văn học

Trang 3

Học và làm văn nghị luận, các em sẽ được rèn luyện tư duy, kỹ năng phát biểu

ý kiến và tinh thần tự chủ trước cuộc sống

II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lí luận

Trong những năm qua, tôi được phân công giảng dạy môn Ngữ văn 7 Tôi nhận thấy học sinh học sinh ở độ tuổi này đã có bước phát triển vượt bậc về mặt tâm sinh lí cũng như sự nhạy bén trong việc tiếp thu, ảnh hưởng các vấn đề xã hội Tuy nhiên, khi có sự đòi hỏi phải trình bày, nhận xét về những vấn đề ấy một cách bài bản mà cụ thể là trong giờ học thực hành làm văn nghị luận thì các em lại lúng túng, rụt rè, không mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ của mình Thực tế đó quả là đáng lo ngại Hơn nữa, văn nghị luận trong chương trình ngữ văn lớp 7 có tính cách đặt nền móng để học sinh phát triển năng lực nghị luận ở các lớp sau

Về cơ sở thực tiễn, văn nghị luận đã góp một phần đáng kề vào việc hình thành nhân cách, hình thành con người xã hội của các em Như vậy, một vấn đề đặt

ra đối với người dạy là phải làm thế nào thông qua mảng văn nghị luận để giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giao tiếp đồng thời trau dồi kiến thức về các vấn đề xã hội;

có sự phân biệt tốt – xấu, đúng – sai, biết chắt lọc trong sự tiếp thu cái mới, qua đó định hình được nhân cách của người công dân nhằm đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao theo xu thế phát triển và hội nhập của đất nước ?

Chính kết quả học tập của học sinh được bản thân người viết thu thập ở các năm học trước làm cho tôi trăn trở, thúc đẩy tôi nghiên cứu vấn đề rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận cho học sinh lớp 7

2 Nội dung, cách thức thực hiện các giải pháp của đề tài

2.1 Về nguyên tắc

- Giáo viên cần xác lập chủ đề cho mảng văn nghị luận ở chương trình lớp 7

học kỳ II, việc làm này có mục đích giúp truyền đạt kiến thức của chủ đề môt cách toàn diện và có hệ thống hơn là dạy các tiết rời rạc theo phân phối chương trình cũ (Do thời lượng bố trí cho phần văn nghị luận tương đối lớn (18 /25 tổng số tiết tập làm văn), nên có thể không bố trí dạy liên tục các tiết trong một tuần, tuy nhiên, khi soạn cần gom lại thành chủ đề thì dạy sẽ đạt hiệu quả hơn)

- Chú trọng hoạt động thực hành, bài nào đòi hỏi thực hành luyện tập thì phải triệt để khai thác, hướng dẫn các em một cách thấu đáo, đạt hiệu quả

- Phát huy tối đa năng lực của học sinh trong quá trình dạy học như năng lực

tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin

Trang 4

A Giúp học sinh nắm rõ đặc điểm và yêu cầu của bài văn nghị luận

- Văn nghị luận là văn thuyết lí, được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó Muốn thế, văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục

- Yêu cầu cơ bản của bài văn nghị luận là luận điểm phải đúng đắn, đáp ứng nhu cầu thực tế; luận cứ phải xác thực, tiêu biểu; lập luận phải chặt chẽ, , hợp lí

- Bài văn nghị luận được viết bằng văn phong chính luận, rõ ràng, trong sáng, chuẩn xác

- Tóm lại : Vấn đề nghị luận là vấn đề mang ý nghĩa xã hội; ba yếu tố cơ bản

để hình thành bài văn nghị luận đó là : luận điểm, luận cứ và lập luận

 Quy trình làm bài văn nghị luận :

- Tìm hiểu đề và tìm ý

- Lập dàn ý

- Viết bài và sửa chữa

*Bố cục bài văn nghị luận và nhiệm vụ của từng phần : gồm có ba phần

+ Mở bài : Nêu vấn đề có ý nghĩa đối với đời sống, xã hội Thông thường là dẫn

luận điểm tổng quát đã được nêu sẵn trong đề bài nghị luận

+ Thân bài : Trình bày nội dung chủ yếu của bài bằng cách sử dụng lí lẽ và dẫn

chứng để làm rõ vấn đề đang bàn luận

+ Kết bài : Nêu kết luận nhằm khẳng định vấn đề đã bàn bạc Liên hệ bản thân

B Hình thành các kỹ năng cơ bản thông qua hoạt động luyện tập, thực hành

- Đọc kỹ đề từng câu, từng chữ và vận dụng năng lực tƣ duy để xác định nội dung của vấn đề cần bàn bạc

Trang 5

- Luận điểm chính : Tác hại của thói tự phụ trong cuộc sống con người

- Có thể xác lập một số luận điểm sau bằng cách đặt các câu hỏi xoay quanh vấn đề:

- Tự phụ là gì ?

- Vì sao chớ nên tự phụ?

- Cần phải xây dựng thái độ sống đúng đắn như thế nào?

*Ví dụ 2 : Xác lập luận điểm cho đề văn : Sách là người bạn lớn của con người

- Xác lập luận điểm chính : Vai trò quan trọng của sách đối với cuộc sống con người

Từ luận điểm chính ấy, bằng suy luận từ thực tế, có thể tìm đƣợc các luận điểm phụ sau đây :

+ Sách là kho tàng tri thức vĩ đại của nhân loại

+ Sách giúp con người nhận thức thế giới, hướng tới chân lí và cái đẹp

+ Trong thời đại ngày nay, cần biết chọn sách để đọc và phải biết trân trọng, giữ gìn sách

*Ví dụ 1 : Chỉ ra các luận cứ mà tác giả đã sử dụng để làm sáng tỏ luận điểm

trong văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta ?

 Để làm sáng tỏ luận điểm mở rộng thứ nhất : Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, Bác đã

dùng hai luận cứ :

- Luận cứ thứ nhất là dẫn chứng về các trang sử chống ngoia5 xâm của tổ tiên ta

thông qua đoạn : Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trấn Hưng Đạo, Lê lợi, Quang Trung,

Trang 6

- Luận cứ thứ hai là lời phân tích khẳng định cần ghi nhớ công lao của các vị anh

hùng dân tộc : Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các

vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng

 Để làm sáng tỏ luận điểm mở rộng thứ hai Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước, Bác sử dụng đến bảy luận cứ, trong đó

sáu luận cứ là các dẫn chứng về những gương tích cực tham gia kháng chiến của mọi tầng lớp nhân dân, mọi lứa tuổi, luận cứ thứ bảy là lí lẽ khái quát đặc điểm chung của chín luận cứ trên :

- Luận cứ 1 : Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ

- Luận cứ 2 : Từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng bị tạm

chiếm

- Luận cứ 3 : Từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, ai cũng một lòng nồng nàn

yêu nước, ghét giặc

- Luận cứ 4: Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày để bám sát lấy

giặc đặng tiêu diệt gặc đến những công chức ở hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội

- Luận cứ 5 : Từ những phụ nữ khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung

phong giúp việc vận tải cho đến các bà mẹ chiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình

- Luận cứ 6 : Từ những nam nữ công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất

không quản khó nhọc để giúp một phần vào kháng chiến cho đến những đồng bào

điền chủ quyên đất ruộng cho chính phủ

- Luận cứ 7 : Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm nhưng đều

giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước

Từ văn bản ngữ liệu kinh điển trên của Bác, sau khi hướng dẫn học sinh

phân tích, khám phá và nhận diện được cách triển tìm luận cứ, GV tổ chức cho các em thực hành tìm luận cứ trên nhiều đề văn nghị luận khác nhau

*Ví dụ 2 : Tìm luận cứ cho luận điểm: Tự phụ là gì?

- Đánh giá bản thân quá cao, không dựa trên những khả năng thực sự của mình và luôn xem thường người khác

- Tự phụ khác với tự tin – người tự tin là người đánh giá đúng năng lực của mình, lấy đó làm điểm tựa để hành động quyết đoán

- Biểu hiện cụ thể của sự tự phụ : Những người không mấy tài cán lại tỏ ra ta đây

là biết nhiều, biết rộng; không thèm lắng nghe bất cứ ý kiến của ai vì không thấy

Trang 7

*Ví dụ 3 : Tìm luận cứ cho luận điểm Vì sao chớ nên tự phụ ?

- Bị mọi người xa lánh, tự cô lập bản thân

- Khả năng giao lưu học hỏi bị hạn chế

- Khi gặp thất bại, ít người chia sẻ

- Tự phụ chỉ mang lại tác hại cho bản thân

c/ Xây dựng lập luận

Xây dựng lập luận là trình bày lí lẽ và dẫn chứng theo một trình tự lôgic, chặt chẽ nhằm thể hiện vấn đề một cách khúc chiết, giàu sức thuyết phục Lôgic của trình tự lập luận đòi hỏi cho cả toàn bài và ngay trong từng đoạn nghị luận

*Ví dụ 1 : Phân tích trình tự lập luận trong văn bản Chống nạn thất học ở bài

18, SGK/7 tập II :

- Trước hết tác giả nêu lí do vì sao phải chống nạn thất học, chống nạn thất học để

làm gì : Khi xưa Pháp cai trị nước ta, chúng thi hành chính sách ngu dân Chúng hạn chế mở trường học, chúng không biết cho dân ta biết chữ để dễ lừa dối dân ta

và bóc lột dân ta Số người Việt Nam thất học so với số người trong nướ là 95 phần trăm, nghĩa là hầu hết người Việt nam mù chữ Như thế thì tiến bộ làm sao được ?

- Có lí lẽ rồi mới nêu tư tưởng chống nạn thất học bằng cách khẳng định vai trò của

việc nâng cao dân trí : Nay chúng ta đã dành được quyền độc lập Một trong những việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ

- Nhưng chỉ nêu tư tưởng thì chưa trọn vẹn Người ta sẽ hỏi : Vậy chống nạn thất học bằng cách nào ? Phần tiếp theo của bài viết giải quyết việc đó bằng cách đưa ra

các biện pháp cụ thể chống nạn thất học : Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy giúp sức vào bình dân học vụ, như các anh chị em trong sáu bảy năm nay đã gây phong trào truyền bá Quốc ngữ giúp đồng bào thất học

Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo,

Trang 8

 Lập luận như thế là rõ ràng, chặt chẽ, hợp lí, làm ta hiểu trọn vẹn luận điểm

*Ví dụ 2 : Chỉ ra phép lập luận trong văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, bài 20 SGK/24

Để làm sáng tỏ luận điểm chính của bài là bổn phận của những người lãnh

đạo là phải làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến:

- Trước hết tác giả đặt vấn đề : Lòng yêu nước nồng nàn là một truyền thống quý báu của dân tộc

- Tiếp theo là việc triển khai hai luận điểm phụ để chứng minh cho vấn đề đặt ra theo tiến trình lịch sử bằng những dẫn chứng xác thực, tiêu biểu

+ Lòng yêu trong quá khứ

+ Lòng yêu nước trong hiện tại

Từ các nhận định trên, rút ra kết luận về bổn phận của chúng ta là phải làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến

 Cách đưa luận điểm, dẫn chứng để dẫn tới kết luận như vậy gọi là lập luận Phần thực hành xây dựng lập luận của học sinh

*Ví dụ 1 : Cho đề văn Chớ nên tự phụ, hãy trình bày trình tự lập luận của em đối

với đề bài này

Về nội dung, đề bài yêu cầu em bàn luận để làm rõ lời khuyên chớ nên tự phụ (tự cho mình cao hơn người khác) Bài viết của em cần làm rõ :

- Tự phụ là gì ?

- Tự phụ có những biểu hiện nào ?

- Tự phụ đem lại hậu quả gì ?

- làm thế nào để tránh được thói tự phụ ?

Qua đó khẳng định Chớ nên tự phụ là lời khuyên cần thiết và đúng đắn Chất liệu

để viết bài văn này là lí lẽ kết hợp với dẫn chứng lấy từ thực tế hoặc trong sách vở

Ví dụ 2: Em hãy xây dựng lập luận cho đề : Viết về môi trường

- Xác lập luận điểm : Tầm quan trọng của môi trường sống (môi trường tự nhiên) đối với cuộc sống con người

Trang 9

- Giải thích vắn tắt khái niệm môi trường là gì ?

- Đưa dẫn chứng nêu vai trò của môi trường đối với đời sống con người :

+ Vai trò điều hoà khí hậu, cân bằng sinh thái

+Môi trường trong sạch rất có lợi cho sức khoẻ con người, đảm bảo chất lượng cuộc sống

+ Tác hại của tình trạng môi trường bị ô nhiễm do khói bụi, ô nhiễm tiếng ồn, nguồn nước, nạn chặt phá rừng bừa bãi

+ Trách nhiệm của bản thân và cộng đồng xã hội trong việc bảo vệ môi trường

- Liên hệ bản thân

2 Phương pháp lập luận

Lập luận là cách thức triển khai các luận điếm , luận cứ sao cho chặt chẽ lô gic

bằng sự liên kết của các lí lẽ và dẫn chứng nhằm làm sáng tỏ vấn đề Lập luận cũng

là một nghệ trong văn nghị luận Trong thực tế, có nhiều cách lập luận, sau đây là một số cách tiêu biểu thường sử dụng :

a/ Lập luận theo quan hệ diễn dịch

Đây là cách lập luận nêu luận điểm chính trước, các luận điểm mở rộng được nêu tiếp sau nhằm chứng minh cho luận điểm chính

*Ví dụ 1 : Âm nhạc với những đường nét, giai điệu trầm bổng, nhặt khoan đã có

lúc động tới nhiều mặt trong cuộc sống xung quanh của chúng ta

Đời xưa, người ta đã giao cho nghệ thuật này một sức mạnh có tính chất huyền bí tới vạn vật xung quanh, nhưng ngày nay, bằng những thí nghiệm khoa học, người ta đã ghi nhận được những tác dụng khá cụ thể Sử dụng một loại âm nhạc nào đấy trên tàu đánh cá thì sẽ thu hút được cá kéo nhau chui vào lưới; sử dụng loại nhạc nào đó thì lượng sửa sẽ được nhiều hơn khi người ta vắt sữa bò; có loại cây phát triển nhanh khi ta cho phát một loại nhạc nào đấy ở khu vực vườn trồng

Nhiều nước trên thế giới đã vận dụng âm nhạc trong các xí nghiệp, công trường để nâng cao năng suất lao động của công nhân Tại nhà máy sản xuất đện thoại Perm của Liên Xô, các nhà tâm lí học, sinh lí học và cán bộ âm nhạc đã phối hợp đưa âm nhạc vào giờ làm việc của công nhân Sau một thời gian ổn định, với điều kiện sản xuất ổn định, có những ca năng suất lao động đã tăng tới 17%

Tuy nhiên, tác dụng lớn lao nhất của âm nhạc mà không ai có thể phủ nhận được là bằng những âm thanh có tổ chức (tức là những bài ca, bản nhạc), thông qua thính giác mà tác động đến tư tưởng, tình cảm của con người

Trang 10

(Phạm Tuyên, Các bạn trẻ đến với âm nhạc, NXB Thanh niên 1992)

*Ví dụ 2 : Thiên nhiên là gì ? Thế nào là môi trường thiên nhiên ?

Thiên nhiên là toàn bộ thế giới tự nhiên bao gốm ánh sáng, không khí, nguồn nước, đất đai, rừng núi, sông biển, tài nguyên dưới lòng đất, Mỗi hiện tượng thiên nhiên có sự sống riêng, vận động, phát triển và thay đổi dưới sự tác động của

tự nhiên và con người Ví dụ, rừng gắn với núi đồi, cây cối, suối, thảm thực vật và động vật hoang dã; rừng có thể thay đổi theo thời gian và những tác động của địa chất, khí hậu và con người

Thiên nhiên bao quanh ta trong cuộc sống hàng ngày Mặt trời ban ngày cho

ta ánh sáng để học tập, lao động và đi lại Ánh trăng ban đêm cho ta ánh sáng huyền diệu để ta vui chơi Hoa lá cho ta sắc màu để nhìn ngắm Nước cho ta đồ uống, tắm giặt, tưới khắp ruộng đồng cho hoa màu cây cối, bội thu Ánh đện nơi ta làm việc, ăn nghỉ và học tập được thắp sáng từ các nhà máy thuỷ điện và nhiệt điện Bàn ghế ta ngồi học làm từ gỗ của rừng Biển cho ta nghĩ dưỡng Rừng núi, hang động kì thú cho ta cảnh đẹp tham quan, Từ xưa đến nay, thiên nhiên luôn là người bạn gần gũi và chia sẻ, ban tặng cho ta rất nhiều thứ quý giá để ta hưởng thụ

(Bài làm của học sinh)

b/ Lập luận theo quan hệ qui nạp

Đây là cách lập luận ngược lại của lập luận theo quan hệ diễn dịch Nghĩa là,

ta sẽ đi từ luận cứ đến luận điểm, từ luận điểm mở rộng đến luận điểm chính

*Ví dụ 1: Văn bản Hai biển hồ (Bài 18, SGK/10 Tập 2) Từ các luận điểm

trình bày trong ba đoạn đầu, tác giả đi đến khẳng định luận điểm chính trong đoạn thứ tư :

- Đoạn thứ nhất : Giới thiệu điểm khác biệt gần như đối lập của hai biển hồ ở le-xtin

Pa Đoạn thứ hai : Mô tả hai biển hồ cùng đón nhận chung một nguồn nước và cách vận hành khác nhau của mỗi nơi

- Đoạn thứ ba : Từ hiện tượng và kết quả khác biệt của hai sự vật ở đoạn trên mà liên tưởng và rút ra kết luận có tính chân lí về sự sẻ chia

- Đoạn thứ tư : Trình bày quan điểm của người viết về lối sống cá nhân và hoà nhập

*Ví dụ 2 : Quan lại vì tiền mà bất chấp công lí; sai nha vì tiền mà tra tấn cha con

Vương Ông; Tú Bà, Mã Giám Sinh, Bạc Bà, Bạc Hạnh vì tiền mà làm nghề buôn

Trang 11

thịt bán người; Sở Khanh vì tiền mà tán tận lương tâm; Khuyển Ưng cũng vì tiền

mà lao vào tội ác Cả một xã hội chạy theo tiền

(Hoài Thanh)

*Ví dụ 3 : Cha mẹ tha thứ lỗi lầm cho con cái, thầy cô giáo rộng lượng đối với

những sai phạm của học sinh, vào các ngày lễ lớn, nhà nước ân xá cho các phạm nhân cải tạo tốt Các cuộc đàm phán hội nghị liên tục được tổ chức trên toàn thế giới để giải quyết xung đột về tôn giáo và sắc tộc Trong chiến tranh, việc đối xử tử

tế và trao trả tù binh cũng là biểu hiện cụ thể của lòng khoan dung Sự khoan dung biểu hiện trong nhiều mối quan hệ như gia đình, nhà trường, trong phạm vi một quốc gia và trong quan hệ quốc tế (Bài làm của học sinh)

c/ Lập luận theo quan hệ tổng – phân – hợp

Đây là cách tổng hợp của hai cách lập luận diễn dịch và qui nạp Theo cách trình vày này, luận điểm trình bày trong phần mở phải mang tính khái quát cao và

có quan hệ chặt chẽ với luận điểm chính được trình bày trong phần kết Nghĩa là, luận điểm chính là sự phát triển của luận điểm xuất phát Lập luận theo cách này thường câu đầu và câu kết sẽ chứa luận điểm

*Ví dụ 1 : Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước Từ

các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng bị tạm chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi,

ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc, đến những công chức ở hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ khuyên chồng co đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải cho đến các bà mẹ chiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình Từ những nam nữ công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuát, không quản khó nhọc để giúp một phần vào kháng chiến, cho đến những đồngnbào đền chủ quyên đất ruộng cho Chính phủ, Những cử chỉ cao quí đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước

(Tinh thần yêu nước của nhân ta, Hồ Chí Minh, Ngữ văn 7 tập 2)

*Ví dụ 2 : Người lớn khuyên ta dùng thời gian một cách khôn ngoan, đó là hãy

biết quý thời gian Mỗi giây phút chỉ đến một lần và những gì chỉ đến một lần đều quý Điều quan trọng là thời gian khi bạn còn trẻ thì quý giá hơn tới ba bốn lần lúc bạn đã già Khi còn trẻ, cách sử dụng thời gian của bạn sẽ quyết định chất lượng và tiêu chuẩn cho phần đời còn lại Nếu sử dụng thời gian hữu hiệu thì cuộc đời sẽ đủ dài để làm được điều gì đó vĩ đại Cuộc sống con người không thể nói là dài Nếu lãng phí thời gian chính chúng ta đã làm cho nó thêm ngắn lại

“Thời gian là tài sản quý báu nhất nhưng cũng dễ mất nhất” (I R Rca-nô-kê)

Ngày đăng: 11/11/2016, 23:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w