ĐỀ TÀI: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC GIÚP HỌC SINH VẬN DỤNG TỐT KIẾN THỨC SINH HỌC 6 VÀO THỰC TẾ I. LYÙ DO CHOÏN ÑEÀ TAØI: Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học.Để đảm bảo được điều đó nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối ‘‘Truyền thụ một chiều” sang dạy học vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng và hình thành năng lực. Để chuẩn bị quá trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015, cần thiết phải đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước công nghiệp hoáhiện đại hoá đất nước ngày nay, xã hội ta ngày một phát triển. Cùng với đó là sự hiểu biết về trình độ và khả năng chuyên môn là điều không thể thiếu của mỗi người. Tuy nhiên, đã có nhiều bạn trẻ hiện nay quá chú trọng vào việc học lí thuyết ở nhà trường mà đôi khi quên mất phải thực hànhmột điều hết sức quan trọng. Mối quan hệ giữa học và hành một lần nữa được nhấn mạnh qua câu tục ngữ: “Học đi đôi với hành”. Đồng ý những nhận định trên. Với trách nhiệm của người giáo viên sinh học trực tiếp đứng lớp giảng dạy ở trường trung học phổ thông nhiều năm, tôi quan tâm nhiều đến chất lượng học tập của học sinh, đến suy nghĩ, tâm tư tình cảm của học sinh đối với bộ môn của mình, quan tâm nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học sao cho chất lượng dạy và học sinh học của thầy trò chúng tôi đạt được hiệu quả tốt nhất. Ở trường phổ thông, trong số các phương pháp dạy học tích cực thì dạy học liên hệ với thực tế là phương pháp tích cực nhằm phát triển năng lực cho học sinh. Xuất phát từ những nguyên nhân trên cũng chính là lí do tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực học sinh thông qua việc giúp học sinh vận dụng tốt kiến thức sinh học 6 vào thực tế” II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ÑEÀ TAØI. 1 Cơ sở lý luận: Giáo dục thế hệ trẻ mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều coi là nhiệm vụ chiến lược của dân tộc mình. Trong điều kiện hiện nay khi khoa học của nhân loại đang phát triển nhanh chóng, nền kinh tế tri thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của nghành giáo dục vô cùng to lớn. Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn giúp cho học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, rèn luyện kĩ năng và hình thành năng lực. Chương trình giáo dục định hướng năng lực thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Nhiệm vụ của môn Sinh học lớp 6 là nghiên cứu hình thái, cấu tạo, đời sống cũng như sự đa dạng sinh vật nói chung và của thực vật nói riêng để sử dụng hợp lí, phát triển và bảo vệ chúng nhằm phục vụ đời sống con người Để góp phần tích cực thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện thì mỗi môn học có một vai trò nhất định, trong đó bộ môn Sinh học là môn học hết sức quan trọng đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Nước ta đã thấy được vị trí, vai trò của bộ môn Sinh học trong đời sống. Ở các trường bộ môn Sinh học nói chung và bộ môn Sinh học ở THCS nói riêng đã được quan tâm chú trọng rất nhiều coi là môn học có tính chất giáo dục hướng nghiệp, học sinh cũng nhận thấy vai trò tích cực của bộ môn.
Trang 1ĐỀ TÀI: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH THƠNG QUA VIỆC GIÚP HỌC SINH VẬN DỤNG TỐT KIẾN
THỨC SINH HỌC 6 VÀO THỰC TẾ
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Giáo dục phổ thơng nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học.Để đảm bảo được điều đĩ nhất định phải thực hiện thành cơng việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối ‘‘Truyền thụ một chiều” sang dạy học vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng và hình thành năng lực
Để chuẩn bị quá trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thơng sau năm 2015, cần thiết phải đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước cơng nghiệp hố-hiện đại hố đất nước ngày nay, xã hội ta ngày một phát triển Cùng với đĩ là sự hiểu biết về trình độ và khả năng chuyên mơn là điều khơng thể thiếu của mỗi người Tuy nhiên, đã cĩ nhiều bạn trẻ hiện nay quá chú trọng vào việc học lí thuyết ở nhà trường mà đơi khi quên mất phải thực hành-một điều hết sức quan trọng Mối quan hệ giữa học và hành một lần nữa được nhấn mạnh qua câu tục ngữ:
“Học đi đơi với hành”
Đồng ý những nhận định trên Với trách nhiệm của người giáo viên sinh học trực tiếp đứng lớp giảng dạy ở trường trung học phổ thơng nhiều năm, tơi quan tâm nhiều đến chất lượng học tập của học sinh, đến suy nghĩ, tâm tư tình cảm của học sinh đối với bộ mơn của mình, quan tâm nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học sao cho chất lượng dạy và học sinh học của thầy trị chúng tơi đạt được hiệu quả tốt nhất
Ở trường phổ thơng, trong số các phương pháp dạy học tích cực thì dạy học liên hệ với thực tế là phương pháp tích cực nhằm phát triển năng lực cho học sinh
Xuất phát từ những nguyên nhân trên cũng chính là lí do tơi chọn đề tài: “ Phát triển năng lực học sinh thơng qua việc giúp học sinh vận dụng tốt kiến thức sinh học 6 vào thực tế”
II T Ổ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.
1 Cơ sở lý luận:
Trang 2- Giáo dục thế hệ trẻ mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều coi là nhiệm vụ chiến lược của dân tộc mình
- Trong điều kiện hiện nay khi khoa học của nhân loại đang phát triển nhanh chóng, nền kinh
tế tri thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của nghành giáo dục vô cùng to lớn Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn giúp cho học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, rèn luyện kĩ năng và hình thành năng lực
- Chương trình giáo dục định hướng năng lực thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp
- Nhiệm vụ của môn Sinh học lớp 6 là nghiên cứu hình thái, cấu tạo, đời sống cũng như sự đa dạng sinh vật nói chung và của thực vật nói riêng để sử dụng hợp lí, phát triển và bảo vệ chúng nhằm phục vụ đời sống con người
- Để góp phần tích cực thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện thì mỗi môn học có một vai trò nhất định, trong đó bộ môn Sinh học là môn học hết sức quan trọng đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm Nước ta đã thấy được vị trí, vai trò của bộ môn Sinh học trong đời sống
- Ở các trường bộ môn Sinh học nói chung và bộ môn Sinh học ở THCS nói riêng đã được quan tâm chú trọng rất nhiều coi là môn học có tính chất giáo dục hướng nghiệp, học sinh cũng nhận thấy vai trò tích cực của bộ môn
2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:
2.1 Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
- Dạy học giải quyết vấn đề là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề
- Việc học được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẩn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức,kĩ năng, phương pháp nhận thức
- Phương pháp hình thành cho HS các năng lực: Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy
Ví dụ cụ thể:
Bài 14 “ Thân dài ra do đâu?”
GV đặt vấn đề: Qua thí nghiệm học sinh đã biết thân dài ra do phần ngọn Vậy khi ngắt ngọn cây còn phát triển được không? Tại sao khi trồng một số cây thân leo, thân bò, thân cỏ người
ta thường ngắt ngọn khi cây trưởng thành?
HS giải quyết vấn đề: Khi ngắt ngọn thân cây không dài ra nữa, nên chất dinh dưỡng tập trung phát triển các bộ phận khác như: lá, chồi, hoa, quả Từ đó HS cũng biết được khi trồng
Trang 3các cây thân bò, thân leo, thân cỏ như dưa hấu, đậu đen, mồng tơi,…người ta thường ngắt ngọn để tạo nhiều quả, lá, chồi
Bấm ngọn dưa hấu sẽ cho nhiều quả hơn Nông dân đang ngắt ngọn trà xanh
2.2 Vận dụng dạy học theo tình huống
Dạy học theo tình huống là quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh thông qua một tình huống thực tiễn Dạy học theo tình huống giúp học sinh phát triển năng lực tự giải quyết vấn đề
Ví dụ cụ thể:
VD1: Bái 23 “ Cây có hô hấp không?”
- Tình huống: trồng cây xanh đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe Vì vậy Nam trồng rất nhiều cây xung quanh nhà, phòng khách, nhà bếp, phòng ngủ cũng được Nam đặt nhiều chậu cây Bạn Nam làm vậy có lợi cho sức khỏe không? Giải thích?
- Vận dụng kiến thức đã biết qua bài học, học sinh biết được ban đêm quá trình hô hấp của cây diễn ra mạnh mẽ, cây sẽ tranh khí Oxi của người và thải ra khí cacbonic, vì vậy không nên trồng quá nhiều cây xanh trong nhà
Không nên để nhiều cây xanh trong phòng ngủ
VD2: Bài 48 “ Vai trò của thực vật với đời sống con người”
Trang 4- Tình huống học tập: Một hôm, vào giờ ra chơi Đức phát hiện Thành và Hiếu đang hút thuốc trong nhà vệ sinh Thành còn hào phóng mời Đức 1 điếu thuốc và nói “ hút thuốc mới là nam nhi” Nếu là Đức em sẽ làm gì?
- HS sẽ đưa ra nhiều cách giải quyết như: Báo với GVCN, báo thầy tổng phụ trách, khuyên bạn không nên hút thuốc Trong đó cách giải quyết hay nhất là dùng lời lẽ và hiểu biết của mình cho 2 bạn đó biết tác hại của thuốc lá
- Tác hại của thuốc lá: Trong thuốc lá có nhiều chất độc hại đặc biệt là chất nicôtin được dùng để chế thuốc trừ sâu Nếu ta hút thuốc lá, nhất là hút nhiều chất nicôtin thấm vào cơ thể ảnh hưởng đến bộ máy hô hấp, dể gây ung thư phổi, ung thư vòm họng Khi hút thuốc lá không chỉ gây hại đến bản thân còn gây hại đến người xung quanh do chất độc trong khói thuốc thải ra
- Qua bài này HS hiểu được tác hại của thuốc lá để có thái độ đúng đắn
Ung thư phổi Ung thư vòm họng
2.3 Vận dụng dạy học định hướng hành động
- Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học làm cho hoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau Trong quá trình học, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành sản phẩm hành động
- Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trọng cho việc thực hiện nguyên
lí giáo dục kết hợp lí thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động HS không chỉ được thực hành để kiểm chứng phần lí thuyết được học mà còn rèn luyện thêm một số kĩ năng như: Năng lực sáng tạo, năng lực tự quản lí, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ
Ví dụ cụ thể:
Bài 27 “ Sinh sản sinh dưỡng do người”
GV giao cho các nhóm học sinh thực hành các phương pháp giâm cành, chiết cành theo lí thuyết đã được học và nộp lại sản phẩm trong một tháng Học sinh phải ghi lại quá trình thực hiện và thình bày khi sản phẩm hoàn tất
Trang 5-Phần trình bày của học sinh:
+ Giâm cành: Dùng 1 đoạn cây mía vùi xuống đất ẩm, 1 tháng sau tại mấu thân phía dưới mọc ra rễ, mấu thân phía trên phát triển chồi
+ Chiết cành: Chọn 1 cành trên cây mai rồi bóc 1 khoanh vỏ, dùng nước bồ hóng sát trùng chỗ cắt Dùng đất mùn trộn với nước cho đủ ẩm rồi đắp vào vết cắt, buộc bọc nilông để giữ đất Hàng ngày tưới nước vào bầu đất cho đủ ẩm, để 1 tháng tại chỗ bóc vỏ ra rễ, cắt đem trồng thành cây mới
-Sản phẩm của học sinh:
Chiết cành cây hoa mai Giâm cành cây mía
Qua bài này học sinh biết cách thực hiện giâm cành, chiết cành Học sinh có thể phụ giúp gia đình trong việc trồng trọt và hứng thú hơn với môn sinh học
2.4 Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lí trong dạy học
- Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm thực hành trong dạy học
- Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học hiện đại Ứng dụng công nghệ thông tin mang lại những giờ học lí thú, hình ảnh sống động,
có thể trình chiếu đoạn phim về hoạt động của thực vật mà HS không thể quan sát ở bên ngoài
- Phương pháp này giúp HS phát triển các năng lực: Sử dụng CNTT và truyền thông, kĩ năng quan sát
Trang 6Ví dụ cụ thể:
VD 1: Bài 51: “Nấm”
GV: Ngoài hình ảnh cấu tạo của nấm rơm giáo viên có thể cho học sinh quan sát đoạn phim “
Kĩ thuật trồng nấm rơm”
Qua đó học sinh biết được điều kiện phát triển của nấm rơm, và nắm được kĩ thuật trồng nấm rơm
VD2: Ở bài “ Thực vật bảo vệ đất và nguồn nước”
GV cho HS quan sát đoạn phim “ Xói mòn đất gây lũ lụt”
Qua đoạn phim HS thấy tác hại khi rừng bị tàn phá và vai trò của cây xanh, từ đó hình thành cho học sinh ý thức bảo vệ rừng
Lũ lụt Trồng cây phủ xanh đồi trọc
2.5 Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh
- Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hóa, phát huy tính sáng tạo của học sinh
- Một số phương pháp điển hình: Phương pháp thu thập, xử lí, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm
- Phương pháp này giúp HS phát triển các năng lực: Năng lực tự học, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực quản lí, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng CNTT, năng lực
sử dụng ngôn ngữ
Ví dụ cụ thể:
Bài 49” Bảo vệ sự đa dạng của thực vật”
GV: Phân nhóm HS tìm hiểu trước nội dung bài thông qua các câu hỏi sau:
- Việt Nam là nước có tính đa dạng cao về thực vật, tuy nhiên tình hình đa dạng thực vật ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Nêu nguyên nhân?
Trang 7- Sưu tầm hình ảnh về thực vật quý hiếm ở nước ta?
- Là HS em có thể làm gì để góp phần bảo vệ đa dạng thực vật ở Việt Nam?
HS: Nhóm trưởng sẽ phân chia công việc cho các thành viên về nhà sưu tầm và tìm hiểu qua sách báo và mạng Sau đó thảo luận để trao đổi đưa ra nội dung của nhóm Phân công 1 HS trình bày trước lớp
Trình bày của học sinh
- Qua bài này học sinh có ý thức, hành động cụ thể trong việc bảo vệ và phát triển thực vật
2.6 Tăng cường phương pháp dạy đặc thù bộ môn
Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học, vì vậy các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn, phương pháp này được xây dựng trên cơ sở lí luận dạy học bộ môn
a Dạy học dựa trên tìm tòi khám phá khoa học
Dạy học khám phá là phương pháp dạy học cung cấp cho HS cơ hội trải nghiệm các hiện tượng và quá trình khoa học Nó tạo điều kiện cho HS bộc lộ những quan niệm sai lầm, khuyến khích trao đổi, thảo luận với nhau để đề xuất các giả thuyết, thu thập thông tin, tìm kiếm bằng chứng xây dựng kế hoạch hành động để kiểm tra giả thuyết ban đầu, từ đó tìm ra kết luận mang tính khoa học Thông qua các hoạt động đó HS có thể tự điều chỉnh thay đổi các quan niệm trước đó của mình để tiếp nhận kiên thức mới Đồng thời HS cũng có cơ hội phát triển tư duy phê phán, rèn luyện năng lực tự giải quyết vấn đề và nhiều kĩ năng khác cần thiết cho cuộc sống sau này
Ví dụ cụ thể:
VD3: Bài 35“ Điều kiện cần cho hạt nảy mầm”
GV: Hướng dẫn HS làm thí nghiệm ở nhà và mang kết quả
lên lớp, 3 nhóm HS làm 3 TN
Nhóm 1: Học sinh trình bày TN1 1.Thí nghiệm về những điều
Trang 8Thí nghiệm 1:
Cốc 1: Bỏ 10 hạt đậu không bỏ gì thêm
Cốc 2: Bỏ 10 hạt đậu, đổ đầy nước
Cốc 3: Lót xuống dưới cốc 1 ít bông ẩm, bỏ 10 hạt đậu lên
Để 3 cốc trong 4 ngày
GV: Đặt câu hỏi
-Hạt đậu trong cốc nào đã nảy mầm?
HS: Cốc 3
-Vì sao chỉ có đậu ở cốc 3 nảy mầm?
HS1: Vì cốc 3 có bông
HS2: Vì cốc 3 có độ ẩm
HS3: Vì cốc 3 có không khí
GV: Cho HS xét lại điều kiện ở 3 cốc
HS: Cốc 1 có không khí, không có nước Cốc 2 có nhiều
nước, không có không khí Cốc 3 có độ ẩm và không khí
*Qua thí nghiệm HS tìm được điều kiện để hạt nảy mầm là
độ ẩm và không khí
GV: Đặt câu hỏi “ Tại sao người ta thường bảo quản đậu hạt
tươi trong tủ lạnh?”
HS: Để hạt không nảy mầm
-Điều kiện nào ảnh hưởng đến sự nảy mầm của hạt?
HS: Nhiệt độ
GV: Để kiểm chứng điều kiện nhiệt độ ảnh hưởng đến sự
nảy mầm của hạt hãy tìm hiểu TN2
Nhóm 2: Học sinh trình bày TN2
Thí nghiệm 2: Lấy 1 cái cốc, Lót xuống dưới cốc 1 ít bông
ẩm, bỏ 10 hạt đậu lên, rồi bỏ vào thùng đá
Sau 4 ngày ta thấy đậu trong cốc không nảy mầm
kiện cần cho hạt nảy mầm
a Thí nghiệm 1:
Kết luận: Hạt phải có đủ độ
ẩm, không khí để nảy mầm
b Thí nghiệm 2
Kết luận: Hạt cần nhiệt độ
Trang 9GV: Qua TN2 cho ta biết hạt cần điều kiện gì để nảy mầm?
HS: Nhiệt độ
GV: Tại sao người nông dân thường chọn những hạt to,
chắc mẩy giữ lại để làm giống gieo trồng cho vụ sau?
HS: Để hạt nảy mầm tốt
GV: Vậy điều kiện nào cần cho hạt nảy mầm?
HS: Chất lượng hạt giống
GV: Để kiểm chứng điều đó tiếp tục tìm hiểu TN3
Nhóm 3: Học sinh trình bày TN3
Thí nghiệm 3: Lấy 1 cái cốc, Lót xuống dưới cốc 1 ít bông
ẩm, bỏ 10 hạt đậu mốc, sứt mẻ, thối lên
Sau 4 ngày đậu trong cốc không nảy mầm
Qua TN3 HS kết luận được hạt có chất lượng tốt mới nảy
mầm
GV: Từ 3 TN trên cho ta biết hạt cần những điều kiện gì để
nảy mầm?
HS: Từ 3 thí nghiệm HS kết luận hạt cần độ ẩm, không khí,
nhiệt độ thích hợp và phải có chất lượng tốt để nảy mầm
GV: Trong trồng trọt muốn hạt nảy mầm tốt cần làm những
gì?
HS: Vì vậy trong trồng trọt muốn hạt nảy mầm tốt cần vận
dụng như sau: Trước khi gieo hạt cần làm đất tơi xốp đủ
không khí, phải chăm sóc hạt mới gieo: Chống úng, chống
hạn, chống rét, phải gieo hạt đúng thời vụ
GV: Ánh sáng có cần thiết cho sự nảy mầm của hạt không?
Để kiểm chứng điều đó có thể thiết kế thí nghiệm như thế
nào? Báo cáo lại kết quả sau 1 tuần
thích hợp để nảy mầm
c.Thí nghiệm 3:
Kết luận: Hạt có chất lượng tốt
mới nảy mầm
Điều kiện cần cho hạt nảy mầm:
-Điều kiện bên trong: Chất lượng hạt giống
- Điều kiện bên ngoài: Độ ẩm, không khí, nhiệt độ thích hợp
b Dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột ( Lamap)
-Theo Lamap dưới sự giúp đỡ của giáo viên, HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra từ
đó hình thành kiến thức cho mình
-Tiến trình dạy học Lamap được xây dựng dựa trên sự kết hợp của:
+ Dạy học giải quyết vấn đề
Trang 10+ Dạy học định hướng hành động
+ Thuyết kiến tạo
-Tiến trình tổ chức dạy học theo Lamap:
+ Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
+ Bước 2: Hình thành câu hỏi của học sinh
+ Bước 3: Xây dựng giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm
+ Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu
+ Bước 5: Kết luận, hệ thống hóa kiến thức
Ví dụ cụ thể: Bài 24 “ Phần lớn nước vào cây đi đâu?”
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
Bước 1: Tình huống xuất phát
Chúng ta đã biết cây cần dùng nước để quang hợp và
sử dụng cho một số hoạt động sống khác nên hang
ngày rễ phải hút rất nhiều nước Nhưng theo nghiên
cứu cây chỉ giữ lại 1 phần rất nhỏ Còn phần lớn nước
được rễ hút vào cây đã đi đâu?
Học sinh lắng nghe tình huống và
dự đoán
Bước 2: Hình thành câu hỏi của học sinh
-Giáo viên hỏi về dự đoán của một số học sinh
-Nước được thoát ra ngoài qua cơ quan nào của cây
-GV: Ở lá có bộ phận nào giúp trao đổi khí và thoát
hơi nước?
-Đa số học sinh cho rằng nước được thoát ra ngoài
- Một số ý kiến cho là nước thoát ra ngoài qua thân cây
- Một số khác cho rằng nước thoát qua lá
- Lỗ khí
Bước 3: Xây dựng giả thuyết và phương án thực
nghiệm
-Đa số HS đều dự đoán “ Nước đã thoát hơi qua lỗ
khí ở lá”
-Khi nào nước thoát hơi nhiều?
-Hãy thết kế thí nghiệm chứng minh dự đoán trên
-Nắng gắt làm lỗ khí mở to nước thoát hơi nhiều
Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên
cứu
-Chuẩn bị Cho mỗi nhóm HS các dụng cụ và mẫu vật
sau: 2 cây trồng trong 2 chậu, 2 bọc ni lông, dây cột
- Hãy thiết kế thí nghiệm để chứng minh dự đoán “
Phần lớn nước được thoát hơi qua lỗ khí ở lá”
-Học sinh trao đổi theo nhóm để thiết kế thí nghiệm