SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 7 I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Chương trình sinh học 7 sẽ mang đến cho các em chìa khóa để mở cánh cửa bước vào thế giới động vật, các em được tìm hiểu khám phá thế giới động vật đa dạng, phong phú đó, từ đơn giản đến phức tạp, từ các động vật có kích thước hiển vi đến những động vật khổng lồ nó chứa đựng biết bao điều lý thú mà các em chưa từng biết tới. Trước đây Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã khẳng định: “Sự phát triển của đất nước, dân tộc ta trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và hành động đúng đắn của các thế hệ học sinh, sinh viên”. Do đó hiện nay nền giáo dục Việt Nam không ngừng cải tiến, đổi mới phù hợp với thế giới và các quốc gia trong khu vực. Mặt khác, nền giáo dục nước ta còn có những bất cập về chất lượng giáo dục, nhiều giáo viên sử dụng phương pháp dạy học lạc hậu đã gây thụ động, chưa hứng thú, tự giác học tập, gây nên tình trạng chán học, bỏ học của một số học sinh có học lực yếu kém nên hiệu quả và chất lượng dạy học chưa cao. Cùng với nhiều nguyên nhân, tình trạng này trở nên khá bất cập, khó khắc phục. Nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong tình hình hiện nay, tôi đã suy nghĩ cần phải có những phương pháp dạy học tối ưu để giúp học sinh tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, đồng thời giúp học sinh có thể vận dụng các kiến thức đã học vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn. Nên tôi đã xây dựng đề tài “ Một số phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học sinh học 7 ”. II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: 1. Cơ sở lí luận Nghị quyết số 29NQTW ngày 04112013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng phát triển năng lực”. Việc phát huy tính tích cực của học sinh thì thầy cô giáo đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học còn học sinh sẽ chủ động trong các hoạt động học tập, tự lực khám phá những điều chưa biết đồng thời bộc lộ tiềm năng sáng tạo trong việc lĩnh hội kiến thức.. Vì thế bản chất của phương pháp này chính là sự tích cực hóa hoạt động của người học. 2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài: Như vừa trình bày ở trên, do nhu cầu của xã hội đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạo ra những con người phát triển toàn diện về mọi mặt nên các môn học ngày càng nhiều, số lượng kiến thức các em phải tiếp thu ngày càng tăng. Học sinh không nhận thức được mục đích của việc học môn sinh học vì thế nhiệm vụ của người giáo viên là phải làm sao kích thích được óc tò mò, làm sao cho học sinh thấy được tầm quan trọng của môn sinh học nên giáo viên cần có sự chuẩn bị chu đáo từ khâu soạn giảng, phải biết kết hợp nhiều phương pháp phù hợp đặc trưng bộ môn nhằm phát huy tính tích cực, trí lực của học sinh, khơi dậy niềm đam mê yêu thích môn học. Đặc biệt là áp dụng các phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, giúp các em chủ động tìm và nắm kiến thức sâu hơn.
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA
HỌC SINH TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 7
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chương trình sinh học 7 sẽ mang đến cho các em chìa khóa để mở cánh cửa bước vào thế giới động vật, các em được tìm hiểu khám phá thế giới động vật đa dạng, phong phú đó, từ đơn giản đến phức tạp, từ các động vật có kích thước hiển
vi đến những động vật khổng lồ nó chứa đựng biết bao điều lý thú mà các em chưa từng biết tới
Trước đây Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã khẳng định: “Sự phát triển của đất nước, dân tộc ta trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và hành động đúng đắn của các thế hệ học sinh, sinh viên” Do đó hiện nay nền giáo dục Việt Nam không ngừng cải tiến, đổi mới phù hợp với thế giới và các quốc gia trong khu vực
Mặt khác, nền giáo dục nước ta còn có những bất cập về chất lượng giáo dục, nhiều giáo viên sử dụng phương pháp dạy học lạc hậu đã gây thụ động, chưa hứng thú, tự giác học tập, gây nên tình trạng chán học, bỏ học của một số học sinh có học lực yếu kém nên hiệu quả và chất lượng dạy học chưa cao Cùng với nhiều nguyên nhân, tình trạng này trở nên khá bất cập, khó khắc phục Nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong tình hình hiện nay, tôi đã suy nghĩ cần phải có những phương pháp dạy học tối ưu để giúp học sinh tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, đồng thời giúp học sinh có thể vận dụng các kiến thức đã học vào việc giải
quyết các vấn đề thực tiễn Nên tôi đã xây dựng đề tài “ Một số phương pháp phát
huy tính tích cực của học sinh trong dạy học sinh học 7 ”
II TỔ CHỨC TH Ự C HI Ệ N ĐỀ TÀI:
1 Cơ sở lí luận
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ
Trang 2“ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng phát triển năng lực”
Việc phát huy tính tích cực của học sinh thì thầy cô giáo đóng vai trò là người
tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học còn học sinh sẽ chủ động trong các hoạt động học tập, tự lực khám phá những điều chưa biết đồng thời bộc lộ tiềm năng sáng tạo trong việc lĩnh hội kiến thức Vì thế bản chất của phương pháp này chính
là sự tích cực hóa hoạt động của người học
2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:
Như vừa trình bày ở trên, do nhu cầu của xã hội đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạo ra những con người phát triển toàn diện về mọi mặt nên các môn học ngày càng nhiều, số lượng kiến thức các em phải tiếp thu ngày càng tăng
Học sinh không nhận thức được mục đích của việc học môn sinh học vì thế nhiệm vụ của người giáo viên là phải làm sao kích thích được óc tò mò, làm sao
cho học sinh thấy được tầm quan trọng của môn sinh học nên giáo viên cần có sự
chuẩn bị chu đáo từ khâu soạn giảng, phải biết kết hợp nhiều phương pháp phù hợp đặc trưng bộ môn nhằm phát huy tính tích cực, trí lực của học sinh, khơi dậy niềm đam mê yêu thích môn học Đặc biệt là áp dụng các phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, giúp các em chủ động tìm và nắm kiến thức sâu hơn
Do đó trong quá trình giảng dạy tôi đã đưa ra được một số phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học sinh học 7
+ Phát huy tính tích cực của học sinh bằng cách sử dụng mẫu vật thật
+ Phát huy tính tích cực của học sinh bằng cách tích hợp, lồng ghép
+ Phát huy tính tích cực của học sinh bằng cách làm việc theo nhóm.
+ Phát huy tính tích cực của học sinh bằng cách sử dụng trò chơi vào phần củng
cố
2.2.1 Phát huy tính tích cực của học sinh bằng cách sử dụng mẫu vật thật.
Trang 3Thông thường nhất trong dạy học hiện nay việc sử dụng tranh ảnh, mô hình và phim không chỉ minh họa kiến thức mà là nơi chứa đựng nguồn thông tin học sinh
phải khai thác để lĩnh hội kiến thức mới cho bản thân, nhưng mô hình không cho
phép đi sâu vào cấu tạo chi tiết Vì vậy giáo viên phải tận dụng triệt để mẫu vật thật vào bài giảng, đặc biệt là những bài có tìm hiểu hình thái cấu tạo ngoài, cấu tạo trong của động vật Việc sử dụng phương pháp này sẽ kích thích khả năng khám phá của học sinh về thế giới động vật xung quanh mình, biết vận dụng ngay kiến thức vào đời sống thực tiễn, bước đầu tạo hứng thú học tập cho học sinh với môn sinh học
Tuy nhiên để việc sử dụng mẫu vật thật đạt hiệu quả trong giờ dạy sinh học 7, thì giáo viên cần lưu ý:
Đối với những bài dễ kiếm mẫu vật thật thì giáo viên cần phải:
- Chuẩn bị mẫu vật cho tốt, phải nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm, cấu tạo, hình thái của sinh vật thật kết hợp hình sách giáo khoa cần dạy trước khi lên lớp
- Dạy những bài này giáo viên nên quan sát và cho thảo luận nhóm nhỏ Phân công các nhóm chuẩn bị trước mẫu vật, số lượng bao nhiêu, tránh việc mang mẫu vật quá ít hay quá nhiều gây lãng phí
- Giáo viên lên kế hoạch tổ chức thiết kế các hoạt động cụ thể cho học sinh:
+ Lập kế hoạch giúp các em xác định tên hoặc trình bày được đặc điểm mẫu vật, giáo viên nên kết hợp treo tranh, hình sách giáo khoa cho học sinh quan sát
+ Sau khi yêu cầu học sinh quan sát mẫu vật kết hợp hình vẽ, giáo viên đặt câu hỏi học sinh thảo luận nhóm
+ Giáo viên gọi một học sinh đại diện nhóm lên bảng trình bày trên mẫu vật, học sinh khác nhận xét, bổ sung, rút ra kết luận
- Luôn yêu cầu học sinh soạn bài và xem trước bài mới
Ví dụ 1: Bài 35: Ếch đồng
- Khi tìm hiểu về đặc điểm hình dạng và cấu tạo ngoài của ếch đồng: Giáo viên và học sinh cần chuẩn bị mẫu vật ếch đồng (1 con ếch đồng/ nhóm) để quan sát
- Giáo viên nên kết hợp treo tranh hình 35.1/SGK cho học sinh quan sát
Trang 4Hình cấu tạo ngoài của ếch đồng
- HS: Thảo luận tìm hình dạng và cấu tạo ngoài của ếch đồng
Qua mẫu vật học sinh xác định được hình dạng, cấu tạo ngoài của ếch đồng Từ đó giúp các em tự hoàn thành bảng phiếu học tập sau để rút ra được các đặc điểm thích nghi với đời sống của ếch
Đặc điểm hình dạng và cấu tạo ngoài Thích nghi với đời sống
ở nước ở cạn Đầu dẹp, nhọn, khớp với thân thành một khối thuôn
Mắt và lỗ mũi nằm ở vị trí cao trên đầu (mũi ếch
thông với khoang miệng và phổi vừa để ngửi vừa để
thở)
x
Mắt có mi giữ nước mắt do tuyến lệ tiết ra, tai có
Các chi sau có màng bơi căng giữa các ngón ( giống
Ví dụ 2: Bài 32: Thực hành Mổ cá
Khi tìm hiểu về cấu tạo trong của cá chép:
- Giáo viên và học sinh cần chuẩn bị mẫu vật cá chép (1 con/ nhóm ) để quan sát
- Qua mẫu vật thật mổ sẵn kết hợp treo tranh hình 32.3/SGK, học sinh xác định được vị trí của: Các lá mang nằm dưới xương nắp mang, tim nằm gần mang ngang với vây ngực, gỡ dần ruột, tách mỡ dính vào ruột để thấy rõ dạ dày, gan, túi mật,
Trang 5thận màu đỏ nằm ở sát sống lưng hai bên cột sống, tinh hoàn có màu hống nhạt hoặc buồng trứng màu vàng, bóng hơi
Hình mẫu mổ: Cấu taọ trong của cá chép
- Từ đó giúp các em tự rút ra được nhận xét và nêu được vai trò của các cơ quan
Tên cơ quan Nhận xét và nêu vai trò
Tim Co bóp đẩy máu vào động mạch giúp cho
sự tuần hoàn máu
Thực quản, dạ dày, ruột, gan Tiêu hoá thức ăn
Bóng hơi Giúp cá dễ dàng chìm nổi trong nước
Thận Lọc từ máu các chất không cần thiết để thải
ra ngoài
Tuyến sinh dục, ống sinh dục Sinh sản
Như vậy, ta thấy mẫu vật thật có tầm quan trong giúp học sinh chủ động hơn trong hoạt động học tập, có trách nhiệm với việc tìm ra kiến thức mới, kích thích các
em khám phá vấn đề cần giải quyết
Tuy nhiên một điều mà giáo viên cần phải lưu ý là không nên lạm dụng mẫu vật thật vì nếu sử dụng mẫu vật không đúng chỗ, không phù hợp với nội dung bài học
và kiến thức trọng tâm thì hiệu quả sẽ ngược lại
2.2.2 Phát huy tính tích cực của học sinh bằng cách tích hợp, lồng ghép.
Kiến thức sinh học lớp 7 chứa đựng một nguồn thông tin khổng lồ chứa lượng nội dung tích hợp, lồng ghép với nhiều môn và nhiều nội dung giáo dục Vì vậy nếu người giáo viên biết các mối liên hệ này và lồng ghép vào bài dạy thì bài dạy của
Trang 6mình sẽ phong phú hơn, đa dạng hơn, kích thích học sinh tích cực, sáng tạo trong học tập và có lòng đam mê môn học Qua đó các em cảm thấy hứng thú với môn sinh học
Tuy nhiên, không phải phần nào, bài nào giáo viên cũng có thể liên hệ với các môn học khác, nếu giáo viên liên hệ với nhiều môn học quá thì sẽ mất thời gian và không làm rõ trọng tâm bài Vì vậy người giáo viên phải biết lựa chọn, chắt lọc ra những nội dung thật sự phù hợp với nội dung bài học
Để cho việc liên môn có thể đạt hiệu quả tối đa thì người giáo viên cần chuẩn bị kĩ qua các bước sau:
Bước 1: Đặt vấn đề
Bước 2: Học sinh xác định được kiến thức liên môn.
Bước 3: Học sinh giải đáp được vấn đề đặt ra.
Ví dụ 1: Bài 40: Đa dạng và đặc điểm chung của lớp bò sát
Bước 1: Giáo viên đặt vấn đề.
- Điều gì đã xảy ra cho loài khủng long (hoặc tại sao chúng biến mất trên trái đất?)
- Là học sinh chúng ta cần làm gì để bảo vệ các loài bò sát?
Bước 2: Học sinh xác định được kiến thức liên môn.
Dựa vào thông tin SGK giáo viên đặt câu hỏi
? Do sự thay đổi khí hậu trên trái đất, thiên tai núi lửa phun nham thạch và sự va chạm giữa thiên thạch vào trái đất, dẫn đến điều kiện khí hậu thay đổi đột ngột như thế nào
Học sinh dựa vào kiến thức môn địa lí đã học để xác định được:
Sự va chạm giữa thiên thạch vào trái đất sẽ gây ra động đất và sóng thần gây ra biến đổi khí hậu kéo theo như sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa
và ánh sáng
? Em hãy nhận xét hiện nay số lượng các loài bò sát như thế nào
Học sinh dựa vào kiến thức môn giáo dục công dân đã học để xác định được:
Việc thiếu ý thức đạo đức của một số cá nhân đã vì lợi nhuận của bản thân mà khai thác và săn bắt một cách bừa bãi cũng như hành động phá hoại môi trường sống làm cho số lượng bò sát ngày một suy giảm
Bước 3: Học sinh giải đáp được vấn đề đặt ra.
Trang 7? Điều gì đã xảy ra cho loài khủng long (hoặc tại sao chúng biến mất trên trái đất?) Hs: Sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ từ nóng chuyển sang lạnh, độ ẩm, lượng mưa
bị thay đổi và ánh sáng bị che phủ bởi lớp khói bụi do thiên tai núi lửa làm thực vật không quang hợp được gây chết các loài khủng long không có thức ăn, nơi trú ẩn Bên cạnh đó cách đâykhoảng 65 triệu năm sự xuất hiện của chim và thú, các loài thú gặm nhấm đã ăn cắp trứng của khủng long dẫn đến khủng long bị tuyệt chủng
? Là học sinh chúng ta cần làm gì để bảo vệ các loài bò sát
- Để bảo vệ các loài bò sát hiện nay thì chúng ta cần phải tuyên truyền cho mọi người nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, không săn bắt bừa bãi đặc biệt là trong mùa sinh sản đồng thời phải gây nuôi, không phá nơi ở của chúng bảo vệ những loài bò sát có ích Có ý thức phòng tránh những loài rắn độc
Ví dụ 2: Bài 57: Đa dạng sinh học
Bước 1: Giáo viên đặt vấn đề
- Tại sao đặc điểm cấu tạo và tập tính của động vật ở đới lạnh và hoang mạc đới nóng lại khác nhau?
- Là học sinh chúng ta cần làm gì để bảo vệ độ đa dạng sinh học?
Bước 2: Học sinh xác định được kiến thức liên môn.
Dựa vào thông tin SGK giáo viên đặt câu hỏi
? Khí hậu ở khu vực đới lạnh và hoang mạc đới nóng như thế nào
Học sinh dựa vào kiến thức môn địa lí đã học để xác định được:
- Khí hậu ở khu vực đới lạnh và hoang mạc đới nóng rất khắc nghiệt
? Nhiệt độ và độ ẩm, lượng mưa, thực vật có ảnh hưởng như thế nào tới động vật
? Để tăng số lượng các loài động vật thì chúng ta cần phải làm gì
Học sinh liên hệ với sự BĐKH và phòng, chống thiên tai để xác định được:
- Nhiệt độ và độ ẩm, lượng mưa, thực vật thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến số lượng và sự đa dạng các loài động vật
- Để tăng số lượng các loài động vật thì chúng ta cần bảo vệ và nhân giống, bảo vệ môi trường sống
Bước 3: Xác định được lời giải đáp cho câu hỏi.
? Tại sao đặc điểm cấu tạo và tập tính của động vật ở đới lạnh và hoang mạc đới nóng lại khác nhau
Trang 8Hs: Khí hậu ở 2 khu vực này rất khắc nghiệt nên làm cho độ đa dạng về số lượng loài ít hơn so với khu vực nhiệt đới
? Là học sinh chúng ta cần làm gì để bảo vệ độ đa dạng sinh học
Hs: Để bảo vệ độ đa dạng sinh học thì cần phải tuyên truyền cho mọi người nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, không gây ô nhiễm môi trường, không săn bắt, không phá nơi ở của động vật có ích Đa dạng sinh học đảm bảo sự cân bằng của các hệ sinh thái giảm tác động của BĐKH
Trong một bài dạy, người giáo viên biết làm nảy sinh vấn đề, liên hệ với các môn học khác kết hợp với tích hợp, lồng ghép thì sẽ lôi cuốn, thu hút các em chú
ý hơn vào bài dạy, kích thích được tính tò mò của học sinh và chính các em tự mình biết vận dụng kiến thức đã học qua môn học và các môn học khác thì các
em sẽ thích thú hơn rất nhiều
2.2.3 Phát huy tính tích cực của học sinh bằng cách làm việc theo nhóm.
- Rèn luyện cho HS làm việc theo nhóm cũng là một cách tiếp sức nhau suy nghĩ, hợp tác với nhau để giải quyết vấn đề
- Làm việc theo nhóm với những bạn có cùng lứa tuổi sẽ làm cho HS mạnh dạn nêu ý kiến của mình, tranh luận bảo vệ ý kiến của mình hay nhận xét ý kiến của bạn
- Từ trước đến nay phương pháp này được rất nhiều giáo viên sử dụng trong giảng dạy nhưng nó thật sự chưa đạt hiệu quả cao vì hầu hết còn mang tính chất hình thức, chưa phát huy được khả năng tự nghiên cứu của học sinh, quá trình thảo luận còn lộn xộn có một số HS tích cực, còn một số chỉ ngồi xem bạn làm, ngồi nghe bạn nói Vậy để thực hiện tốt phương pháp này, giáo viên cần làm tốt những việc sau:
Bước 1: Đặt vấn đề.
Bước 2: Phân chia lớp học thành từng nhóm, tạo điều kiện cho nhóm làm việc
thuận lợi cùng nhau để dự đoán vấn đề nêu ra
Bước 3: Mỗi nhóm cử nhóm trưởng, thư kí điều hành và ghi chép quá trình thực
hiện nhóm, tạo điều kiện cho mỗi thành viên phát biểu ý kiến và suy nghĩ của mình
Trang 9một cách tự do và bình đẳngđể giải quyết vấn đề Giáo viên cần tạo bầu không khí thoải mái, cuốn hút trong thảo luận đồng thời hỗ trợ khi nhóm cần giúp đỡ.
Bước 4: Hết thời gian thảo luận các nhóm cử đại diện trình bày kết quả, và nhận
xét bài làm nhóm bạn để rút ra kết luận
Ví dụ 1: Bài 13: Giun đũa Bước 1: Đặt vấn đề.
- Nếu giun đũa thiếu lớp vỏ cuticun thì số phận chúng sẽ như thế nào?
- Ruột thẳng và kết thúc tại hậu môn ở giun đũa so với ruột phân nhánh ở giun dẹp (chưa có hậu môn) thì tốc độ tiêu hóa ở loài nào cao hơn?
- Nhờ đặc điểm nào mà giun đũa chui được vào ống mật và hậu quả sẽ như thế nào đối với con người?
Bước 2: Học sinh dự đoán câu trả lời cho vấn đề nêu ra.
- Giun đũa thiếu lớp vỏ cuticun thì chúng sẽ chết
- Ruột thẳng và kết thúc tại hậu môn ở giun đũa so với ruột phân nhánh ở giun dẹp( chưa có hậu môn ) thì tốc độ tiêu hóa ở giun đũa sẽ cao hơn
- Nhờ hai đầu thuôn nhọn mà giun đũa chui được vào ống mật gây tắc ống mật ở người
Bước 3: Từ dự đoán trên mỗi thành viên trong nhóm tự nêu lên ý kiến của mình để
thảo luận nhóm hoàn thành các câu hỏi trên Giáo viên theo dõi và hỗ trợ nếu nhóm nào cần giúp đỡ
Bước 4: Hết thời gian thảo luận các nhóm cử đại diện trình bày kết quả và nhận
xét bài làm nhóm bạn để rút ra kết luận
GV phân tích thêm thông tin:
- Nếu giun đũa thiếu lớp vỏ cuticun thì chúng sẽ bị các dịch tiêu hóa trong ruột non phân hủy giống như các loại thức ăn khác
- Nhờ đặc điểm ruột thẳng và kết thúc tại hậu môn nên thức ăn được đi theo một chiều giúp tốc độ tiêu hóa ở giun đũa cao hơn giun dẹp
- Nhờ cấu tạo ngoài của cơ thể tròn có hai đầu thuôn nhọn mà giun đũa chui được vào ống mật gây tắc ống mật ở người
Ví dụ 2: Bài 21: Đặc điểm chung và vai trò của ngành thân mềm.
Bước 1: Đặt vấn đề thảo luận.
Trang 10Hoàn thành bảng 1/SGK/T72 Từ đó hãy cho biết vì sao lại xếp mực bơi nhanh cùng ngành với ốc sên bò chậm chạp?
Bước 2: Học sinh dự đoán câu trả lời cho vấn đề nêu ra
Ốc sên và mực phải có những đặc điểm chung giống nhau như: đều có vỏ đá vôi,thân mềm, hệ tiêu hóa phân hóa,…
Bước 3: Từ dự đoán trên, mỗi thành viên trong nhóm tự nêu lên ý kiến của mình
để thảo luận nhóm hoàn thành bảng 1/SGK/T72 và trả lời câu hỏi trên Giáo viên theo dõi và hỗ trợ nếu nhóm nào cần giúp đỡ
Bước 4: Hết thời gian thảo luận các nhóm cử đại diện trình bày kết quả và nhận
xét bài làm nhóm bạn để rút ra kết luận
STT
Đặc điêm
đại diện
Kích thước Nơi sống Lối sống Kiểu vỏđá vôi
Đặc điểm cơ thể Khoa
ng áo phát triển
Thân mềm Khôngp đốt Phân đốt
1 Trai sông Vừa nước ngọt Vùi lấp 2 mảnh vỏ x x x
3 ốc sên nhỏ ở cạn Bò chậm
chạp
1 vỏ
4 ốc vặn nhỏ nước ngọt Vùi lấp 1 vỏ xoắn x x x
Dựa vào bảng 1, HS xác định các đặc điểm giống nhau giữa ốc sên và mực Những điểm giống nhau này là đặc điểm chung của ngành thân mềm nên chúng được xếp chung vào cùng một ngành
Lưu ý: Chỉ làm việc theo nhóm khi nội dung kiến thức phức tạp, khó khăn cần
sự hợp tác, ý kiến của nhiều thành viên, đặc biệt hỗ trợ trong việc tìm ra kiến thức mới Đây là phương pháp hữu hiệu để rèn luyện cho HS năng lực tự khẳng định mình