1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN MỘT VÀI ỨNG DỤNG CNTT ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC MÔN NGỮ VĂN 7

15 790 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 21,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Đất nước ta đang bước vào thời kì hội nhập, cùng với các ngành kinh tế và xã hội, ngành Giáo dục đang có những bước chuyển mình theo nhịp bước của thời đại. Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy học là hết sức cần thiết và quan trọng. Một trong những biện pháp tối ưu trong quá trình giảng dạy là phương pháp dạy học tích cực và dạy theo chuẩn kiến thức , kỹ năng. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả giáo dục ở bộ môn Ngữ văn trong nhà trường hiện nay, giáo viên phải dạy theo phương pháp đổi mới. Mục tiêu của giáo dục hiện nay là đào tạo con người toàn diện. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, ta thấy các môn thuộc lĩnh vực xã hội – đặc biệt là môn Ngữ văn, thường bị học sinh xem nhẹ. Mặc dù kiến thức của các bộ môn này rất quan trọng. Cho nên, muốn được sự đồng tình, quan tâm của mọi người đối với bộ môn Ngữ văn, chúng ta không chỉ tuyên truyền mà còn phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học văn, khơi lại hứng thú học tập văn của học sinh và hình thành cho các em phương pháp học hiệu quả nhất. Theo phương pháp dạy học tích cực, giáo viên không những cung cấp cho học sinh những kiến thức mà còn tổ chức và chỉ đạo các hoạt động để học sinh tự lực khám khá, tìm tòi kiến thức tạo cho mình sự hứng thú, say mê học tốt. Để việc dạy – học đạt kết quả tốt, việc ứng dụng công nghệ thông tin ( CNTT) là hết sức cần thiết. Bởi vì nó tác động trực tiếp đến nhận thức của học sinh, tạo cho các em hưng phấn, thoải mái: chơi mà học, học mà chơi; giúp các em tiếp thu bài nhanh hơn, nhớ kỹ hơn, hiểu sâu sắc hơn những vấn đề giáo dục mà bài học yêu cầu. Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tôi thấy đây là vấn đề bức thiết quan trọng. Cho nên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một vài ứng dụng CNTT để phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học môn ngữ văn 7” để vận dụng vào giảng dạy và phát huy hiệu quả giáo dục. II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận: Đại văn hào Nga M.Gorki từng nói:Văn học là nhân học. Thế mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ đã giảm sút lòng yêu thích học văn. Thực trạng này lâu nay đã được báo động. Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than thở với nhau của những giáo viên dạy văn và nay đã trở thành vấn đề của báo chí và dư luận. Một số học sinh yếu đến lớp chủ yếu ngồi nghe giảng, ghi chép kiến thức mà giáo viên truyền đạt một cách thụ động; các em không tự giác học bài, soạn bài trước khi đến lớp như yêu cầu của giáo viên bộ môn. Do đặc thù bộ môn văn, chủ yếu sử dụng ngôn ngữ và đồ dùng dạy học trực quan ít , cho nên ảnh hưởng đến chất lượng dạy học. Mặt khác, tôi luôn tâm niệm: “ Mỗi thầy cô giáo là tấm gương tự học và sáng tạo”. Nhiệm vụ của người giáo viên dạy văn, nhất là phần văn bản phải giúp học sinh thấy được cái hay, cái đẹp về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Qua đó, các em cảm nhận được thông điệp nhà văn muốn nhắn gửi. Bên cạnh đó, thông qua việc học văn , giáo viên rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự khám phá, cảm thụ một tác phẩm văn học, giúp các em có khả năng giao tiếp đạt hiệu quả. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh khẳng định: Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là tình cảm, là lòng vị tha. Văn chương là tấm gương phản ánh cuộc sống muôn hình vạn trạng. Hơn thế, văn chương còn góp phần sáng tạo ra sự sống, gây dựng cho con người những tình cảm không có và luyện những tình cảm sẵn có. Đời sống tinh thần của nhân loại nếu thiếu văn chương thì sẽ rất nghèo nàn, tẻ nhạt. ( Hoài Thanh, những lời bình về ý nghĩa văn chương). Văn chương bắt nguồn từ đời sống. Vì thế, văn học rất gần gũi với mọi người. Những kiệt tác không chỉ lay động bao trái tim người đọc, giúp chúng ta khám phá bao nhiêu điều bổ ích, kì diệu của cuộc sống mà còn làm cho tinh thần chúng ta thoải mái sau những giờ học căng thẳng, mệt mỏi. Muốn tiết học đạt hiệu quả cao, giáo viên cần có sự kết hợp nhiều phương pháp tích cực một cách thích hợp nhằm tạo sự hứng thú cho học sinh. Căn cứ vào mục tiêu và những kỹ năng cần của bài học, giáo viên sẽ lựa chọn một số phương pháp dạy – học cho học sinh áp dụng: đọc diễn cảm, đàm thoại vấn đáp, dụng cụ trực quan ( tranh , ảnh), diễn giảng, thuyết trình dưới các hình thức hoạt động cá thể hoặc hoạt động nhóm . Dù lựa chọn phương pháp nào chăng nữa thì sự hỗ trợ của CNTT trong giảng – dạy, giáo viên sẽ khắc sâu kiến thức, giúp các em nhớ bài sâu hơn, yêu thích học môn văn hơn. Dần dần, kết quả học tập của các em sẽ ngày một nâng cao hơn. 2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài: 2.1. Đối với giáo viên: Để giảng dạy tốt môn Ngữ văn 7 trong nhà trường, ngành Giáo dục đang từng bước cải tiến về phương pháp giáo dục, giáo viên đã biết vận dụng một cách linh hoạt, khéo léo giữa các phương pháp dạy học. Những năm gần đây, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học đã phát huy được tính ưu việt, nổi trội so với những phương tiện khác. Công nghệ thông tin góp phần nâng cao tiềm lực của giáo viên bằng việc cung cấp những phương tiện dạy học hiện đại: khai thác thông tin, bổ sung và tự làm giàu vốn tri thức của người dạy. Cho nên, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Ngữ Văn ngày càng được nhiều giáo viên áp dụng. 2.1.1. Chuẩn bị giáo án có ứng dụng CNTT Phông chữ: cần có sự thống nhất ( kiểu, cỡ ), không nên đưa quá nhiều ( hoặc quá ít ) chữ trong một slide ; số lượng dòng trong các slide nên tương đối đồng đều, hợp lí, khoa học. Tránh sử dụng các đoạn văn nguyên vẹn, nên tóm gọn các ý chính yếu nhất và trình bày dưới dạng gạch đầu dòng. Màu sắc: Sử dụng màu chữ sao cho tương phản với màu nền ( chữ sáng trên nền tối hoặc chữ đậm trên nền nhạt). Không sử dụng nền, hình ảnh có nhiều hoa văn phản cảm. Đồ họa và âm thanh: Giới hạn từ 1 đến 3 ảnh trên một slide. Tránh sử dụng các hoạt ảnh nhấp nháy và có tiếng động và chỉ sử dụng âm thanh khi cần thiết để minh họa cho nội dung. Hiệu ứng: Chọn một loại hiệu ứng chuyển tiếp slide để giúp người xem tập trung; không nên lạm dụng hiệu ứng vì nó làm cho học sinh không chú ý vào bài học và nhanh mệt mỏi. Lưu ý: Khi thực hiện các slide trình chiếu, giáo viên cần tránh những trường hợp sau: Khổ chữ quá nhỏ, nhiều kiểu chữ, kiểu chữ cầu kỳ, dùng nhiều chữ in hoa... Khoảng cách giữa các dòng, giữa chữ và hình phải phù hợp, quá nhiều thông tin trên một slide. Quá nhiều màu sắc, thiếu sự tương phản giữa màu nền và màu chữ . Lạm dụng các hiệu ứng và âm thanh . 2.1.2. Sử dụng CNTT trong giảng dạy. a. Dùng hình ảnh trực quan: Với các văn bản: Những tranh minh họa trong sách giáo khoa hoặc giáo viên sưu tầm để phục vụ cho giờ học một cách hợp lý sẽ giúp các em khắc sâu kiến thức hơn và qua đó phát huy được tính tích cực , tư duy sáng tạo của học sinh. Giáo viên có thể sử dụng trong nhiều tiết học và trong nhiều phần của bài học; có thể sử dụng ở phần giới thiệu bài, phần giới thiệu chung về tác giả – tác phẩm, phần phân tích nội dung trọng tâm văn bản hoặc liên hệ mở rộng . Cụ thể: Ví dụ 1: khi dạy văn bản “ Cảnh khuya”, “Rằm tháng giêng” Ngữ văn 7 tập 1, giáo viên có thể đưa tranh minh họa về Bác để giới thiệu bài:

Trang 1

NĂM HỌC: 2014 - 2015

Trang 2

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Đất nước ta đang bước vào thời kì hội nhập, cùng với các ngành kinh tế và xã hội, ngành Giáo dục đang có những bước chuyển mình theo nhịp bước của thời đại Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy học là hết sức cần thiết và quan trọng Một trong những biện pháp tối ưu trong quá trình giảng dạy là phương pháp dạy học tích cực và dạy theo chuẩn kiến thức , kỹ năng Vì vậy, để nâng cao hiệu quả giáo dục ở bộ môn Ngữ văn trong nhà trường hiện nay, giáo viên phải dạy theo phương pháp đổi mới

Mục tiêu của giáo dục hiện nay là đào tạo con người toàn diện Tuy nhiên, thực tế hiện nay, ta thấy các môn thuộc lĩnh vực xã hội – đặc biệt là môn Ngữ văn, thường bị học sinh xem nhẹ Mặc dù kiến thức của các bộ môn này rất quan trọng Cho nên, muốn được sự đồng tình, quan tâm của mọi người đối với bộ môn Ngữ văn, chúng ta không chỉ tuyên truyền mà còn phải tích cực đổi mới phương pháp dạy - học văn, khơi lại hứng thú học tập văn của học sinh và hình thành cho các em phương pháp học hiệu quả nhất

Theo phương pháp dạy học tích cực, giáo viên không những cung cấp cho học sinh những kiến thức mà còn tổ chức và chỉ đạo các hoạt động để học sinh tự lực khám khá, tìm tòi kiến thức tạo cho mình sự hứng thú, say mê học tốt Để việc dạy – học đạt kết quả tốt, việc ứng dụng công nghệ thông tin ( CNTT) là hết sức cần thiết Bởi vì nó tác động trực tiếp đến nhận thức của học sinh, tạo cho các em hưng phấn, thoải mái: chơi mà học, học mà chơi ; giúp các em tiếp thu bài nhanh hơn, nhớ kỹ hơn, hiểu sâu sắc hơn những vấn đề giáo dục mà bài học yêu cầu Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tôi thấy đây là vấn đề bức thiết quan trọng Cho nên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một vài ứng dụng CNTT để phát huy tính tích cực của

học sinh trong giờ học môn ngữ văn 7” để vận dụng vào giảng dạy và phát huy hiệu quả giáo dục

II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lý luận:

Đại văn hào Nga M.Gorki từng nói:"Văn học là nhân học" Thế mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ đã giảm sút lòng yêu thích học văn Thực trạng này lâu nay đã được báo động Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than thở với nhau của những giáo viên dạy văn và nay đã trở thành vấn đề của báo chí và dư luận

“MỘT VÀI ỨNG DỤNG CNTT ĐỂ PHÁT

HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH

TRONG GIỜ HỌC MÔN NGỮ VĂN 7”

Trang 3

Một số học sinh yếu đến lớp chủ yếu ngồi nghe giảng, ghi chép kiến thức mà giáo viên truyền đạt một cách thụ động; các em không tự giác học bài, soạn bài trước khi đến lớp như yêu cầu của giáo viên bộ môn

Do đặc thù bộ môn văn, chủ yếu sử dụng ngôn ngữ và đồ dùng dạy học trực quan ít , cho nên ảnh hưởng đến chất lượng dạy - học

Mặt khác, tôi luôn tâm niệm: “ Mỗi thầy cô giáo là tấm gương tự học và sáng tạo” Nhiệm vụ của người giáo viên dạy văn, nhất là phần văn bản phải giúp học sinh thấy được cái hay, cái đẹp về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Qua

đó, các em cảm nhận được thông điệp nhà văn muốn nhắn gửi Bên cạnh đó, thông

qua việc học văn , giáo viên rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự khám phá, cảm thụ một tác phẩm văn học, giúp các em có khả năng giao tiếp đạt hiệu quả

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh khẳng định: Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là tình cảm, là lòng vị tha Văn chương là tấm gương phản ánh cuộc sống muôn hình vạn trạng Hơn thế, văn chương còn góp phần sáng tạo ra sự sống, gây dựng cho con người những tình cảm không có và luyện những tình cảm sẵn có Đời sống tinh thần của nhân loại nếu thiếu văn chương thì sẽ rất nghèo nàn, tẻ nhạt ( Hoài Thanh, những lời bình về ý nghĩa văn chương).

Văn chương bắt nguồn từ đời sống Vì thế, văn học rất gần gũi với mọi người Những kiệt tác không chỉ lay động bao trái tim người đọc, giúp chúng ta khám phá bao nhiêu điều bổ ích, kì diệu của cuộc sống mà còn làm cho tinh thần chúng ta thoải mái sau những giờ học căng thẳng, mệt mỏi Muốn tiết học đạt hiệu quả cao, giáo viên cần có sự kết hợp nhiều phương pháp tích cực một cách thích hợp nhằm tạo sự hứng thú cho học sinh Căn cứ vào mục tiêu và những kỹ năng cần của bài học, giáo viên sẽ lựa chọn một số phương pháp dạy – học cho học sinh áp dụng: đọc diễn cảm, đàm thoại - vấn đáp, dụng cụ trực quan ( tranh , ảnh), diễn giảng, thuyết trình dưới các hình thức hoạt động cá thể hoặc hoạt động nhóm Dù lựa chọn phương pháp nào chăng nữa thì sự hỗ trợ của CNTT trong giảng – dạy, giáo viên sẽ khắc sâu kiến thức, giúp các em nhớ bài sâu hơn, yêu thích học môn văn hơn Dần dần, kết quả học tập của các em sẽ ngày một nâng cao hơn

2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:

2.1 Đối với giáo viên:

- Để giảng dạy tốt môn Ngữ văn 7 trong nhà trường, ngành Giáo dục đang

từng bước cải tiến về phương pháp giáo dục, giáo viên đã biết vận dụng một cách linh hoạt, khéo léo giữa các phương pháp dạy học Những năm gần đây, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học đã phát huy được tính ưu việt, nổi trội so với những phương tiện khác

- Công nghệ thông tin góp phần nâng cao tiềm lực của giáo viên bằng việc cung cấp những phương tiện dạy - học hiện đại: khai thác thông tin, bổ sung và tự làm giàu vốn tri thức của người dạy Cho nên, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Ngữ Văn ngày càng được nhiều giáo viên áp dụng

2.1.1 Chuẩn bị giáo án có ứng dụng CNTT

- Phông chữ: cần có sự thống nhất ( kiểu, cỡ ), không nên đưa quá nhiều ( hoặc

quá ít ) chữ trong một slide ; số lượng dòng trong các slide nên tương đối đồng

Trang 4

đều, hợp lí, khoa học Tránh sử dụng các đoạn văn nguyên vẹn, nên tóm gọn các ý chính yếu nhất và trình bày dưới dạng gạch đầu dòng

- Màu sắc: Sử dụng màu chữ sao cho tương phản với màu nền ( chữ sáng trên nền

tối hoặc chữ đậm trên nền nhạt) Không sử dụng nền, hình ảnh có nhiều hoa văn phản cảm

- Đồ họa và âm thanh: Giới hạn từ 1 đến 3 ảnh trên một slide Tránh sử dụng các

hoạt ảnh nhấp nháy và có tiếng động và chỉ sử dụng âm thanh khi cần thiết để minh họa cho nội dung

- Hiệu ứng: Chọn một loại hiệu ứng chuyển tiếp slide để giúp người xem tập

trung; không nên lạm dụng hiệu ứng vì nó làm cho học sinh không chú ý vào bài học và nhanh mệt mỏi

* Lưu ý: Khi thực hiện các slide trình chiếu, giáo viên cần tránh những trường

hợp sau:

- Khổ chữ quá nhỏ, nhiều kiểu chữ, kiểu chữ cầu kỳ, dùng nhiều chữ in hoa

- Khoảng cách giữa các dòng, giữa chữ và hình phải phù hợp, quá nhiều thông tin trên một slide

- Quá nhiều màu sắc, thiếu sự tương phản giữa màu nền và màu chữ

- Lạm dụng các hiệu ứng và âm thanh

2.1.2 Sử dụng CNTT trong giảng dạy.

a Dùng hình ảnh trực quan:

* Với các văn bản:

- Những tranh minh họa trong sách giáo khoa hoặc giáo viên sưu tầm để phục vụ cho giờ học một cách hợp lý sẽ giúp các em khắc sâu kiến thức hơn và qua đó phát huy được tính tích cực , tư duy sáng tạo của học sinh

- Giáo viên có thể sử dụng trong nhiều tiết học và trong nhiều phần của bài học; có thể sử dụng ở phần giới thiệu bài, phần giới thiệu chung về tác giả – tác phẩm, phần phân tích nội dung trọng tâm văn bản hoặc liên hệ mở rộng

Cụ thể:

Ví dụ 1: khi dạy văn bản “ Cảnh khuya”, “Rằm tháng giêng” Ngữ văn 7

tập 1, giáo viên có thể đưa tranh minh họa về Bác để giới thiệu bài:

Trang 5

Chủ tịch Hồ Chí Minh vốn là một tâm hồn nghệ sĩ, dù Người từng viết:

Ngâm thơ ta vốn không ham

Hồi đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, ở chiến khu Việt Bắc, bận trăm công ngàn việc, nhưng có khi, giữa đôi phút nghỉ trong đêm khuya thanh vắng, nơi rừng sâu núi thẳm, tình cờ gặp một cảnh đẹp, vẳng nghe một tiếng hát, dõi theo một

mảnh trăng xa, Người lại làm thơ Hai bài thơ Cảnh khuya , Rằm tháng giêng

chúng ta sẽ tìm hiểu trong tiết học hôm nay chính là hai trường hợp hiếm hoi như thế

Ví dụ 2: Khi dạy văn bản “Tiếng gà trưa” Ngữ văn 7 tập 1.

GV cho học sinh xem chân dung Xuân Quỳnh và giới thiệu chân dung tác giả

Xuân Quỳnh (1942-29/8/1988) tên thật là

Nguyễn Thị Xuân Quỳnh

- Xuân quỳnh là nhà thơ nữ xuất sắc nhất của nền thơ ca hiện đại Việt Nam, nổi tiếng với những bài thơ 5 chữ, có một số bài thơ đã được phổ nhạc như : Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa đông, Sóng

- Thơ Xuân Quỳnh giản dị, tinh tế mà sâu sắc, thường viết về những tình cảm gần gũi , bình dị trong đời sống gia đình, biểu lộ những rung cảm chân thành, những khát vọng cao đẹp

Ví dụ 3: Văn bản“ Sống chết mặc bay” Sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập 2,

khi giảng về nhân vật quan phụ mẫu, giáo viên cho HS quan sát hình ảnh:

H: Qua bức tranh này, em hãy miêu tả tư thế của quan phụ mẫu ?

Trang 6

Tay trái dựa vào

g i xếp.

Chân ph

phải duỗi thẳng ra,

để cho tên người nhà

qu

qu ỳ ở dưới đất mà gãi.

Ngồi uy nghi chễm chện.

H: Qua tìm hiểu tính cách nhân vật quan phụ mẫu, em rút ra bài học gì cho bản thân trong cuộc sống?

( Phải biết quan tâm đến những người sống quanh chúng ta, phải có ý thức với công việc chung, nhất là tinh thần trách nhiệm.)

Ví dụ 4: Khi dạy bài “Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất”, Sách

giáo khoa Ngữ văn 7 tập 2, HS quan sát một số hình ảnh rồi tìm câu tục ngữ tương ứng Từ đó, giáo viên liên hệ về thời tiết hiện nay ( Có minh họa hình ảnh động)

Trang 7

Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa.

*Với phần Tiếng Việt :

- Ở phần Tiếng Việt, lý thuyết thường khô khan nên giáo viên cần đưa vào

bài học những hình ảnh trực quan giúp học sinh linh động hơn, giúp các em dễ hiểu

- Giáo viên có thể sử dụng trong nhiều tiết học và trong nhiều phần của bài học; có thể sử dụng ở phần nêu khái niệm, phần luyện tập

Cụ thể:

Ví dụ 1 : Với bài “Từ đồng âm” Sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập 1, khi tìm

hiểu khái niệm từ đồng âm, giáo viên có thể cho học sinh đọc ví dụ, tìm các từ được viết giống nhau

1 Con ngựa đang đứng bỗng lồng lên.

2 Mua được con chim bạn tôi nhốt ngay vào lồng.

- Giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh và giải thích nghĩa từ lồng

trong ví dụ trên

(lồng 1) (lồng 2)

Lồng (1): Hoạt động của con vật đang đứng im bỗng nhảy dựng lên

rất khó kìm giữ (động từ)

Lồng (2): Chỉ đồ vật làm bằng tre, kim loại dùng để nhốt vật nuôi

(danh từ)

H: Từ lồng trong hai câu trên có gì giống và khác nhau?

Ráng mỡ gà có nhà thì giữ.

Trang 8

Giống: phát âm giống nhau.

Khác: nghĩa khác nhau , không liên quan đến nhau

-> Giáo viên hướng dẫn học sinh rút ra kết luận về từ đồng âm

=> Sau khi dạy khái niệm từ đồng âm” Sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập 1, Gv có thể đưa ra câu đố để HS trả lời, từ đó tìm từ đồng âm

• Câu đố vui.

Cây xoè mặt nước cây lên chiến trường

Cây này bảo vệ quê hương Cây kia hoa nở ngát thơm mặt hồ

Cây gì ?

Đáp án:

- Cây súng( vũ khí)

- Cây súng ( hoa súng)

Ví dụ 2: Khi dạy bài “Thành ngữ”, Sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập 1,

học sinh quan sát một số hình ảnh rồi tìm thành ngữ tương ứng và giải thích

( có minh họa hình ảnh động)

Ăn cháo đá bát.

-> Sự bội bạc, phản bội, vong ơn.

Trang 9

Lá lành đùm lá rách

-> tạo phép đối, nhấn mạnh sự đùm bọc yêu thương giúp đỡ lẫn nhau

giữa con người với con người.

Ví dụ 3 : Khi dạy bài “Thành ngữ”, Sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập 1, ở

phần luyện tập, học sinh quan sát một số hình ảnh, kể vắn tắt các truyền thuyết và ngụ ngôn tương ứng để thấy rõ lai lịch của các thành ngữ: Con Rồng cháu Tiên, Ếch ngồi đấy giếng, Thầy bói xem voi

Ví dụ 5 : Khi dạy bài “Liệt kê”,

SGK Ngữ văn 7 tập 2, sau khi tìm hiểu thế nào là liệt

kê, GV có thể chiếu tranh minh họa, HS quan sát và trả lời:

H: Bức tranh minh họa cho câu chuyện gì? ( Cây bút thần)

H: HS quan sát tranh và đặt câu có sử dụng phép liệt kê?

c Với phần Tập làm văn

Gồm 2 phần: lý thuyết và thực hành Phần lý thuyết giờ Tập làm văn thường khô khan, trừu tượng, khó hiểu Do đó, giáo viên cần sử dụng CNTT, đưa vào một số tranh ảnh để học sinh dễ dàng cảm thụ Giáo viên có thể sử dụng trong nhiều tiết

Trang 10

học và trong nhiều phần của bài học; có thể sử dụng ở phần lý thuyết và thực hành

Ví dụ 1 : Khi học bài “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học”, Sách

giáo khoa Ngữ văn 7, tập 1 Khi tìm hiểu thế nào là phát biểu cảm nghĩ về tác

phẩm văn học, cụ thể: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya, giáo viên có thể

đưa ra hình ảnh

H: Tác giả phát biểu cảm nghĩ của mình về bài thơ bằng cách tưởng tượng, liên tưởng, hồi tưởng, suy ngẫm về các hình ảnh, chi tiết của nó Hãy chỉ ra các yếu tố đó trong bài văn?

Như một họa sĩ tài ba, chỉ vài nét bút đơn sơ, Bác đã vẽ ra trước mắt chúng

ta vẻ đẹp lạ kì của một đêm trăng rừng:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

H: Để phát biểu cảm nghĩ về bài thơ, chúng ta cần làm gì?

Phân tích nội dung, nghệ thuật của bài thơ để nói lên cảm xúc, suy nghĩ của mình về bài thơ đó

-> Giáo viên hướng dẫn học sinh rút ra kết luận về phát biểu cảm nghĩ về tác phẩn văn học

Ví dụ 2: Khi trả bài viết số 2 với đề bài “ Loài cây em yêu”, giáo viên có thể đưa

ra hình ảnh minh họa, từ đó học sinh dễ dàng quan sát và kiểm tra bài làm của mình

Trang 11

* Đặc điểm gây ấn tượng gợi cảm của cây cồng.

II/ Thân bài : (nhiều đoạn)

Rễ: cứng, to, ngoằn

ngoèo, bám lấy cả vùng đất,

Thân: to, tròn, chắc,

vững chãi,…

Tán: rộng, xanh um như

một chiếc ô che mát,…

Hoa: hồng xen

dịu dàng, thanh thoát,…

Ví dụ 3 : Khi dạy bài “lập luận giải thích”, giáo viên có thể đưa ra hình ảnh để

học sinh quan sát và giải thích câu tục ngữ “Nắng tháng tám rám trái bưởi”

Trong quá trình dạy:

GV cần kết hợp các hoạt động một cách nhuần nhuyễn giữa trình chiếu, ghi bảng với lời giảng và các tổ chức hoạt động khác của học sinh Người dạy cần tránh hiện tượng mãi bấm máy chiếu mà quên ghi bảng ; chiếu nội dung mà quên lời giảng, lời bình khi phân tích hoặc mải viết bảng hoặc mãi bấm máy trình chiếu; say sưa giảng, chiếu mà quên cho học sinh thảo luận; hay nội dung chiếu lên phông không trùng khớp với nội dung giáo viên đang giảng giải hoặc sử dụng hiệu ứng động không phù hợp làm học sinh không chú tâm vào nội dung bài học

b Lồng ghép những đoạn phim, clip, bài hát vào vào slide trong bài giảng.

Tháng

8

Ngày đăng: 11/11/2016, 21:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w