Tên SKKN: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN SINH HỌC 7 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong xã hội hiện đại cùng với những thành tựu hiện đại của khoa học kỹ thuật đạt được, đòi hỏi con người phải phát triển toàn diện, linh hoạt thích ứng và bắt kịp với sự phát triển của xã hội, điều này đã có sự tác động không nhỏ đến sự phát triển của nền giáo dục, đòi hỏi nền giáo dục phải đổi mới phương pháp dạy học để hướng đến sự phát triển toàn diện, đào tạo những thế hệ trẻ, người chủ tương lai của đất nước có đầy dủ sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực độc lập suy nghĩ, sáng tạo, tư duy, động não, phát huy năng lực và đặc biệt các em có đủ bản lĩnh tự tin vận dụng kiến thức học được để đi vào các lĩnh vực của cuộc sống. Trong những năm vừa qua Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm đến nển giáo dục cụ thể như Theo Nghị quyết TW 4 khóa II (11993) đã xây dựng phải “khuyến khích tự học”, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Nghị quyết TW 2 khóa VIII (121996) tiếp tục khẳng định “phải đổi mới phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học”, “tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.” Một số phương pháp dạy học theo hướng mới hiện nay đã và đang được áp dụng rộng rãi đó là: Phương pháp dạy học dự án, phương pháp dạy học khám phá, phương pháp bàn tay nặn bột, phương pháp dạy học giải quyết vấn đề. Phương pháp “ Bàn tay nặn bột ” là phương pháp dạy học tích cực có thể giảng dạy cho nhiều môn khoa học khác nhau và đặc biệt thuận lợi với các môn khoa học tự nhiên, mang tính chất thực nghiệm như: Vật lý, hóa học, sinh học ở bậc THCS, khi học sinh ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ về các kiến thức khoa học, hình thành khái niệm cơ bản về khoa học. Trong chương trình sinh học ở trường THCS trong đó bộ môn Sinh học 7 đi sâu tìm hiểu về thế giới động vật, bao gồm những kiến thức rất gần gũi, thực tế với học sinh. Với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, hình ảnh mẫu vật tìm thấy tại địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho các em học sinh dễ dàng quan sát, nghiên cứu. Các em không chỉ tự học qua sự dẫn dắc của giáo viên, các hình ảnh thông tin trong sách giáo khoa mà các em có khả năng tự tìm hiểu qua các nguồn thông tin khác như: Ti vi, báo đài, intenet… Phải được quan sát, được thực nghiệm để từ đó các em có ý thức, trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ động vật. Chính vì vậy việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào chương trình Sinh học 7 rất phù hợp để phát triển năng lực tự học của người học, đây chính là mục đích chính mà môn sinh học 7 hướng tới trong công cuộc đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục. Để đáp ứng nhu cầu đổi mới hiện nay của Bộ giáo dục và đào tạo tôi mạnh dạn đưa ra đề tài “ Sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột để phát triển năng lực tự học của học sinh trong dạy – học môn sinh học 7 ”. Đây là đề tài tôi mới thực hiện và áp dụng nên không tránh khỏi sự thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý đồng nghiệp để đề tài đạt hiệu quả cao nhất. II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận: 1.1. Phương pháp dạy học tích cực: 1.1.1. Phương pháp dạy học (PPDH): PPDH là con đường, cách thức hoạt động của thầy và trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học. (Theo giáo trình đại cương PPGD sinh học do Trần Bá Hoành chủ biên – Trịnh Nguyên Giao NSB ĐHSP). 1.1.2. Phương pháp dạy học tích cực: PPDH tích cực là phương pháp dạy học giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của người học, khác với PPDH truyền thống là cách dạy hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Một số dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực: + Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học: Cốt lõi và phương pháp tự học, phương pháp tự học là cầu nối trong học tập và nghiên cứu khoa học, rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn. + Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác (GDKNS). Thực chất của phương pháp dạy học tích cực là giáo dục người học được giáo dục trở thành người tự giáo dục, là nhân vật tự giác, chủ động có ý thức về giáo dục của bản thân mình. 1.2. Phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột”: 1.2.1: Khái niệm phương pháp “Bàn tay nặn bột”: Phương pháp “Bàn tay nặm bột” tiếng pháp là Lamin à La pâte – viết tắt là LAMAP; tiếng Anh là Handson, là phương pháp dạy học khoa học, dựa trên cơ sở của sự tìm tòi – nghiên cứu, áp dụng dạy học các môn khoa học tự nhiên. Phương pháp này được khởi sướng bởi giáo sư Creorges clrarpak người Pháp từ năm 1995. Theo PP BTNB, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, chính học sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra thông qua tiến hành thí nghiệm quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho bản thân mình. Phương pháp “Bàn tay nặn bột” đã và đang được áp dụng rộng rãi không chỉ ở Pháp mà ở cả các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Phương pháp “Bàn tay nặn bột” được Bộ GD và ĐT triển khai thử nghiệm từ năm 2011 và chính thức triển khai trong các trường phổ thông từ năm học 2013 – 2014. 1.2.2. Vai trò của phương pháp “Bàn tay nặn bột”: Theo Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển Bộ giáo dục và đào tạo Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển phát biểu tại cuộc họp Ứng dụng giảng dạy các môn khoa học vào trường Tiểu học và THCS theo phương pháp BTNB). Chủ trì cuộc họp có Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển cùng đông đảo các giáo sư tiến sĩ đầu ngành các Vụ, Viện, các trường ĐH Sư phạm... Phương pháp BTNB là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên. BTNB chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra... Với một vấn đề khoa học đặt ra, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức. Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác BTNB luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên. Mục tiêu của BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.
Trang 1Tên SKKN:
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT
ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY- HỌC MÔN SINH HỌC 7
Trong những năm vừa qua Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm đến nểngiáo dục cụ thể như Theo Nghị quyết TW 4 khóa II (1/1993) đã xây dựng phải
“khuyến khích tự học”, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồidưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Nghị quyết
TW 2 khóa VIII (12/1996) tiếp tục khẳng định “phải đổi mới phương pháp giáo dục,khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của ngườihọc Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào trongquá trình dạy học”, “tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở
để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.” Một sốphương pháp dạy học theo hướng mới hiện nay đã và đang được áp dụng rộng rãi đólà: Phương pháp dạy học dự án, phương pháp dạy học khám phá, phương pháp bàntay nặn bột, phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
Phương pháp “ Bàn tay nặn bột ” là phương pháp dạy học tích cực có thể giảngdạy cho nhiều môn khoa học khác nhau và đặc biệt thuận lợi với các môn khoa học tựnhiên, mang tính chất thực nghiệm như: Vật lý, hóa học, sinh học ở bậc THCS, khihọc sinh ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ về các kiến thức khoa học, hình thànhkhái niệm cơ bản về khoa học Trong chương trình sinh học ở trường THCS trong đó
bộ môn Sinh học 7 đi sâu tìm hiểu về thế giới động vật, bao gồm những kiến thức rấtgần gũi, thực tế với học sinh Với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, hình ảnhmẫu vật tìm thấy tại địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho các em học sinh dễ dàngquan sát, nghiên cứu Các em không chỉ tự học qua sự dẫn dắc của giáo viên, các hìnhảnh thông tin trong sách giáo khoa mà các em có khả năng tự tìm hiểu qua các nguồnthông tin khác như: Ti vi, báo đài, intenet… Phải được quan sát, được thực nghiệm để
từ đó các em có ý thức, trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ động vật Chính vì vậy việc sử
Trang 2dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào chương trình Sinh học 7 rất phù hợp để pháttriển năng lực tự học của người học, đây chính là mục đích chính mà môn sinh học 7hướng tới trong công cuộc đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục Để đáp ứng nhucầu đổi mới hiện nay của Bộ giáo dục và đào tạo tôi mạnh dạn đưa ra đề tài “ Sử dụngphương pháp bàn tay nặn bột để phát triển năng lực tự học của học sinh trong dạy –học môn sinh học 7 ” Đây là đề tài tôi mới thực hiện và áp dụng nên không tránh khỏi
sự thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý đồng nghiệp để đề tài đạt hiệuquả cao nhất
II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
- Một số dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực:
+ Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học: Cốt lõi và phương pháp tựhọc, phương pháp tự học là cầu nối trong học tập và nghiên cứu khoa học, rèn luyệncho người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen tự học, biết linh hoạt vậndụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện đặt ra và giảiquyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn
+ Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác (GDKNS)
- Thực chất của phương pháp dạy học tích cực là giáo dục người học được giáodục trở thành người tự giáo dục, là nhân vật tự giác, chủ động có ý thức về giáo dụccủa bản thân mình
1.2 Phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột”:
1.2.1: Khái niệm phương pháp “Bàn tay nặn bột”:
- Phương pháp “Bàn tay nặm bột” tiếng pháp là Lamin à La pâte – viết tắt làLAMAP; tiếng Anh là Hands-on, là phương pháp dạy học khoa học, dựa trên cơ sởcủa sự tìm tòi – nghiên cứu, áp dụng dạy học các môn khoa học tự nhiên Phươngpháp này được khởi sướng bởi giáo sư Creorges clrarpak người Pháp từ năm 1995.Theo PP BTNB, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, chính học sinh tìm ra câu trả lời
Trang 3cho các vấn đề được đặt ra thông qua tiến hành thí nghiệm quan sát, nghiên cứu tàiliệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho bản thân mình.
- Phương pháp “Bàn tay nặn bột” đã và đang được áp dụng rộng rãi không chỉ
ở Pháp mà ở cả các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam
- Phương pháp “Bàn tay nặn bột” được Bộ GD và ĐT triển khai thử nghiệm từnăm 2011 và chính thức triển khai trong các trường phổ thông từ năm học 2013 –2014
1.2.2 Vai trò của phương pháp “Bàn tay nặn bột”:
* Theo Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển Bộ giáo dục và đào tạo
Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển phát biểu tại cuộc họp
Ứng dụng giảng dạy các môn khoa học vào trường Tiểu học và THCStheo phương pháp BTNB) Chủ trì cuộc họp có Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đàotạo Nguyễn Vinh Hiển cùng đông đảo các giáo sư - tiến sĩ đầu ngành các Vụ,Viện, các trường ĐH Sư phạm
Phương pháp BTNB là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thínghiệm nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên.BTNB chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thínghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đềđược đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiêncứu tài liệu hay điều tra
Với một vấn đề khoa học đặt ra, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giảthuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu để kiểmchứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích,tổng hợp kiến thức Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác BTNBluôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là ngườitìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên
Mục tiêu của BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu vàsay mê khoa học của học sinh Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học,
Trang 4phương pháp BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thôngqua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.
1.2.3 Tại sao lại sử dụng Phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào trong
dạy- học môn Sinh học 7:
- Bộ môn Sinh học 7 bước dầu các em làm quen, tìm hiểu, khám phá về giớiđộng vật vô cùng phong phú và đa dạng từ những sinh vật có kích thước nhỏ bé đếnnhững sinh vật có kích thước lớn mà các em có thể bắt gặp và tìm thấy hàng ngày.Chính sự tò mò, ham muốn khám phá và nghiên cứu khoa học về sự vật hiện tượngtồn tại quanh các em sẽ tạo cho các em luôn có sự thắc mắc vào khoa học, muốn đặt racác câu hỏi tại sao lại như vậy, vì sao….Để giải quyết vấn đề đang suy nghĩ, đó cũngchính là động lực, là cơ sở thúc đẩy các em bắt tay vào hành động, bắt tay vào thựcnghiệm, bắt tay vào nghiên cứu để tự trả lời cho những thắc mắc của mình
Trong hoạt động tìm tòi tìm đến tri thức, người học tự hoạt động, tự khám phádưới sự dẫn dắc của người dạy, người dạy đóng vai trò hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo,trọng tài cố vấn cho người học tự tìm kiếm, khám phá tri thức Người học là chủ thể,
tự tìm ra tri thức, người học không lệ thuộc tuyệt đối vào người dạy mà chủ yếu quan
hệ trực tiếp với kiến thức và bạn bè cùng học thông qua hoạt động của chính mình(trích từ lý luận dạy học ở trường THCS Nguyễn Ngọc Bảo (chủ biên) – Trần Kiểm –NSB ĐHSP) Đây cũng là mục đích tôi vận dụng Phương pháp “Bàn tay nặn bột” vàomôn Sinh học 7 để phát triển năng lực tự học của học sinh
1.3 Phát triển năng lực tự học của học sinh:
1.3.1 Định hướng phát triển năng lực là gì?
(Trích tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh)
- Định hướng phát triển năng lực là khả năng thực hiện một hoạt động có ýnghĩa Khi thực hiện hoạt động này, người ta phải vận dụng kiến thức, kinh nghiệmsẵn có, sử dụng các kỹ năng bản thân một cách chủ động và trách nhiệm”
- Ở trường THCS, trong chương trình Sinh học 7 giáo viên định hướng năng tựhọc cho học sinh cần đạt được đó là:
+ Năng lực kiến thức Sinh học: Kiến thức về cấu tạo của động vật, các hoạtđộng sống của động vật, kiến thức đa dạng sinh học…
+ Năng lực nghiên cứu khoa học: Quan sát, đo đạc, phân loại, đề xuất dự đoán,giả thuyết, thiết kế thí nghiệm, thu thập, xử lí kết quả, đưa kết luận…
+ Năng lực thực hiện trong phòng thí nghiệm: Sử dụng kính hiển vi, kính lúp,
an toàn thí nghiệm…
Trang 5( Trích Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành (1992), Vấn đề kỹ năng và kỹ năng tập, Trường ĐHSP Hà Nội I)
+Tự học qua tài liệu, qua phương tiện truyền thông: thông qua sách vở, phươngtiện
kỹ thuật như băng hình, ghi âm,
( Trích Nguyễn Kỳ (1994), Thiết kế bài học theo phương pháp tích cực, Trường Cán
bộ Quản lý Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội).
* Đối với học sinh lớp 7 trường THCS thì học sinh tự học có sự hướng dẫn
- Nhà trường có các phòng thực hành, công nghệ thông tin, thiết bị tiên tiến hỗtrợ cho dạy học
- Thư viện nhà trường tương đối đầy đủ các loại sách
Trang 6- Phòng thiết bị nhà trường có phòng thực hành sinh riêng với các đồ dùngtương đối đầy đủ.
- Mẫu vật dễ tìm hoặc dễ có mẫu vật thay thế
1.4.2 Khó khăn:
- Về cơ sở vật chất:
+ Bàn ghế: Bàn ghế phòng thực hành chưa phù hợp cho việc phân chia cácnhóm nhỏ để thực hành, khó khăn trong việc di chuyển cùng nhóm thảo luận, sử dụng
và phân chia đồ dùng thí nghiệm, thực hành
- Công tác vệ sinh: Chưa được bảo đảm vì còn hay thiếu và mất nước cho việc
rửa dọn dụng cụ, vệ sinh phòng học, hệ thống ống nước bị rò rỉ do bị hư hỏng xuống
cấp
- Về phía học sinh:
+ Sỉ số lớp đông trong đó học sinh nam nhiều hơn học sinh nữ, các em cònthiếu sự tập trung, hiếu động tò mò, ham chơi nên các em còn mất trật tự, ý thức họcchưa cao, còn ỷ lại bạn nên không tích cực hoạt động
+ Kiến thức: Không đều, khả năng tự học còn hạn chế
+ Sỉ số lớp đông trong đó học sinh nam nhiều hơn học sinh nữ, các em cònthiếu sự tập trung, hiếu động tò mò, ham chơi
1.4.3 Nhận xét tình hình học tập của học sinh trước khi thực hiện đề tài:
+ Thời gian: Tháng 8/ 2015
+ Địa điểm: Trường THCS Lê Quý Đôn
+ Đối tượng: 100 học sinh lớp 7 (độ tuổi từ 13 – 14)
Một số nhận xét về tình hình học tập của học sinh trước khi thực hiện đề tàinhư sau:
- Đa số mức độ nhận thức của các em ở mức trung bình- khá
- Một số học sinh yếu
- Phần lớn các em chưa biết cách tự học, cũng như chưa biết cách tự quan sát,
vẽ lại hình và ghi chép những nội dung mình quan sát được
- Hoạt động học tập của các em chưa tích cực hướng tới tự tìm đến kiến thức,còn ỷ lại vào bạn, giáo viên
2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2 1 Sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” để phát triển năng lực tự học của học sinh trong dạy- học môn sinh học 7:
2.1.1 Nguyên tắc, yêu cầu:
2.1.1.1 Những yêu cầu khi sử dụng phương pháp “BTNB”:
- Nghiên cứu các sinh vật thực tế, gần gủi với học sinh để học sinh có thểcảm nhận được dễ dàng
Trang 7- Chính học sinh là người thực hiện các thí nghiệm thực hành chứ khôngphải các thí nghiệm đã được làm sẵn hay thiết kế sẵn.
- Giáo viên giúp học sinh xây dựng nên kiến thức riêng của các em
- Thực hiện trong khoảng thời gian dài liên tục
- Học sinh nên có một cuốn vở nhật ký học tập của riêng mình, với các từngữ riêng của mình
- Chú trọng đến đặt câu hỏi, tự chủ, cùng nhau xây dựng kiến thức
- Bài học không phải là nội dung học thuộc lòng
2.1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản của phương pháp “BTNB”:
(Trích theo giáo trình phương pháp “BTNB” trong dạy học khoa học tự nhiên – TS Phạm Thị Hòa – Bộ môn Sinh – Khoa tự nhiên).
- Gồm 10 nguyên tắc cơ bản (lựa chọn những nguyên tắc phù hợp với đặc
điểm học sinh, điều kiện nhà trường và địa phương).
+ Học sinh quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại,gần gũi với đời sống để cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó
+ Trong quá trình tìm hiểu, học sinh lập luận bảo vệ ý kiến của mình, đưa
ra tập thể thảo luận những ý nghĩ và những kết luận của cá nhân, từ đó có nhữnghiểu biết mà nếu chỉ có những hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tác độngnên
+ Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho học sinh được tổ chức theotiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập Các hoạt động này làmcho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phần
tự chủ khá lớn
+ Cần một lượng tối thiểu là 02 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đềtài Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được bảo đảmtrong suốt thời gian học tập
+ Bắt buộc mỗi học sinh phải có một quyển vở thực hành do chính các emghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của các em
+ Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các kỹ năng khoa học và kỹthuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết, nói của học sinh
- Các gia đình, khu phố khuyến khích tham gia thực hiện các công việccủa lớp học
- Các cơ sở khoa học (Trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiên cứu sinhhọc) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình
- Các viện đào tạo giáo viên giúp giáo viên về kinh nghiệm và phươngpháp dạy học
Trang 8- Giáo viên có thể tìm thấy trên intenet/Website có nội dung về những môđun kiến thức (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động,những giải pháp thắc mắc Giáo viên cũng có thể tham gia hoạt động tập thểbằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm, với các nhà khoa học.
2.1.2 Quy trình thực hiện:
2.1.2.1 Cơ sở của quy trình thực hiện:
- Ưu tiên xây dựng những tri thức (hiểu biết, kiến thức) bằng khai thácthực nghiệm và thảo luận
- Đó là sự thực hành khoa học bằng hành động, hỏi đáp, tìm tòi, thựcnghiệm xây dựng tập thể chứ không phải phát biểu lại các kiến thức có sẵn xuấtphát từ ghi nhớ thuần túy
- Học sinh tự mình thực hiện thí nghiệm, các suy nghĩ và thảo luận
- Học sinh tập hành động, cuốn hút mình trong hành động; học sinh tậptiến bộ dần bằng cách tự nghi vấn; học sinh học tập bằng cách hỏi đáp với họcsinh cùng lớp
- Giáo viên hướng dẫn học sinh chứ không làm thay, giúp đỡ học sinh làmsáng tỏ và thảo luận quan điểm của mình Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo chomột bài giảng sử dụng phương pháp “BTNB” để phát triển năng lực tự học chohọc sinh để mang lại hiệu quả:
+ Xác định mục tiêu kiến thức của bài học
+ Xác định các vấn đề có thể tạo tình huống, sử dụng phương pháp
Đề xuất câu hỏi vàphương
án thí nghiệm
Tiến hành thí nghiệm tìm tòi
Kết luận hợp thức hóa kiến thức
Trang 9* Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề.
Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống dogiáo viên chủ động đưa ra như một cách dẫn nhập vào bài học Tình huống xuấtphát phải ngắn gọn, gần gũi và dễ hiểu đối với học sinh Tình huống xuất phátnhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việcdẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ Tuy nhiên có những trường hợpkhông nhất thiết phải có tình huống xuất phát mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn
đề (tùy vào từng kiến thức và câu hỏi cụ thể)
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học (hay mô đun kiến thức màhọc sinh sẽ được học) Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp vớitrình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiêncứu của học sinh nhằm chuẩn bị cho học sinh tâm thế trước khi khám phá, lĩnhhội kiến thức Giáo viên phải dùng câu hỏi mở đối với câu hỏi nêu vấn đề Câuhỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học của giáoviên càng dễ thực hiện thành công Ví dụ một số câu hỏi nêu vấn đề
không bị tiêu hóa bởi dịch tiêu hóa trongruột non người? đặc điểm cấu tạo ngoài
và di chuyển thích nghi với đời sống kí sinh?
trang trí, trang sức Vậy theo em quátrình ngọc trai được tạo nhờ bộ phận nàocủa trai sông cấu tạo nên và mất khoảngthời gian bao lâu?
20 Thực hành: Quan sát
một số than mềm khác
Theo em Ốc sên tự vệ bằng cách nào?Tại sao nói mực là động vật thông minhbằng hình thức tự vệ của mình?
23 Chủ đề: lớp giáp xác
HĐ 1: Quan sát cấu tạo
Dựa vào đặc điểm nào mà tôm sôngđược xếp vào ngành chân khớp
Trang 10và hoạt động sống củatôm
24 Chủ đề: lớp giáp xác
HĐ 2: Mổ và quan sáttôm sông
Chỉ ra đặc điểm cấu tạo trong giúp tômsông thực hiện chức năng hô hấp dướinước
chim bồ câu thích nghi với đời sốngbay?
Thực hành quan sát bộxương mẫu mổ chim bồcâu
vào lớp thú?
Chứng minh thú mỏ vịt là thú bậc thấp?
Đa dạng cuả lớp thú Bộthú huyệt, bộ thú túi
* Bước 2: Hình thành biểu tượng ban đầu
- Hình thành biểu tượng ban đầu là bước quan trọng, đặc trưng củaphương pháp “BTNB” Bước này khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ,nhận thức ban đầu của mình trước khi được học kiến thức hình thành biểu tượngban đầu, giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức củ đã học có liênquan đến kiến thức mới của bài học Khi yêu cầu học sinh trình bày biểu tượngban đầu, giáo viên có thể yêu cầu nhiều hình thức biểu tượng của học sinh, cóthể bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểuhiện suy nghĩ
Ví dụ một số biểu tượng ban đầu của học sinh về bài học
Biểu tượng ban đầu của học sinh khi tìm hiểu về Ốc sên
Trang 11Biểu tượng ban đầu của học sinh khi tìm hiểu bài quan sát cấu tạo
ngoài của giun đất
HS Thành 7.7
Trang 12* Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm
- Biểu tượng ban đầu của học sinh là rất đa dạng và phong phú, tuy nhiêntrong các biểu tượng ban đầu đa dạng đó có những nét tương đồng Chính từnhững nết tương đồng này giáo viên có thể giúp học sinh đề xuất ra các câu hỏi
- Đối với giáo viên khi lựa chọn biểu tượng ban đầu cần lưu ý:
+ Không chọn hoàn toàn các biểu tượng đúng với câu hỏi
+ Không chọn hoàn toàn các biểu tượng sai với câu hỏi
+ Nên chọn các biểu tượng vừa đúng, vừa sai
+ Tuyệt đối không có bình luận hay nhận xét về tính đúng, sai của cácbiểu tượng ban đầu của học sinh
- Từ sự chọn các biểu tượng phù hợp, giáo viên khuyến khích học sinh đềxuất các thí nghiệm kiểm chứng
- Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh, đề nghịcác em đề xuất thí nghiệm, tìm tòi, nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi
đó Câu hỏi có thể là “Theo các em làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời chocác câu hỏi trên?” Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương án để giải quyếtcác câu hỏi nêu trên?
HS Thúy 7.7
Trang 13- Nếu ý kiến của học sinh nêu lên có ý đúng nhưng ngôn từ chưa chuẩnxác và diễn đạt chưa rõ, giáo viên nêu gợi ý và từng bước giúp học sinh hoànthiện diễn đạt.
- Sau khi học sinh đề xuất phương án thí nghiệm tìm tòi, nghiên cứu giáoviên nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương án thí nghiệm đã chuẩn
bị sẵn Trường hợp học sinh không đưa ra được phương án thí nghiệm tìm tòi,nghiên cứu thích hợp, giáo viên có thể gợi ý và đề xuất cụ thể phương án thínghiệm
Đề xuất câu hỏi và
phương án
thí nghiệm
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
GV: yêu cầu, gợi ý cho
HS đề xuất các giả thiết
GV: yêu cầu HS đề xuấtphương án để kiểmchứng những giả thiếtđó
HS: hoạt động nhóm, đưa racác giả thiết về cấu tạo vàhoạt động sống của tôm, cóthể là:
- Cơ thể tôm gồm 2 phần,
đó là phần đầu – ngực vàphần bụng
- Vỏ tôm cứng, đổi màutheo môi trường sống
- Cơ thể có các bộ phận nhưrâu, mắt, chân, đuôi,
HS: thảo luận, đề xuất đượccác phương án kiểm chứng:
- Quan sát trên mẫu thật(con tôm còn sống, bơitrong nước)
- Tham khảo thông tin SGK
- Xem video về hoạt độngsống của tôm
Bài 17: Một số giun đốt
- Phân lớp thành cácnhóm nhỏ hoạt động đềxuất câu hỏi và đề raphương án kiểm chứng
- Học sinh hoạt động nhóm
đề xuất một số câu hỏi:+ Ngành giun đốt đa dạngnhư thế nào?
+ Ngành giun đốt có lợi, cóhại cho con người và động