MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG GIẢNG DẠY VẬT LÍ 6 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Vật lí là môn khoa học thực nghiệm. Tư tưởng chủ đạo của các sách giáo khoa vật lí phổ thông là nội dung kiến thức mới được hình thành phần lớn thông qua các thí nghiệm và thực hành. Thí nghiệm Vật lí có ý nghĩa vô cùng to lớn và giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện những nhiệm vụ của việc dạy học Vật lí ở trường phổ thông. Điều đó không chỉ tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh mà còn rèn luyện và phát triển ở các em các kĩ năng thực hành và các năng lực nhận thức. Môn Vật Lí ở trường trung học cơ sở có vai trò quan trọng, góp phần hình thành và rèn luyện cho học sinh cách tư duy, khoa học, sáng tạo.Vì vậy những hiểu biết Vật Lí có giá trị to lớn trong đời sống và sản xuất. Đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Trong dạy học Vật Lí, thí nghiệm Vật Lí là dạng phương tiện trực quan chủ yếu được sử dụng là nguồn cung cấp kiến thức để HS tìm tòi phát hiện những tri thức dưới những hình thức khác nhau.Thí nghiệm có ý nghĩa vô cùng to lớn và giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện những nhiệm vụ của việc dạy học Vật Lý ở trường. Tuy nhiên làm thế nào để sử dụng thí nghiệm đạt hiệu quả nhất, sử dụng thí nghiệm như thế nào để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, phát huy thế mạnh của nó trong dạy học là vấn đề cần phải nghiên cứu. Sử dụng thí nghiệm để dạy học tích cực có những mức độ khác nhau. Tuỳ theo mức độ mà thí nghiệm đó có thể là do học sinh tự thực hiện hoặc giáo viên biểu diễn thí nghiệm để học sinh quan sát, mô tả hiện tượng, giải thích .Từ đó, học sinh rút ra nhận xét về tính chất, qui tắc, định luật….Trong chương trình Vật Lý 6 có nhiều tiết giáo viên cần tích cực sử dụng thí nghiệm biểu diễn trong việc giảng dạy thì tiết học mới đạt hiệu quả cao hơn . Từ những lí do trên bản thân đã đưa ra sáng kiến kinh nghiệm : “Một số phương pháp sử dụng thí nghiệm để phát huy tính tích cực của học sinh trong giảng dạy Vật Lí 6” với hy vọng thông qua thí nghiệm có thể phát huy năng lực nhận thức của học sinh một cách toàn diện hơn, học sinh dễ dàng nắm bắt kiến thức, hiểu sâu, nhớ kỹ ,tự mình rút ra được kết luận và vận dụng tốt vào đời sống thực tế. Đồng thời làm cho tiết học sinh động, học sinh yêu thích bộ môn Vật Lí. II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “học phải đi đôi với hành, học mà không có hành chẳng khác nào đi cày mà không có trâu”. Do đó đối với lĩnh vực giáo dục, bản thân mỗi giáo viên là phải biết “Tăng cường sử dụng đồ dùng dạy học và thực hành thí nghiệm” nhằm giúp cho HS được học tập , thích thú khi chính bản thân mình được làm thí nghiệm, để rút ra kết luận, rút ra định luật hay công thức khi tính toán. Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học được thể hiện: + Phát huy tính tích cực hóa họat động nhận thức của học sinh trong học tập + Coi hoạt động của học sinh là trung tâm trong quá trình dạy học và thông qua đó hình thành kiến thức cụ thể cho học sinh. Hướng tới rèn luyện óc độc lập suy nghĩ và tư duy sáng tạo cho học sinh. + Coi trọng cả việc trao dồi kiến thức lẫn việc bồi dưỡng các kĩ năng tiến hành thí nghiệm cho học sinh + Tăng cường thí nghiệm là rất quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học Bản thân là một giáo viên đang đứng lớp, phụ trách môn Vật Lí 6 tôi thấy học sinh mới lên cấp THCS các em còn bỡ ngỡ trong tiết học, nhiều bài còn trừu tượng học sinh khó hiểu do đó cần thiết phải “tăng cường tiến hành thí nghiệm” là rất quan trọng. trong sự nghiệp hóa giáo dục hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học là một điều hết sức cần thiết. ngoài việc giảng dạy trên lớp bằng lý thuyết thì bản thân GV phải có hướng tổ chức cho học sinh sử dụng đồ dùng thí nghiệm và thí nghiệm thực hành làm HS có hứng thú say mê học tập, phát huy tính tích cực của học sinh. 2. Cơ sở thực tiễn
Trang 1MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG
GIẢNG DẠY VẬT LÍ 6
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm Tư tưởng chủ đạo của các sách giáo khoa vật lí phổ thông là nội dung kiến thức mới được hình thành phần lớn thông qua các thí nghiệm và thực hành Thí nghiệm Vật lí có ý nghĩa vô cùng
to lớn và giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện những nhiệm vụ của việc dạy học Vật lí ở trường phổ thông Điều đó không chỉ tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh mà còn rèn luyện và phát triển ở các em các kĩ năng thực hành và các năng lực nhận thức
Môn Vật Lí ở trường trung học cơ sở có vai trò quan trọng, góp phần hình thành và rèn luyện cho học sinh cách tư duy, khoa học, sáng tạo.Vì vậy những hiểu biết Vật Lí có giá trị to lớn trong đời sống và sản xuất Đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
Trong dạy học Vật Lí, thí nghiệm Vật Lí là dạng phương tiện trực quan chủ yếu được sử dụng là nguồn cung cấp kiến thức để HS tìm tòi phát hiện những tri thức dưới những hình thức khác nhau.Thí nghiệm có ý nghĩa vô cùng to lớn và giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện những nhiệm vụ của việc dạy học Vật Lý ở trường Tuy nhiên làm thế nào để sử dụng thí nghiệm đạt hiệu quả nhất, sử dụng thí nghiệm như thế nào để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, phát huy thế mạnh của nó trong dạy học là vấn đề cần phải nghiên cứu
Sử dụng thí nghiệm để dạy học tích cực có những mức độ khác nhau Tuỳ theo mức độ mà thí nghiệm đó có thể là do học sinh tự thực hiện hoặc giáo viên biểu diễn thí nghiệm để học sinh quan sát, mô tả hiện tượng, giải thích Từ đó, học sinh rút ra nhận xét về tính chất, qui tắc, định luật….Trong chương trình Vật Lý 6 có nhiều tiết giáo viên cần tích cực sử dụng thí nghiệm biểu diễn trong việc giảng dạy thì tiết học mới đạt hiệu quả cao hơn
Từ những lí do trên bản thân đã đưa ra sáng kiến kinh nghiệm : “Một số phương pháp sử dụng thí nghiệm để phát huy tính tích cực của học sinh trong giảng dạy Vật Lí 6” với hy vọng thông qua thí nghiệm có thể phát huy
năng lực nhận thức của học sinh một cách toàn diện hơn, học sinh dễ dàng nắm bắt kiến thức, hiểu sâu, nhớ kỹ ,tự mình rút ra được kết luận và vận dụng tốt vào đời sống thực tế Đồng thời làm cho tiết học sinh động, học sinh yêu thích bộ môn Vật Lí
II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lí luận
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “học phải đi đôi với hành, học mà không có hành chẳng khác nào đi cày mà không có trâu” Do đó đối với lĩnh vực giáo dục, bản thân mỗi giáo viên là phải biết “Tăng cường sử dụng đồ dùng dạy học và thực hành thí nghiệm” nhằm giúp cho HS được học tập , thích thú khi chính bản thân mình được làm thí nghiệm, để rút ra kết luận, rút ra định luật hay công thức khi tính toán
Trang 2Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học được thể hiện:
+ Phát huy tính tích cực hóa họat động nhận thức của học sinh trong học tập + Coi hoạt động của học sinh là trung tâm trong quá trình dạy học và thông qua đó hình thành kiến thức cụ thể cho học sinh Hướng tới rèn luyện óc độc lập suy nghĩ và tư duy sáng tạo cho học sinh
+ Coi trọng cả việc trao dồi kiến thức lẫn việc bồi dưỡng các kĩ năng tiến hành thí nghiệm cho học sinh
+ Tăng cường thí nghiệm là rất quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học
Bản thân là một giáo viên đang đứng lớp, phụ trách môn Vật Lí 6 tôi thấy học sinh mới lên cấp THCS các em còn bỡ ngỡ trong tiết học, nhiều bài còn trừu tượng học sinh khó hiểu do đó cần thiết phải “tăng cường tiến hành thí nghiệm” là rất quan trọng trong sự nghiệp hóa giáo dục hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học là một điều hết sức cần thiết ngoài việc giảng dạy trên lớp bằng lý thuyết thì bản thân GV phải có hướng tổ chức cho học sinh sử dụng đồ dùng thí nghiệm và thí nghiệm thực hành làm HS có hứng thú say mê học tập, phát huy tính tích cực của học sinh
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Thuận lợi
- Trường ở trung tâm huyện nên thường được quý cấp lãnh đạo quan tâm,
vì thế trang thiết bị được cấp phát nhanh, kịp thời đủ số lượng
- Được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, công đoàn, đồng nghiệp là nguồn động viên lớn giúp tôi vượt qua khó khăn
- Cơ sở vật chất tương đối đảm bảo cho công tác giảng dạy
- Có phòng thí nghiệm riêng phục vụ cho tiết thực hành thí nghiệm Hàng năm luôn bổ sung những trang thiết bị cần thiết đảm bảo cho công tác dạy và học
- Cán bộ thiết bị nhiệt tình giúp đỡ trong công tác chuẩn bị đồ dùng thí nghiệm
2.2 Khó khăn:
- Học sinh mới làm quen với thí nghiệm thực hành nên còn bỡ ngỡ nên
GV còn mất nhiều thời gian hướng dẫn
- Đa số học sinh thuộc con gia đình lao động, công nhân cho nên việc theo dõi quá trình học tập của con mình còn ở mức tương đối
- Một số học sinh còn lơ là gây mất trật tự trong giờ học
- Khả năng nhận thức không đồng đều giữa các nhóm đối tượng học sinh
Sự quan tâm của một số gia đình học sinh còn hạn chế ảnh hưởng đến học tập của các em
- Một số học sinh ý thức tự giác học tập chưa cao, thiếu tính tích cực trong quá trình làm thí nghiệm và thảo luận về kết quả thí nghiệm
- Một số học sinh chưa có kĩ năng tiến hành các thí nghiệm vật lí
- Một số thiết bị đồ dùng dạy học có chất lượng không cao ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm
- Phòng thí nghiệm thực hành chưa theo đúng tiêu chuẩn gây khó khăn cho việc tổ chức học sinh làm thí nghiệm thực hành và thảo luận nhóm
Trang 32.3 Số liệu thống kê
- Đối tượng nghiên cứu: 70 Học sinh lớp 6/3, 6/4, trường THSC Lê Quý Đôn
- Độ tuổi : 12 - 13 tuổi
- Điều tra ban đầu về kết quả học tập:
6/3 36 3(8,3%) 12(33,3%) 18 (50 %) 3 (8,4 %)
6/4 34 1(2,9%) 9 (26,5%) 18 (53 %) 6(17,6%)
- Kết quả khảo sát việc ham thích học khi tiết học có sử dụng đồ dùng :
Câu hỏi: Bạn có thích học giờ
vật lý 6 khi có sử dụng đồ
dùng dạy học, thí nghiệm
thực hành?
Rất thích:
Thích:
Chưa thích:
(25) 69,5%
(7) 19,4%
(4) 11,1%
(20) 58,8% (9) 26,5% (5) 14,7%
3 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
3.1 Nội dung
- Trong chương trình Vật Lí 6, các bài giảng có sử dụng đồ dùng thí nghiệm là khá nhiều, không thể thiếu để HS lĩnh hội trọn vẹn kiến thức thông qua các thí nghiệm vừa làm, để rút ra cho mình nội dung của bài học Mặt khác để hạn chế học sinh học tập một cách thụ động, kích thích tư duy của học sinh thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở
- Ở lớp 6 khả năng tư duy của HS đã và đang phát triển, HS đã có một số hiểu biết ban đầu về các hiện tượng vật lý ở xung quanh Đó là những yêu cầu về khả năng phân tích, tổng hợp các thông tin và dữ liệu thu thập được, khả năng
tư duy trừu tượng, khái quát xử lí các thông tin để hình thành khái niệm, rút ra quy tắc, quy luật Vật lý
3.2 Biện pháp thực hiện
3.2.1 Mục đích của việc tiến hành thí nghiệm Vật lí 6
- Hình thành kiến thức mới cho học sinh
- Kiểm chứng một số kiến thức đã được hình thành bằng lập luận
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng các dụng cụ thí nghiệm
- Rèn luyện kỹ năng mô tả các hiện tượng Vật lí
- Rèn luyện kỹ năng quan sát, kĩ năng thu thập và xử lí thông tin thu được từ quan sát thí nghiệm
- Rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, cẩn thận, chịu khó, trung thực, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học
3.2.2 Chuẩn bị cho bài học có thí nghiệm
* Chuẩn bị của giáo viên
- Dự kiến hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh tiếp cận và tự phát hiện kiến thức mới trong quá trình tiến hành thí nghiệm :
Trong quá trình hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm, giáo viên phải đặt những câu hỏi nhằm định hướng cho học sinh tiếp cận và phát hiện ra kiến
Trang 4thức mới Như vậy, người giáo viên phải dự kiến hệ thống câu hỏi Giáo viên
có thể đặt câu hỏi theo mức độ tăng dần: Biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá tùy theo đặc điểm của từng lớp, từng nội dung thí nghiệm
Câu hỏi “Biết”: nhằm kiểm tra lại những dữ kiện, định nghĩa đã học
VD: Trọng lực là gì ?
Câu hỏi “ Hiểu”: Nhằm kiểm tra cách học sinh liên hệ, kết nối các dữ kiện,
định nghĩa
VD: Dùng tay kéo dãn lò xo Kết quả tác dụng của lực vào vật là gì ?
Câu hỏi “ Vận dụng”: Nhằm kiểm tra khả năng học sinh áp dụng các dữ
kiện, khái niệm, các qui luật, các phương pháp… vào hoàn cảnh, điều kiện mới
VD: Trọng lượng của quả nặng 50g là bao nhiêu ?
Câu hỏi “ Phân tích”: Đây là loại câu hỏi thường hay được sử dụng trong
họat động thí nghiệm, nhằm kiểm tra khả năng học tập, phân tích nội dung vấn
đề, từ đó đi đến kết luận hoặc tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh một luận điểm
VD: Từ kết quả thí nghiệm hãy cho biết sự phụ thuộc giữa thể tích nước tràn
ra với thể tích của vật rắn ?
Câu hỏi “Tổng hợp”: Nhằm kiểm tra xem học sinh có thể đưa ra những dự
đóan, giải quyết một vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo VD: Hãy đề xuất phương án làm thí nghiệm kiểm tra xem khi quả cầu kim loại
bị hơ nóng mà vẫn có thể lọt qua vòng kim loại?
Câu hỏi “ Đánh giá”: Nhằm kiểm tra xem học sinh có thể đóng góp ý kiến
và đánh giá các ý tưởng, giải pháp… dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra
VD: Theo em trong các thí nghiệm về tìm hiểu kết quả tác dụng của lực thí nghiện nào dễ tiến hành và cho kết quả rõ nhất ?
- Lựa chọn phương thức tiến hành thí nghiệm cho học sinh
Có nhiều phương thức tiến hành thí nghiệm, tùy tình hình thực tế mà tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm theo một trong những phương thức sau:
+ Thí nghiệm thực theo nhóm: cả lớp được chia thành 4 hoặc 6 nhóm Tùy vào số lượng học sinh và cơ sở vật chất Có sự phân công các thành viên trong nhóm
+ Thí nghiệm từng cá nhân: Từng học sinh tiến hành thí nghiệm, tự rút ra kết luận
+ Cả lớp tiến hành 1 thí nghiệm( nếu dụng cụ thiếu)
+ Thí nghiệm ảo được mô phỏng trên máy vi tính
+ Thí nghiệm thực được tiến hành từ trước và quay phim rồi phát lại cho học sinh theo dõi
+ Thí nghiệm được mô tả bằng lời và hình vẽ
Trong những phương thức này phương thức tiến hành thí nghiệm thực hợp tác nhóm có hiệu quả cao nhất
Xác định xem thí nghiệm nào mà trường sở tại không có dụng cụ tương ứng thì phải tìm cách thay thế bằng dụng cụ tương đương hoặc thay bằng cách làm khác nhưng cũng đạt yêu cầu tương tự
- Giáo viên cùng nhân viên phòng thí nghiệm chuẩn bị các bộ thí nghiệm cho mỗi nhóm học sinh
Trang 5* Chuẩn bị của học sinh
- Đọc trước bài thực hành và chuẩn bị các kiến thức có liên quan
- Nắm được những quy tắc an toàn khi làm thí nghiệm
3.2.3 Phương pháp dạy học chung cho các thí nghiệm môn Vật Lí 6
- Chia học sinh thành các nhóm, mỗi nhóm thực hành trên một bộ dụng cụ thí nghiệm
- Đối với từng thí nghiệm, trước hết giáo viên cần yêu cầu đại diện nhóm nêu
rõ mục tiêu và các bước tiến hành, sau đó mới tiến hành cụ thể
- Học sinh họat động nhóm tiến hành thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của giáo viên
- Giáo viên theo dõi, nhắc nhở, lưu ý các kĩ năng thực hành và giúp đỡ các nhóm khi cần thiết Trong hoạt động tiến hành thí nghiệm, tùy từng bài cụ thể giáo viên tổ chức cho học sinh theo trình tự sau:
+ Tổ chức tình huống học tập
+ Thu thập thông tin
+ Xử lí thông tin
+ Thông báo kết quả thí nghiệm
+ Vận dụng, ghi nhớ kiến thức
*Tổ chức tình huống học tập:
- GV đặt câu hỏi nghiên cứu
- HS nêu dự đoán
- Đề ra giả thuyết
*Thu thập thông tin:
Giáo viên hướng dẫn học sinh:
+ Quan sát các sự kiện, hiện tượng, hình minh họa thí nghiệm,…trong SGK;tìm những thông tin cần thiết từ sách báo
+ Lập kế hoạch thí nghiệm như:chỉ ra đại lượng cần đo, những điều cần xác định trong thí nghiệm; chỉ ra những yếu tố cần giữ nguyên (nếu có) khi làm thí nghiệm…
+ Tiến hành thí nghiệm: Bố trí lắp đặt dụng cụ thí nghiệm, thực hiện thí nghiệm,…Tùy từng đối tượng học sinh, từng nội dung thí nghiệm mà GV có thể cho học sinh tự lắp đặt dụng cụ thí nghiệm và tiến hành theo hình minh họa hoặc theo sơ đồ trong SGK; hoặc giáo viên có thể tiến hành thí nghiệm trước lóp cho học sinh quan sát theo dõi hiện tựơng
Trong quá trình thí nghiệm nếu kết quả thu được không phù hợp với vấn đề đặt ra thì giáo viên phải định hướng cho học sinh thay đổi phương án thí nghiệm
+ Ghi kết quả thí nghiệm, như: Đọc số chỉ của các dụng cụ đo, lập bảng kết quả, biểu diễn kết quả bằng đồ thị, sơ đồ,…Giáo viên phải chuẩn bị bảng kết quả thí nghiệm để hướng dẫn học sinh cách ghi kết quả thí nghiệm Ở một số thí nghiệm giáo viên phải chuẩn bị bảng ghi kết quả thí nghiệm của các nhóm
*Xử lí thông tin:
Giáo viên hướng dẫn học sinh
+Từ những thông tin đã thu thập được qua việc quan sát các sự kiện, hiện tượng, hình vẽ minh họa và qua kết quả thí nghiệm phân tích tổng hợp và rút
ra kết luận
Trang 6* Thông báo kết quả thí nghiệm:
Học sinh đại diện nhóm :
+ Mô tả lại các bước tiến hành thí nghiệm
+ Trình bày giải thích thí nghiệm đã làm
+ Nêu kết luận đã tìm thấy được
Giáo viên nhận xét về ý thức,thái độ và tác phong thực hành của các nhóm, tuyên dương các nhóm thực hiên tốt và nhắc nhở nhóm làm chưa tốt
* Vận dụng, ghi nhớ kiến thức
- Giải các bài tập ( định tính, định lượng, thực nghiệm)
- Làm đồ chơi dụng cụ học tập có sử dụng kiến thức vừa học
3.3 Giải pháp phát huy tính tích cực
3.3.1 Tính tích cực cần đạt được
- Nêu được mục đích của thí nghiệm
- Nêu được các bước tiến hành thí nghiệm
- Tự giác, chủ động lắp ráp được dụng cụ thí nghiệm và tiến hành thí nghiệm
có kết quả với độ chính xác cao
Ví dụ 1: Bài 16: RÒNG RỌC
Tính tích cực của học sinh được thể hiện như sau:
+ Học sinh nêu được mục đích của thí nghiệm: tìm hiểu xem khi sử dụng ròng rọc cố định và ròng rọc động thì lực kéo vật lên sẽ như thế nào so với khi kéo vật trực tiếp
+ Học sinh nêu các bước thí nghiệm:
Bước 1: Đo lực kéo vật theo phương thẳng đứng
Bước 2: Đo lực kéo vật qua ròng rọc cố định
Trang 7 Bước 3: Đo lực kéo vật qua ròng rọc động.
+ Học sinh lắp ráp và tiến hành thí nghiệm theo từng bước Để kết quả thí nghiệm có độ chính xác cao đòi hỏi học sinh phải nghiêm cứu trước bài mới,
ôn lại cách sử dụng lực kế (xác định GHĐ, ĐCNN; cách cầm lực kế; cách đọc kết quả đo;…)
Ví dụ 2: Bài 15: ĐÒN BẨY
Tính tích cực của học sinh được thể hiện như sau:
+ Học sinh nêu được mục đích của thí nghiệm: tìm hiểu muốn lực nâng vật lên nhỏ hơn trọng lượng của vật thì các khoảng cách OO1 (khoảng cách từ điểm tựa tới điểm tác dụng của trọng lượng vật) và OO2 (khoảng cách từ điểm tựa tới điểm tác dụng của lực kéo) phải thỏa mãn điều kiện gì?
+ Học sinh nêu các bước thí nghiệm:
Bước 1: Đo lực kéo vật trong trường hợp OO2 > OO1
O1
Trang 8 Bước 2: Đo lực kéo vật trong trường hợp OO2 = OO1
Bước 3: Đo lực kéo vật trong trường hợp OO2 < OO1
+ Học sinh lắp ráp và tiến hành thí nghiệm theo từng bước Để kết quả thí
nghiệm có độ chính xác cao đòi hỏi học sinh phải nghiêm cứu trước bài mới,
2
O
1
O1
Trang 9ôn lại cách sử dụng lực kế (xác định GHĐ, ĐCNN; cách cầm lực kế; cách đọc kết quả đo;…)
3.3.2 Giải pháp thực hiện
a) Định hướng học tập cho học sinh
Để tăng hứng thú học tập, phát huy tính sáng tạo, tích cực của cho học sinh thì giáo viên phải là người đưa ra định hướng học tập cho học sinh như lập ra hệ thống câu hỏi có liên quan tới bài mới và yêu cầu học sinh chuẩn bị ở nhà; hoặc yêu cầu học sinh chuẩn bị tranh ảnh, tư liệu có liên quan đến bài học;…
Ví dụ 1: trước khi học bài: LỰC – HAI LỰC CÂN BẰNG
Giáo viên có thể đặt các câu hỏi định hướng học tập cho học sinh và yêu cầu học sinh chuẩn bị trước ở nhà:
+ Lực là gì?
+ Sẽ có chuyện gì xảy ra nếu hai đầu của một vật chịu tác dụng bởi hai lực mạnh như nhau?
+ Thế nào là hai lực cân bằng?
+ Trong đời sống có những cặp lực cân bằng nào?
Ví dụ 2: trước khi học bài: MẶT PHẲNG NGHIÊNG
Giáo viên có thể đặt các câu hỏi định hướng học tập cho học sinh và yêu cầu học sinh chuẩn bị trước ở nhà:
+ Hãy cho biết cách sử dụng lực kế?
+ Sử dụng mặt phẳng nghiêng với lực kéo như thế nào so với trọng lượng vật? + Có những cách nào có thể giảm độ nghiêng của mặt phẳng nghiêng?
+ Hãy sưu tầm những hình ảnh sử dụng mặt phẳng nghiêng mà em biết?
Trang 10b) Hình thành cho học sinh kĩ năng sử dụng dụng cụ thí nghiệm
Muốn học sinh tự giác, chủ động lắp ráp được dụng cụ thí nghiệm và tiến hành thí nghiệm có hiệu quả thì đòi hỏi các em phải được hình thành những kĩ năng
sử dụng dụng cụ thí nghiệm trong quá trình học
Ví dụ 1: Bài 10: LỰC KẾ - PHÉP ĐO LỰC TRỌNG LƯỢNG VÀ KHỐI LƯỢNG
Hình thành kĩ năng trong quá trình học:
Trong quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu về lực kế, giáo viên phải nhấn mạng cho học sinh về công dụng của lực kế; về cấu tạo và công dụng của từng
bộ phận của lực kế; về cách sử dụng lực kế; về cách cầm lực kế khi đo;…
Ví dụ 2: Bài 14: MẶT PHẲNG NGHIÊNG
Hình thành kĩ năng trong quá trình học:
Để học sinh có thể chủ động , tích cực làm thí nghiệm thì giáo viên phải: yêu cầu học sinh nhắc lại cách sử dụng lực kế mà học sinh đã được học; đồng thời giới thiệu cho học sinh về cấu tạo của mặt phẳng nghiêng
c) Nắm vững các đặc tính kĩ thuật của thiết bị thí nghiệm
Kiến thức cơ bản của vật lí cung cấp cho học sinh bằng con đường lí thuyết thường là xét trong điều kiện lí tưởng hoặc trong những giới hạn nhất định Điều đó tránh được sự phức tạp trong tầm tiếp thu kiến thức và các phép tính tóan cho học sinh Để vận dụng vào trong thực tế phải thông qua con đường khái quát hóa và mở rộng các kiến thức đã học
Thực tế các hiện tượng vật lí xảy ra trong tự nhiên, khi xét một đại lượng vật
lí nào đó thì chúng luôn có mối quan hệ với nhiều đại lượng vật lí khác Do vậy khi đo giá trị của chúng rồi so sánh với giá trị tính theo lí thuyết sẽ có sự sai khác Mức độ sai khác đó phụ thuộc vào số lượng mối liên quan của đại lượng đang xét với những đại lượng khác mà trong lí thuyết đã bỏ qua
Khi thiết kế các dụng cụ thí nghiệm vật lí, người ta cố gắng xây dựng sao cho khi thực hiện sẽ có kết quả gần trùng với lí thuyết nhất Do vậy sẽ có thể có nhiều dạng dụng cụ khác nhau để nghiên cứu một địa lượng vật lí nào đó, trong đó mỗi dụng cụ sẽ có những đặc tính kĩ thuật khác nhau và người sử dụng cần hiểu để xử lí tốt những đại lượng phụ can thiệp vào đại lượng cần nghiên cứu
Trong tình hình thực tế hiên nay, các thiết bị nói chung có chất lượng chưa cao Khi đánh giá chất lượng thiết bị thí nghiệm ngoài cách thức thiết kế còn
đề cập đến vật liệu, lắp ráp, kiểu dáng, mĩ thuật…Nói chung đó là các đặc tính
kĩ thuật của thiết bị mà người sử dụng cần hiểu để khi sử dụng nó được tốt hơn
Vì vậy giáo viên cần chuẩn bị dụng cụ thí nghiệm đạt chất lượng để không