Hoàng Mai là một quận có tình hình dịch bệnh tay chân miệng diễn biến phức tạp của thành phố Hà Nội với diện tích 41,04 km2, dân số 359.384 người. Tại quận Hoàng Mai, theo số liệu thống kê bệnh truyền nhiễm số ca mắc tay chân miệng các năm từ 2011 đến 2014 lần lượt là 126, 200, 114, 97 và không có ca tử vong [9], [10]. Tuy nhiên, nghiên cứu về bệnh TCM và kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tại Hoàng Mai cho đến thời điểm này là chưa có. Để thu thập thông tin làm cơ sở cho việc xác định các biện pháp can thiệp thích hợp góp phần trang bị cho người dân kiến thức, kỹ năng ứng phó với bệnh tay chân miệng tại địa phương chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng bệnh tay chân miệng và kiến thức, thực hành về phòng chống bệnh tay chân miêng của người chăm sóc chính với trẻ dưới 5 tuổi tại 2 phường Hoàng Liệt và Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai năm 2015”
Trang 1THUYẾT MINH ĐỀ TÀINGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
A THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI.
1 Tên đề tài:
“Thực trạng bệnh tay chân miệng và kiến thức, thực hành về phòng chống bệnh taychân miệng của người chăm sóc chính với trẻ dưới 5 tuổi tại 2 phường Hoàng Liệt, VĩnhHưng, quận Hoàng Mai năm 2015”
2 Thời gian thực hiện: 08 tháng
Từ tháng 01 năm 2015
Đến tháng 08 năm 2015
3 Cấp quản lý: Cấp cơ sở
4 Họ và tên chủ nhiệm đề tài:
Họ và tên: Nguyễn Thị Minh
Ngày, tháng, năm sinh: 16/04/1964 Nam/Nữ: Nữ
Học hàm, học vị: Tiến sỹ- Bác sỹ
Chức vụ: Giám đốc Trung tâm Y tế quận Hoàng Mai
Điện thoại: Tổ chức: 04.62998999 Nhà riêng: 04 38214558 Mobile: 0976068668
Fax: 04 36332627 E-mail: minhhm16@gmail.com
Tên tổ chức đang công tác: Trung tâm Y tế quận Hoàng Mai
Địa chỉ tổ chức: Khu trung tâm hành chính quận Hoàng Mai, phường Thịnh Liệt, quậnHoàng Mai, Hà Nội
5 Cán bộ tham gia nghiên cứu
1 Nguyễn Thị Minh Giám đốc TTYT Hoàng Mai
2 Nguyễn Thị Hồng Lụa P Trưởng khoa Khoa KSDB, HIV/AIDS
3 Phạm Thị Hiền Ninh Cán bộ Khoa KSDB, HIV/AIDS
4 Trần Thị Loan Cán bộ Khoa KSDB, HIV/AIDS
5 Vũ Hữu Quyền Cán bộ Khoa KSDB, HIV/AIDS
B NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1 Đặt vấn đề:
Tay chân miệng (TCM) là một bệnh truyền nhiễm thường gặp ở trẻ nhỏ do hai nhómtác nhân thường gặp là Coxsackievirus A16 và Enterovirus 71 (EV71) gây ra [1] Bệnh cóthể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não- màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp,…dẫn tới tử vong nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời [2] Các trường hợp biếnchứng nặng thường do Enterovirus 71 (EV71) Bệnh chủ yếu lây theo đường tiêu hóa (dotiếp xúc trực tiếp với dịch tiết chứa virus gây bệnh Nguồn lây chính từ nước bọt, phỏng
Trang 2nước và phân của trẻ em nhiễm bệnh Tại các tỉnh phía Nam bệnh có xu hướng tăng cao vàohai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm Bệnh có thể gặp
ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm trẻ dưới 3 tuổi.Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo, đến các nơi trẻ chơi tậptrung là các yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh, đặc biệt là trong các đợt bùng phát
Trong những năm gần đây, bệnh TCM bùng phát thành các vụ dịch lớn tại nhiềuquốc gia và vùng lãnh thổ, đặc biệt là khu vực tây Thái Bình Dương [3] Sự gia tăng số mắc
và tử vong vì bệnh TCM đã thu hút mối quan tâm và sự tham gia của cộng đồng thế giớitrong công cuộc phòng chống bệnh TCM trên toàn cầu [4]
Tại Việt Nam, ca bệnh TCM đầu tiên xuất hiện năm 2003 Ước tính tổng số mắcbệnh TCM lũy tích từ năm 2003- 2010 khoảng 125.000 trường hợp Năm 2011 bệnh TCMgia tăng đột biến ở mức độ báo động với 113.121 trường hợp mắc và 170 ca tử vong đượcphát hiện và báo cáo Năm 2012 dịch TCM ở nước ta tiếp tục diễn biến phức tạp với sốngười mắc 152.287 (tăng 1,3 lần so với năm 2011) và tử vong 45 [5]
Tại Hà Nội năm 2011 bệnh TCM gia tăng đột biến ở mức độ báo động với 1576trường hợp mắc và 03 ca tử vong được phát hiện và báo cáo Năm 2012 dịch TCM ở nước tatiếp tục diễn biến phức tạp với số người mắc 4448 ca (tăng 2,8 lần so với năm 2011) và tửvong 04 [6]
Cho đến nay, bệnh TCM vẫn chưa có vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu[7], [8] Phương châm phòng chống bệnh trên thế giới tập trung chủ yếu vào các can thiệp Y
tế công cộng (YTCC), cắt đứt đường lây truyền bệnh Tuy nhiên công tác phòng chống dịchcủa các địa phương thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập Hoạt động phòng chống dịch chủyếu là giám sát, phát hiện thụ động, cách ly điều trị bệnh nhân, khử khuẩn, tiệt trùng tại cácnơi có ca bệnh TCM mà chưa chú trọng tới hoạt động thông tin- giáo dục- truyền thông (TT-GD- TT), nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân trước khi bệnh dịch xảy ra
Hoàng Mai là một quận có tình hình dịch bệnh tay chân miệng diễn biến phức tạpcủa thành phố Hà Nội với diện tích 41,04 km2, dân số 359.384 người Tại quận Hoàng Mai,theo số liệu thống kê bệnh truyền nhiễm số ca mắc tay chân miệng các năm từ 2011 đến
2014 lần lượt là 126, 200, 114, 97 và không có ca tử vong [9], [10] Tuy nhiên, nghiên cứu
về bệnh TCM và kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tại Hoàng Mai cho đến thời điểmnày là chưa có Để thu thập thông tin làm cơ sở cho việc xác định các biện pháp can thiệpthích hợp góp phần trang bị cho người dân kiến thức, kỹ năng ứng phó với bệnh tay chân
miệng tại địa phương chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng bệnh tay chân miệng và
kiến thức, thực hành về phòng chống bệnh tay chân miêng của người chăm sóc chính với trẻ dưới 5 tuổi tại 2 phường Hoàng Liệt và Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai năm 2015”
Trang 32 Mục tiêu nghiên cứu:
2.1 Mô tả thực trạng bệnh tay chân miệng tại quận Hoàng Mai từ năm 2011 đến năm 2014 2.2 Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan tới phòng chống bệnh
tay chân miệng của người chăm sóc chính với trẻ dưới 5 tuổi tại 2 phường Hoàng Liệt vàVĩnh Hưng
3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
3.1 Tình hình dịch tay chân miệng trên thế giới:
Bệnh TCM được phát hiện đầu tiên tại Mỹ năm 1969 trên một bệnh nhi tử vong vìviêm não do virus EV71 và được báo cáo lần đầu tiên vào năm 1974 Trong những năm 70của thế kỷ trước, bệnh TCM xuất hiện tại Úc, Thụy Điển, Nhật Bản, Bungari và Hungari Cóthể kể đến một số vụ dịch điển hình như vụ dịch tại Bungari năm 1975 với 705 người mắc,tại Hungari năm 1978 với 323 bệnh nhân, tại Nhật Bản năm 1978 với số bệnh nhân là36.301 [4] Hơn 10 năm trở lại đây, bệnh TCM bùng phát tại khu vực châu Á với nhiều vụdịch lớn nhỏ được báo cáo Năm 1998 tại Đài Loan có 129.106 bệnh nhân TCM với số cabệnh nặng và tử vong tương ứng là 405 và 78 Năm 2003, tại Nhật Bản có 172.659 ca Năm
2006 tại Sarawak, Malaysia xảy ra vụ dịch TCM với 14.785 trường hợp mắc và 13 ca tửvong Con số cùng năm tại Thái Lan và Brunei là 3.961 và hơn 1.681 Trong 8 tháng đầunăm 2008, tại Singapore có 19.530 bệnh nhân TCM Cũng trong năm 2008, số bệnh nhânTCM tại Mông Cổ được báo cáo là 3.210 [4], [18]
Bảng 1.2: Số trường hợp mắc bệnh TCM tại một số quốc gia được WHO báo cáo đến ngày
8/1/2013 [3].
Quốc gia/ Vùng lãnh thổ Chiều hướng Số trường hợp báo cáo
3.2 Tình hình dịch tay chân miệng tại Việt Nam
Tại Việt Nam, bệnh TCM do EV71 được phát hiện và phân lập đầu tiên năm 2003
Trang 4tại Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh Năm 2005 tính riêng tại bệnh viện Nhi Đồng thành phố Hồ Chí Minh đã có 764 trẻ mắc bệnh TCM đơn thuần hoặc có biến chứng thầnkinh và 03 ca tử vong [15] Từ đó bệnh TCM liên tục được ghi nhận với mức độ gần 11.000trường hợp mắc/năm Trong năm 2011, bệnh đột ngột bùng phát ở hầu hết các tỉnh thànhtrên toàn quốc với số mắc là 112.370 trường hợp (tăng gấp 10 lần so với các năm trước) và
1-tử vong là 169 người [16] Năm 2012 bệnh xuất hiện ở 63/63 tỉnh thành với số người mắc và
tử vong tương ứng là 152.287 và 45 [3]
Đặc điểm dịch tễ học của bệnh TCM tại Việt Nam là gặp rải rác quanh năm ở hầuhết các địa phương trên cả nước, tại các tỉnh thành phía Nam, số mắc tập trung từ tháng 3đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 [1], với sự phân bố tại các khu vực tương ứng miềnNam 48%, miền Bắc 33%, miền Trung 14%, Tây Nguyên 5% [16] Lứa tuổi thường gặp ởtrẻ dưới 3 tuổi và rất ít thấy ở trẻ trên 5 tuổi Nhóm tuổi có số mắc cao nhất là trẻ dưới 5 tuổi(chiếm 94,85%) [1], [15]
3.3 Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh tay chân miệng
Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu về kiến thức, thái độ thựchành phòng chống bệnh TCM Qua tìm hiểu chúng tôi có được một số kết quả như sau:
3.3.1 Nghiên cứu trên thế giới
Trong báo cáo về “Các chính sách quản lý và phòng ngừa bệnh TCM tại Trung Quốcnăm 2011”, tác giả Zhang Yanpin thuộc tổ chức CDC Trung Quốc nêu rõ “một trong bốn lý
do khiến dịch TCM vẫn tiếp tục gia tăng tại nước này sau khi các chính sách quản lý vàphòng chống bệnh TCM được triển khai là sự thiếu kiến thức, thái độ, thực hành của ngườilớn về bệnh TCM và cách phòng chống” [12]
Một nghiên cứu bệnh chứng được tiến hành chọn ngẫu nhiên trên 283 trẻ dưới 6 tuổi
có mắc bệnh TCM và Herpangina ở thị trấn Quiaosi, tỉnh Zhejiang, Trung Quốc để xác địnhcác yếu tố nguy cơ về bệnh TCM và Herpangina và hiệu quả phòng bệnh bằng rửa tay xàphòng Hiệu quả của biện pháp rửa tay bằng xà phòng của trẻ được thông qua 4 câu hỏi liênquan đến rửa tay Kết quả cho thấy 18% cha mẹ/ người chăm sóc trẻ ở nhóm trẻ bệnh khôngbiết về bệnh TCM trong khi con số tương ứng ở nhóm chứng là 9% Phần trả lời kiến thức
về bệnh TCM cho thấy trong nhóm bệnh có 50% trường hợp bệnh có kiến thức kém về bệnh
và chỉ trả lời được từ 1 đến 3 câu hỏi, chỉ có 12% có điểm số tốt ≥ 07, ở nhóm chứng các kếtquả tương ứng là 2,5% và 78% Về thực hành rửa tay bằng xà phòng chỉ có 41% nhóm bệnhthực hiện trong khi đó số này ở nhóm chứng là 75% [19]
3.3.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Với mục tiêu thu thập thông tin về kiến thức, thái độ, thực hành liên quan đến bệnhTCM trên 2 nhóm đối tượng đích là người chăm sóc trẻ ở hộ gia đình (HGĐ) và các điểm
Trang 5giữ trẻ không chính thức tại cộng đồng, năm 2011 Hội chữ thập đỏ Việt Nam VNRC đã phốihợp cùng IFRC tiến hành khảo sát ban đầu tại 8 tỉnh miền Nam: An Giang, Bến Tre, Long
An, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Quảng Ngãi và Đà Nẵng Khảo sát được tiến hànhbằng phương pháp thu thập thông tin định lượng kết hợp với phỏng vấn sâu ở 146 ngườichăm sóc trẻ chính dưới 5 tuổi tại các HGĐ và 70 người chăm sóc trẻ tại các điểm giữ trẻ.Kết quả cho thấy trong nhóm chăm sóc trẻ tại nhà có đến 21,2% không biết về đường lâytruyền của bệnh, 16,5% không hoặc ít quan tâm ngay cả khi trong thôn xóm có người bịbệnh TCM; chỉ có 45,9% luôn luôn sử dụng xà phòng hoặc các dung dịch sát khuẩn khi rửatay cho trẻ; 64,2% lau chùi sàn nhà và 36,2% lau chùi đồ chơi của trẻ mỗi ngày Đây là khảosát về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh TCM đầu tiên tại Việt Nam, với quy
mô lớn nhất và nội dung hoàn chỉnh nhất cho đến thời điểm hiện tại [20]
Tháng 6 năm 2012, Cao Thị Thúy Ngân cũng đã tiến hành nghiên cứu về kiến thức,thực hành phòng bệnh TCM tại phường Trung Liệt quận Đống Đa, Hà Nội nghiên cứu chỉtiến hành thu thập số liệu định lượng và chỉ trên đối tượng là bà mẹ có con dưới 3 tuổi kếtquả của nghiên cứu này cho thấy: tỷ lệ ĐTNC có kiến thức không đạt là 58,5% (61,2%ĐTNC không biết về triệu chứng bệnh; 19,2% không biết về đường lây truyền); tỷ lệ có thựchành không đúng về phòng chống TCM chung là 69,5% (trong đó tỷ lệ có rửa tay bằng xàphòng là 53,3%; 42,2% có lau chùi sàn nhà và 29,5% lau rửa đồ chơi cho trẻ) [21]
Đề tài “Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh tay chân miệng củaphụ huynh có con dưới 5 tuổi đến khám bệnh tại Trung tâm Y tế huyện Tân Thạnh, Long
An năm 2012” của tác giả Lê Thị Sa nghiên cứu trên 263 thân nhân bệnh nhi được chẩnđoán mắc bệnh TCM Kết quả nghiên cứu: về tuổi của đối tượng nghiên cứu 48,2% dưới 35tuổi; 51,8% từ 35 tuổi trở lên; về nghề nghiệp có 48,7% là nghề nông; hầu hết phụ huynhbiết bệnh TCM lây và nguy hiểm 97,3% do đó cần phải cách ly là 98,1% và 62% phụ huynhbiết được đường lây truyền của bệnh Tỷ lệ phụ huynh nhận biết đúng dấu hiệu của bệnh là25,9%, tỷ lệ nhận biết hơn 2 dấu hiệu bệnh nặng là 22,8% Có 55,9% phụ huynh biết cáchphòng bệnh cho trẻ bằng rửa tay cho trẻ, sau khi chăm sóc trẻ và rửa đồ chơi Tỷ lệ phụhuynh có kiến thức đúng là 26,2% và kiến thức chưa đúng là 73,8% Tỷ lệ thực hành củaphụ huynh rửa tay khi chăm sóc trẻ là 10,3%, rửa tay cho trẻ là 14,1% và rửa đồ chơi là19,8% Tỷ lệ phụ huynh thực hành đúng chăm sóc trẻ bị bệnh TCM là 60%, thực hành chưađúng là 40% Tỷ lệ thực hành đúng ở những người có kiến thức đúng cao hơn gấp 1,4 lần tỷ
lệ thực hành đúng (p= 0,0009) [22]
Tháng 6/2012, Trần Thị Anh Đào tiến hành nghiên cứu kiến thức, thực hành và một sốyếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về phòng bệnh tay chân miệng của bà mẹ có condưới 5 tuổi tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Kết quả thu được 43,72% bà mẹ có kiến
Trang 6thức chung tốt về phòng bệnh tay chân miệng, trong đó có 30,15% biết đúng đường lây;99,50% biết đúng lứa tuổi thường mắc bệnh; 64,15% biết đúng dấu hiệu đặc trưng của bệnh;83,42% biết chưa có vắc xin phòng bệnh, 75,04% - 85,93% biết đúng các biện pháp phòngbệnh 38,86% bà mẹ có thực hành đúng về phòng bệnh tay chân miệng, trong đó có 67,50%
bà mẹ rửa sạch vật dụng, đồ chơi của trẻ, 62,98% bà mẹ rửa tay bằng xà phòng khi chăm sóctrẻ; 59,97% không để trẻ tiếp xúc với trẻ bệnh, 48,74% giữ vệ sinh cá nhân, rửa tay cho trẻ.Xác định có liên quan giữa dân tộc, trình độ học vấn và nghề nghiệp của bà mẹ với thựchành đúng về phòng bệnh tay chân miệng, giữa kiến thức và thực hành phòng bệnh tay chânmiệng [23]
Như vậy các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh TCMtrên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng với đối tượng nghiên cứu chủ yếu là bà mẹhoặc người chăm sóc trẻ, đều cho thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức và thực hànhđúng về bệnh tay chân miệng là chưa cao Như nghiên cứu ở thị trấn Quiaosi, tỉnh Zhejiang,Trung Quốc số có kiến thức thức tốt chiểm 12% và chỉ có 41% thực hiện thực hành rửa taybằng xà phòng [19], nghiên cứu của Cao Thị Thúy Ngân ĐTNC có kiến thức đạt là 41,5%,thực hành đúng về phòng chống TCM chung là 30,5% [21], còn nghiên cứu của Lê Thị Sathì tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đúng là 26,2% và thực hành đúng chăm sóc trẻ bị bệnh TCM là60%, tỷ lệ thực hành đúng ở những người có kiến thức đúng cao hơn gấp 1,4 lần tỷ lệ thựchành đúng (p= 0,0009) [22] Tương tự như vậy với nghiên cứu của Trần Thị Anh Đào có43,72% bà mẹ có kiến thức chung tốt về phòng bệnh tay chân miệng và 38,86% bà mẹ cóthực hành đúng về phòng bệnh tay chân miệng [23] Hoàng Mai là một quận của thành phố
Hà Nội với diện tích 41,04 km2, dân số 359.384 người Tại quận Hoàng Mai, theo số liệuthống kê bệnh truyền nhiễm số ca mắctay chân miệng các năm từ 2011đến 2014 lần lượt là
126, 200, 114, 89 và không có ca tử vong [8], [9] Tuy nhiên, nghiên cứu về bệnh TCM vàkiến thức, thực hành phòng chống bệnh tại Hoàng Mai cho đến thời điểm này là chưa có
4 Phương pháp nghiên cứu.
4.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Số liệu sẵn có về bệnh nhân mắc bệnh tay chân miệng tại quận Hoàng Mai trong 4 năm2011-2014
+ Hộ gia đình (HGĐ) có con dưới 5 tuổi tại 2 phường Hoàng Liệt và Vĩnh Hưng quận HoàngMai
+ Người có vai trò chính trong chăm sóc sức khỏe của HGĐ (những người này thường làcác bà mẹ có con dưới 5 tuổi hoặc người chăm sóc chính cho trẻ)
4.2 Mẫu và phương pháp chọn mẫu:
Trang 7+ Cỡ mẫu cho mục tiêu 1: Toàn bộ bệnh nhân mắc bệnh tay chân miệng tại quận Hoàng Mai
trong 4 năm 2011-2014
+ Cỡ mẫu cho mục tiêu 2: Số HGĐ cần điều tra được tính toán theo công thức tính cỡ mẫucho ước tính một tỷ lệ trong quần thể:
Trong đó:
- n: Số HGĐ phải điều tra
- : mức độ chính xác của nghiên cứu cần đạt dự kiến 95% (α= 0,05) Giá trị Z= 1,96thu được từ bảng Z
p: Tỷ lệ người chăm sóc chính với trẻ dưới 5 tuổi thực hành biện pháp phòng bệnh Trongnghiên cứu này chúng tôi lấy thực hành rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi
đi vệ sinh: 15% (theo kết quả điều tra của cục Y tế dự phòng tại 5 tỉnh Hà Tĩnh, ThanhHóa, Hà Nam, Hà Tây và Hải phòng năm 2006) [25]
- d: sai số ước lượng d=0,05
Từ công thức trên ta tính cỡ mẫu là: 194, để tăng độ chính xác của nghiên cứu chúng tôinhân với hệ số thiết kế bằng 2, như vậy cỡ mẫu tính được là 388 làm tròn thành 400,chia đều cho hai phường, mỗi phường 200 hộ
Cách chọn mẫu:
- Cho mục tiêu 1: Toàn bộ bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh tay chân miệng tạiquận Hoàng Mai từ 01/01/2011 đến 31/12/2014
- Cho mục tiêu 2: Áp dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn:
+ Chọn phường: chọn 2 phường Hoàng Liệt và Vĩnh Hưng (vì hai phường có tình hìnhdịch bệnh tay chân miệng diễn ra phức trên địa bàn quận)
+ Chọn HGĐ phỏng vấn: Tại phường được chọn điều tra 200 hộ, dựa vào số đơn vịhành chính của phường đó chọn ngẫu nhiên mỗi phường10 cụm dân cư (bằng phương phápbốc thăm) Tại mỗi cụm dân cư điều tra 20 hộ có con dưới 5 tuổi, HGĐ đầu tiên được chọntheo phương pháp ngẫu nhiên đơn dựa vào danh sách HGĐ do địa phương cung cấp Các hộtiếp theo được chọn theo phương pháp cổng liền cổng cho đến khi đủ 20 hộ (200hộ/phường)
+ Chọn đối tượng phỏng vấn: mỗi hộ gia đình có con dưới 5 tuổi chọn một người làngười có vai trò chính trong chăm sóc sức khỏe của gia đình, những người này thường là các
Trang 8bà mẹ hoặc chủ hộ gia đình.
4.3 Phương pháp nghiên cứu.
Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
4.4 Phương pháp thu thập số liệu:
+ Lấy số liệu sẵn có về bệnh nhân mắc bệnh tay chân miệng tại quận Hoàng Mai
+ Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn
+ Quan sát tình trạng vệ sinh hộ gia đình dựa vào bảng kiểm quan sát
4.5 Địa điểm nghiên cứu:
Tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội và tại 2 phường Hoàng Liệt và Vĩnh Hưng trên địabàn quận Hoàng Mai
4.6 Thời gian nghiên cứu
Thời gian thu thập số liệu tại thực địa: tháng từ tháng 01/2015 đến tháng 6/2015.Thời gian phân tích số liệu và viết báo cáo: từ tháng 7/2015 đến tháng 8/2015
4.7 Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu được làm sạch, mã hóa trước khi nhập vào máy tính
- Số liệu được nhập trên phần mềm Epidata 3.1
- Số liệu xử lý trên phần mềm Exel và phần mềm stata 11
- Các kết quả được tính toán theo tỷ lệ phần trăm của các biến số nghiên cứu
- Đánh giá mức độ hiểu biết và thực hành dựa vào tỷ lệ % điểm kiến thức và điểm thựchành trung bình so với điểm mong đợi (ĐKTTB/ĐMĐ hoặc ĐTHTB/ĐMĐ)
+ Cách tính điểm kiến thức: đối với mỗi câu hỏi về kiến thức, mỗi ý trả lời đúng được
tính 1 điểm, có bao nhiêu ý đúng thì được bấy nhiêu điểm Điểm mong đợi với mỗi câu hỏi
về kiến thức được tính bằng số điểm mong muốn đạt được đối với câu hỏi đó Điểm kiếnthức trung bình được tính bằng tổng số ý trả lời đúng cho câu hỏi đó/tổng số người được hỏi.Điểm kiến thức trung bình càng cao có nghĩa là hiểu biết càng nhiều
+ Cách tính điểm thực hành: đối với mỗi câu hỏi về thực hành, mỗi ý trả lời đúng
được tính 1 điểm, có bao nhiêu ý đúng thì được bấy nhiêu điểm Điểm mong đợi đối với mỗicâu hỏi về thực hành được tính bằng số điểm mong muốn đạt được đối với câu hỏi đó Điểmthực hành trung bình được tính bằng tổng số ý trả lời đúng cho câu hỏi đó/tổng số ngườiđược hỏi Điểm thực hành trung bình càng cao có nghĩa là thực hành càng tốt Đánh giá mức
độ thực hành dựa vào tỷ lệ % điểm thực hành trung bình so với điểm mong đợi(ĐTHTB/ĐMĐ)
+ Điểm mong đợi chính là số điểm mà nghiên cứu mong muốn người dân có đạt được đểphòng ngừa bệnh tật Điểm mong đợi về kiến thức và thực hành dựa trên những khuyến cáo của
Bộ Y tế về cách phòng chống bệnh [1]
Trang 9- Để phân tích yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của người dân chúng tôi sửdụng Test 2 để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng.
Phân loại kiến thức, thực hành theo 3 mức độ:
+ Về kiến thức: mức kém nếu ĐTNC chỉ trả lời được <50% tổng số ý đúng, mức trungbình nếu ĐTNC trả lời được từ 50-70% tổng số ý đúng, mức khá nếu ĐTNC trả lời được
>70% tổng số ý đúng
+ Về thực hành: thực hành kém nếu ĐTNC chỉ thực hiện <50% tổng số thực hànhmong đợi, thực hành đạt mức trung bình nếu ĐTNC thực hiện được từ 50-70% tổng số thựchành mong đợi, thực hành khá nếu ĐTNC thực hiện được >70% tổng số tổng số thực hànhmong đợi
4.8 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu:
- Nghiên cứu chỉ sử dụng kỹ thuật phỏng vấn, quan sát để thu thập thông tin và sửdụng số liệu có sẵn, không gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của đối tượng tham gia nghiêncứu
- Các cá nhân, gia đình, đơn vị nghiên cứu được giải thích đầy đủ ý nghĩa của nghiêncứu và tự nguyện tham gia Các thông tin thu thập chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu, nhằmgóp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng
4.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và các biện pháp khắc phục sai số
- Trong nghiên cứu này có một số sai số có thể gặp là:
+ Sai số đối với số liệu sẵn có:
Sai số do chẩn đoán: do bác sỹ chẩn đoán sai bệnh
Sai số lặp lại: do người bệnh có thể mắc bệnh tái đi tái lại lần 2, lần 3 vẫn được đưavào thống kê ca bệnh
+ Sai số do ĐTNC từ chối không tham gia
+ Sai số do chưa hiểu rõ câu hỏi đối với điều tra viên và ĐTNC
+ Sai số do quá trình nhập số liệu
- Cách khắc phục
+ Sai số đối với số liệu sẵn có:
Nếu có những sai số này thì không khắc phục được vì đây là số liệu có sẵn Đâycũng là hạn chế của sử dụng số liệu có sẵn Tuy nhiên, đã có hướng dẫn “Chẩn đoán, điềutrị bệnh tay chân miệng” ban hành kèm theo quyết định 1003/QĐ- BYT ngày 30/3/2012 của
Bộ trưởng Bộ Y tế nên sai số này được hạn chế đáng kể
+ Đối với số liệu thống kê nếu có nghi ngờ thì kiểm tra lại và đối chiếu với các nguồn
số liệu để phát hiện và điều chỉnh
Trang 10+ Tập huấn kỹ cho điều tra viên về kỹ thuật phỏng vấn và điền thông tin trước khi điềutra chính thức.
+ Kiểm tra kĩ bộ câu hỏi để đảm bảo các thông tin thu thập đầy đủ và đúng với mụctiêu của nghiên cứu
+ Giám sát hằng ngày các phiếu điều tra để phát hiện sai sót, bất hợp lý từ đó góp ýcho điều tra viên kịp thời bổ sung và điều chỉnh
+ Làm sạch số liệu trước khi nhập, tạo file check để hạn chế sai số do nhập số liệu+ Kiểm tra logic file số liệu, phát hiện và xử lý các số liệu vô lý trước khi phân tích
5 Dự kiến kết quả nghiên cứu
5.1 Thực trạng bệnh tay chân miệng
Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo từng năm
Biểu đồ 3.2 Phân bố bệnh nhân theo tháng trong năm
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi và giới
Nhóm tuổi
Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân theo phường
Trang 11Thịnh Liệt 14 9 2 4 29
5.2 Kiến thức, thực hành về bệnh tay chân miệng
5.2.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
5.2.2 Kiến thức về bệnh tay chân miệng
Bảng 3.4 Kiến thức về đường lây truyền bệnh tay chân miệng
Trang 12Bảng 3.6 Kiến thức về thời tiết mắc nhiều tay chân miệng
Bảng 3.7 Kiến thức về đối tượng dễ mắc tay chân miệng
Trang 131 Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng dưới
vòi nước chảy
2 Cho trẻ ăn chín, uống chín
3 Rửa sạch vật dụng ăn uống trước khi sử
dụng
4 Không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm mút
đồ chơi
5 Không cho trẻ dùng chung khăn ăn, khăn
tay, vật dụng ăn uống như cốc, bát, đĩa,
thìa
6 Làm sạch đồ chơi, những nơi trẻ hay bám
tay
7 Tiêm vắc xin phòng bệnh TCM
8 Thu gom, xử lý phân, chất thải của trẻ và
đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh
9 Không cho trẻ có biểu hiện bệnh đến lớp
Trang 14(tổng hợp từ các bảng 3.4, 3.5, 3.6, 3.8, 3.9)
1 Biết bệnh TCM là bệnh lây 1
2 Đường lây truyền
b Tiếp xúc trực tiếp với dịch của mụn,bọng nước. 1
c Tiếp xúc với phân bệnh nhân 1
a Rửa tay thường xuyên bằng xà phòngdưới vòi nước chảy 1
b Cho trẻ ăn chín, uống chín 1
c Rửa sạch vật dụng ăn uống trước khi sửdụng 1
d Không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậmmút đồ chơi 1
e Không cho trẻ dùng chung khăn ăn,khăn tay, vật dụng ăn uống như cốc,
bát, đĩa, thìa
1
i Không cho trẻ có biểu hiện bệnh đếnlớp 1
k Vệ sinh nhà cửa sạch sẽ 1
8 Làm sạch đồ chơi, những nơi trẻ haybám tay 1
9 Thu gom, xử lý phân, chất thải của trẻvà đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh 1
Trang 155.2.3 Thực hành về phòng chống bệnh tay chân miệng
Bảng 3.12 Thực hành các biện pháp về phòng chống bệnh tay chân miệng
1 Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng
dưới vòi nước chảy
2 Cho trẻ ăn chín, uống chín
3 Rửa sạch vật dụng ăn uống trước khi sử
dụng
4 Không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm mút
đồ chơi
5 Không cho trẻ dùng chung khăn ăn, khăn
tay, vật dụng ăn uống như cốc, bát, đĩa,
thìa
6 Làm sạch đồ chơi, những nơi trẻ hay bám
tay
7 7 Tiêm vắc xin phòng bệnh TCM
8 Thu gom, xử lý phân, chất thải của trẻ và
đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh
9 Không cho trẻ có biểu hiện bệnh đến lớp
1 Đưa trẻ bị bệnh đến CSYT điều trị
2 Cho cháu nghỉ học đến khi khỏi hẳn
3 Báo cho các nhà hàng xóm có trẻ biết
4 Báo cho CBYT biết
5 Báo cho chính quyền biết
6 Không làm gi
7 Khác