I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, ngành giáo dục không ngừng tìm ra nhiều giải pháp, trong đó đổi mới phương pháp giảng dạy luôn được quan tâm. Trong một giờ học, học sinh đóng vai trò trung tâm, làm sao phát huy được sự tích cực, chủ động của các em thì giờ học mới thành công. Để làm được điều đó, mỗi giáo viên cần có sự chuẩn bị chu đáo cho tiết dạy của mình. Trong những năm gần đây, dạy và học văn trong nhà trường THCS đã trở thành vấn đề quan tâm của xã hội. Giới báo chí truyền thông, các nhà nghiên cứu, lí luận, nhà chuyên môn, nhà giáo tranh luận liên tục trong các diễn đàn, hội nghị về phương pháp dạy học văn và chương trình sách giáo khoa nhằm đưa ra giải pháp tối ưu để việc dạy học văn đạt hiệu quả. Qua đó, chúng ta cũng thấy được sự nổ lực của ngành giáo dục trong việc nâng cao chất lượng dạy và học văn. Tìm ra phương pháp dạy học sao cho lôi cuốn học sinh học Ngữ văn là vấn đề cấp thiết nhưng không phải dễ thực hiện. Riêng đối với bộ môn Ngữ Văn, một môn học rất đặc thù: “dạy chữ, dạy người” Môn học đòi hỏi: “cái tâm, cái tài và cái tình” của người dạy. Một giáo viên dạy Văn phải như người nghệ sĩ trên sân khấu.Thế nhưng, người nghệ sĩ không phải là một vai diễn mà phải sống và hòa mình vào bài dạy, đau cùng nỗi đau của nhân vật, vui cùng niềm vui của nhân vật, hạnh phúc cùng nhân vật của mình. Chính vì vậy, cách để truyền thụ cảm xúc đến học sinh là yếu tố quan trọng để có một giờ dạy Văn thành công.Trong thực tế giảng dạy của mình, tôi nhận thấy học sinh lứa tuổi THCS rất ham hoạt động, thích khám phá cái mới, nhất là những hình ảnh trực quan, thích được “thể hiện bản thân” thông qua các trò chơi. Các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống của dân tộc Việt Nam ta như: chèo, cải lương, dân ca kịch bài chòi, múa rối nước…lâu nay tuổi thanh thiếu niên còn thờ ơ. Để các loại hình nghệ thuật này “cảm hóa” được các em là một điều trăn trở của nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa nghệ thuật. Trong thời lượng một tiết học, có thể cho các em xem, nghe, làm quen và bước đầu cảm nhận cũng là cách để duy trì văn hóa nghệ thuật truyền thống cho giới trẻ. Các loại hình sân khấu ở đây được hiểu là các hình thức biểu diễn trên sân khấu như: múa, chèo, hát đối, ca Huế, nhạc, ngâm thơ, kịch…Nội dung tác phẩm Văn học được người nghệ sĩ tái hiện lại một cách sinh động. Đây còn là cách để học sinh hứng thú hơn trong tiết học của mình. Thiết kế một trò chơi nhỏ cho một phần của bài dạy cũng là một cách để tiết học của mình sinh động, lôi cuốn học sinh. Thông qua trò chơi để khắc sâu kiến thức,những trò chơi ấy còn có tác dụng mở rộng kiến thức thực tế, giáo dục đạo đức cho học sinh và cũng là “dịp’ để giáo viên giới thiệu một số loại hình nghệ thuật sân khấu của dân tộc. Những trò chơi đều sử dụng hình ảnh trực quan sẽ kích thích sự hứng thú cho học sinh. Như vậy, việc sử dụng trò chơi và các loại hình sân khấu mang tính chất bổ trợ cho nhau nhằm mục đích tạo hứng thú cho học sinh trong tiết học Văn. Với đề tài này, tôi muốn giới thiệu một số trò chơi và các loại hình sân khấu vận dụng cho các tiết dạy của mình. Đây là những kinh nghiệm mà bản thân tôi đã rút ra từ thực tế giảng dạy. Đó là lí do tôi chọn đề tài: “ Sử dụng một số hình thức nghệ thuật sân khấu và trò chơi nhằm tạo một giờ học sinh động ở bộ môn Ngữ Văn THCS”. Rất mong sự góp ý của quý Ban giám khảo.
Trang 1I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, ngành giáo dục không ngừng tìm ra nhiều giảipháp, trong đó đổi mới phương pháp giảng dạy luôn được quan tâm Trong một giờhọc, học sinh đóng vai trò trung tâm, làm sao phát huy được sự tích cực, chủ động củacác em thì giờ học mới thành công Để làm được điều đó, mỗi giáo viên cần có sựchuẩn bị chu đáo cho tiết dạy của mình
Trong những năm gần đây, dạy và học văn trong nhà trường THCS đã trở thànhvấn đề quan tâm của xã hội Giới báo chí truyền thông, các nhà nghiên cứu, lí luận,nhà chuyên môn, nhà giáo tranh luận liên tục trong các diễn đàn, hội nghị về phươngpháp dạy học văn và chương trình sách giáo khoa nhằm đưa ra giải pháp tối ưu để việcdạy học văn đạt hiệu quả Qua đó, chúng ta cũng thấy được sự nổ lực của ngành giáodục trong việc nâng cao chất lượng dạy và học văn Tìm ra phương pháp dạy học saocho lôi cuốn học sinh học Ngữ văn là vấn đề cấp thiết nhưng không phải dễ thực hiện Riêng đối với bộ môn Ngữ Văn, một môn học rất đặc thù: “dạy chữ, dạy người” -Môn học đòi hỏi: “cái tâm, cái tài và cái tình” của người dạy Một giáo viên dạy Vănphải như người nghệ sĩ trên sân khấu.Thế nhưng, người nghệ sĩ không phải là một vaidiễn mà phải sống và hòa mình vào bài dạy, đau cùng nỗi đau của nhân vật, vui cùngniềm vui của nhân vật, hạnh phúc cùng nhân vật của mình Chính vì vậy, cách đểtruyền thụ cảm xúc đến học sinh là yếu tố quan trọng để có một giờ dạy Văn thànhcông.Trong thực tế giảng dạy của mình, tôi nhận thấy học sinh lứa tuổi THCS rất hamhoạt động, thích khám phá cái mới, nhất là những hình ảnh trực quan, thích được “thểhiện bản thân” thông qua các trò chơi
Các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống của dân tộc Việt Nam ta như: chèo, cảilương, dân ca kịch bài chòi, múa rối nước…lâu nay tuổi thanh thiếu niên còn thờ ơ Đểcác loại hình nghệ thuật này “cảm hóa” được các em là một điều trăn trở của nhiềunhà nghiên cứu về văn hóa nghệ thuật Trong thời lượng một tiết học, có thể cho các
em xem, nghe, làm quen và bước đầu cảm nhận cũng là cách để duy trì văn hóa nghệthuật truyền thống cho giới trẻ Các loại hình sân khấu ở đây được hiểu là các hìnhthức biểu diễn trên sân khấu như: múa, chèo, hát đối, ca Huế, nhạc, ngâm thơ, kịch…Nội dung tác phẩm Văn học được người nghệ sĩ tái hiện lại một cách sinh động Đâycòn là cách để học sinh hứng thú hơn trong tiết học của mình
Trang 2Thiết kế một trò chơi nhỏ cho một phần của bài dạy cũng là một cách để tiết học củamình sinh động, lôi cuốn học sinh Thông qua trò chơi để khắc sâu kiến thức,những tròchơi ấy còn có tác dụng mở rộng kiến thức thực tế, giáo dục đạo đức cho học sinh vàcũng là “dịp’ để giáo viên giới thiệu một số loại hình nghệ thuật sân khấu của dân tộc.Những trò chơi đều sử dụng hình ảnh trực quan sẽ kích thích sự hứng thú cho họcsinh.
Như vậy, việc sử dụng trò chơi và các loại hình sân khấu mang tính chất bổ trợ chonhau nhằm mục đích tạo hứng thú cho học sinh trong tiết học Văn Với đề tài này, tôimuốn giới thiệu một số trò chơi và các loại hình sân khấu vận dụng cho các tiết dạycủa mình Đây là những kinh nghiệm mà bản thân tôi đã rút ra từ thực tế giảng dạy
Đó là lí do tôi chọn đề tài: “ Sử dụng một số hình thức nghệ thuật sân khấu và trò chơinhằm tạo một giờ học sinh động ở bộ môn Ngữ Văn THCS” Rất mong sự góp ý củaquý Ban giám khảo
II.TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI ĐỀ TÀI:
1.Cơ sở lý luận:
Báo thời đại số 147 có bài viết: “Trong kho tàng văn hóa nghệ thuật dân tộc Việt Nam hiện nay có 7 loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống, đó là: Múa rối nước, Chèo, Tuồng, Cải lương, Dân ca kịch Bài chòi khu 5, Dù kê Đồng bằng sông Cửu Long, Ca kịch Huế Riêng Ca kịch Ví dặm Nghệ Tĩnh là loại hình dân ca kịch có nhiều triển vọng trở thành nghệ thuật sân khấu truyền thống của dân tộc, nhưng cho đến nay vẫn chưa được Nhà nước công nhận Việc tìm hiểu và nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống đối với các giảng viên và học sinh hết sức cần thiết vì hiện nay giới trẻ rất thờ ơ về những loại hình này,
vì vậy việc đưa các loại hình này vào dạy học học trong nhà trường phổ thông là một
ý định hay…”
Trong “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ”( NXB giáo dục, ĐHSP) đưa ra khái niệm trò chơi như sau: “Trò chơi có luật và những nội dung cho trước, là trò chơi của
sự nhận thức, hướng đến sự mở rộng, chính xác hóa, hệ thống hóa các biểu tượng đã
có nhằm phát triển các năng lực trí tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết học sinh - trong
đó nội dung học tập kết hợp với hình thức trò chơi”.
Trang 3Trong đổi mới phương pháp giảng dạy, các nhà giáo dục đã khẳng định: “HS phải thực sự chủ động, tích cực trong tiết học mới đem lại hiệu quả cao nhất Ngoài thảo luận nhóm, trò chơi được vận dụng dưới hình thức phù hợp là cũng rất hiệu quả”
Trò chơi là phương pháp dạy học tích cực trong định hướng đổi mới hiện nay.Học sinh đóng vai trò trung tâm, trong tiết học, học sinh được thể hiện bản thân mình,chủ động, tự tin, tiếp thu tri thức và rèn luyện kĩ năng sống chính là mục tiêu lâu dàicủa giáo dục.Như vậy, các loại hình sân khấu được vận dụng vào dạy học Văn thì đóchính là cách để giáo dục học sinh về truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, pháttriển năng khiếu cho các em và việc tiếp thu bài hiệu quả Thế nhưng trong thời lượngcủa chương trình việc đưa vào dạy chính khóa sẽ gặp khó khăn.Trò chơi là phươngpháp dạy học tích cực, cũng là cách để truyền đạt tri thức Vì thế kết hợp phương phápnày với việc giới thiệu các loại hình sân khấu trong một tiết dạy sẽ có một giờ học Vănlôi cuốn, sinh động
2 Cơ sở thực tiễn:
Học sinh lứa tuổi THCS thích tìm tòi, khám phá cái mới, kích thích được sự hứngthú của các em thông qua trò chơi và sự sinh động của các hình thức sân khấu là mộtcách để một giờ học Văn hứng thú Việc vận dụng trò chơi và sân khấu lâu nay đãthực hiện nhưng vận dụng thích hợp hiệu quả, đúng lúc, đúng thời điểm còn là nghệthuật của mỗi người giáo viên Học sinh trường Huỳnh Văn Nghệ thuộc địa bàn vùngsâu, việc tiếp cận với CNTT còn hạn chế Chính vì vậy, các loại hình sân khấu còn làcách giúp học sinh tiếp cận với CNTT Học sinh hứng thú học tập sẽ nâng cao chấtlượng bộ môn
Trò chơi là một phương pháp chỉ ứng dụng vào một phần nào đó của bài học,nhưng sẽ tạo được hứng thú cho học sinh nắm bắt nội dung bài học Trò chơi được tổchức ở bất cứ phần nào của tiết học là do đặc trưng của từng bài (Phần giới thiệu, phầnnội dung, phần củng cố,…) Đơn cử như xưa nay, giáo viên ta thường chỉ giới thiệubài một vài câu hay liên hệ từ kiến thức bài cũ để vào bài Vậy tại sao chúng ta khônggiới thiệu bài bằng một trò chơi nho nhỏ, không mất nhiều thời gian mà hấp dẫn đượccác em Nhất là có thể kết hợp với các hình thức sân khấu tạo một không khí phấnkhởi để vào bài
Trang 4Để tổ chức một trò chơi phù hợp, hiệu quả trong một tiết dạy đòi hỏi giáo viênphải nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo và trò chơi phải có luật chơi Tùy vào trường hợp cụthể, trò chơi cụ thể mà giáo viên có thể đưa ra các quy định về hành động chơi, trình
Để đạt hiệu quả trong việc vận dụng trò chơi, giáo viên cần:
Có sự đầu tư kĩ lưỡng cho trò chơi của mình
Phải quản lí được lớp học trong thời gian diễn ra trò chơi
Vận dụng linh hoạt, sáng tạo và lâu dài trong bài dạy
Việc vận dụng các loại hình sân khấu thì cần đảm bảo:
- Chọn loại hình sân khấu phù hợp với bài dạy
- Đưa loại hình sân khấu phù hợp với tiết dạy, không làm loãng bài học
- Nội dung và người nghệ sĩ trong bài thể hiện phải nghiêm túc, không đưacác hình ảnh phản giáo dục
III Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2.1 Giới thiệu một số trò chơi sử dụng trong dạy Ngữ văn THCS
2 1.1 Trò chơi ô chữ
Xưa nay giáo viên chưa chú trọng lắm đến phần giới thiệu bài Thông thườngchỉ giới thiệu lại bằng kiến thức bài cũ, hoặc đi thẳng vào bài mới Ở một số văn bảnchúng ta có thể giới thiệu bằng cách đưa ra trò chơi Phương pháp này có thể ứng dụng
ở các khối lớp, sau đây là ví dụ ở chương trình lớp 7 với 1 bài cụ thể : “Mẹ tôi”
Cách tiến hành như sau: Trong các câu hỏi kiểm tra bài cũ, GV chuẩn bị một ôchữ có liên quan đến bài học, các ô chữ nhỏ có liên quan đến bài cũ Từ ô chìa khoá
đó giáo viên dẫn dắt vào bài Ô chữ này cần ngắn gọn, thời lượng cho việc kiểm trabài cũ và giải ô chữ là 5-7 phút Cụ thể ứng dụng trong các bài: Qua đèo ngang, Cảnh
Trang 5khuya, Côn sơn ca, Ca Huế trên Sông Hương, Sống chết mặc bay, Mẹ tôi, Cổngtrường mở ra, Qua Đèo Ngang,…trong chương trình lớp 7.
Ví dụ: Trong bài “Mẹ tôi” Giáo viên chuẩn bị ô chữ như sau:
Câu hỏi giải ô chữ:
1 Văn bản mà chúng ta đầu tiên trong chương trình Ngữ Văn 7?
2 Ai đã thao thức trong đêm trước ngày khai trường của con?
3 Văn Bản “ Cổng trường mở ra” được viết theo thể loại nào?
4 Đứa con trong văn bản “ Cổng trường mở ra” là một đứa trẻ như thếnào?
5 Đây là ngày mọi người đều đưa trẻ đến trường
Thay vì giới thiệu bằng lời để vào bài, giáo viên kết hợp một đoạn cảilương về mẹ:
2.1.2 Trò chơi ghép chữ:
Cách tiến hành: Giáo viên chuẩn bị các mẫu giấy roki, ghi các từ ngữ ca dao vào
các ô giấy, sau đó đảo lộn các mảnh giấy này
Ví dụ: Trong phần củng cố của bài “ Ca dao, dân ca” Giáo viên tổ chức trò chơi ghép
ô chữ Giáo viên chuẩn bị 2 hoặc 4 câu ca dao, các câu này được viết vào các ô giấynhỏ, cắt rời từng chữ, sắp xếp lộn xộn, 4 nhóm sắp xếp lên bảng để thành câu ca daohoàn chỉnh Cụ thể:
Học sinh hoàn thành câu ca dao này như sau:
Bề
Trắng
Trang 6“ Ai về Gia Định thì vềNước trong gạo trắng dễ bề làm ăn”.
Khi dạy bài ca dao dân ca về tình cảm gia đình, thay vì đọc cho học sinh nghemột số bài ca dao để làm phong phú kiến thức, giáo viên có thể chuẩn bị nhiều câuthuộc chủ đề này để học sinh tự ghép Sau đây là 8 câu về chủ đề gia đình, giáo viêncho mỗi tổ 2 câu để học sinh ghép sau đó nhận xét từng tổ
1.“Có cha mẹ mới có taLàm nên nhờ bởi mẹ cha vun trồng”
2.Uốn cây từ thuở còn nonDạy con từ thuở con còn ngây thơ
3.Có con nhớ mẹ thương thayChín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau
4.Cây khô đâu dễ mọc chồi
Mẹ già đâu dễ sống đời với con
5.Mẹ già ở túp lều tranhSớm thăm tối viếng mới đành dạ con
6.Sinh con ai chẳng sinh lòngSinh con ai chẳng vun trồng cho con7.Mỗi đêm thắp ngọn đèn trờiCầu cho cha mẹ sống đời với con
8.Hiu hiu gió thổi đọt càLàm sao cho đặng cha mẹ già nuôi chung
2.1.3.Trò chơi “ Trúc xanh”
Cách tiến hành: Giáo viên tìm các hình ảnh, đoạn phim có liên quan đến thànhngữ, trình chiếu hoặc dán hình ảnh để học sinh quan sát và đoán xem đó là câu thànhngữ nào, nêu nội dung của những câu đó
Ví dụ: Trong bài “Thành ngữ” ở lớp 7.
Trong bài này, giáo viên có thể đưa một số hình ảnh có liên quan đến thành ngữ
để học sinh đoán xem đó là câu gì (giống trò chơi Trúc Xanh)
Giáo viên có thể dùng phương pháp sánh vai, cho một số học sinh diễn tả, họcsinh khác đoán thành ngữ
Trang 7Ví dụ: Rau nào sâu ấy, nuớc đổ đầu vịt, ruột để ngoài da, cõng rắn cắn gà nhà, ôngnói gà, bà nói vịt,…(chuẩn bị hình ảnh và trình chiếu).
Giáo viên tham khảo một số hình ảnh sau để ứng dụng vào trò chơi đoán thànhngữ:
Ông nói gà bà nói vịt
Ngoài những hình ảnh giới thiệu trên, giáo viên cho các em xem đoạn phim, kịch, bàihát có thành ngữ để học sinh tìm thành ngữ.Ví dụ: Đoạn phim “Chị Dậu”, đoạn nàygiúp học sinh nhớ đến câu “tức nước vỡ bờ”
2.1.4 Trò chơi “điền bảng”
Ví dụ: Trong phần tổng kết phần thơ ở lớp 9, thay vì cho học sinh thống kê các
tác phẩm đã học, ta có thể biến thành một trò chơi “Ai nhớ nhanh nhất” Lớp họcchia thành 4 tổ Mỗi tổ hoàn thành công việc nêu tên tác giả, năm sáng tác, nộidung và nghệ thuật trong 5 phút
TT Tên bài Tác giả Năm
s/ tác
Thểthơ Tóm tắt nội dung
Đặc sắc nghệthuật
1. Đồng
chí
Chính Hữu
Chi tiết, hình ảnh
tự nhiên, giản dị,
cô đọng, gợi cảm
2 Đoàn
thuyền
đánh cá
Huy Cận
1958 7
chữ
Vẻ đẹp tráng lệ, giàu màu sắc lãng mạn của thiên nhiên, vũ trụ và
Từ ngữ giàu hìnhảnh, sử dụng các biện pháp ẩn dụ, Rau nào sau ấy
Trang 8con người lao động mới nhân hóa
3 Con cò Chế
Lan Viên
1982 Tự
do
Ca ngợi tình mẹ và ý nghĩa lời ru đối với cuộc sống con người
Vận dụng sáng tạo ca dao Biện pháp ẩn dụ, triết
Tình cảm bà cháu và hình ảnh người bà giàu tình thương, giàu đức
hy sinh
Hồi tưởng kết hợp với cảm xúc,
1969 Tự
do
Vẻ đẹp hiên ngang, dũng cảm của người lính lái xe Trường Sơn
Ngôn ngữ bình
dị, giọng điệu và hình ảnh thơ độc đáo
7 Viếng
lăng
Bác
Viễn Phương
1976 7
chữ,8chữ
Lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc đối với Bác khi vào thăm lăng Bác
Giọng điệu trangtrọng, thiết tha,
1978 5
chữ
Gợi nhớ những năm tháng gian khổ của người lính, nhắc nhở thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”
Giọng tâm tình, hồn nhiên, hình ảnh gợi cảm
9 Nói với
con
Y Phương
Sau 1975
5chữ
Tình cảm gia đình ấm cúng, truyền thống cần
cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và dân
Từ ngữ, hình ảnhgiàu sức gợi cảm
Trang 9tộc, sự gắn bó với truyền thống.
10 Mùa
xuân
nho nhỏ
Thanh Hải
1980 5
chữ
Cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên,
vũ trụ và khát vọng làmmùa xuân nho nhỏ dânghiến cho đời
Hình ảnh đẹp, gợi cảm, so sánh
và ẩn dụ sáng tạo, gần gũi dân ca
11 Sang thu Hữu
Thỉnh
1991 5
chữ
Những cảm nhận tinh tếcủa tác giả về sự
chuyển biến nhẹ nhàng của thiên nhiên từ cuối
hạ sang thu
Hình ảnh thơ giàu sức gợi cảm
Sau trò chơi, học sinh nắm được kiến thức về các tác phẩm đã học, để kiến thức khắcsâu hơn, học sinh sẽ thưởng thức các tác phẩm đã học qua một bài hát hoặc bài ngâmthơ
Ví dụ: Bài thơ “Nói với con” của Y Phương (Ngữ văn 9, tập 2), học sinh rất khó
thuộc bài này, giáo viên nên ứng dụng trò chơi này vào phần củng cố bài, giới thiệubài
“Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ caì nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa
Trang 10Con đường cho những tấm lòng Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời ”
2.1.6 Trò chơi “ Sưu tầm kiến thức”
Trò chơi này được ứng dụng rộng rãi ở nhiều bài
Cách tiến hành: Giáo viên chia thành các đội chơi, theo dõi kết quả của họcsinh.Muốn thực hiện tốt trò chơi này, trước tiết học thơ giáo viên cần dặn dò học sinh
về xem trước bài hoặc đưa ra yêu cầu cụ thể để học sinh tìm hiểu, sưu tầm.Trò chơinày áp dụng sẽ giúp học sinh thu thập kiến thức một cách tự nhiên, hiệu quả
Ví dụ: Khi dạy bài “ Khi con tu hú” của Tố Hữu (Ngữ văn 8, tập 2) Yêu cầu các
em tìm những bài thơ của tác giả Bài thơ “ Ánh trăng” của Nguyễn Duy (Ngữ văn 9,tập 1) học sinh có thể sưu tầm các bài thơ có hình ảnh của trăng ( Muốn làm thằngCuội, Vọng nguyệt, Cảnh khuya, Tĩnh dạ tứ)
Khi dạy bài: “Những câu hát than thân, Những câu hát châm biếm, Ca dao vềtình cảm gia đình, Quê hương đất nước”(trong SGK Ngữ văn 7) Giáo viên cho các tổthi đua để tìm các câu mới bổ sung cho vốn kiến thức ca dao, tục ngữ
Một số câu ca dao quen thuộc mà học sinh dễ tìm thấy ( chủ đề về quê hương,đất nước)
1.Anh về ngoài Huế lâu vô
Vẽ bức tranh đồ để lại cho em
2.Nước ròng chảy thấu Tam GiangSầu đông chín đỏ sao chàng còn đây
3.Đồng Nai, Châu Đốc, Định TườngLòng anh sở mộ gái miệt vườn mà thôi
4.Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định Đồng Nai thì về
5 Đồng Nai Gia Định còn vềCách ba tất đất không hề vãng lai
Trang 11Đường dài ngựa chạy cát bayNgãi nhân thăm thẳm mỗi ngày một xa.
………
2.1.7.Trò chơi “Ai nhanh hơn”
Có thể áp dụng ở rất nhiều bài.Chia lớp thành các đội chơi Các đội sẽ thi thố tìmnhững từ có liên quan đến bài học
Ví Dụ 1: Khi dạy bài: Danh từ, động từ ( lớp 6) Sau khi tìm hiểu khái niệm danh
từ, động từ giáo viên tổ chức trò chơi đơn giản như sau: Chia bảng hai phần: Đội Aứng với chữ cái Đ, đội B ứng với chữ cái T Mỗi đội hãy tìm các danh từ, động từ bắt đầu bằng chữ cái của đội mình.Sau đây là động từ bắt đầu bằng chữ Đ, T
Trang 12Đội A (Đ)Đi
Thăm viếng
Bài danh từ: Thi tìm danh từ
Đội A : Danh từ chỉ vật dụng gia đình Đội B: Danh từ chỉ đồ dùng học tập
Chén, xoong, rổ, li, ấm, chảo,… Sách, vở,bút thước, bảng màu, tẩy,…
Ví dụ 2: Thi “ai nhanh hơn” trong bài: Từ Hán Việt Giáo viên chọn một dãy 5 HS
thành một đội, có quy định thời gian (3 phút) Đội nào tìm được nhiều từ Hán Việthơn thì chiến thắng
Hệ thống từ Hán Việt chiếm hơn 60% ngôn ngữ ta nên việc tìm này khá dễ dàng:
Phồn thịnh, an cư, phu nhân ,tử nạn, tử
vong,trung tâm, y đức, nhân đạo, nhân ái,
vĩnh cửu, hi sinh, bất tử,…
Quốc kì, quốc ca, phụ huynh, nhân tâm,tâm đức, bạc mệnh, thiên phú, thiênchức,
2.1.8 Trò chơi “ thử tài đoán ảnh”
Ví dụ 1:Trong phần củng cố của bài động từ ở chương trình lớp 6 giáo viên tổ
chức trò chơi “Thử tài đoán ảnh” Cách tiến hành như sau:
Giáo viên chia lớp thành hai đội, mỗi đội cử ra một đại diện lên bàn giáo viênxem tranh và sau đó diễn tả lại hành động trên tranh đó để đồng đội mình ngồi phíadưới đoán, đội nào đoán đúng được nhiều hành động hơn sẽ chiến thắng
Sau đây là một số tranh minh hoạ
12