“Nếu có một loại vắc-xin mới có thể giúp phòng tránh tử vong cho hơn một triệu trẻ em, chi phí thấp, an toàn, có thể uống trực tiếp và không cần bảo quản lạnh, vắc xin đó sẽ là một nhu cầu cấp thiết cho sức khỏe cộng đồng. Nuôi con bằng sữa mẹ có thể làm được tất cả những điều này và còn nhiều hơn thế.” Lancet 1994
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN QUANG ĐỨC
TÊN ĐỀ TÀI
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ SỰ HỖ TRỢ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA NGƯỜI CHỒNG CÓ VỢ LÀM CÔNG NHÂN TẠI HUYỆN CẨM
GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: YTCC: 60.72.03.01 Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Hữu Bích
Hà nội 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà nội 2015
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 4“Nếu có một loại vắc-xin mới có thể giúp phòng tránh tử vong cho hơn một triệu trẻ
em, chi phí thấp, an toàn, có thể uống trực tiếp và không cần bảo quản lạnh, vắc xin
đó sẽ là một nhu cầu cấp thiết cho sức khỏe cộng đồng Nuôi con bằng sữa mẹ có thểlàm được tất cả những điều này và còn nhiều hơn thế.” Lancet 1994
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời là cách tốt nhất phòng tránh
tử vong cho trẻ em [44] Bú sữa mẹ là một cách vượt trội về sự cung cấp dinh dưỡng
lý tưởng cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ sơ sinh Các khuyến cáo của y tếcông cộng toàn cầu là trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu để đạt được
sự tăng trưởng, phát triển tối ưu và có được sức khỏe tốt [38, 40, 51] Nếu mọi trẻ emđược bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh và tiếp tục cho bú mẹ cho đến hai tuổi,thì khoảng 800.000 trẻ sẽ được cứu sống mỗi năm
Trong hai thập kỉ qua, tỷ lệ tử vong trẻ em đã giảm đáng kể, nhưng gần 7 triệu trẻ emdưới 5 tuổi chết mỗi năm, chủ yếu là do các nguyên nhân có thể phòng ngừa được.Trong số đó, trường hợp tử vong sơ sinh hiện chiếm gần một nửa số trẻ tử vong dưới 5tuổi Bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh sớm[44] Tính trên toàn thế giới, thì chỉ có 2 trong 5 trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ trong 1giờ đầu sau sinh và cũng tỷ lệ đó với những trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ toàn[49] Mặc dù từ năm 1989 Tổ chức Y tế thế giới và Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc đãđưa ra khuyến nghị cho trẻ bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh và bú hoàn toàn trong 6tháng đầu và tiếp tục cho đến khi trẻ được 24 tháng tuổi [48] Ở khu vực châu Á/ TháiBình Dương, khoảng một nửa số quốc gia cung cấp dữ liệu có tỷ lệ BSMHT lớn hơn40%, dưới mức 20% ở Thái Lan và Việt Nam [49] Mặc dù sữa mẹ là công thức dinhdưỡng hoàn hảo nhất cho trẻ 6 tháng đầu đời của trẻ, hiện ở Việt Nam chỉ có 19.6%trẻ được bú hoàn toàn trong giai đoạn quan trọng này [6] Tỉ lệ này thấp hơn rất nhiều
so với tỉ lệ trung bình của thế giới là 35% các bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 6tháng đầu [6] Trong khi đó chiến lược quốc gia về dinh dưỡng 2011 – 2020 đã đượcThủ tướng chính phủ phê duyệt rằng tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đạt27% năm 2015 và đạt 35% vào năm 2020 [14] Tuy nhiên, dù là thiên phú và gópphần tiết kiệm chi tiêu cho gia đình, việc nuôi con bằng sữa mẹ ở Việt Nam đang phảiđối mặt với nhiều thách thức [1, 47] Nhiều nghiên cứu chỉ rằng có rất nhiều yếu tố
Trang 5ảnh hưởng đến việc cho con bú sớm và bú hoàn toàn như : thông tin tiếp thị của cácsản phẩm sữa bột dành cho trẻ nhỏ đang bủa vây các bà mẹ và gia đình, bà mẹ khôngtin rằng mình có đủ sữa để nuôi con [4] , bên cạnh đó nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằngviệc thiếu sự hỗ trợ có ảnh hưởng đến BSMHT trong 6 tháng đầu [17] Một nghiêncứu can thiệp được thực hiện vào năm 2012 nhằm kiểm định giả thuyết về sự cải thiệnkiến thức của người chồng sau chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe cộng đồngcho thấy rằng sau khi đã được can thiệp thì kiến thức của người chồng về BSMHTtrong 6 tháng đầu của người cha trong địa bàn can thiệp được cải thiện đáng kể so vớiđịa bàn không được can thiệp, đồng thời tỉ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu ởđịa bàn can thiệp cao gấp 2,6 lần so với địa bàn không can thiệp [34] Việc thực hànhNCBSM có mối liên quan đến các yếu tố kiến thức cá nhân, trình độ học vấn, thunhập và vai trò của người cha hay kiến thức, thái độ chưa tốt về việc NCBSM [23, 24] Tuy nhiên cuộc điều tra của Alive & Thrive tại 11 tỉnh thành của Việt Nam chỉ rarằng chỉ có 11.2% người chồng hỗ trợ vợ NCBSM, còn lại là sự hỗ trợ từ các nguồnkhác Qua đó, cho thấy sự hỗ trợ của người cha tại Việt Nam chưa được quan tâmđúng mức [4]
Tại Việt Nam có rất ít các nghiên cứu về sự hỗ trợ của người chồng/cha về việcNCBSM, đây sẽ là nghiên định hướng cho các chương trình can thiệp/nghiên cứu tiếptheo về thực hành bú sớm và BSMHT trên đối tượng các bà mẹ là công nhân
Từ những luận điểm trên nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và sự hỗ trợ nuôi con
bằng sữa mẹ của người chồng có vợ làm công nhân tại Huyện Cẩm Giàng – Hải Dương năm 2015” sẽ góp phần đánh giá thực trạng BSMHT và sự hỗ trợ BSM của
người cha, các yếu tố hỗ trợ này ảnh hưởng như thế nào đến thực hành BSM của bà
mẹ làm công nhân Từ đó nhằm đưa ra khuyến nghị thúc đẩy sự tham gia của ngườichồng/cha trong việc BSMHT và chăm sóc dinh dưỡng của trẻ
Trang 6Mục Tiêu
1 Mô tả thực trạng BSMHT của nữ công nhân tại các thời điểm 1 – 4 – 6 tháng ở
huyện Cẩm Giàng – Hải Dương năm 2015
2 Mô tả Kiến thức và thái độ về NCBSM người cha ở các thời điểm trước sinh –
1 – 4 tháng tại huyện Cẩm Giàng – Hải Dương năm 2015
3 Mô tả thực hành hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ của người cha tại các thời điểm 1
– 4 tháng ở huyện Cẩm Giàng – Hải Dương năm 2015
4 Xác định mối liên quan giữa một số yếu tố của người cha ( Kiến thức và thái độ
về NCBSM, Nghề nghiệp, Trình độ học vấn) và yếu tố của bà mẹ (Áp lực côngviệc, Thực hành cho trẻ trước bú, Nơi sinh, Phương pháp sinh, Trình độ họcvấn) đến thực hành NCBSM của các bà mẹ làm công nhân tại huyện CẩmGiàng – Hải Dương năm 2015
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO):
Sự khởi đầu tốt nhất cho trẻ bắt đầu bằng bú sữa mẹ, đó là một cách đơn giản nhất,thông minh nhất và chi phí – hiệu quả thấp nhất cho sự phát triển khỏe mạnh và bềnvững của trẻ [44]
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo nên bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầucho tất cả trẻ đủ tháng khoẻ mạnh, do sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sự tăng trưởng vàphát triển của trẻ [37]
Bú sớm là trẻ từ 0 – 2 tuổi( hoặc 0 - 4 tuổi ) được bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh[48]
Bú sữa mẹ hoàn toàn là trẻ sơ sinh 0-5,9 tháng tuổi được nuôi hoàn toàn vào sữa mẹ
và tiếp tục cho đến khi trẻ được 24 tháng tuổi "Bú mẹ hoàn toàn" được định nghĩa làkhông có thức ăn hoặc đồ uống khác, không phải ngay cả nước, ngoại trừ sữa mẹ trong 6 tháng đầu, nhưng cho phép các trẻ sơ sinh để nhận ORS, thuốc nhỏ và si-rô(các vitamin, khoáng chất và thuốc) [48]
1.2 Thành phần trong sữa mẹ:
Sữa mẹ không phải là một loại dịch cơ thể bất biến mà là chất tiết của tuyến vú cóthay đổi thành phần Sữa non khác với sữa tiết sau đó, và sữa non rất khác với sữachuyển tiếp và sữa trưởng thành [2] Sữa thay đổi theo thời gian trong ngày và trongquá trình cho con bú Sữa mẹ chứa không chỉ các chất dinh dưỡng, như protein, chấtbéo, carbohydrate, chất khoáng, vitamin, và các nguyên tố vi lượng, rất quan trọngtrong đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sơ sinh và đảm bảo sự tăng trưởng và pháttriển bình thường [38, 40, 51] Sữa mẹ còn chứa nhiều thành phần liên quan đến miễndịch như sIgA, bạch cầu, oligosaccharides [52] , lysozyme, lactoferrin, interferong,nucleotides, cytokines, và những chất khác [40, 51] Một số chất này có tác dụng bảo
Trang 8vệ thụ động tại đường tiêu hóa và đi đến đường hô hấp trên, ngăn chặn các mầm bệnhgây hại cho niêm mạc và do đó bảo vệ trẻ bú sữa mẹ khỏi các nhiễm trùng xâm lấn.Sữa mẹ còn chứa các a-xít béo cần thiết, các men, nội tiết tố, các yếu tố tăng trưởng[40, 51] và các chất có hoạt tính sinh học khác, có khả năng đóng vai trò quan trọngtrong việc tăng cường sức khỏe của trẻ do bú sữa mẹ.
1.3 Lợi ích của việc bú sữa mẹ:
1.3.1 Lợi ích cho trẻ:
Trẻ không bú sữa mẹ trong 1 tháng đầu có nguy cơ tử vong cao gấp 6 lần so vớinhững trẻ được bú sữa mẹ và gấp 14 lần trong 6 tháng đầu, do không được bú sữa mẹlàm gia tăng tử vong do nhiễm trùng [44]
Sữa mẹ không những có tất cả những dinh dưỡng mà em bé cần đến, mà nó còn làmgiảm nguy cơ em bé có thể bị nhiễm trùng hoặc những bệnh như: Nhiễm trùng đườngtiết niệu Nhiễm trùng hệ tiêu hóa (chẳng hạn như bị tiêu chảy), Những bệnh về đường
hô hấp (chẳng hạn như suyễn) Những loại ung thư ở trẻ em Bị béo phì, tiểu đường và
bị bệnh tim về sau.[9, 38, 41, 49]
Cho bé bú sữa mẹ cũng làm giảm nguy cơ em bé bị dị ứng và không chịu được thức
ăn, chẳng hạn như bệnh về tạng phủ Cho bé bú sữa mẹ thúc đẩy sự phát triển củahàm Tất cả các lợi ích của sữa mẹ vẫn chưa được khám phá hết, vì vậy nó không thểđược mô phỏng trong sữa bột Trẻ được nuôi bằng sữa mẹ ít mắc các bệnh nhiễmkhuẩn và ít phải nhập viện hơn trẻ nuôi bằng sữa bột [44]
Phân tích liên quan hai biến cho thấy rằng bú mẹ hoàn toàn bảo vệ trẻ khỏi bị ốm Tỷ
lệ trẻ không được BSMHT bị ốm là 31% so với tỷ lệ 23,6% ở trẻ được BSMHT(P<0,001) BSMHT có liên quan đến giảm các nguy cơ mắc các triệu chứng như sốt(P<0,001), ho/cảm (P<0,001), và tiêu chảy (P<0,01) [4]
1.3.2 Lợi ích cho mẹ:
Các bà mẹ cho con bú sẽ có ít nguy cơ mắc các bệnh như tiểu đường loại II,ung thư vú, ung thư buồng trứng, loãng xương và chứng trầm cảm sau khi sinh
Trang 9Các bà mẹ cho con bú sẽ ít có nguy cơ bị thiếu máu và có hàm lượng oxytocintrong máu cao hơn nên có thể giảm căng thẳng [9, 36, 41, 49]
Nhìn chung các bà mẹ cho con bú thường giảm cân nhanh hơn sau khi sinh [9,36]
Nuôi con bằng sữa mẹ cũng giúp các bà mẹ tránh thai tốt hơn Các bà mẹ chocon bú hoàn toàn thường không rụng trứng trong ít nhất sáu tháng sau khi sinh,trong khi đó đối với các bà mẹ không cho con bú thì quá trình này có thể xảy rangay sau sáu tuần kể từ khi sinh con [36]
1.3.3 Lợi ích cho gia đình:
Nuôi con bằng sữa mẹ giúp giảm thiểu các chi phí tốn kém của việc cho trẻ bú bình.Ước tính trung bình mỗi gia đình tiêu tốn khoảng VNĐ 800,000-1,200,000 đồng mỗitháng nếu cho trẻ ăn các sản phẩm thay thế sữa mẹ Chi phí này chiếm 53-79% thunhập bình quân đầu người (VNĐ 18,227,000) - một phần khá lớn trong tổng thu nhậpcủa một gia đình [1]
Nhờ các lợi ích về mặt sức khỏe của nuôi con bằng sữa mẹ, các gia đình tiết kiệmđược thời gian và tiền bạc cho việc khám chữa bệnh [47]
Việc nuôi con bằng sữa mẹ rất thuận tiện; sẽ dễ dàng hơn khi cho con bú lúc đi xanhà Không cần mang theo bình sữa, làm sạch bình hay pha sữa công thức
1.3.4 Lợi ích cho xã hội:
Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đưa ra các con số về lợi ích của Nuôi con bằng sữa
mẹ hoàn toàn đối với hệ thống y tế nói riêng Ví dụ như ở Mỹ, một nghiên cứu năm
2001 chỉ ra rằng nước này có thể giảm thiểu được một gánh nặng chi phí khoảng 3.6
tỷ đô la Mỹ cho hệ thống y tế nếu tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn tăng từ 29%lên 50% [47] Một nghiên cứu khác năm 2010 đưa ra một con số ấn tượng hơn, nếu90% trẻ em Mỹ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, mỗi năm nước quốc gia này
sẽ tiết kiệm được 13 tỷ đô la Mỹ cho các chi phí y tế và phòng tránh được 911 trườnghợp tử vong ở trẻ [20].Việc nuôi con bằng sữa mẹ sẽ tốt hơn cho môi trường Khôngcần phải sản xuất đóng hộp, chai bình, núm sữa và xà phòng để vệ sinh chúng [41]
Trang 10Nếu nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu, các bà mẹ Việt Nam có thểtiết kiệm một khoản tiền tương đương VNĐ 11,435,670,000,000 từ việc không chitiêu cho các sản phẩm thay thế sữa mẹ [1]
1.3.5 Lợi ích cho doanh nghiệp:
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn có lợi cho doanh nghiệp về mặt lâu dài vì các bà mẹ
ít phải nghỉ làm để chăm con ốm – điều này cũng có nghĩa là tạo ra một lực lượng laođộng ổn định Sữa mẹ cũng là một nguồn lực hữu ích đảm bảo an ninh thực phẩm chotrẻ nhỏ và các gia đình trên toàn thế giới khi có thiên tai hoặc khủng hoảng kinh tế.Trong những trường hợp nguy cấp, nuôi con bằng sữa mẹ giúp bảo vệ trẻ khỏi cácbệnh gây ra do nguồn nước nhiễm bẩn và có thể ngăn ngừa tình trạng thân nhiệt thấp[1]
1.4 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu:
1.4.1 Trên thế giới :
Trong hai thập kỉ qua, tỷ lệ tử vong trẻ em đã giảm đáng kể, nhưng gần 7 triệu trẻ emdưới 5 tuổi chết mỗi năm, chủ yếu là do các nguyên nhân có thể phòng ngừa được.Trong số đó, trường hợp tử vong sơ sinh hiện chiếm gần một nửa số trẻ tử vong dưới 5tuổi Bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh sớm [44] Phân tích các dữ liệu về thực hành nuôi trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đã làm nổi bật lên sự cầnthiết cho các chương trình cải thiện việc bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Tínhtrên toàn thế giới, thì chỉ có 2 trong 5 trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ trong 1 giờ đầu sausinh và cũng tỷ lệ đó với những trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ toàn Các dữliệu cho thấy rằng có 74 % trẻ được tiếp tục bú sữa mẹ đến lúc 1 tuổi Tổ chức Y tếThế giới ( WHO) khuyến cáo các bà mẹ nên cho con bú ít nhất tới 2 tuổi và xa hơnnữa, lúc thời điểm mà tỉ lệ cho con bú đến lúc 2 tuổi là 49% Ước tính về tỷ lệ nuôidưỡng thích hợp cho trẻ từ 6 tháng đến 2 tuổi trên toàn thế giới thì bị hạn chế bởi cácloại thức ăn rắn, bán rắn hoặc các loại thức ăn mềm lúc trẻ từ 6 – 8 tháng tuổi, có 65%trẻ em được hưởng lợi từ việc thực hành này ( không tính Trung Quốc) Điều này chothấy rằng việc truyền thông hướng dẫn chế độ phù hợp với lứa tuổi của trẻ đã được cảithiện đáng kể [43]
Trang 11Tỷ lệ thực hành cho con bú theo khuyến cáo của WHO rất khác nhau giữa các khuvục Ở Tây và Trung Phi tỷ lệ cho con bú trong 1 giờ đầu sau sinh là 35% và ở Đông
và Nam Phi là 60% Về tiếp tục cho con bú đến 2 tuổi, mức độ dao động từ 21 % ởkhu vực Đông Á và Thái Bình Dương, đến 75% ở Nam Á
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ được bú sữa mẹ 1 giờ đầu sau sinh, bú sữa mẹ hoàn toàn, nhận cácloại thức ăn ngoài sữa mẹ và tiếp tục cho con bú đến lúc 2 tuổi trên toàn thế giới 2009– 2013 [49]
Bú sữa mẹ ngay sau sinh ( dưới 1 giờ)
Bú sữa mẹ hoàn toàn ( 0 - 5 tháng)
Ăn thức ăn rắn, bán rắn và mềm ( 6 - tháng)
Tiếp tục bú sữa mẹ đến 1 tuổi ( 12 - 15 tháng)
Tiếp tục bú sữa mẹ đến 2 tuổi ( 20 - 23 tháng)
Biểu đồ 1.2 - Tỷ lệ trẻ sơ sinh bú sữa mẹ hoàn toàn ( 0 – 5 tháng tuổi) theo từng khuvực, từ năm 2000 đến 2012 [49]
Vừa Sinh
Lúc 2 tuổi
Trang 12Miền Tây và Trung Châu Phi
Châu Mỹ Latinh và Caribbean
Đông Á và Thái Bình Dương
Nam Á Đông và Nam Phi
Ở các nước Tây và Trung Phi trong những năm 90, tỷ lệ cho con bú hoàn toàn tăng từ7% lên 18% Tuy nhiên, trong 1 thập kỉ gần đây thì sự tiến bộ trong việc cải thiện tìnhtrạng cho bú rất ít Cần có những nỗ lực để lấy lại đã tăng trưởng ở những khu vựcnày và dựa trên những thành công hiện tại của các nước kém phát triển Ở các nướckhác nhau, tỷ lệ thực hành BSMHT phát triển không đồng đều giữa các năm đã đượcghi nhận Điều này cho thấy rằng sự cần thiết phải duy trì những thành tựu đã đạtđược Khi so sánh tỉ lệ bú sớm 1 giờ sau sinh ở 3 khu vực: Châu Mỹ Latinh và vùngCaribe, Đông Á và Thái Bình Dương, Trung Đông và Bắc Phi, thì những người nghèocho con bú 1 giờ sau sinh cao hơn 20% so với những người dân giàu có ở trong cũngmột khu vực Nhìn chung, so với thế giới những trẻ ở khu vực nghèo khó của Nam Ágặp nhiều điều kiện bất lợi nhất cho việc bú sớm sau sinh, nhưng trẻ em nghèo ởnhóm các nước khu vực Châu Mỹ Latinh và vùng Caribe có tỷ lệ bú sữa mẹ sau sinhmột giờ cao nhất [43]
1.4.2 Châu Á:
Bảng 1.3 – Bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu một số nước Châu Á [53]
Trang 13Ở khu vực châu Á/ Thái Bình Dương, khoảng một nửa số quốc gia cung cấp dữ liệu
có tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn lớn hơn 40%, cụ thể 3/4 số trẻ ở CHDCND Triều Tiên,Sri Lanka, Campuchia và quần đảo Solomon được BSMHT, ở Ấn Độ là khoảng 1/2,khoảng 1/ 3 ở Philippines, Indonesia và Malaysia Tỷ lệ BSMHT thấp, dưới mức 20%
ở Thái Lan và Việt Nam Ở một số nước trong khu vực như Lào, Mông Cổ, Việt NamBSMHT được phổ biến hơn ở những phụ nữ nghèo và chỉ có 1/4 hay ít hơn số phụ nữgiàu có ở Lào, Việt Nam, Thái Lan cho con BSMHT trong 6 tháng đầu Campuchia đã
có những nỗ lực đáng kể trong việc cải thiện cho con bú Tháng 6/2004, chính phủCampuchia đã tuyên bố rằng bú sữa mẹ sớm và hoàn toàn trong 6 tháng đầu là canthiệp ưu tiên hàng đầu để hỗ trợ trong việc giảm tỷ lệ tử vong trẻ em Trong vòng 18
Trang 14tháng, ở quốc gia này dã diễn ra các hoạt động truyền thông nâng cao tỷ lệ cho con bú.
Tỷ lệ BSMHT cho trẻ dưới 6 tháng tăng từ 7% năm 2000 lên 60% vào năm 2005,tương ứng với số trẻ vừa không hoàn toàn giảm từ 67% xuống 28% [53]
1.4.3 Việt Nam:
Theo Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến
2030 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, chỉ tiêu đầu tiên của mục tiêu 5 là tăng tỷ lệBSMHT trong 6 tháng đầu đạt 27% vào năm 2015, và 35% vào năm 2020 [14] Mặc
dù sữa mẹ là công thức dinh dưỡng hoàn hảo nhất cho trẻ 6 tháng đầu đời của trẻ, hiệnTheo kết quả công bố của Viện Dinh dưỡng Quốc gia thì tỷ lệ NCBSHT trong 6 thángđầu trên toàn quốc chỉ chiếm 19.6% [6] Tỉ lệ này thấp hơn rất nhiều so với tỉ lệ trungbình của thế giới - 35% các bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Nghiên cứu cắt ngang tại 11 tỉnh của dự án Alive & Thrive ( A&T) trong vòng 5 năm( 2010 – 2014) Bảng số liệu cho thấy về tỷ lệ bà mẹ thực hiện NCBSM theo khuyếncáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Gần như tất cả trẻ em đã từng được bú sữa mẹ.Chỉ có 0,5% trẻ không được bú mẹ Một nửa trong số 10,834 bà mẹ có trẻ dưới 24tháng tuổi (50,5%) nói rằng họ bắt đầu cho bú trong vòng 1 giờ sau khi sinh Các bà
mẹ có con từ 6 đến 23,9 tháng tuổi có nhiều khả năng họ cho con bú trong 1 giờ đầusau sinh cao hơn so với các bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi (51,7% so với 49,5%) Chỉ1/5 (20%) trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi được cho bú mẹ hoàn toàn, và 54,6% trẻ ở độtuổi này được bú mẹ là chủ yếu Tỷ lệ tiếp tục cho bú tới khi trẻ 1 tuổi khá cao(79,5%) nhưng tỷ lệ cho trẻ bú mẹ tới 2 tuổi chỉ là 18,2% [4]
Không cho con bú sớm, không cho con bú hoàn toàn và không tiếp tục cho con bú lâudài cũng như thiếu chế độ ăn bổ sung phù hợp đã dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng
về sức khỏe của trẻ Điều tra của Viện Dinh dưỡng Quốc gia năm 2010 về tỉ lệ suydinh dưỡng cho thấy trẻ em nước ta là 17,5% (chỉ tiêu cân nặng/tuổi), 20/63 tỉnh,thành có mức SDD trẻ em trên 20% (xếp ở mức cao theo phân loại của Tổ chức Y tếthế giới) Tỷ lệ trẻ em SDD theo chỉ tiêu chiều cao/tuổi (SDD thể thấp còi) năm 2010toàn quốc là 29,3%, trong đó xét theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới có đến 31tỉnh tỷ lệ trên 30% (mức cao), 2 tỉnh trên 40% (mức rất cao) Ước tính đến năm 2010,
Trang 15nước ta còn gần 1,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng nhẹ cân, khoảng 2,1 triệutrẻ em SDD thấp còi và khoảng 520.000 trẻ em SDD gầy còm [6]
Có nhiều yếu tố góp phần đến suy dinh dưỡng Một trong những quan trọng nhất là tỷ
lệ thấp của BSMHT từ lúc sinh ra đến sáu tháng đầu Các nghiên cứu đã chỉ ra rằngBSMHT là một trong những biện pháp can thiệp hiệu quả nhất để chống lại tỷ lệ tửvong trẻ em [46] Bằng việc cải thiện những thực hành dinh dưỡng của bà mẹ dànhcho trẻ trong 24 tháng đầu đời, chúng ta có thể giảm tỷ lệ thấp còi và qua đó tăngcường sức khỏe và khả năng phát triển kinh tế của người dân Việt Nam [18] Tuynhiên, khi tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn còn thấp so với trung bình của thế giới thì việccải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam cũng chưa được cải thiện Số liệuđiều tra dinh dưỡng của năm 2014 của Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho thấy rằng tỷ lệsuy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuồi tuổi 14,5% (chỉ tiêu cân nặng/tuổi) và 24,9% ( chỉtiêu chiều cao/tuổi) [7] Kết quả đó cho chúng ta thấy rằng, việc cần thiết cải thiệntình trạng cho con bú có liên quan đến việc tình trạng dinh dưỡng sau này của trẻ, sau
4 năm (2010 – 2014) thì tình trạng suy dinh dưỡng vẫn chưa được cải thiện đáng kểkhi mà tình trạng bú sữa mẹ hoàn toàn vẫn còn cao
Tại Việt Nam, Năm 2011, Alive&Thive phối hợp với Viện Nghiên cứu Y- Xã hội học(ISMS) tiến hành điều tra tại 11 tỉnh Cuộc điều tra này cũng thu thập thông tin về tìnhtrạng dinh dưỡng bà mẹ và trẻ nhỏ Báo cáo đưa ra các kết quả chính về kiến thức,niềm tin và thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ cho trẻ dưới 24 tháng tuổi tại 11 tỉnh: HàNội, Hải Phòng, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hòa, ĐắkLắk, Đắk Nông, Tiền Giang và Cà Mau đã cho thấy rằng 30,7% các bà mẹ có trẻ dưới
6 tháng tuổi cho biết họ gặp khó khăn liên quan đến việc cho trẻ bú, như các vấn đề về
vú, không đủ sữa mẹ, trẻ ngậm bắt vú không tốt, trẻ lười bú, trẻ ốm thì bà mẹ sẽ nhờgiúp đỡ hay xin lời khuyên của mẹ đẻ và mẹ chồng là chủ yếu, còn việc tìm đến sự hỗtrợ của chồng lại rất thấp (11.2%) [4]
Biều đồ 1.6 – Những nguồn trợ giúp chủ yếu về NCBSM
Trang 16Các nguyên nhân chính được đưa ra cho sự trì hoãn trong việc cho con bú sớm là doquan niệm sai rằng sữa mẹ chưa “về” trong những giờ đầu sau sinh, do mổ đẻ hoặccác lý do khác làm cho mẹ không được nằm cùng con ngay sau khi sinh, do cơ sở y tếquá tải và sự sẵn có của sữa bột trên thị trường cùng với việc quảng cáo quá mức củacác công ty sữa Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng cho con uống nước sau mỗi lần
bú sữa mẹ là một việc làm rất phổ biến ở cả thành thị và nông thôn Việt Nam Bêncạnh đó, các bà mẹ thường cho là mình không có đủ sữa để cung cấp đầy đủ dinhdưỡng cho con đến khi con được 6 tháng, do đó họ thường bắt đầu cho con uống thêmsữa ngoài và/hoặc sử dụng các loại thức ăn khác khi con được khoảng 4 tháng tuổi.Đối với những người mẹ có việc làm (chiếm tỉ lệ 20-30%), yêu cầu phải trở lại làmviệc sau 4 tháng nghỉ sinh con là một thách thức đối với việc nuôi con hoàn toàn bằngsữa mẹ Thiếu hỗ trợ từ người thân trong gia đình và từ các cán bộ, nhân viên y tếcũng là một nguyên nhân khác khiến cho người mẹ không thể nuôi con bằng sữa mẹhoàn toàn [17]
1.5 Một số nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng BSMHT:
1.5.1 Sự hỗ trợ của người người cha:
Liên quan đến thực hành NCBSM, các nghiên cứu cũng cho thấy rằng thực hànhNCBSM có mối liên quan đến các yếu tố cá nhân và vai trò của người cha trong giađình như nghề nghiệp, trình độ học vấn , sự hài lòng về giới tính của con [29] , sởthích và thái độ liên quan đến việc chăm sóc dinh dưỡng cho con [23, 24] Năm 2006nghiên cứu về ảnh hưởng của tình trạng kinh tế - xã hội đến việc cho con bú ởCalifornia đánh giá những người bà mẹ có chồng có trình độ học vấn ít hơn 12 năm
Trang 17thì khả năng cho con bú thấp hơn gấp 2,4 lần so với những người bà mẹ có chồng cótrình độ học vấn ít nhất 16 năm, sau khi đã điều chỉnh một số biến như cân nặng sơsinh, phương pháp sinh, uống rượu và hút thuốc trong thời gian mang thai… [27]Nghiên cứu cắt ngang của Giugliani và cộng sự (1994) điều tra các mối liên quangiữa quyết định của các bà mẹ về việc cho con bú với sự hỗ trợ của các nhân viên y tế
và người nhà Kết quả cho thấy rằng việc ý kiến và sự hỗ trợ của người cha cho con
bú là nhân tố quan trọng nhất trong việc thúc đẩy người mẹ cho con bú (OR = 32,8)[26] Đồng ý với quan điểm trên của Giugliani và cộng sự Một nghiên cứu khác diễn
ra gần đây, cũng là một nghiên cứu cắt ngang trên 76 bà mẹ đến phòng khám sứckhỏe cộng đồng tại Calgary, Alberl năm 2012 của Cynthia A Mannion và cộng sự[30] Những người tham gia được sẽ trả lời bảng câu hỏi quan điểm về sự hỗ trợ củangười cha cho con bú, cũng như đo lường sự tự tin, hài lòng về khả năng cho con búcủa các bà mẹ Nghiên cứu cũng đã phân tích mối liên quan giữa sự hỗ trợ của ngườicha và kết quả cho con bú bằng mô hình hồi quy tuyến tính, các phân tích mô tả nhânkhẩu học cũng được thực hiện Tác giả đã kết luận rằng các bà mẹ cảm thấy tự tinhơn về khả năng cho con bú của mình khi nhận được sự hỗ trợ tích cực của ngườicha, bằng cách động viên và tham gia các hoạt động cho con bú [35] Ngược lại, nếungười cha có thái độ tiêu cực thì người mẹ cảm thấy tự tin về khả năng cho con búcủa mình Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, sự hỗ trợ của người cha giúp chocác bà mẹ tự tin cho con bú không phân biệt bất kì kinh nghiệm cho con bú trước đóhay là tuổi của trẻ sơ sinh Thật vậy, tầm quan trọng vai trò của người cha trong việc
hỗ trợ cho con bú đã được biết đến từ lâu, nhưng có nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trênthực tế việc thực hành hỗ trợ cho con bú của người cha có ít tiến triển tích cực trongnhững năm qua Nghiên cứu của Nigel Sherriff và cộng sự (2011) đã thực hiện phỏngvấn sâu với 8 người cha ( tuổi từ 28 – 47 ) từ các tầng lớp kinh tế - xã hội khác nhausống ở Brighton và Hove (Anh), nghiên cứu được triển khai là một phần của dự ántiếp thị xã hội lớn, tập trung vào việc tăng tỷ lệ BSMHT ở Brighton và Hove Số liệucho thấy những người cha rất quan tâm đến việc cho con bú và muốn được tham gianhiều hơn trong việc chuẩn bị, hỗ trợ cho con bú Họ cũng yêu cầu thêm nhiều thôngtin về lợi ích cho con bú một cách dễ dàng hơn cũng như chi tiết liên quan đến vấn đềthực hành hỗ trợ người mẹ Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu này là phạm vi nhỏ và
Trang 18cũng cần nghiên cứu thêm [32] Ở một bài viết khác, tác giả Nigel Sherriff và cộng
sự đã tóm tắt nhiều nghiên cứu khác nhau giải thích tại sao người cha nên được thamgia vào các dịch vụ y tế công dành cho gia đình, bao gồm cả dịch vụ thai sản Tác giả
đã ví người cha là nguồn nhân lực chưa được khai thác trong việc hỗ trợ người mẹ vànhân viên y tế trong việc cho con bú [42]
Ở Việt Nam chỉ có một số ít nghiên cứu về hiểu biết về vai trò của người cha trongviệc NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu Năm 2012, nghiên cứu của Trần HữuBích và cộng sự nhằm kiểm định giả thuyết về sự cải thiện kiến thức của người chasau chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe cộng đồng, sử dụng thiết kế nghiên cứuphỏng thực nghiệm, trước - sau, có đối chứng Tại giai đoạn trước can thiệp, 251 cặp
vợ chồng có vợ đang mang thai được chọn vào can thiệp (CHILILAB Chí Linh) và
241 cặp tương ứng được chọn vào nhóm không can thiệp (Thanh Hà) Đối tượng canthiệp là những người cha có vợ đang mang thai Hình thức can thiệp là các hoạt độngtruyền thông qua loa dài, tư vấn cá nhân và nhóm; các hoạt động vui chơi tại cộngđồng cùng với các sản phẩm truyền thông như pano, tờ rơi, cốc và áo phông có inhình ảnh và thông điệp của chương trình được gửi tới người cha Sau can thiệp, kiếnthức về NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng của người cha ở địa bàn can thiệp được cảithiện một cách đáng kể so với người cha tại địa bàn không can thiệp Kiến thức vềkhái niệm đúng, tầm quan trọng của NCBSM hoàn toàn và thời gian NCBSM hoàntoàn là 6 tháng của người cha ở địa bàn can thiệp cao hơn gấp 2.6 lần, 1.86 lần và 1.9lần so với người cha ở địa bàn không can thiệp Chương trình đã thành công trong cảithiện kiến thức của người cha về NCBSM hoàn toàn Các hoạt động can thiệp cầntiếp tục duy trì và mở rộng tại chí Linh và Hải Đương cũng như nghiên cứu việc triểnkhai can thiệp trên qui mô lớn hơn nữa để tăng cường kiến thức của người cha nhằm
hỗ trợ NCBSM hoàn toàn Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam có đối tượng canthiệp là người cha nhằm mục đích thay đổi kiến thức và sau đó khuyến khích vai tròcủa họ, như là một nguồn lực tại hộ gia đình, trong việc đảm bảo NCBSM với sựtham gia của cộng đồng, hệ thống y tế và đoàn thể Hạn chế của nghiên cứu này là sự
“phơi nhiễm” của người cha đối với chương trình can thiệp không đồng đều do đốitượng người phụ nữ có tuổi thai trải rộng từ 7 – 30 tuần nên có thể ảnh hưởng đến sựhiểu biết của người chồng của các phụ nữ có giai đoạn mang thai khác nhau Tuy
Trang 19nhiên hạn chế này không tác động đến giá trị của kết quả nghiên cứu so sánh với địabàn nghiên cứu Tác giả cũng đưa ra khuyến nghị nên khuyến khích, mở rộng, duy trì
và đánh giá tiếp tục mô hình này tại thị xã Chí Linh cũng như ở quy mô lớn hơn tạinhững địa phương có bối cảnh kinh tế, văn hóa – xã hội tương đồng với Chí Linh[34]
1.5.2 Yếu tố liên quan đến bà mẹ:
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và đầu tư, tính đến hết năm 2013, các khu côngnghiệp trong cả nước đă thu hút hơn 2,1 triệu lao động, một đặc điểm dễ nhận thấynhất của lực lượng lao động nhập cư đến các khu công nghiệp trong cả nước đa phần
là lao động nữ Tại miền Bắc, lao động nữ chiếm phần lớn trong lao động nhập cư vàhầu hết họ trong độ tuổi sinh đẻ Theo khảo sát của Tổng Liên đoàn Lao động ViệtNam, tỷ lệ lao động nữ tại các ngành nghề này chiếm trên 70%, trong đó trên 90% là ởtuổi dưới 40 Mặt khác, với 72% số nữ công nhân lao động đã kết hôn tại các khucông nghiệp và 96,9% trong số họ có từ 1-2 con [5]
Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành đối với 200 nữ công nhân may mặc trong độtuổi sinh đẻ (15-49 tuổi) bằng bảng kiểm về mối liên quan giữa kiến thức và bú sữa
mẹ ở thành phố Dhaka của Lucen Afrose và cộng sự ( 2012) được đăng trên tạp chí Y
tế công cộng Đông Nam Á cho thấy rằng, nhìn chung kiến thức về cho con bú là rấtthấp (88%), 89% nữ công nhân chưa hiểu biết về lợi ích của bú sữa mẹ, ngược lại,74% đều biết thời gian BSMHT Nghiên cứu cũng cho thấy yếu tố ảnh hưởng lớn nhấtđến thiếu kiến thức cho con bú chính là trình độ học vấn của bà mẹ hơn các yếu tốkhác như tình trạng hôn nhân, thu nhập gia đình và tuổi [50]
Trong tổng số 10.834 đối tượng có 10,2% là công nhân, viên chức nhà nước 30,5%các bà mẹ trở lại làm việc sau khi sinh từ 6 tháng trở lên, trong khi 29,2% quay trở lạilàm việc khi con họ được từ 4 đến 4,9 tháng tuổi Đa số bà mẹ làm việc bên ngoài nhàlàm 5 ngày/tuần Trung bình, họ làm việc 6,4 giờ mỗi ngày Trong số bà mẹ có condưới 6 tháng tuổi, số giờ làm việc trung bình tăng lên theo tuổi của trẻ Dưới 10% bà
mẹ làm việc bên ngoài nhà mang trẻ theo khi đi làm Bà mẹ có kiến thức khác nhau
về NCBSM Hơn ¾ bà mẹ biết trẻ nên được bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh.Nhìn chung, 74,4% bà mẹ biết trẻ nên được bú sữa non và 52,5% biết trẻ nên được
Trang 20tiếp tực bú đến 2 năm tuổi Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những nhầm lẫn về NCBSM.
Trong khi, 52,5% bà mẹ biết rằng trẻ dưới 6 tháng tuổi chỉ bú sữa mẹ là tốt, nhưng chỉ
có 23,2% bà mẹ biết nên bắt đầu cho trẻ uống thêm nước ngoài sữa mẹ khi trẻ từ 6đến 8 tháng tuổi Nhầm lẫn này có thể do thực tế nhiều bà mẹ không coi nước là mộtloại thức ăn do đó họ không nghĩ rằng cho trẻ uống nước là cản trở NCBSM hoàntoàn Tương tự như kiến thức, niềm tin của bà mẹ về nuôi dưỡng trẻ nhỏ cũng khácnhau Nhìn chung các bà mẹ tin rằng nên cho trẻ uống nước hoặc sữa bột trước 6tháng tuổi vì trẻ có nhu cầu, bà mẹ thiếu sữa, trẻ khát hoặc do thời tiết nóng Bà mẹcũng lo lắng trẻ uống sữa được vắt ra và bảo quản trong tủ lạnh sẽ bị ốm Bà mẹkhông tin rằng các bà mẹ khác sẽ làm như vậy hoặc họ không tin rằng các bà mẹ khácmong đợi họ làm như vậy Kết quả này cho thấy, cần có nhiều các can thiệp để thayđổi nhận thức và quan niệm của cả cộng đồng, không chỉ riêng các bà mẹ [4] Nghiêncứu của A&T cũng chỉ ra rằng các bà mẹ sinh con tại bệnh viện ít có khả năng chocon bú mẹ sớm ngay sau khi sinh Chỉ 45,3% những người sinh con ở bệnh viện bắtđầu cho con bú trong 1 giờ đầu tiên, so với tỷ lệ 72% ở các bà mẹ sinh con tại trạm y
tế xã và nhà hộ sinh (P<0,001) Cho trẻ ăn các thức ăn lỏng ngoài sữa mẹ cũng phổbiến hơn tại các bệnh viện so với các trạm y tế xã và nhà hộ sinh Chỉ 42,4% các bà
mẹ sinh con tại bệnh viện không cho trẻ sơ sinh dùng sữa bột trong 3 ngày đầu, trongkhi đó tỷ lệ các bà mẹ sinh tại trạm y tế xã hoặc nhà hộ sinh làm như vậy là 69,1%(P<0,001) Kết quả này đã tái khẳng định sữa bột cho trẻ sơ sinh rất sẵn có đối với các
bà mẹ sinh con tại cơ sở y tế Một phần năm các bà mẹ mang theo sữa bột khi đến sinhtại các cơ sở y tế, và gần một nửa số bà mẹ mua sữa tại hoặc gần các cơ sở y tế sau khisinh [4]
1.5.3 Sự hỗ trợ của bà nội/bà ngoại:
Kết quả trên của tác giả Lulie RO Susin và cộng sự (năm 2013) nghiên cứu định tínhkhám phá các yếu tố liên quan đến quyết định nuôi con bằng sữa công thức của các bà
mẹ có trẻ nhỏ được tiến hành trên 3 cộng đồng ở Newfoundland và Labrador, Canadacủa Kimberly Bonia và cộng sự Hầu hết những người tham gia đều cho rằng người bàđóng một vai trò quan trọng trong quyết định chế độ dinh dưỡng của trẻ Quan trọnghơn, tất cả những đối tượng tham gia đều nói rằng bà ngoại đều không khuyến khích
Trang 21cho trẻ bú sữa mẹ Mặc dù nghiên cứu này cho thấy bà ngoại không cung cấp kinhnghiệm về bú sữa mẹ cho con của họ, nhưng điều quan trọng là cung cấp thông tin chocác nhân viên y tế, bà ngoại là đối tượng có ảnh hưởng lớn đến bú sữa mẹ nên cần cócác chương trình cải thiện kiến thức về lợi ích cũng như thực hành bú sữa mẹ cho bàngoại, nhằm làm tăng tỷ lệ bú sữa mẹ trong cộng đồng [19, 35] Hạn chế của nghiêncứu này là được tiến hành trên mẫu nhỏ và chỉ trên những bà mẹ tự nguyện tham gia,còn những đối tượng không tham gia, có thể nghiên cứu đã bỏ qua những đối tượngquan trọng mang các đặc điểm như tự ti hoặc là mâu thuẫn với gia đình về vấn đề chocon bú, nên có thể nghiên cứu đã không thu thập được những thông tin quan trọngnày Thêm vào đó, đối tượng duy nhất của nghiên cứu là phụ nữ, nhưng chúng ta thừanhận là người cha và những đối tượng khác có tầm ảnh hưởng quan trọng trong quyếtđịnh và hỗ trợ cho con bú Do vậy, nghiên cứu cũng khuyến nghị các nghiên cứu khácnên tiến hành trên nhiều đối tượng khác nhau như người cha đơn thân, các cặp vợchồng đồng tính hoặc những người chăm sóc khác [35]
1.5.4 Sự hỗ trợ của nhân viên y tế:
Cán bộ y tế và các cơ sở y tế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo bước khởi đầu chomột bà mẹ thành công đối với việc nuôi con bằng sữa mẹ sau này Cán bộ y tế tại các
cơ sở y tế có dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em cần được đào tạo để có thể giúp
đỡ các bà mẹ cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu ngay sau khi sinh; hướng dẫn cáchcho trẻ bú đúng và cách duy trì nguồn sữa mẹ [17]
Năm 2007, 34 cuộc thử nghiệm nhằm đánh giá phân tích tác động hỗ trợ cho con búảnh hưởng như thế nào đến bú sữa mẹ sớm và BSMHT diễn ra ở 14 quốc gia, với sựtham gia của 29.385 phụ nữ cho con bú Các tác giả kết luận rằng, tất cả các hình thức
hỗ trợ cho con bú đều làm tăng thời gian cho con bú và giảm ngừng bú trước 6 tháng.Khi phân tích sâu hơn, thì sự hỗ trợ từ các nhân viên y tế làm kéo dài thời gian cho trẻ
bú, còn sự hỗ trợ từ người thân thì có hiệu quả trong việc kéo dài thời gian BSMHT.23/34 cuộc thử nghiệm được triển khai ở 7 nước có thu nhập cao và 7 cuộc thửnghiệm ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, do đó nghiên cứu cũng khuyếnnghị cần có thêm các nghiên cứu khác để làm rõ những rào cản về văn hóa, yếu tốsinh học, tôn giáo, kinh tế - xã hội và các yếu tố thuận lợi cho việc thực hiện hướngdẫn thực hành lâm sàng để hỗ trợ cho trẻ BSMHT ở các quốc gia khác nhau [21]
Trang 22Nghiên cứu can thiệp trên 1400 bà mẹ cho con bú ở bệnh viện St Michael, Bristol từtháng 10 năm 1996 đến tháng 11 năm 1998 cũng chỉ ra rằng khi bà mẹ được nữ hộsinh ở bệnh viện hướng dẫn “cầm tay chỉ việc” ( hand-off) cho con bú sau sinh thi làmgia tăng đáng kể tỷ lệ BSMHT trong 2 tuần đầu ( p<0.001) và sáu tuần ( p = 0.02), tỷ
lệ các bà mẹ cho rằng bản thân không đủ sữa đã giảm đáng kể sau khi được hướng dẫn( p = 0.02) Khi nhận được sự hỗ trợ đầy đủ từ nhân viên y tế các bà mẹ cảm thấymình có đủ sữa cho con nên không cho trẻ ăn hay uống bất kì chất lỏng nào khácngoài sữa mẹ [28]
Sau Tuyên ngôn Innocenti WHO và UNICEF phát động Sáng kiến Bệnh viện bằnghữu trẻ em (The Baby-Friendly Hospital Initiative – BFHI) vào năm 1992 nhằm bảo
vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ, trong đó UNICEF và WHO kêu gọi
thực hiện 10 bước ”Nuôi con bằng sữa mẹ thành công” ở tất cả các cơ sở chăm sóc bà
mẹ, trẻ em, bởi vì các cán bộ, nhân viên y tế có vai trò rất quan trọng, có thể ảnhhưởng đến các quyết định của người mẹ về lựa chọn cách nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và
trẻ nhỏ Hiện nay đã có hơn 15.000 cơ sở tại 152 quốc gia đã thực hiện Sáng kiến
Bệnh viện bằng hữu trẻ em, trong đó có Việt Nam [39] Ở Cuba 49/56 bệnh viện cảnước và các cơ sở hộ sinh được chứng nhân là bệnh viện thân thiện với trẻ theo tiêuchuẩn của WHO/UNICEF, tỷ lệ BSMHT lúc 4 tháng tăng gấp 3 lần sau sáu năm triểnkhai Trung Quốc hiện có 6000 bệnh viên bằng hữu trẻ em, sau 2 năm tỷ lệ BSMHT ởkhu vực nông thông tăng 29% năm 1992 lên 68% năm 1994, khu vực đô thị tăng từ10% lên 48% [45]
Trang 23thời điểm 1, 3, 6 và 12 tháng Phụ nữa có thời gian nghỉ đẻ ít hơn 6 tháng ngừng chocon bú sớm hơn so với những bà mẹ nghỉ hơn 6 tháng, và những bà mẹ không đi làmthì lên tới 18 tháng sau sinh [22] Nghiên cứu ở Mỹ về sự ảnh hưởng của thời gianlàm việc của mẹ ảnh hưởng như thế nào đến việc bú sữa mẹ cũng cho thấy những phụ
nữ được hưởng chế độ thai sản so với những phụ nữ phải trở lại công việc sau 1 – 6tuần sau sinh thì những phụ nữ chưa phải đi làm có tỷ lệ cho con bú sớm cao hơn( OR=1,46, CI 95%: 1.08 – 1.97), tiếp tục cho con bú vượt qua 6 tháng ( OR = 1.41,
CI 95%:0.87 – 2.27) và cho con bú sữa mẹ là chủ yếu hơn 3 tháng ( OR: 2.01, CI95%: 1.06 – 3.80) cao hơn so với những phụ nữ phải đi làm từ lúc 1 – 6 tuần sau sinh[54]
Chế độ nghỉ thai sản là chìa khóa đảm bảo mọi trẻ sinh ra đều được bú mẹ hoàn toàn
từ giây phút chào đời cho tới khi được 6 tháng tuổi
Năm 2011, theo điều tra của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (TLĐLĐ) về việcthực thi chính sách nghỉ thai sản và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ tại nơi làm việc,
có đến 78% lao động nữ nhận thức được sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻnhỏ, nhưng chỉ có 36% trẻ được tiếp tục cho bú mẹ đến 19 – 24 tháng do người mẹphải đi làm trở lại Năm 2012, Quốc hội Việt Nam đã quyết định tăng thời gian nghỉthai sản từ 4 lên 6 tháng từ ngày 01tháng 05 năm 2013 Quyết định này rất quan trọngtrong việc tạo điều kiện để phụ nữ sau khi sinh được ở nhà nuôi con bằng sữa mẹ hoàntoàn trong 6 tháng đầu, song vẫn có rất nhiều người muốn tiếp tục cho con bú đến 24tháng Phần lớn các nơi làm việc đều chưa có cơ sở vật chất và hỗ trợ giúp vắt và trữsữa tại chỗ Do đó, năm 2012, A&T phối hợp với Ban Nữ công, Tổng Liên đoàn Laođộng Việt Nam giải quyết vấn đề này bằng cách trực tiếp hợp tác với các doanhnghiệp và các cơ quan, đơn vị để tạo ra một môi trường làm việc cho phép người mẹvắt và trữ được sữa mẹ, cũng như hỗ trợ họ đảm bảo sự phát triển và tăng trưởng khỏemạnh của trẻ - nguồn nhân lực tương lai của đất nước [13] Hầu hết phụ nữ Việt Namcống hiến từ 30 đến 35 năm đời mình cho công việc và sự nghiệp và trung bình mỗingười có từ 1 đến 2 con Cho phép phụ nữ nghỉ từ 6 tháng đến 1 năm trong số 30 năm
đi làm của họ là một sự đầu tư thông minh vì sức khỏe và năng suất của 50% lựclượng lao động hiện tại và 100% lực lượng lao động tương lai [3]
Trang 24mẹ đẻ mổ thấp hơn 14% (tỉ suất chênh OR 0,86; khoảng tin cậy (95% CI): 0,82, 0,91)
và cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu thấp hơn 19% (OR: 0,81, 95% CI: 0,67,0,98) [31] Các kết quả này cũng cho thấy rằng tỉ lệ cho bú sớm thấp là nguyên nhânchủ yếu dẫn tới tỉ lệ bú mẹ hoàn toàn ở trẻ được đẻ mổ thấp hơn so với trẻ được đẻthường Một số yếu tố thường đi kèm với mổ đẻ có thể giải thích phần nào sự liênquan giữa mổ đẻ với giảm tỉ lệ cho bú sớm, trong đó có việc tách riêng mẹ và con, sựđau đớn và khó chịu sau khi mổ và sự khác biệt về sinh lý và nội tiết giữa quá trình đẻ
mổ và đẻ thường Ngoài ra, những sản phụ nữ quyết định chọn mổ đẻ theo yêu cầuthường ít có ý định cho con bú bởi vì có thể họ không thoải mái với diễn biến tâm sinh
lý bình thường của việc đẻ tự nhiên và cho con bú [29, 31]
1.5.7 Chế độ thai sản cho người cha:
Một nghiên cứu thuần tập tương lai ở Thụy Điển nhằm mục đích mô tả ảnh hưởngcủa tình trạng kinh tế và chế độ thai sản của người cha ảnh hưởng như thế nào đếnthời gian cho con bú Dữ liệu được lấy từ 51.671 trẻ ở 2 thành phố Orebro andUppsala Nghiên cứu chỉ ra rằng những người cha được hưởng chế độ thai sản thì khảnăng trẻ bú sữa mẹ cao hơn ở những thời điểm 2 – 4 – 6 tháng so với những người chakhông được hưởng chế độ thai sản (tháng 2 (p <0,001), tháng 4 (p <0,001), và tháng6(P <0,001)) Nếu như người cha được nhận chế độ thai sản thì người cha sẽ tham giatích cực trong việc NCBSM và gạt bỏ được những cảm giác thiếu tự tin và thiếu cơhội để phát triển mối quan hệ cha con Chăm sóc trẻ nhỏ, người cha dành nhiều thờigian cho trẻ hơn Như vậy, nếu cha mẹ chia sẻ thời gian hưởng chế độ thai sản chonhau để hỗ trợ việc cho con bú thì BSMHT trong 6 tháng đầu theo khuyến nghị củaWHO sẽ đạt được, điều này rất quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng [25]
Trang 25Đến năm 2013, ít nhất 78 trên tổng số 167 quốc gia quy định hình thức nghỉ phép nhấtđịnh dành cho các bậc làm cha khi con mình chào đời Đó là một sự tiến bộ bởi vàonăm 1994, chế độ nghỉ thai sản dành cho nam giới chỉ tồn tại ở 40 trên tổng số 141quốc gia có số liệu Chế độ thai sản dành cho các bậc làm cha được áp dụng phổ biếnnhất tại các nền kinh tế phát triển, châu Phi, Đông Âu và Trung Á Theo báo cáo mớicủa Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Việt Nam có chế độ nghỉ thai sản cho các bà
mẹ ngang hàng với các nước phát triển nhưng lại không có chế độ nghỉ thai sản dànhcho các ông bố trong khi gần một nửa các quốc gia trên toàn cầu khuyến khích các bậclàm cha tham gia nhiều hơn trong và sau quá trình con chào đời Nam giới tại ViệtNam không được nghỉ thai sản trong khi chế độ thai sản cho cha đang ngày càng trởnên phổ biển trên thế giới, nhưng dự thảo Luật Bảo hiểm Xã hội sửa đổi mở ra một hyvọng cho các ông bố đang làm việc [33] Được sự đồng tình của Quốc hội, lao độngnam sẽ được nghỉ 5-7 ngày hưởng nguyên lương tùy vào việc vợ sinh thường hay phảiphẫu thuật Chế độ thai sản dành cho nam giới khi có vợ sinh con được quy địnhtại Khoản 2, Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2016[10]
1.5.8 Các yếu tố thuộc về trẻ:
Điều tra quốc gia năm 2002 ở Mỹ, phân tích các yếu tố nhân khẩu học trên 2115 bà
mẹ độ tuổi từ 15 – 44 có số con từ 2 trở lên Các biến chính được quan tâm là thứ tựsinh và thời điểm bắt đầu cho trẻ bú ở các trẻ khác nhau trong một gia đình Kết quảcho thấy các bà mẹ có hai, ba, bốn, năm và nhiều hơn thì khả năng cho con bú lần lượt
là 52,6%, 48,4%, 44,7%, và 57,1% Nếu bà mẹ cho trẻ đầu tiên bú thì có thể những trẻtiếp theo sẽ được bú như trẻ đầu tiên, bất kể bà mẹ có bao nhiêu con Ngược lại, nếutrẻ đầu tiên mà không được bú thì khả năng những trẻ tiếp theo trong tương lại sẽ bú íthơn Hơn 70% bà mẹ lựa chọn ăn sữa giống nhau ở tất cả các con của họ, cho dù đó là
bú sữa mẹ hay ăn sữa công thức Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung cho con bú haykhông thôi, chứ chưa nói tới cho con bú đến bao lâu, và mối liên hệ giữa số thứ tựsinh với thời gian cho con bú Do việc cho con bú có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khảnăng sinh sản, qua đó, gián tiếp ảnh hưởng đến khoảng cách sinh giữa các con Ngoài
ra, các bà mẹ sẽ dừng cho con bú khi họ tiếp tục có thai đứa tiếp theo Vì vậy, nghiên
Trang 26cứu cũng đề xuất các nghiên cứu tiếp theo có thể xem xét mối quan hệ giữa thứ tựsinh và thời gian cho con bú [53]
1.5.9 Điều kiện kinh tế gia đình:
Nghiên cứu sự liên quan tỷ lệ BSMHT đến các yếu tố xã hội và sức khỏe ở Nepal Sốliệu thu thập ở đối tượng các bà mẹ có con dưới 5 tháng tuổi ở 2 thời điểm năm 2006 (
n = 482) và năm 2011 ( n= 227) So sánh xem sự thay đổi về BSMHT và ảnh hưởngcủa một số yếu tố liên quan giữa 2 thời điểm, bằng cách sử dụng kiểm định Chi-square
và hồi quy logistics đa biến cho thấy rằng yếu tố kinh tế gia đình có ảnh hưởng đếnviệc BSMHT Cụ thể, những đứa trẻ có mẹ có điều kiện kinh tế thì khả năng cho con
bú hoàn toàn thấp hơn so với những bà mẹ có điều kiện kinh tế thấp hơn, do họ không
có lựa chọn nào khác ngoài sữa mẹ như sữa công thức, thêm vào đó những bà mẹ cóđiều kiện khá giả được các công ty tiếp thị sữa quảng bá rầm rộ sữa công thức cho trẻnên việc bú sữa mẹ ở những gia đình khá giả thấp hơn so với những gia đình có điềukiện kinh tế thấp [29]
1.5.10.Thông tin về địa bàn nghiên cứu:
Theo khảo sát tình hình đời sống công nhân trong các khu, cum công nghiệp trên địabàn tỉnh Hải Dương cho thấy đời sống vật chất của các công nhân thiếu thốn, cường
độ lao động căng thẳng, trình độ học vấn hạn chế cùng với sự thiếu vắng các thiết chếvăn hóa - xã hội khiến đời sống văn hóa tinh thần của công nhân lao động tại các khucông nghiệp, sản xuất dây chuyền, làm việc theo ca, tính kỉ luật đúng giờ, tính chínhxác, đơn điệu của thao tác… đã khiến nhiều công nhân không chịu được sức ép côngviệc Vòng xoáy làm thêm, bữa ăn không đủ chất lượng do tiết kiệm chi tiêu cũng đăkhiến CNLĐ không có đủ thời gian tái tạo sức lao động cũng như không có thời gian
để nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái [12]
1.5.11 Khung lý thuyết: