1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích tại thành phố hồ chí minh

96 298 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận diện và đánh giá thực trạng chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích với hoạt động đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công ích của Tp.. Đánh giá tác động của chính sách quản

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ NGỌC THẠCH

CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SẢN PHẨM ĐẦU RA NHẰM THÚC ĐẨY

ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

CÔNG ÍCH TẠI TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ NGỌC THẠCH

CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SẢN PHẨM ĐẦU RA NHẰM THÚC ĐẨY

ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

CÔNG ÍCH TẠI TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: TS Đào Thanh Trường

Hà Nội, 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập Chương trình cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học

và Công nghệ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia

Hà Nội, học viên đã có cơ hội tiếp nhận kiến thức, kinh nghiệm và sự giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy, Cô trong Khoa Khoa học Quản lý nói riêng và các Thầy, Cô giáo trong trường cũng như Ban lãnh đạo nhà trường nói chung

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Đào Thanh Trường – người thầy đã dành nhiều thời gian, công sức, hết lòng và tận tình giúp đỡ hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp một cách tốt nhất

Một lần nữa, tôi muốn gửi lời cảm ơn và lòng tri ân sâu sắc đến các chuyên gia, các đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn

Xin trân trọng cám ơn

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu: 9

3 Mục tiêu nghiên cứu: 11

4 Phạm vi nghiên cứu 11

5 Mẫu khảo sát: 12

6 Câu hỏi nghiên cứu: 12

7 Giả thuyết nghiên cứu: 12

8 Phương pháp nghiên cứu: 12

9 Kết cấu của Luận văn: 13

Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và hoạt động

đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích 14

1.1 Khái niệm chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và các khái niệm có liên quan 14 1.1.1 Khái niệm quản lý sản phẩm đầu ra 14

1.1.2 Khái niệm chính sách 18

1.1.3 Khái niệm chính sách quản lý sản phẩm đầu ra 20

1.2 Khái niệm doanh nghiệp công ích và đổi mới công nghệ 21

1.2.1 Khái niệm hàng hóa công cộng, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp công ích 21

1.2.2 Một số đặc điểm của doanh nghiệp công ích 28

1.2.3 Khái niệm công nghệ và đổi mới công nghệ 31

Chương 2 Nhận diện và đánh giá thực trạng chính sách quản lý sản phẩm,

dịch vụ công ích với hoạt động đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công ích của Tp Hồ Chí Minh 42

2.1 Thực trạng chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích của Tp Hồ Chí Minh 42

2.1.1 Khái quát về hoạt động của các doanh nghiệp công ích 42

2.1.2 Nhận diện các chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích của Tp Hồ Chí Minh 56

Trang 5

2.2 Đánh giá tác động của chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích đối với hoạt động đổi mới công nghệ 64 2.2.1 Tác động dương tính của chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích đối với hoạt động đổi mới công nghệ 64 2.2.2 Tác động âm tính của chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích đối với hoạt động đổi mới công nghệ 68 2.2.3 Tác động ngoại biên của chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích đối với hoạt động đổi mới công nghệ 74

Chương 3 Định hướng chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và một số giải pháp nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công ích 76

3.1 Các quan điểm về chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích 76 3.2 Một số giải pháp triển khai chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích 85

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, nhiệm vụ phát triển đất nước theo mục tiêu nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là nhiệm vụ chủ chốt Bên cạnh những khó khăn mang tính nội tại về nguồn lực, việc Việt Nam hiện nay tích cực gia nhập các tổ chức toàn cầu trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng tăng lên khiến việc thực hiện nhiệm vụ này càng không dễ dàng Chiến lược phát triển trong thời gian tới đặt ra nhiệm vụ song song với việc ổn định chính trị, xã hội Việt Nam cần đảm bảo tăng trưởng kinh tế phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững Đóng góp vào công cuộc này, các tổ chức cung cấp dịch vụ công cộng giữ vai trò thiết yếu nhằm cung cấp những nền tảng cơ bản về cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội, thông tin liên lạc, an ninh quốc phòng cho sự vận động và phát triển bền vững của quốc gia

DNNN nói chung và DNNN hoạt động vì mục tiêu công ích nói riêng (gọi tắt

là doanh nghiệp công ích) hoạt động theo các chính sách xã hội của nhà nước phục

vụ cho lợi ích trực tiếp của toàn xã hội hay lợi ích công cộng như: cung ứng hàng hóa công cộng theo kế hoạch hay đơn đặt hàng của nhà nước như các hàng hóa về quốc phòng, an ninh, y tế công cộng và văn hóa Các doanh nghiệp công ích là các công ty TNHH một thành viên độc lập hoạt động cung ứng dịch vụ, sản phẩm công ích, trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng, thường xuyên làm các nhiệm vụ của chủ

sở hữu giao nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội Nằm trong khối doanh nghiệp, song DNCI không đặt mục tiêu lợi nhuận làm đầu mà lợi ích của xã hội phải được xác định là yếu tố quan trọng nhất Nhóm hàng hóa công cộng được coi là hàng hóa đặc biệt này chiếm tỷ trọng không lớn trong nền kinh tế nhưng nhà nước phải có những nguyên tắc quản lý riêng do vai trò quan trọng và tính đặc thù của nó đối với nền kinh tế

Những năm qua của thời kỳ đổi mới, quá trình sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp công ích cho phù hợp với yêu cầu phát triển của KTTT nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, DNCI đã có những đóng góp đáng kể: kết cấu hạ tầng được cải thiện, góp phần đảm bảo những cân đối lớn trong nền kinh tế ổn định và phát triển, giảm thiểu mức đầu tư từ ngân sách nhà nước Theo báo cáo từ các Bộ, địa phương trong năm 2014, các doanh nghiệp công ích thực hiện tốt nhiệm vụ thông qua chính

Trang 8

sách an sinh- xã hội với việc sẵn sàng tham gia làm nhiệm vụ theo yêu cầu của Bộ, địa phương Đặc biệt, các doanh nghiệp công ích được chủ động hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao do được chuyển từ cơ chế giao kế hoạch sang đặt hàng, đấu thầu.Các doanh nghiệp công ích trên toàn quốc hiện đang tạo việc làm cho khoảng 196.000 người lao động với mức thu nhập bình quân của người lao động là 7 triệu đồng/người/tháng (tăng 3,1% so với mức lương bình quân năm 2012) Trong đó, mức thu nhập bình quân của khối doanh nghiệp công ích thuộc Bộ quản lý cao hơn so với mức thu nhập bình quân của người lao động thuộc khối doanh nghiệp công ích thuộc địa phương (9,7 triệu đồng/người so với 5,3 triệu đồng/người) Đến nay các doanh nghiệp công ích đã hoạt động trong các lĩnh vực như: Cấp, thoát nước; cung ứng dịch

vụ vệ sinh, môi trường; xử lý nước thải, rác thải; chiếu sáng đô thị; trồng và chăm sóc cây xanh, vườn hoa công cộng; duy tu, bảo trì các công trình giao thông; cung ứng dịch vụ vận tải hành khách công cộng; cung ứng dịch vụ khai thác các công trình thủy lợi; cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích đặc thù thuộc các Bộ, ngành; trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng

Vậy làm thế nào để phát huy được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp công ích mà không dẫn đến việc phá vỡ các nguyên tắc “công ích” hay lợi ích công cộng là điều cần được cân nhắc hiện nay Khi mà trong thực tế các hoạt động của DNCI vẫn theo lối mòn, dựa trên các phương tiện, công nghệ lạc hậu, thiếu một phương thức quản lý phù hợp thì việc nâng cao chất lượng dịch vụ công ở các doanh nghiệp này ngày càng trở nên khó khăn DNNN mà đặc biệt là DNCI, trong quá trình chuyển sang KTTT đang phát sinh nhiều bất cập như tình trạng đầu tư lớn nhưng kết quả kinh

tế - xã hội không được như mong muốn Nhiều vấn đề về chính sách đặt ra gây lúng

túng trong công tác tổ chức quản lý Thậm chí DNCI còn bị đánh giá là khu vực kém hiệu quả nhất hiện nay Một số công trình trọng điểm triển khai chưa đạt yêu cầu so

với tiến độ đặt ra, không đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của xã hội, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân Những công trình về dân sinh như cấp thoát nước, chiếu sáng, cải tạo và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật… tiến hành còn chậm Tại Thành phố

Hồ Chí Minh, nhiều khu vực của thành phố thiếu nước sạch sinh hoạt, rác tồn đọng ở các ngõ xóm, phế thải xây dựng còn chưa được thu dọn kịp thời, bụi đường phố vượt mức tiêu chuẩn gấp nhiều lần, vệ sinh nơi công cộng chưa đảm bảo Công tác xử lý

và phối hợp xử lý các vi phạm chưa đạt yêu cầu, lãng phí điện, nước công cộng vẫn ở

Trang 9

mức cao, dịch vụ vui chơi giải trí chưa phát triển tương xứng Công tác chống ngập trước kia được giao Sở Giao thông vận tải và Công ty Thoát nước đô thị (TNĐT) quản

lý, triển khai thực hiện song từ năm 2008, UBND TPHCM thành lập và giao nhiệm vụ này cho Trung tâm chống ngập nước TPHCM Dù vậy, việc duy tu, thi công sửa chữa, nâng cấp nhiều tuyến cống thoát nước, nạo vét kênh rạch, vận hành các trạm bơm, đập ngăn triều, nhà máy nước thải… vẫn được giao cho công ty TNĐT Cả nghìn tỷ đồng

đã được đầu tư cho hệ thống thoát nước đô thị của thành phố nhưng đến nay, nạn ngập úng vẫn thường xuyên diễn ra và gây bất an cho người dân Gần đây, Công ty TNĐT còn xây dựng trái phép công trình kho bãi trên khu đất hơn 1.000 m2 đã bị thu hồi tại Khu liên hợp xử lý chất thải rắn và nghĩa trang Đa Phước (huyện Bình Chánh) Công

ty chiếu sáng công cộng (CSCC) gây bức xúc cho nhiều người dân, vì gắn đèn nhưng không…chiếu sáng hoặc chiếu sáng không liên tục mà chỉ chú trọng vào các dịp lễ tết Đối với Công ty Công viên cây xanh (CVCX), sự cố gãy đổ cây xanh trúng người dân

và phương tiện trên đường phố liên tiếp xảy ra đã tạo nên một hình ảnh đáng buồn về dịch vụ công cộng Năm 2003, TPHCM giao cho Công ty Quản lý Công trình giao thông Sài Gòn (CTGTSG) làm chủ đầu tư dự án nâng cấp mở rộng đường Lê Văn Quới Do triển khai ì ạch, con đường đầy ổ voi, lầy lội, gây phiền hà, mất an toàn cho người dân nên đến năm 2006, UBND TPHCM buộc phải thu hồi, giao cho đơn vị khác1 Rõ ràng thực tế hoạt động các DNCI tại Tp Hồ Chí Minh cho thấy những hạn chế vẫn đang tồn tại và chưa được giải quyết một cách triệt để Thiếu một môi trường cạnh tranh lành mạnh càng tạo ra những bất cập trong hoạt động của doanh nghiệp như công nghệ lạc hậu, dự án chậm triển khai, chất lượng sản phẩm, dịch vụ không đáp ứng nhu cầu của người dân

Để khắc phục hiện tượng trên, cùng với việc đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng dịch vụ của nhân dân thành phố, doanh nghiệp công ích buộc phải thực hiện lộ trình đổi mới công nghệ nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ chất lượng tốt và giá thành hạ vì mục tiêu phát triển bền vững Trong những năm gần đây, với chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh cung cấp dịch vụ công ích thông qua công tác đấu thầu của UBND TP Hồ Chí Minh doanh nghiệp công ích đứng trước những khó khăn và không ít cơ hội đối với phát triển

1 Huy Thịnh, “Sếp công ích” vì sao lương khủng?, khung-2013082807165582719.chn, 28/8/2013

Trang 10

Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã có 22 doanh nghiệp công ích các quận, huyện và 6 doanh nghiệp thành phố và một số doanh nghiệp tư nhân tuy nhiên, thực tế hiện nay giá thành dịch vụ ngày càng tăng, nhu cầu của người dân cũng chưa được đáp ứng tốt Thực tế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, tuy nhiên việc chậm đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích là một trong những nguyên nhân chính Qua 2 trường hợp nghiên cứu là CTCIQ2 và CTTNĐT tác giả nhận thấy vấn đề nằm ở phía các cơ quan quản lý sản phẩm dịch vụ công ích của Thành phố cũng chưa có một những chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp công ích đổi mới công nghệ Bên cạnh những thành tựu chung của lĩnh vực công ích, các doanh nghiệp này vẫn gặp phải những thách thức do hạn chế về công nghệ và năng lực công nghệ, hạn chế bởi quy trình kiểm tra, đánh giá của các cơ quản lý chức năng còn rườm

rà, sự chậm trễ trong việc huy động các nguồn vốn cho đổi mới, cho tái cấu trúc Vì

vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích tại Thành phố Hồ Chí Minh” Qua đó có một số kiến nghị nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp đẩy mạnh hơn

hoạt động đổi mới công nghệ

- Ý nghĩa lý luận: thông qua việc nghiên cứu có tính chất hệ thống, khoa học quá trình hình thành và phát triển DNCI, hoạt động quản lý các DNCI từ đó thấy được vị trí, vai trò, đặc điểm của hệ thống DNCI, thiết chế quản lý của DNCI Đặc biệt khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về mối quan hệ giữa chính sách quản lý sản phẩm đầu ra với hoạt động đổi mới công nghệ của các DNCI

- Ý nghĩa thực tiễn: trên cơ sở những vấn đề lý luận được gợi mở, phân tích làm căn cứ đánh giá khách quan, khoa học thực trạng hoạt động của các DNCI Thành phố HCM trong những năm qua Chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời phân tích nguyên nhân cho việc quản lý DNCI thiếu hiệu quả Từ đó, đề xuất giải pháp chính sách hướng đến đổi mới công nghệ một cách thiết thực, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả trước mắt và đảm bảo tính ổn định lâu dài các DNCI của thành phố Hồ Chí Minh Việc nâng cao hiệu quả hoạt động của DNCI là một tiền đề quan trọng cho việc xây dựng thành công nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, cũng như đảm bảo các yếu tố về công bằng xã hội, dân chủ và văn minh

Trang 11

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu:

Những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về DNCI tiêu biểu như:

Đề tài "Thực trạng và những biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích" của tác giả Nguyễn Trung Kiên đề cập đến

những vấn đề lý luận chung về quản lý nhà nước; phân tích thực trạng quản lý nhà nước DNCI trong 2 năm (1999 - 2000) đồng thời đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước DNCI

Đề tài "Những giải pháp cơ bản nhằm đổi mới công tác quản lý các doanh nghiệp hoạt động công ích ngành Giao thông công chính Hà Nội" của tác giả Hoàng Kim Hồng đã

phân tích thực trạng hoạt động của các DNCI ngành Giao thông công chính Hà Nội, chỉ ra những ưu điểm, những thế mạnh cần phát huy và những tồn tại, hạn chế trong hoạt động thực tiễn cần được điều chỉnh hoặc đổi mới phương thức hoạt động từ đó đề xuất các giải pháp phát huy năng lực tiềm tàng của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này

Đề tài "Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác kế hoạch đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích - Cụm cảng Hàng không miền Bắc" của tác giả Nguyễn Hữu Vinh phân tích công tác kế hoạch, tổng kết thực

tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh thời kỳ 1998 - 2002; phân tích đánh giá tình hình quản lý điều hành kế hoạch và đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của DNCI - Cụm cảng Hàng không miền Bắc

Đề tài "Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích ngành Văn hóa thông tin" của tác giả Nguyễn Danh Ngà đề cập đến đổi mới cơ chế hoạt động của

DNCI ngành văn hóa thông tin dưới tiếp cận Kinh tế phát triển

Ngoài ra còn một số bài đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành về DNCI Tuy nhiên các công trình trên chủ yếu nghiên cứu các DNCI dưới góc độ là một bộ phận của kinh tế nhà nước và chỉ ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh Một số tác giả có đề cập đến giải pháp tháo gỡ khó khăn trong hoạt động của DNCI một ngành, lĩnh vực cụ thể Do giới hạn lịch sử, cách tiếp cận KTTT đã có nhiều điểm còn hạn chế, các giải pháp không còn phù hợp với thực tiễn, đòi hỏi phải được xem xét, bổ sung trong điều kiện mới, điều kiện của đổi mới và hội nhập quốc tế

Trang 12

Mục tiêu của đổi mới công nghệ là nhằm đạt được hiệu quả cao trong sản xuất

và nâng cao sức cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp cũng như quốc gia, do đó đây là vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm và nghiên cứu trong thời gian gần đây Đã có một số nghiên cứu đưa ra các chính sách đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau Các nghiên cứu này đã chỉ ra được những khó khăn về vốn, thông tin, nhân lực, nguồn lực trong việc tiếp cận với những công nghệ mới của các doanh nghiệp từ đó để đề xuất các giải pháp cho đổi mới

Đề tài “Thúc đẩy đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời kỳ hội nhập quốc tế” của tác giả Bùi Trọng Tín đã

đề ra các giải pháp thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó

đã nhấn mạnh đến: Sự cần thiết phải tăng cường các hoạt động hỗ trợ đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh; Xây dựng chương trình thông tin KH&CN nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ

và vừa đổi mới công nghệ; Xây dựng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng cường đầu tư nghiên cứu và triển khai; Phát triển thị trường công nghệ nhằm thúc đẩy nhanh và có hiệu quả quá trình chuyển giao công nghệ Một số nghiên cứu tập trung vào các giải pháp cho hoạt động đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp có thể kể

đến như: “Xây dựng chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa” của tác giả Phan Thu Trang nêu lên thực trạng của việc đảm bảo

thông tin đối với hoạt động đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa, từ đó

đề xuất giải pháp chính sách thông tin cho các doanh nghiệp Hay đề tài “Sử dụng công cụ thuế để kích thích đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong hội nhập” của tác giả Nguyễn Văn Đoàn đã mô tả thực

trạng sử dụng công cụ thuế để đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương, qua tìm hiểu về thủ tục hành chính thuế, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và đổi mới công nghệ, từ đó đề xuất một số giải pháp chính sách của Nhà nước trong việc sử dụng linh hoạt công cụ thuế để kích thích đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Bài báo “Chính sách sản phẩm cho doanh nghiệp vận tải đường sắt” bàn đến vấn đề tại sao lại không loại bỏ được các sản phẩm công ích và khi không loại bỏ được

Trang 13

các sản phẩm công ích đó thì phải làm thế nào để duy trì nó mà không làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Bài báo tiến hành xây dựng chính sách sản phẩm cho doanh nghiệp vận tải đường sắt, thông qua việc đưa ra các nguyên tắc và phương pháp xác định phần Nhà nước bù lỗ cho các doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh các sản phẩm công ích đó

Xoay quanh vấn đề đổi mới công nghệ của doanh nghiệp đã có nhiều hướng tiếp cận về giải pháp từ vi mô đến vĩ mô song chưa có nghiên cứu nào về Chính sách thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích tại Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp trong việc trang bị và đổi mới công nghệ theo hướng quản lý sản phẩm đầu ra Nói cách khác đề tài Chính sách quản

lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích tại TPHCM là một khía cạnh còn nhiều mảng trống cần được nghiên cứu

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu chung:

Đề xuất chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích theo sản phẩm đầu ra và các giải pháp bổ sung để thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích tại TP.HCM

Mục tiêu cụ thể:

- Nêu thực trạng về chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích

- Phân tích rào cản về chính sách quản lý sản phẩm của các doanh nghiệp công ích trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đối với việc thúc đẩy đổi mới công nghệ

- Đề xuất giải pháp về chính sách quản lý sản phẩm đầu ra trong hoạt động

dịch vụ công ích trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích

Trang 14

Phạm vi nội dung:

- Thực trạng chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ tại các doanh nghiệp công ích tại TP.HCM trong 5 năm gần đây (2010-2015) để đề xuất chính sách quản lý theo sản phẩm đầu ra nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ

5 Mẫu khảo sát:

- Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Công ích quận 2

- Công ty TNHH Một thành viên Thoát nước Đô thị TP Hồ Chí Minh

6 Câu hỏi nghiên cứu:

Cần có chính sách quản lý sản phẩm đầu ra như thế nào để thúc đẩy các doanh nghiệp công ích chủ động đổi mới công nghệ?

7 Giả thuyết nghiên cứu:

Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra cho các doanh nghiệp công ích nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ phải dựa trên triết lý các đơn vị quản lý nhà nước không cần quản lý chi phí, không cần có định mức, đơn giá (trên cơ sở xác định được chi phí tối thiểu, giá thành), chỉ cần quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra (bằng các tiêu chí cụ thể)

8 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Để thực hiện luận văn, tác giả đã tiến hành nghiên cứu một số tài liệu của các chuyên gia trong nước về các nội dung liên quan đến quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích theo đầu ra, lý thuyết về quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra, đổi mới công nghệ

- Phương pháp quan sát: Tác giả sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp tại các doanh nghiệp công ích theo mẫu khảo sát là: Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Công ích quận 2 và Công ty TNHH Một thành viên Thoát nước Đô thị TP Hồ Chí Minh để nhận diện các chu trình quản lý

Trang 15

9 Kết cấu của Luận văn:

Trang 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SẢN PHẨM ĐẦU RA VÀ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH

1.1 Khái niệm chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và các khái niệm có liên

quan

1.1.1 Khái niệm quản lý sản phẩm đầu ra

Chính sách sản phẩm đầu ra bao gồm các hoạt động và giải pháp nhằm đề ra, thực hiện các chiến lược và chiến thuật về sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp Trong

đó, sản phẩm theo nghĩa căn bản nhất được hiểu là vật phẩm tổng hợp các đặc tính về vật lý, hóa học, sinh học được tập hợp trong một đặc tính đồng nhất, là vật mang giá trị

sử dụng Khái niệm sản phẩm không đồng nhất với ý nghĩa hàng hóa bởi hàng hóa là những sản phẩm được đem ra trao đổi và buôn bán trên thị trường Theo tiếp cận hệ thống đối với một quy trình sản xuất, đầu vào sẽ bao gồm các yếu tố sản xuất như: vốn, nhân công, vật tư, công nghệ, nguyên liệu, năng lượng, phương thức quản lý… qua 1 quy trình sản xuất sẽ tạo ra hệ thống các sản phẩm đầu ra.Tuy nhiên quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chưa thể kết thúc ở đây, nếu doanh nghiệp chỉ sản xuất để tạo ra sản phẩm rồi xếp vào kho hoặc để ban phát thì doanh nghiệp đó sẽ không tồn tại trong nền KTTT Vì thế đòi hỏi doanh nghiệp đó phải trao bán sản phẩm trên thị trường.Và đương nhiên muốn thu về lợi nhuận tốt nhất, hàng hóa chiếm được thị phần cao nhất thì sản phẩm đầu ra phải đáp ứng với nhu cầu thị trường, có giá bán thích hợp…Vì vậy các doanh nhân phải tìm hiểu kĩ thị trường, có tiềm lực và năng lực

và huy động các yếu tố đầu vào…nhất là phải đánh giá trước hiệu quả kinh doanh, quản lý được kết quả đầu ra ngay từ khi chuẩn bị ra quyết định sản xuất

Quản lý sản phẩm đầu ra thực chất là cách nói khác của quản lý chất lượng theo sản phẩm đầu ra Để hiểu rõ hơn về phương pháp quản lý chất lượng này, cần làm rõ nội hàm của khái niệm chất lượng cũng như đặc điểm của chất lượng Theo giáo trình

quản lý chất lượng sản phẩm, chất lượng được hiểu là mức độ của một tập hợp các

đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu, trong đó yêu cầu là những nhu cầu hay mong

đợi đã được công bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc

Đặc điểm của chất lượng bao gồm:

1 Chất lượng được đo bằng sự thoã mãn các yêu cầu Nếu một sản phẩmvì lý do nào đó mà không đáp ứng đựơc yêu cầu, không được thị trường chấpnhận thì phải bị

Trang 17

coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạora sản phẩm đó có thể rất hiện đại Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở đểcác nhà quản lý định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình

2 Chất lượng được đo bằng sự thoả mãn các yêu cầu, mà yêu cầu luônl uôn biến động nên chất lượng cũng luôn biến đổi theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng

Vì vậy phải định kỳ xem xét lại các yêu cầu chất lượng

3 Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, cần phải xét mọi đặc tính của đối tượng, có liên quan đến sự thoả mãn những yêu cầu cụ thể

4 Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hoá.Chất lượng có thể áp dụng cho mọi thực thể, có thể là sản phẩm, một hoạt động, một quá trình, một doanh nghiệp hay một con người

5 Cần phân biệt giữa chất lượng và cấp chất lượng

Cấp chất lượng là chủng loại hay thứ hạng của các yêu cầu chất lượng khác nhau đối với sản phẩm, quá trình hay hệ thống có cùng chức năng sử dụng Ví dụ căn hộ cấp

1 hay cấp 4 là cấp chất lượng của nhà ở Cấp chất lượng phản ánh khác biệt đã định hướng hoặc đã thừa nhận trong các yêucầu chất lượng Một đối tượng ở cấp cao cũng

có thể có chất lượng không đápứng các yêu cầu (đã định ra cho đối tượng đó) và ngược lại

Trong nền kinh tế hiện đại khi nói đến chất lượng không thể bỏ qua các yếu tố giá cả và dịch vụ trước, trong và sau khi bán Đó là những yếu tố mà khách hàng nào cũng quan tâm sau khi thấy sản phẩm mà họ định mua thoả mãn yêu cầu của họ Ngoài

ra vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn cũng là yếu tố vô cùng quan trọng trong sản xuất hiện đại, nhất là khi các phương pháp sản xuất “vừa – đúng lúc”(Just - in - time: sản xuất những gì cần thiết, đúng lúc, đúng số lượng), “không kho”( Non - stock

- production) đang được thịnh hành ở các công ty hàng đầu Để thoả mãn yêu cầu, cũng còn cần quan tâm đến những yếu tố khác như thái độ của người làm các dịch vụ tiếp xúc với khách hàng, từ người thường trực, tiếp tân đến trực điện thoại và cảnh quan, môi trường làm việc của công ty

Chất lượng luôn có thể đặc trưng qua những chỉ tiêu có thể biểu hiện bằng một số trị số và sự định lượng, đó là mức chất lượng Các yêu cầu này được gọi là các yêu cầu chất lượng, hay còn gọi là tiêu chuẩn chất lượng Các yêu cầu chất lượng phải phản ánh đầy đủ yêu cầu đã hoặc chưa công bố của khách hàng và các yêu cầu xã hội Các

Trang 18

yêu cầu xã hội là những điều bắt buộc quy định trong luật pháp, trong các chế định Căn cứ vào các yêu cầu chất lượng đã được xác định, các nhà thiết kế sẽ xây dựng nên các yêu cầu kỹ thuật/quy định kỹ thuật cho sản phẩm bao gồm cả các bộ phận, chi tiết của sản phẩm sao cho sản phẩm cuối cùng sẽ có tính năng thỏa mãn các yêu cầu chất lượng đã định Bởi vậy các yêu cầu chất lượng còn gọi là các yêu cầu tính năng/quy định tính năng Các tiêu chuẩn chất lượng là công cụ thiết thực cho hoạt động đo lường và quản lý chất lượng trong thực tiễn, là cơ sở kiểm định hiệu quả và hiệu lực của quản lý

Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được hiểu là quản lý chất lượng Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2000, TCVN ISO 9000:2000 quản lý chất lượng là tổng

thể: “Các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng” và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát

chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng Các phương thức của quản lý chất lượng bao gồm:

- Kiểm tra chất lượng là hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm, định cỡ một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính Kiểm tra nhằm sàng lọc sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng hay không

- Kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng bao gồm kiểm sát át con người, kiểm soát phương pháp và quá trình, kiểm soát đầu vào, kiểm soát thiết bị, kiểm soát môi trường Kiểm soát theo chu trình Derming là hoạt động kiểm soát vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng

- Đảm bảo chất lượng là mọi hành động có kế hoạch và có hệ thống nhằm đem lại lòng tin thỏa đáng rằng sản phẩm thỏa mãn các yêu cầu đã định đối với chất lượng

Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO đã xây dựng và ban hành bộ tiêu chuẩn ISO

9000 để giúp cho các tổ chức có được một mô hình chung về đảm bảo chất lượng

- Kiểm soát chất lượng toàn diện theo định nghĩa của Ủy ban Giải thưởng Derming của Nhật là“Hoạt động thiết kế, sản xuất và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ có chất lượng theo yêu cầu của khách hàng một cách kinh tế, dựa trên nguyên tắc định hướng vào khách hàng và xem xét đầy đủ đến phúc lợi xã hội Nó đạt được mục tiêu của công ty thông qua việc lặp lại một cách hiệu quả chu trình PDCA, bao gồm

Trang 19

lập kế hoạch - thực hiện - kiểm tra - hành động điều chỉnh Điều đó được thực hiện bằng cách làm cho toàn thể nhân viên thông hiểu và áp dụng tư tưởng và phương pháp thống kê đối với mọi hoạt động nhằm đảm bảo chất lượng Các hoạt động này

là một chuỗi công việc, bao gồm khảo sát, nghiên cứu, phát triển, thiết kế, thu mua, sản xuất, kiểm tra và marketing cùng với tất cả các hoạt động khác cả bên trong và bên ngoài công ty.”

- Quản lý chất lượng toàn diện: Là một phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thoả mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của công ty đó và của xã hội

Căn cứ vào những phân tích về chất lượng, quản lý chất lượng nói chung của các

tổ chức, có thể hiểu Quản lý sản phẩm đầu ra là tổng thể các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng sản phẩm đầu ra Cụ thể đây là phương thức quản lý đảm bảo cho người cung cấp sản phẩm đầu ra có quyền tự chủ trong quản lý để quyết định những đầu vào cần thiết để sản xuất đầu ra cũng như đảm bảo được chất lượng sản phẩm đầu ra

Quy trình quản lý sản phẩm đầu ra theo quan điểm của tác giả cần được được thực hiện theo mô hình2 sau:

2 Nguyễn Hồng Hà, Đổi mới phương thức cấp phát ngân sách gắn với kết quả đầu ra,

voi-ket-qua-dau-ra-35049.htm , 4/11/2013

Trang 20

http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu trao-doi/trao-doi-binh-luan/doi-moi-phuong-thuc-cap-phat-ngan-sach-gan-Ghi chú :

1.Các tính toán kinh tế xác định dự toán chi tiêu

2.So sánh hiệu quả: đạt được 1 lượng sản phẩm đầu ra như thế thì cần sử dụng bao nhiêu đầu vào

3 Mức độ thành công: sản phẩm đầu ra đó tác động tích cực hay tiêu cực đối với nền kinh tế xã hội

4 Hiệu suất sử dụng nguồn lực: đánh giá tác động của việc sử dụng các yếu tố đầu vào đối với nền kinh tế xã hội

Sở dĩ mô hình này được lựa chọn cho chu trình quản lý sản phẩm đầu ra bởi khả năng thay đổi việc phân bổ các nguồn lực mang nặng tính chủ quan, áp đặt từ các cấp

có quyền lực phân bổ, cách thức phân bổ mang tính cào bằng, dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả sử dụng nguồn lực thấp, chất lượng hàng hóa cung cấp cho xã hội kém, người quản lý thiếu trách nhiệm đối với kết quả hoạt động Thực hiện quản lý sản phẩm đầu ra theo mô hình này giúp gắn kết giữa mục tiêu chất lượng sản phẩm đầu ra với toàn bộ quá trình vận hành, xây dựng quy trình quản lý, tức là trọng tâm vào việc quản lý đối với hiệu quả sử dụng nguồn lực và mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội của các sản phẩm đầu ra

1.1.2 Khái niệm chính sách

Chính vì vậy, so với khái niệm pháp luật, chính sách được hiểu rộng hơn nhiều Nếu xét nội hàm của khái niệm này trong mối quan hệ với chính trị và pháp quyền thì khái niệm chính sách được tìm hiểu ở một số khía cạnh sau đây:

- Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung Dựa vào đường lối chính trị chung, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà người ta định ra chính sách

- Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật Hay nói cách khác, pháp luật

là kết quả của sự thể chế hóa chính sách Có thể có chính sách chưa được luật pháp hóa (thể chế hóa), hoặc cũng có thể không bao giờ được luật pháp hóa vì nó không được lựa chọn để luật pháp hóa khi không còn phù hợp với tư tưởng mới hay sự thay đổi của thực tiễn Nhưng sẽ không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài chính sách Theo nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn pháp luật là hình thức, là phương tiện thể hiện của chính sách

Trang 21

Theo quan điểm này chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền và với bộ máy quyền lực công – nhà nước Từ đây, sự khác biệt giữa chính sách

và pháp luật được thể hiện như sau:

- Nếu chính sách là những tư tưởng, định hướng, những mong muốn chính trị được thể hiện trong các nghị quyết, các văn kiện của Đảng thì pháp luật được thể hiện bằng các quy tắc xử sự mang tính pháp lý, được ban hành bởi Nhà nước theo những trình tự và thủ tục nghiêm ngặt (hình thức, thẩm quyền, quy trình soạn thảo và ban hành);

- Nếu chính sách (khi chưa được luật pháp hóa) chỉ là những cái đích mà người ta cần hướng tới, chưa phải là những quy tắc xử sự có tính rằng buộc chung hay tính bắt buộc phải thực hiện, thì pháp luật lại là những chuẩn mực có giá trị pháp lý bắt buộc chung

và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước

Nếu nhìn nhận chính sách như một hiện tượng tĩnh và tương đối độc lập thì chính sách được hiều là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật chẳng qua chỉ là hình thức, là phương tiện để chuyển tải, để thể hiện chính sách mà thôi

Hay chính sách xét từ góc độ nhà nước là tổng thể những nguyên tắc, biện pháp của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung trong đời sống kinh tế - xã hội nhằm đạt mục tiêu đề ra Các cách tiếp cận chính sách như trên có phần phiến diện khi đồng nhất giữa chính sách với quan điểm của Đảng phái chính trị, hay của một bộ phận giai tầng nắm quyền lực nhà nước

Thuật ngữ "chính sách" được sử dụng rộng rãi trên sách báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội Tuy nhiên để hiểu đúng thuật ngữ này cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Theo nghĩa giản đơn, chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…” Theo James Anderson: "Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm" Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau: Chính sách của Liên hiệp quốc, chính sách của một đảng, chính sách của Chính phủ, chính sách của chính

Trang 22

quyền địa phương, chính sách của một bộ, chính sách của một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, chính sách của một DN …

Các tổ chức, các doanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể… có thể đề ra những chính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vị một tổ chức, doanh nghiệp , hiệp hội hay đoàn thể

đó Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó, vì vậy, chúng mang tính chất riêng biệt và được coi là những "chính sách tư", tuy trên thực tế khái niệm "chính sách tư" hầu như không được sử dụng Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong

bộ máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi

là chính sách công

Nghiên cứu này đi theo quan điểm của Vũ Cao Đàm về khái niệm chính sách có tính

bao quát như sau: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một

chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”

Theo khái niệm này chính sách không bị giới hạn bởi công hay tư, bởi chủ thể ban hành chính sách có quyền lực chính trị hay không có quyền lực chính trị, điều cốt yếu

mà chính sách hướng đến đó là tác động vào động cơ hoạt động của con người thông qua một tập hợp các thiết chế để tạo ra một sự phân biệt đối xử giữa các nhóm người trong xã hội

1.1.3 Khái niệm chính sách quản lý sản phẩm đầu ra

Từ phân tích khái niệm quản lý sản phẩm đầu ra và khái niệm chính sách nói

chung, theo quan điểm của tác giả Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra là tập hợp

các biện pháp được thể chế hóa do chủ thể quan lý đưa ra trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện mục tiêu đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra của tổ chức Quản lý sản phẩm đầu ra là một nỗ lực nhằm kiểm soát hiệu quả

của việc sử dụng nguồn lực trong tương quan với khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội, do

đó chính sách quản lý sản phẩm đầu ra sẽ tập trung vào việc đảm bảo cho các thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có được vai trò, vị trí hợp lý và quyền tự chủ trong việc quyết định các yếu tố đầu vào và quy trình cần có cho hoạt động của tổ chức

Trang 23

Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra dựa trên yếu tố cốt lõi là chiến lược Kaizen Theo ý kiến của các chuyên gia Nhật, chiến lược Kaizen là phương pháp quan trọng trong quản lý của Nhật Bản, là chìa khoá của sự thành công trong cạnh tranh của Nhật Kaizen có nghĩa là cải tiến liên tục, "không ngày nào không có một cải tiến nào

đó được thực hiện trong công ty", huy động, khuyến khích và thừa nhận nỗ lực của con người trong quá trình làm việc để thực hiện cải tiến Chiến lược Kaizen đòi hỏi các nhà quản lý phải tìm cách thoả mãn khách hàng, phục vụ các nhu cầu của khách hàng Với quan niệm rằng cải tiến thường là một quá trình diễn ra dần dần và cần có thời gian mới có hiệu quả Kaizen cũng quan tâm đến đổi mới công nghệ là cần thiết, nhưng sản phẩm có được từ công nghệ mới lúc đầu thường đắt và chất lượng chưa đảm bảo Bởi vậy họ cho rằng tiếp sau công nghệ mới là phải hướng nỗ lực vào việc giảm chi phí, cải tiến chất lượng và cách thức phát triển chủ yếu của công nghệ ngày nay đang chuyển từ nhảy vọt sang từng bước nhỏ Sức mạnh công nghệ của Nhật là sự liên kết chặt chẽ giữa triển khai, thiết kế và sản xuất Chính yếu tố này đã khiến việc triển khai sản xuất hàng loạt được nhanh chóng hơn ở phương Tây và ít gặp vấp váp hơn Kaizen cũng không phủ nhận đổi mới, nó không thay thế hay loại trừ đổi mới mà

bổ sung cho nhau Khi Kaizen đã gần cạn, không phát huy mạnh mẽ thì cần có đổi mới, và ngay sau khi có đổi mới cần thực hiện Kaizen Kaizen và đổi mới là hai thành phần không tách rời nhau trong tiến trình phát triển

Chính chiến lược Kaizen trong chính sách quản lý sản phẩm đầu ra sẽ giải quyết được mối quan hệ tất yếu giữa quản lý sản phẩm đầu ra và đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp Nói cách khác chất lượng được quản lý tốt là tiền đề cho việc đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp xét về mặt dài hạn

1.2 Khái niệm doanh nghiệp công ích và đổi mới công nghệ

1.2.1 Khái niệm hàng hóa công cộng, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp

công ích

Những người thuộc trường phái Trọng thương thế kỷ 15 - 17 cho rằng để có nhiều tiền, nhà nước phải có những chính sách hỗ trợ, làm "bà đỡ" cho quá trình làm tăng của cải, tăng giá trị của các nhà kinh doanh Các nhà kinh tế học cổ điển Anh thì muốn phủ định vai trò kinh tế của Nhà nước Mặc dù vậy, A Smith, nhà kinh tế học cổ điển nổi tiếng thời bấy giờ - vẫn phải thừa nhận rằng Nhà nước không thể không có vai trò trong việc duy trì các công trình công cộng (đường sá, cầu cống, sông đào, bến

Trang 24

cảng) và những thể chế mang lại lợi ích cho toàn xã hội Engel khi nói về sự tác động của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế đã khẳng định có ba loại: Một là, nếu những tác động phù hợp, đúng quy luật, cùng hướng sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển Ngược lại, làm trái quy luật, áp đặt sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế Ba là, tác động của nhà nước tốt hướng này, cản trở hướng khác sẽ gây những cản trở trong quá trình phát triển kinh tế

Can thiệp vào đời sống kinh tế có nghĩa là nhà nước dùng quyền lực áp đặt những quy định dưới hình thức pháp luật nhằm hướng dẫn, điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế cho phù hợp với những mục tiêu Nhà nước đã lựa chọn Để thực hiện vai trò này, nhà nước có thể ban hành và thực thi hệ thống luật pháp kinh tế can thiệp vào phân phối thu nhập trong xã hội, các chính sách kinh tế, chính sách an ninh, chính sách phúc lợi xã hội hoặc trực tiếp tổ chức xây dựng kết cấu hạ tầng phục

vụ sản xuất và đời sống Khẳng định vai trò của Nhà nước trong tổ chức xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng, C Mác cho rằng, đó không chỉ là sự thể hiện chức năng của Nhà nước, mà trong những trường hợp riêng biệt, nó còn là đòi hỏi phải có Nhà nước

Đó là trường hợp các Nhà nước ở phương Đông: "Dù cho những chính quyền chuyên chế đã xuất hiện và suy vong ở Ba Tư và Ấn Độ có nhiều đến đâu chăng nữa, thì mỗi một chính quyền đó cũng biết rất rõ rằng nó trước hết là người tổng phụ trách việc tưới nước cho các thung lũng mà nếu không có thì ở đó không thể có một nền nông nghiệp nào hết"3 Rõ ràng ngay cả những quốc gia vốn coi trọng vai trò của kinh tế tư nhân, những quốc gia có nền KTTT phát triển từ rất sớm nhưng đều có một quan điểm chung về vai trò của nhà nước trong việc đảm nhận trách nhiệm cung ứng các sản phẩm HHCC trên thị trường

Cho đến nay thuật ngữ HHCC đã được sử dụng và trở thành khái niệm tương đối thông dụng trong nghiên cứu khoa học và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước tuy nhiên, đến nay vấn đề này vẫn nhiều điểm chưa thống nhất cả về lý thuyết cũng như thực tế Có hai góc độ tiếp cận về HHCC ở Việt Nam: góc độ thuần túy lý thuyết và góc độ chính sách Hai góc độ tiếp cận này phát triển song hành từ đầu thập

kỷ 90 và ngày càng hoàn thiện cùng với sự phát triển của công cuộc đổi mới tư duy kinh tế và sự xâm nhập, phát triển các quan niệm KTTT Hai góc độ tiếp cận này

3 Đỗ Thị Hải Hà (2003), "Quản lý nhà nước với vấn đề dịch vụ công", Kinh tế và dự báo, 9(365), tr 22-23

Trang 25

không mâu thuẫn nhau mà bổ sung cho nhau Về tiếp cận lý thuyết có nhiều quan niệm khác nhau về HHCC Một số ý kiến cho rằng HHCC là loại hàng hóa được cung cấp

mà người tiêu dùng nó không phải trực tiếp trả tiền Một số ý kiến khác lại cho rằng dịch vụ công là mọi hoạt động thực thi các chức năng của Nhà nước, bao gồm cả chức năng cai trị của bộ máy Nhà nước đối với xã hội và chức năng cung cấp các hàng hóa

và dịch vụ phục vụ nhu cầu thiết yếu của công dân còn HHCC chỉ là một bộ phận của dịch vụ công, HHCC xét theo nghĩa này chỉ gồm những hàng hóa và dịch vụ phục vụ cho những nhu cầu tối cần thiết của cộng đồng, do các tổ chức của Nhà nước hoặc các chủ thể được Nhà nước ủy quyền và tài trợ đứng ra cung cấp, không bao gồm các hoạt động mang chức năng cai trị Mặc dù vậy, trước xu hướng hiện nay là thu hẹp dần phạm vi của các loại hàng hóa và dịch vụ không phải trực tiếp trả tiền, quan niệm về HHCC như cách thứ nhất không phản ánh được đầy đủ tính sâu sắc của khái niệm HHCC Thuật ngữ HHCC theo cách quan niệm thứ hai và được xem xét trên khía cạnh

những thuộc tính cơ bản của nó: tính không kình địch và tính không loại trừ Đây là

những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội, đảm bảo lợi ích chung của cả cộng đồng

HHCC được chia làm các loại: Nhóm HHCC thuần túy: những hàng hóa và dịch vụ không thể chia nhỏ và không thể quy định mức độ sử dụng đối với các đối tượng khác nhau Nói cách khác đó là các hàng hóa và dịch vụ mà nếu thêm một người

sử dụng thì không ảnh hưởng đến việc người khác sử dụng (tính không kình địch) và khi chúng được sản xuất ra không thể ngăn cấm ai đó muốn tiêu dùng (tính không loại trừ) Các HHCC thuần túy điển hình: hệ thống đê điều phòng chống lụt bão, hệ thống các biển báo đường sông, đường biển, đường bộ, hệ thống vệ sinh môi trường và cảnh quan đô thị Loại HHCC này rất khó có thể tính toán các chi phí để sản xuất ra đồng thời cũng không thể phân bổ lượng tiêu thụ cụ thể cho mỗi thành viên của xã hội (hội việc một ai đó sẽ hưởng bao nhiêu hàng hóa chiếu sáng công cộng), từ đó cũng không thể định giá cho người sử dụng (ai sử dụng nhiều thì phải trả nhiều tiền) Nhóm các HHCC không thuần túy: nhóm này mang những thuộc tính gần giống HHCC thuần túy nhưng ở mức độ khác Một số loại không thể loại trừ nhưng việc một người sử dụng có thể ảnh hưởng đến người khác Như trong giáo dục bậc tiểu học và chăm sóc sức khỏe

có thể loại trừ nhưng để tạo ra sự công bằng tối thiểu cho các công dân Nhà nước không muốn loại trừ

Trang 26

Mặc dù vậy HHCC thuần túy và không thuần túy cũng chỉ có giới hạn tương đối Nếu như truyền hình ở một số nước là không thể loại trừ và không kình địch thì ở một số nước khác, với sự ra đời của truyền hình cáp, hoàn toàn có thể loại trừ ai đó muốn sử dụng Từ những đặc điểm của các loại HHCC nêu trên, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét:

- Một số HHCC khu vực kinh tế tư nhân không muốn tham gia sản xuất và cung ứng

do tính phi hiệu quả của nó Nguyên tắc hoạt động của khu vực này là vì lợi nhuận chứ không phải vì lợi ích xã hội, do đó nếu không thể tính toán một cách chính xác chi phí cũng như không thể loại trừ đối tượng sử dụng thì đương nhiên họ sẽ không làm

- Một số loại HHCC khác khu vực tư nhân không thể cung cấp do chi phí đầu tư quá lớn hoặc đòi hỏi công nghệ quá hiện đại, điển hình là việc xây dựng các loại cầu lớn, mạng lưới phát thanh truyền hình, đường sá giao thông hay công nghệ vũ trụ

- Trong một số lĩnh vực cung cấp HHCC khác, khu vực tư nhân không được tham gia do luật pháp quy định Bởi vì đây có thể là những lĩnh vực có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự ổn định trật tự an toàn xã hội như quốc phòng, an ninh hay đê điều phòng chống lụt bão Nhưng những HHCC này lại có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì sự ổn định chung, dựa vào đó các hoạt động kinh tế - xã hội khác mới diễn ra thông suốt và hiệu quả do vậy không ai khác mà chính Nhà nước phải đảm nhiệm việc cung cấp

Mặc dù có sự khác biệt như vậy nhưng xét theo quan điểm lịch sử cụ thể có thể khái quát, quan niệm về HHCC ở nước ta hiện nay là phù hợp và thống nhất với khoa học kinh tế hiện đại.GIáo trình Kinh tế công cộng Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội và

sách tham khảo của Học viện Hành chính quốc gia định nghĩa: "HHCC là những loại

hàng hóa mà việc một cá nhân này đang hưởng thụ lợi ích do hàng hóa đó tạo ra không ngăn cản những người khác cùng đồng thời hưởng thụ lợi ích của nó" Các

định nghĩa, đặc điểm, nguyên lý cơ chế quản lý và tổ chức sản xuất đều tham khảo kế thừa các tài liệu nước ngoài Do vậy, có đủ căn cứ để kết luận rằng, quan niệm về HHCC dưới góc độ lý thuyết ở nước ta hầu như nhất trí hoàn toàn với quan niệm của kinh tế học hiện đại của thế giới

Dưới góc độ chính sách quan niệm về HHCC được phát triển xuất phát từ nhu cầu tổ chức lại và đổi mới cơ chế quản lý đối với các doanh nghiệp chuyên cung ứng

Trang 27

HHCC đã và đang tồn tại trong nền kinh tế từ thời bao cấp Do vậy, bản thân tên gọi cũng sử dụng thuật ngữ có tính kế thừa Các dịch vụ quốc phòng, an ninh và các hàng hóa chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh mặc dù không được xếp vào nhóm HHCC nhưng các doanh nghiệp cung ứng chúng được coi là DNCI và có quy chế quản

lý giống như đối với HHCC Như vậy có thể thấy, dưới góc độ chính sách, quan niệm

về HHCC ở Việt Nam hiện nay vừa rộng hơn vừa hẹp hơn so với quan niệm lý thuyết

về HHCC trên thế giới Quan niệm rộng hơn thể hiện ở chỗ, nó hàm chứa một loạt hàng hóa cá nhân khuyến dụng

Trong điều kiện nước ta mới chuyển sang cơ chế thị trường, nhóm hàng hóa này chưa thể tổ chức sản xuất và cung ứng hoàn toàn theo phương thức thị trường, việc xếp chúng vào danh mục HHCC là phù hợp Về bản chất, nhóm hàng hóa này là hàng hóa cá nhân được cung cấp bởi phương thức công cộng, được gọi là nhiệm vụ công ích hoặc hàng hóa cá nhân khuyến dụng Tuy nhiên, trong thời gian tới sẽ thu hẹp dần danh mục này lại do các thành phần kinh tế khác có khả năng đảm nhận như: xã hội hóa một phần thu gom, vận chuyển rác thải; đấu thầu một số tuyến xe buýt nội đô, cung cấp nước sạch… nhằm giảm mức đầu tư của nhà nước Quan niệm hẹp hơn thể hiện ở chỗ, có một loạt hàng hóa và dịch vụ như giáo dục, dịch vụ y tế, bảo đảm không khí sạch, cảnh quan kiến trúc, dịch vụ hành chính công… do ở Việt Nam chưa được coi là hàng hóa nên không xếp vào danh mục HHCC Điều này cũng có thể là phù hợp với giai đoạn cải cách hiện nay tuy nhiên, trong quá trình đổi mới, danh mục các HHCC cần được bổ sung, hoàn thiện

Trước thời kỳ đổi mới, trong điều kiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thị trường không được thừa nhận, do đó khái niệm hàng hóa nói chung trên thực tế cũng không được thừa nhận Mọi sản phẩm, trong đó có HHCC đều do Nhà nước tổ chức sản xuất và nắm quyền phân phối theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thu đủ chi đủ Trên thực tế, HHCC trong giai đoạn này đã tồn tại và giữ vai trò không nhỏ trong việc đảm bảo mục tiêu của Nhà nước cũng như đáp ứng nhu cầu nhân dân Sự khác biệt

trong quan niệm về HHCC trong thời kỳ này biểu hiện trên 5 nội dung sau đây: Thứ nhất, trong cơ chế cũ, Nhà nước đảm nhiệm vai trò sản xuất cả HHCC và hàng hóa cá nhân nên không thể đặt vấn đề tại sao Nhà nước lại cung ứng HHCC

Những HHCC thuần túy như: hệ thống đê điều, biển báo giao thông, vệ sinh môi trường, nghiên cứu khoa học… thuộc vào loại dễ xác định căn cứ vào mục đích cung

Trang 28

cấp hàng hóa của Nhà nước Những HHCC như: dịch vụ cấp giấy phép, giáo dục tiểu học, chăm sóc sức khỏe, phát thanh và truyền hình… khó xác định về phạm vi bởi hàng hóa được bao cấp và phân phối theo nhóm dân cư Một mặt HHCC được quan niệm khá hẹp do rất nhiều sản phẩm, dịch vụ chưa được thừa nhận là hàng hóa ví dụ như: vận tải hành khách, vệ sinh đô thị, cung ứng nước sạch Trong khi các dịch vụ giáo dục, y tế, an ninh, thủy nông, chiếu sáng… được coi là nhiệm vụ của các cơ quan

sự nghiệp chứ không phải là hàng hóa Ngược lại có một số dịch vụ cá nhân nhưng do quan niệm của thời kỳ bao cấp phải do khu vực công cộng cung ứng theo phương thức cào bằng như ăn uống công cộng, cắt tóc, nhà ở… nên nhiều tài liệu cũng xếp vào

nhóm HHCC Thứ hai, do Nhà nước nắm giữ mọi hoạt động sản xuất và cung cấp dịch vụ công cộng, nhà nước có nghĩa vụ sản xuất và cung cấp HHCC góp phần vào thực thi sự công bằng, đảm bảo quyền làm chủ của người lao động, đồng thời định hướng xu hướng phát triển nói chung của nền kinh tế theo kế hoạch của Nhà nước Như vậy, trong cơ chế cũ không có các chủ thể tư nhân cung cấp HHCC Thứ ba, khía cạnh về đối tượng hưởng thụ HHCC không có sự khác biệt lớn vì trong

hai cơ chế quản lý đối tượng đều là các thành viên trong xã hội Sự khác nhau chủ yếu

ở chỗ cung cấp hàng hóa trong giai đoạn trước đổi mới có đạt hiệu quả cao hay không

Có thể khẳng định rằng các HHCC trong giai đoạn trước đổi mới được cung ứng

và tiêu dùng chưa đạt hiệu quả cao Hiện tượng "người ăn không hết, kẻ lần chẳng

ra" tương đối phổ biến Các thành viên trong xã hội tiêu dùng các HHCC không phải trực tiếp trả tiền nhưng gián tiếp thông qua thuế Lợi dụng sơ hở quản lý dẫn đến tình trạng tiêu dùng lãng phí HHCC diễn ra ở nhiều nơi với cấp độ trầm trọng, làm cho rất

nhiều người khác không được hưởng thụ chúng Thứ tư, về quan hệ cung cầu HHCC, trong cơ chế quản lý cũ, đường cầu tiêu dùng HHCC luôn ở mức tối đa vì: thứ

nhất, nhu cầu của người dân cả HHCC và hàng hóa cá nhân luôn lớn hơn cung thực tế; thứ hai, Nhà nước là chủ thể cung cấp và người tiêu dùng không phải trả tiền cho việc

sử dụng Do vậy, trên thị trường luôn có sự thiếu hụt và Nhà nước thường phải áp

dụng chế độ tem phiếu hoặc các biện pháp hành chính khác để điều chỉnh quan hệ

cung - cầu Thứ năm, đánh giá hiệu quả cung cấp HHCC là công việc rất khó khăn, đặc biệt là trong cơ chế quản lý cũ Tuy nhiên, thời kỳ trước 1975, một số

HHCC cũng đã được cung cấp tương đối tốt, thỏa mãn một phần quan trọng các nhu cầu của nhân dân về các hàng hóa này như: giáo dục, y tế, văn hóa văn nghệ Thời kỳ

Trang 29

khủng hoảng kinh tế vào thập kỷ 80 (thế kỷ XX), việc cung cấp HHCC trở nên bất cập, mức độ thiếu hụt ngày càng trầm trọng Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với yêu cầu phát triển nhanh thì tình trạng lợi dụng thị trường HHCC để trục lợi cá nhân ngày càng phát triển Việc đánh giá hiệu quả tuy đã có những tiêu chí định lượng như áp dụng các đơn giá định mức cho từng chuyên ngành cụ thể, lắp đặt đồng hồ đo đếm điện, nước; bãi bỏ chế độ dùng khoán theo đầu người…

Trên cơ sở tiêu chí phân định HHCC, xác định các mô hình tổ chức quản lý sản xuất

và cung cấp HHCC nhằm tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt được hiệu quả xã hội cao đòi hỏi phải rất linh hoạt, xuất phát từ thực tế có nhiều cách tổ chức quản lý cụ thể Nhà nước trực tiếp cung cấp thông qua hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các DNCI Một số tổ chức nằm trong hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước hay các tổ chức

sự nghiệp của Nhà nước đảm nhiệm cung cấp các dịch vụ thuộc hạ tầng xã hội như

giáo dục, chăm sóc sức khoẻ Một số được tổ chức theo mô hình các doanh nghiệp cung cấp các loại hàng hóa và dịch vụ do Nhà nước đặt hàng hoặc giao kế hoạch thực hiện theo giá phí Nhà nước quy định, đây chính là các DNCI Nghị quyết Hội

nghị Trung ương 3 (khóa IX) tháng 9/2001 cũng đã xác định rõ hơn quan niệm về loại hình DNCI là những doanh nghiệp chuyên sản xuất, cung ứng HHCC không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng rất cần thiết để bảo đảm sự phát triển cân đối của nền kinh tế, đảm bảo các mục tiêu xã hội Bên cạnh hình thức cung ứng HHCC trực tiếp thông qua các đơn vị hành chính, sự nghiệp của nhà nước, có một số HHCC Nhà nước không trực tiếp sản xuất, tùy theo khả năng và điều kiện cụ thể, khu vực kinh tế tư nhân cũng

có thể tham gia dưới các hình thức cơ bản như: trợ cấp cho các doanh nghiệp, tổ chức,

cá nhân trong việc cung cấp các HHCC theo đúng yêu cầu của Nhà nước: giá cả, chất lượng, đối tượng phục vụ đồng thời đảm bảo được lợi ích của các chủ thể cung cấp Thông qua đấu thầu ký hợp đồng với các chủ thể cung cấp, đây là hình thức Nhà nước mua lại các HHCC và giữ quyền kiểm soát thông qua hợp đồng Chuyển một số lĩnh vực sang cho khu vực tư nhân cung cấp trên cơ sở hạn chế độc quyền, thông qua quá trình cổ phần hóa, bán, cho thuê DNNN Khuyến khích và tạo điều kiện cho các cá nhân và tổ chức, đặc biệt là các tổ chức phi chính phủ hay các tổ chức từ thiện, tham gia cung cấp các HHCC trên cơ sở không vì lợi nhuận

Doanh nghiệp công ích trước hết được hiểu là một bộ phận của doanh nghiệp nhà nước Luật DNNN ban hành ngày 30 tháng 3 năm 1995 lần đầu tiên tại nước ta đã

Trang 30

đưa ra khái niệm về DNNN như sau: DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao DNNN có tư cách

pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý Đến tháng 11 năm 2003,

luật DNNN được điều chỉnh như sau: "DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH"

Khái niệm doanh nghiệp công ích Tại Nghị định số: 56/CP ngày 2/10/1996 của

Chính phủ, DNCI được quan niệm như sau: DNNN hoạt động công ích là DNNN độc

lập hoặc DNNN là thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước, do Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng và theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định, hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận Đây là lần đầu tiên luật pháp Việt Nam thừa nhận loại

hình DNNN hoạt động công ích làm cơ sở để xác định phạm vi và cơ chế quản lý các DNCI, là vấn đề rất mới đối với Việt Nam

1.2.2 Một số đặc điểm của doanh nghiệp công ích

Trong cơ cấu hàng hóa, có một bộ phận hàng hóa cá nhân với tính chất đặc thù của loại hàng hóa này là tính cạnh tranh và tính loại trừ Một bộ phận hàng hóa khác không thể do thị trường cung cấp vì nhiều lý do hoặc nếu thị trường cung cấp thì cũng không đủ số lượng và không đáp ứng yêu cầu, hoặc thị trường không muốn cung cấp,

đó là HHCC J.E.Stiglitz (người Mỹ, từng được giải Nôbel về Kinh tế năm 2001) cho rằng, HHCC có hai đặc tính quan trọng là: "Thứ nhất, chúng không bắt cá nhân nào phải trả thêm tiền khi hưởng lợi HHCC hay chi phí cận biên bằng 0 khi tăng lên một đơn vị cá nhân sử dụng Thứ hai, nói chung thật là khó hoặc không thể không cho các

cá nhân hưởng lợi từ HHCC" Với đặc điểm trên, thị trường không cung cấp hoặc

không thể cung cấp HHCC vì chi phí quá lớn, thu hồi vốn chậm hoặc khó thu hồi Có những lĩnh vực, HHCC có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp nhưng nếu để thị trường đầu tư thì các doanh nghiệp tư nhân không thấy hết tầm quan trọng của hàng hóa mà trước hết là tính đến mục tiêu lợi nhuận Nếu chỉ tính đến lợi

nhuận sau khi bỏ vốn đầu tư sẽ không bảo đảm mục tiêu sử dụng HHCC của Nhà

Trang 31

nước Và với đặc điểm chi phí bằng 0 khi tăng thêm một đơn vị người sử dụng thì Nhà nước cung cấp loại hàng hóa này tốt hơn tư nhân Điểm tốt hơn ở đây không chỉ ở chỗ Nhà nước đóng vai trò trong việc phân phối HHCC mà vì nếu tư nhân đầu tư thì họ sẽ thu tiền tăng thêm khi tăng thêm một cá nhân sử dụng, như vậy người tiêu dùng sẽ không muốn sử dụng hàng hóa này dẫn tới tình trạng HHCC được sử dụng dưới mức trung bình

Như phân tích về hàng hóa công cộng trên cho thấy sở dĩ có loại hình này là do một số HHCC tương tự như hàng hóa thông thường khác, quy trình cung cấp của một

số HHCC tương tự như quy trình cung cấp các hàng hóa và dịch vụ thông thường Nghĩa là đã có những quy định rõ về việc mỗi người phải làm, các đầu vào đầu ra đã

có quan hệ xác định, từ đó hoàn toàn có thể tính được chi phí và mở ra khả năng hoàn

thành nhiệm vụ với chi phí thấp nhất Do vậy, nó phải được vận hành theo nguyên

lý doanh nghiệp, hạch toán kinh doanh nhưng mang đặc thù về chi phí với một phần là nhà nước chi trả, một phần do xã hội chấp nhận chia sẻ Bởi vậy các

DNCI cung cấp các HHCC thường hoạt động trong các lĩnh vực thuộc hạ tầng kỹ thuật, chiếu sáng công cộng, vệ sinh môi trường, sửa chữa đường sá, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống cây xanh đô thị, hệ thống cầu đường

Nhóm những hàng hóa cá nhân có tính công cộng là những hàng hóa và dịch vụ này thường ít có tính kình địch nhưng có thể loại trừ và việc loại trừ là cần thiết do chi phí gia tăng khi thêm một người tiêu dùng là lớn như: điện, nước, viễn thông, khí đốt Đặc điểm của các ngành này là thường có lợi thế nhờ quy mô do đó dễ dẫn tới độc quyền, loại bỏ cạnh tranh gây tổn hại đến người tiêu dùng; mặt khác đây là những ngành có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Với loại hàng hóa này, Nhà nước thường nắm hoặc kiểm soát chặt chẽ việc cung cấp và nhằm hướng tới sự công bằng chỉ có thể đảm bảo cung cấp một lượng nhỏ như nhau cho tất cả mọi người (thông qua các dịch vụ giá rẻ) còn nếu muốn sử dụng nhiều hơn phải trả tiền nhưng nếu sử dụng ít hơn thì không được hoàn lại hay khấu trừ phần chưa

sử dụng; hoặc áp dụng giá phí khác nhau đối với những vùng có mức sống chênh lệch

Với mục tiêu xã hội đảm bảo tính công bằng trong phân phối và hưởng thụ hàng hóa thuộc lĩnh vực đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, việc thành lập các DNCI nhằm cung cấp một phần các hàng hóa dịch vụ nói trên là phù hợp

Có nhiều địa bàn khu vực tư nhân không muốn cung cấp do sức mua quá thấp hoặc

Trang 32

chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, ví dụ như cung cấp các hàng hóa cho vùng sâu, vùng

xa, miền núi, hải đảo Để đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng và thiết lập công bằng xã hội, DNCI là tổ chức thích hợp để đảm đương nhiệm vụ này Một số

loại hàng hóa khác Nhà nước không muốn khu vực tư nhân tham gia cung cấp do chúng có tính hai mặt: lợi và hại, trong đó cái hại đặc biệt nguy hiểm: sản xuất các

chất độc, chất cháy, vũ khí, các loại thuốc bào chế từ các loại ma túy Việc Nhà nước nắm lấy độc quyền cung cấp là cần thiết nhưng không thể kinh doanh vì lợi nhuận, do vậy hình thức DNCI sẽ là sự lựa chọn hợp lý

Ngoài ra, DNCI còn đảm nhận các lĩnh vực hoạt động có tính chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: cung cấp các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, đặc biệt là trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật: giao thông, thủy lợi, điện, nước sạch, thoát nước, chiếu sáng công cộng, bưu chính viễn thông; kết cấu hạ tầng xã hội: giáo dục, y

tế, công viên - cây xanh - vườn thú, môi trường đô thị, nghiên cứu khoa học cơ bản và

trong lĩnh vực đảm bảo quốc phòng an ninh DNCI góp phần quan trọng khắc phục những khiếm khuyết của thị trường, … những ngành, lĩnh vực có độ rủi ro cao, đòi hỏi đầu tư lớn nhưng lại chậm thu hồi vốn, những ngành có lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên vốn thấp Những ngành này mặc dù rất cần thiết và tạo điều kiện

cho phát triển sản xuất nhưng các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư, hoặc không đủ khả năng, chưa đủ điều kiện triển khai thì DNCI là bộ phận đảm đương nhiệm vụ này tạo nên sự cân bằng cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho tái sản xuất được trôi chảy, đảm bảo sự hài hòa trong sự phát triển giữa các lĩnh vực sản xuất, giữa các vùng miền trong xã hội

Như vậy DNCI về cơ bản sẽ có các đặc điểm sau:

- Tham gia vào thị phần tư nhân không muốn đầu tư hoặc việc đầu tư đòi hỏi chi phí quá lớn và lợi ích là dài hạn

- Góp phần khắc phục những khiếm khuyết của thị trường nhằm đảm bảo công bằng trong phân phối và hưởng thụ các nguồn lực trong xã hội

- Thực hiện một số chức năng đặc thù của nhà nước nhằm đảm bảo an toàn xã hội,

an ninh quốc phòng

- Hạn chế khả năng độc quyền của khu vực tư nhân đối với một số lĩnh vực then chốt trong phát triển kinh tế, xã hội

Trang 33

1.2.3 Khái niệm công nghệ và đổi mới công nghệ

1.2.3.1 Khái niệm công nghệ

Công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành và phát triển xã hội loài

người Từ “công nghệ” có gốc Hy Lạp, nó được ghép bởi tekhne có nghĩa là kỹ năng

và logos có nghĩa là sự nghiên cứu Thuật ngữ technology trong tiếng Anh có nghĩa là

khoa học về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật Trong tiếng Việt, công nghệ thường được hiểu là quá trình tiến hành một công đoạn sản xuất, là thiết bị

để thực hiện một công việc, do đó công nghệ thường mang nghĩa tính từ của thuật ngữ như: quy trình công nghệ, thiết bị công nghệ, dây chuyền công nghệ

Có quan niệm cho rằng: “công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên, vật liệu hay bán thành phẩm

sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh”, theo đó, công nghệ

chỉ liên quan đến sản xuất vật chất

Mặc dù đã được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, nhưng việc đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về công nghệ lại chưa thống nhất Thuật ngữ "công nghệ" được hình thành từ khá lâu và được sử dụng để chỉ các hoạt động ứng dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa học ở mọi lĩnh vực nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người Khái niệm CN này dần được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trên thế giới nhưng việc đưa ra định nghĩa CN lại chưa có sự thống nhất, nguyên nhân là do tính đa dạng của CN, sự đa dạng trong quan điểm của các nhà nghiên cứu và sự phát triển của KH&CN Đã có nhiều tổ chức quốc tế về KH&CN

cố gắng đưa ra một định nghĩa CN có thể dung hoà các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hoà nhập của các quốc gia, trong từng khu vực và phạm vi toàn cầu

Theo quan niệm cổ điển nhất, CN là một trật tự nghiêm ngặt các thao tác của quá trình chế biến vật chất và/hoặc thông tin

Theo tác giả F.R.Root, "công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới" Trong định nghĩa này, bản chất của CN là dạng kiến thức và mục tiêu sử dụng CN là áp dụng vào sản xuất và tạo

ra các sản phẩm mới

Theo tác giả R.Jones, năm 1970 cho rằng "công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hóa"

Trang 34

Theo tác giả J.Baranson, năm 1976 đưa ra: "Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu

kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh", theo đó, bản chất của CN là tập hợp các

kiến thức với mục tiêu là sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm

Theo J.R.Dunning, năm 1982: "Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp

dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường (marketing)

cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới" Tác giả P.Strunk, năm 1986 cho rằng "Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công

nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách sử lý một cách có hệ thống và có phương pháp" CN là kiến thức (có sẵn trong óc con người, không phải hàng hóa)"

Theo E.M.Graham, năm 1988 đưa ra định nghĩa: "Công nghệ là kiến thức không sờ

mó được và không phân chia được, có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ"

Tác giả Sharif, năm 1986 cho rằng "công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hóa

Xét trên góc độ khoa học quản lý, việc đưa ra định nghĩa khái quát về công nghệ là cần thiết, bởi vì không thể quản lý được công nghệ khi chưa biết nó là gì Trong nền kinh

tế thị trường, với cương vị là sản phẩm trí tuệ, công nghệ là một hàng hoá đặc biệt, có tác động lan tỏa; và rất khó xác định được giá cả thực của sản phẩm công nghệ theo cơ chế thị trường

Một số tổ chức quốc tế đã đưa ra các định nghĩa về CN khác nhau:

- Tổ chức PRODEC, năm 1982, theo đó "công nghệ là một loại kỹ năng, kiến thức, thiết

bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ"

- Tổ chức UNCTAD, "Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như vậy,

nó được mua và bán trên thị trường như một hàng hóa được thể hiện ở một trong những dạng sau:

+ Tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với các quyết định đầu tư;

+ Nhân lực, thông thường là có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ cao và chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị và kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin;

Trang 35

+ Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền"

Định nghĩa này của UNCTAD (1972) cho thấy, về bản chất CN là tư liệu sản xuất, nhân lực có trình độ và thông tin; và có mục tiêu là làm đầu vào cần thiết cho sản xuất

- Ngân hàng thế giới, năm 1985 đưa ra định nghĩa như sau: "công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố:

+ Thông tin về phương pháp,

+ Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa,

+ Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao"

- Tổ chức OECD, bao gồm các nước phát triển châu Âu, Nhật bản, Mỹ, và Canada có một định nghĩa chung nhất đã tập trung vào các hành động và quy tắc như sau: “công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các

kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng) trong hoàn cảnh cụ thể nhất định.”

- Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO), cho rằng “công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và

Trong định nghĩa nêu trên, công nghệ đó bao gồm:

- Công nghệ là một quy trình sản xuất nhằm biến đổi các sản phẩm ở đầu ra sẽ có giá trị cao hơn giá trị sản phẩm của đầu vào Nó bao gồm cả những thiết bị kỹ thuật trong

quy trình (Technoware)

- Công nghệ là một sản phẩm, nó có mối quan hệ chặt chẽ với con người

(Humanware), và cơ cấu tổ chức (Orgaware)

- Công nghệ không đơn thuần chỉ là các vật thể mà đặc trưng là kiến thức Việc sử dụng công nghệ đòi hỏi con người cần phải được đào tạo về kỹ năng, trang bị kiến

thức và phải luôn cập nhật những kiến thức đó (Inforware)

Trang 36

Hoặc có thể diễn đạt theo cách khác, đó là công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm bốn dạng cơ bản:

- Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn

chỉnh );

- Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm );

- Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp…được mô tả

trong các ấn phẩm, tài liệu v v );

- Dạng thiết kế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý,

cơ sở luật pháp…)

Trong phạm vi đề tài Luận văn, khái niệm công nghệ được hiểu: là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, các loại công cụ, thiết bị máy móc, phương tiện, tư liệu sản xuất và các tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ…) dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm

Bất cứ một công nghệ nào, dù đơn giản cũng phải gồm có bốn thành phần tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra sự biến đổi mong muốn

- Công nghệ hàm chứa trong các vật thể, bao gồm mọi phương tiện vật chất như các

trang thiết bị, máy móc, công cụ, phương tiện vận chuyển, nhà xưởng Dạng hàm chứa này của công nghệ được gọi là Phần thiết bị - Technoware (T) Đây là phần vật chất, phần cứng của công nghệ (hard ware)

- Công nghệ hàm chứa trong con người, nó bao gồm mọi năng lực của con người về

công nghệ như: kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm, kỷ luật, tính sáng tạo…mà các kỹ năng chỉ có thể có được qua đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn Dạng hàm chứa này của công nghệ được gọi là Phần con người của công nghệ - Humanware (H)

- Công nghệ hàm chứa trong các kiến thức có tổ chức được tư liệu hóa như: các lý

thuyết, các khái niệm, các phương pháp, các thông số, công thức, các bản vẽ kỹ thuật,

bí quyết v v Dạng thức này của công nghệ được gọi là Phần thông tin - Inforware (I)

- Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế, tạo nên bộ khung tổ chức của công

nghệ, như cơ cấu tổ chức, phạm vi chức năng, trách nhiệm, mối quan hệ, sự phối hợp, mối liên kết…Đây là Phần tổ chức của công nghệ - Organware (O)

2.1.1.2 Đổi mới công nghệ

Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, sự tiến bộ của hệ thống tri thức khoa học, vấn đề cạnh tranh để tồn tại và sự phát triển nhu cầu ngày càng cao

Trang 37

của con người đã đưa đến những thách thức lớn cho doanh nghiệp trong đa dạng hóa các loại hình sản phẩm, tiết kiệm chi phí và bảo vệ môi trường Thực tế này đòi hỏi

CN luôn cần phải thay đổi, phải cải tiến không ngừng để thoả mãn nhu cầu của xã hội Việc thay đổi CN là một xu thế tất yếu của hệ thống kinh tế toàn cầu ĐMCN là nhằm mang lại những hiệu quả to lớn đối với sự phát triển của từng DN, mỗi quốc gia và toàn thế giới

Peter Drucker cho rằng xét ở góc độ quản trị kinh doanh, có hai nhiệm vụ hàng đầu mà một DN luôn phải thực hiện đó là tiếp thị (marketing) và ĐMCN (innovation) Chức năng tiếp thị là nhằm thoả mãn các nhu cầu tương lai của khách hàng, còn chức ĐMCN là nhằm hiện thực hóa các nhu cầu tương lai đó Nếu thiếu khả năng và sự kiên trì, bền bỉ trong việc ĐMCN thì DN sẽ sớm bị đào thải khỏi thương trường khi nhu cầu khách hàng, CN thay đổi và cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn Do đó đối với một

DN, ĐMCN luôn được sử dụng như một nhân tố trong chiến lược cạnh tranh

Đã có nhiều nghiên cứu về đổi mới công nghệ và có nhiều cách tiếp cận khác nhau đã hình thành ịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn, trong đó mỗi giai đoạn thường gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của một hoặc nhiều loại hình công nghệ đặc trưng quyết định sự phát triển của xã hội ở giai đoạn đó Như vậy, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử đều có sự ra đời của công nghệ mới thay thế cho công nghệ cũ Đó chính là cấp cao nhất của thay đổi công nghệ và là quá trình quan trọng nhất của sự phát triển đối với tất cả các hệ thống công nghệ

Ở Việt Nam hiện nay trong các văn bản chính thức, ngay cả Luật KH&CN và Luật Chuyển giao công nghệ cũng không đề cập khái niệm này, mặc dù trong Luật có cụm

từ “đổi mới công nghệ” liên quan đến Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia; Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia

Theo Keith Pavitt (2003)4 quá trình đổi mới là quá trình khám phá ra các cơ hội cho một sản phẩm, dịch vụ hay quá trình mới dựa trên các tiến bộ kỹ thuật hoặc dựa trên

sự thay đổi của nhu cầu thị trường hoặc của cả hai yếu tố đó Keith Pavitt nhấn mạnh rằng cơ sở cho việc đổi mới là các tiến bộ kỹ thuật và sự thay đổi của nhu cầu thị trường Điều đó nói lên rằng mục đích của việc đổi mới là tạo ra sản phẩm, dịch vụ hay quá trình đáp ứng sự thay đổi của thị trường

4

Keith Pavitt, paper No89 - The process of innovation, 2003.

Trang 38

Theo Freeman, đổi mới là các hoạt động thiết kế kỹ thuật, sản xuất chế tác, quản lý và thương mại liên quan đến việc đưa ra thị trường một sản phẩm của quy trình hoặc thiết

bị mới (hoặc được cải tiến)

Theo F.Betz, đổi mới là đưa ra thị trường sản phẩm, quá trình mới ĐMCN là tập hợp con của đổi mới, đưa ra sản phẩm, quá trình mới dựa trên CN mới ĐMCN là việc chủ động thay thế phần quan trọng hay toàn bộ CN đang sử dụng bằng một CN khác tiên tiến, hiệu quả hơn

Theo J Schumpeter, có 5 loại ĐMCN: 1) tạo ra một sản phẩm mới hoặc một thay đổi

về tính chất trong sản phẩm hiện có; 2) Đổi mới quy trình sản xuất mang tính mới đối với một ngành sản xuất; 3) Mở ra thị trường mới; 4) Phát triển nguồn cung ứng mới về nguyên liệu thô hoặc các đầu vào; 5) Thay đổi trong tổ chức công nghiệp

Theo OECD, “hoạt động đổi mới công nghệ gồm các khâu liên quan đến khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại, kể cả đầu tư vào tri thức mới, đã hoặc nhằm đem lại các sản phẩm và quy trình mới/hoàn thiện hơn về mặt công nghệ R&D chỉ là một trong các hoạt động này và có thể được thực hiện ở các giai đoạn khác nhau của quá trình đổi mới”

Các khái niệm này được OECD (1997)5

OECD làm rõ hơn trong tài liệu OSLO: “Đổi mới sản phẩm và quy trình công nghệ bao gồm các sản phẩm và các quy trình mới về công nghệ được thực hiện và các cải tiến công nghệ đáng kể trong các sản phẩm và quy trình Một đổi mới sản phẩm và quy trình công nghệ được thực hiện nếu nó đưa ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong quy trình sản xuất (đổi mới quy trình) Đổi mới sản phẩm và quy trình công nghệ bao gồm một loạt các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại

Quan niệm khác cho rằng, đổi mới công nghệ là sự hoàn thiện và phát triển không ngừng các thành phần cấu thành công nghệ dựa trên các thành tựu khoa học nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất, kinh doanh và quản lý xã hội Theo quan điểm này, một sự thay đổi dù rất nhỏ cũng được coi là đổi mới công nghệ, thực ra các hoạt động này được coi là cải tiến công nghệ thì chính xác hơn

Nhưng hệ thống công nghệ mà chúng ta đang sử dụng có tính phức tạp và đa dạng cao, có khi chỉ để cho ra đời một loại sản phẩm đã có thể dùng rất nhiều loại

5 OECD: Proposed Guidelines for Collecting and Interpreting Technological Innovation Data - Oslo Manual; Paris,

1997.

Trang 39

công nghệ khác nhau, do đó nếu xếp tất cả mọi loại thay đổi nhỏ về công nghệ đều là đổi mới công nghệ, thì việc quản lý đổi mới công nghệ là điều không dễ dàng Bởi vậy, khi nói đến đổi mới công nghệ, chúng ta nên tập trung vào những thay đổi cơ bản trong hệ thống công nghệ

Đổi mới công nghệ là hoạt động nghiên cứu nhằm đổi mới, cải tiến công nghệ đã có (trong nước, ngoài nước), góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh

Đổi mới công nghệ có thể bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như: hoạt động nghiên cứu và triển khai để cải tiến sản phẩm có chất lượng, mẫu mã tốt hơn, có sức hấp dẫn hơn và khả năng cạnh tranh lớn hơn; hoạt động nghiên cứu và triển khai để cải tiến/đổi mới quy trình công nghệ sao cho đạt chi phí thấp hơn, năng suất, hiệu quả cao hơn; nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ sản phẩm hoặc công nghệ quy trình sản xuất nhập ngoại cho phù hợp với điều kiện trong nước Hoạt động đổi mới công nghệ không chỉ dừng lại ở khâu nghiên cứu và triển khai mà còn bao gồm cả khâu phổ biến, chuyển giao những kết quả nghiên cứu đổi mới đó vào thực tiễn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Do đó, có thể đƣa ra định nghĩa về đổi mới công nghệ nhƣ sau: đổi mới

công nghệ là việc chủ động thay thế phần quan trọng hay toàn bộ công nghệ đang

sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn, làm cho quá trình sản xuất, kinh doanh và quản lý đạt hiệu quả cao hơn so với lúc còn sử dụng công nghệ cũ, mà nhờ đó sản phẩm sản xuất ra sẽ có năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn, chi phí sản xuất thấp hơn và do đó sẽ tạo được vị thế cạnh tranh trong DN về mặt giá thành hay về sự khác biệt của sản phẩm

Đổi mới công nghệ có thể chia ra:

- Đổi mới quá trình: nhằm giải quyết các bài toán tối ưu các thông số sản xuất, chất lượng, hiệu quả

- Đổi mới sản phẩm: nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ nhu cầu của thị trường

Công nghệ là sản phẩm do con người tạo ra, bởi vậy nó cũng tuân theo quy luật chu trình sống của sản phẩm nói chung: sinh ra, phát triển và tiêu vong Như vậy, đổi mới công nghệ là tất yếu và phù hợp với quy luật phát triển Tính tất yếu của đổi mới công nghệ còn do lợi ích của các doanh nghiệp quy định Về lợi ích thương mại, nhờ

Trang 40

đổi mới công nghệ mà doanh nghiệp tạo ra được các sản phẩm mới có chất lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, khẳng định vị thế của doanh nghiệp đối với xã hội Đổi mới công nghệ thực chất là một quá trình thay thế, các công nghệ mới tiên tiến hơn do mang tính ưu việt sẽ thay thế công nghệ cũ lạc hậu hơn

Tính tất yếu của đổi mới công nghệ còn do xu thế hợp tác quốc tế về kinh tế quy định Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khi thị trường mở rộng ra khỏi biên giới quốc gia, thì yếu tố sống còn của mỗi nền kinh tế phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của nó, trong đó việc đổi mới công nghệ quyết định phần không nhỏ cho năng lực cạnh tranh này

Đổi mới công nghệ chỉ thực sự thành công và có ý nghĩa xã hội, trước hết khi

nó được thương mại hóa và sau đó được thị trường và xã hội chấp nhận Hay nói cách khác, tính thương mại của việc đổi mới công nghệ phải gắn liền với sự ổn định xã hội,

để đạt được mục tiêu này quả là bài toán khó khăn đối với các nhà quản lý xã hội nói chung, trong đó có các nhà quản lý khoa học và công nghệ

Các bước của quá trình đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp có thể chia ra:

1 Ghi nhận nhu cầu của thị trường, tìm cách đáp ứng nhu cầu đó, phân tích cáccgiải pháp, lựa chọn giải pháp tối ưu, đề đạt việc thực thi

2 Xác định mục tiêu: sản phẩm, dịch vụ, quy trình quản lý

3 Phân tích kỹ thuật, các nguồn lực cần thiết

4 Kế hoạch kinh doanh

5 Triển khai, sản xuất thử, kiểm định thử nghiệm

6 Marketing, kiểm định trên thị trường

7 Sản xuất thương mại

8 Loại bỏ sản phẩm lỗi thời và công nghệ lạc hậu

Trong các bước trên thì có bước thứ ba liên quan trực tiếp đến nhân lực, tất nhiên các bước còn lại cũng liên quan đến nhân lực, nhưng ở mức độ gián tiếp

Vai trò của đổi mới công nghệ

CN là một sản phẩm đặc biệt của con người và trước hết nó cũng là một sản phẩm cho nên nó cũng tuân theo quy luật chu trình sống của sản phẩm Tức là nó cũng được sinh

ra, phát triển và cuối cùng là bị đào thải Chính vì lẽ đó việc quan tâm đặc biệt đến ĐMCN sẽ gắn chặt đến lợi ích sống còn của DN, đến sự phát triển của nền kinh tế Nếu một quốc gia nào, hay một DN nào không có những hoạt động nhằm không

Ngày đăng: 11/11/2016, 20:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Trần Ngọc Ca (2000), Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu - triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam, Hà Nội, tr.13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu - triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Ca
Năm: 2000
14. Đỗ Thị Hải Hà (2003), "Quản lý nhà nước với vấn đề dịch vụ công", Kinh tế và dự báo, 9(365), tr. 22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước với vấn đề dịch vụ công
Tác giả: Đỗ Thị Hải Hà
Năm: 2003
15. Đoàn Thị Thu Hà (2003), "Dịch vụ công và vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ công", Kinh tế và phát triển, (69), tr. 39-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ công và vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ công
Tác giả: Đoàn Thị Thu Hà
Năm: 2003
16. Bùi Văn Huyền (2002), "Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích", Báo chí và tuyên truyền, (4), tr. 30-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích
Tác giả: Bùi Văn Huyền
Năm: 2002
19. E. Wayner Nafziger (1998), Kinh tế học của các nước đang phát triển, Nxb. Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học của các nước đang phát triển
Tác giả: E. Wayner Nafziger
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 1998
20. Nguyễn Đình Phan (2003), "Một số ý kiến về phát triển và hoàn thiện cơ chế quản lý các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích ở Việt Nam", Kinh tế và phát triển, (70), tr. 30-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về phát triển và hoàn thiện cơ chế quản lý các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Phan
Năm: 2003
21. OECD (Viện Chiến lược và chính sách khoa học & công nghệ biên dịch), Khuyến nghị các nguyên tắc chỉ đạo trong thu thập và diễn giải số liệu về đổi mới công nghệ - Tài liệu hướng dẫn FRASCATI 2002 của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), NXB. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến nghị các nguyên tắc chỉ đạo trong thu thập và diễn giải số liệu về đổi mới công nghệ - Tài liệu hướng dẫn FRASCATI 2002 của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)
Nhà XB: NXB. Lao động
22. OECD (Viện Chiến lược và chính sách khoa học & công nghệ biên dịch), Khuyến nghị các nguyên tắc chỉ đạo trong thu thập và diễn giải số liệu về đổi mới công nghệ - Tài liệu hướng dẫn OSLO của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), NXB. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến nghị các nguyên tắc chỉ đạo trong thu thập và diễn giải số liệu về đổi mới công nghệ - Tài liệu hướng dẫn OSLO của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)
Nhà XB: NXB. Lao động
23. Nguyễn Đình Phan - Trần Kim Hào (2004), "Đổi mới quản lý hoạt động công ích", Kinh tế và dự báo, 4(372), tr. 3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý hoạt động công ích
Tác giả: Nguyễn Đình Phan - Trần Kim Hào
Năm: 2004
28. Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (2006), Đề tài khoa học cấp bộ, Đổi mới quản lý nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp ở Việt nam theo hướng không phân biệt thành phần kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp ở Việt nam theo hướng không phân biệt thành phần kinh tế
Tác giả: Viện Quản lý Kinh tế Trung ương
Năm: 2006
29. Minh Anh, Doanh nghiệp công ích hoạt động hiệu quả, http://www.baohaiquan.vn/Pages/Doanh-nghiep-cong-ich-hoat-dong-hieu-qua.aspx, 10/12/2014 Link
30. Luật Dương Gia, Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp công ích, http://luatduonggia.vn/quyen-va-nghia-vu-cua-doanh-nghiep-cung-ung-dich-vu-cong-ich, 30/11/2014 Link
31. Tùng Nguyên, 25 Doanh nghiệp công ích sẽ được cổ phần hóa, http://dantri.com.vn/kinh-doanh/25-doanh-nghiep-cong-ich-se-duoc-co-phan-hoa-1397814513.htm, 25/4/2014 Link
1. Báo cáo Tổng kết hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm 2012, 2013, 2014 – Kế hoạch hoạt động trọng tâm năm 2013, 2014, 2015 của Công ty TNHH MTV Công ích Quận 2 Khác
2. Báo cáo Tổng kết hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm 2012, 2013, 2014 – Kế hoạch hoạt động trọng tâm năm 2013, 2014, 2015 của Công ty TNHH MTV Thoát nước đô thị Khác
3. Bộ Tài chính (1999), Thông tư số 118/1999/TT-BTC ngày 30 tháng 9 năm 1999 hướng dẫn thực hiện thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích Khác
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thông tư số 04/2002/TT-BLĐTBXH ngày 09 tháng 01 năm 2002 hướng dẫn thực hiện quản lý tiền lương và thu nhập đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích Khác
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thông tư số 01- BKH/DN ngày 29 tháng 1 năm 1997 hướng dẫn thực hiện nghị định số 56-CP ngày 2 tháng 10 năm 1996 của chính phủ về doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích Khác
6. Bộ Tài chính, Thông tư số 32/1998/TT-BTC ngày 17 tháng 3 năm 1988 Hướng dẫn thực hiện chính sách thuế và các khoảng thu ngân sách nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích Khác
7. Bộ Tài chính, Thông tư số 06-TC/TCDN ngày 24 tháng 2 năm 1997 về việc hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Chỉ tiêu tài chính của Công ty TNHH MTV Công ích Quận 2 - Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.1. Chỉ tiêu tài chính của Công ty TNHH MTV Công ích Quận 2 (Trang 56)
Bảng 2.2. Các chỉ tiêu tài chính kinh tế của Công ty TNHH MTV Thoát - Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.2. Các chỉ tiêu tài chính kinh tế của Công ty TNHH MTV Thoát (Trang 64)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm