1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng của trần trọng kim về luân lý, đạo đức

97 273 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 898,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, song song với sự phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, những mặt trái của cơ chế thị trường cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của con người Việt Nam

Trang 1

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA TRẦN TRỌNG KIM 11

1.1 Điều kiện chính trị, xã hội Việt Nam và thế giới đầu thế kỷ XX 11

1.1.1 Tình hình chính trị, xã hội thế giới đầu thế kỷ XX 11

1.1.2 Tình hình chính trị, xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX 15

1.2 Tiền đề cho sự hình thành tư tưởng của Trần Trọng Kim 25

1.2.1 Giá trị truyền thống dân tộc 25

1.2.2 Tư tưởng phương Đông 30

1.2.3 Tư tưởng phương Tây 35

1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Trọng Kim 38

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Trọng Kim 38

1.3.2 Tác phẩm của Trần Trọng Kim 40

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG TƯ TƯỞNG CỦA TRẦN TRỌNG KIM VỀ LUÂN LÝ, ĐẠO ĐỨC 45

2.1 Một số khái niệm 45

2.1.1 Khái niệm Đạo đức 45

2.1.2 Khái niệm Luân lý 50

2.2 Tư tưởng của Trần Trọng Kim về Luân lý 51

2.2.1 Quan niệm về bổn phận đối với gia tộc 51

2.2.2 Quan niệm về Bổn phận đối với học đường 61

2.2.3 Quan niệm về bổn phận đối với xã hội 67

2.3 Tư tưởng của Trần Trọng Kim về đạo đức 75

2.3.1 Quan niệm về lòng nhân ái 76

2.3.2 Quan niệm về thiện – ác 79

2.3.3 Quan niệm về nghĩa vụ đạo đức 82

Trang 2

2

2.4 Một số giá trị và hạn chế của tư tưởng luân lý, đạo đức của Trần

Trọng Kim 85

2.4.1 Về mặt giá trị 85

2.4.2 Về mặt hạn chế 87

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 3

3

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Luân lý, đạo đức là thước đo giá trị của con người trong xã hội loài người mọi thời đại

Lịch sử Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Quá trình đó đã rèn luyện và hun đúc nên những thế hệ con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, sẵn sàng xả thân để cứu nước, thương yêu con người, thương yêu đồng loại, có tinh thần chịu đựng gian khổ, khó khăn Những đức tính đó đã trở thành truyền thống mà hàng ngàn đời nay, những thế hệ con người Việt Nam đã nâng niu, giữ gìn đó là những giá trị tinh thần, tư tưởng, tâm lý như lòng yêu nước, tính cần cù, sáng tạo, hài hước, trọng nhân nghĩa, kính thầy, ham học những giá trị đó có tác dụng củng cố, phát triển quan hệ xã hội và hoàn thiện nhân cách con người Đó là những giá trị luân

lý, đạo đức truyền thống đáng tự hào của người Việt Nam từ xa xưa

Nước ta hiện nay đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cùng với đó là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế trị trường là một bước tiến, là thành tựu văn minh của nhân loại Nước ta mở cửa giao lưu với thế giới, tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ và tiếp xúc với văn hóa, lối sống hiện đại của thế giới Chính vì vậy mà trong hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta có những bước phát triển vượt bậc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt

Tuy nhiên, song song với sự phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, những mặt trái của cơ chế thị trường cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của con người Việt Nam hiện đại bao gồm nhiều thành phần như: học sinh, sinh viên, thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai đất nước, trong đó có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên

Trang 4

4

Nhìn chung, các giá trị luân lý, đạo đức Việt Nam đang có sự biến đổi nhanh chóng, đảo lộn, phức tạp có cả biến đổi tích cực, lẫn tiêu cực như hiện tượng chủ nghĩa cá nhân lấn áp chủ nghĩa tập thể, khuynh hướng coi trọng lợi ích, giá trị vật chất hơn giá trị tinh thần, tình cảm; trọng danh lợi hơn trọng danh tình nghĩa, coi thường giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, vì đồng tiền mà chà đạp lên tất cả, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên quan liêu, cửa quyền, kèn cựa địa vị, cục bộ, địa phương, bè phái mất đoàn kết nghiêm trọng Trước những biến thể đó, việc xem xét, đánh giá lại những tư tưởng luân lý, đạo đức của các nhà tư tưởng, học giả từ xưa cho đến nay là hết sức cần thiết

Trong dòng chảy lịch sử tư tưởng Việt Nam, đầu thế kỷ XX Trần Trọng Kim được coi là một trong những học giả danh tiếng, một nhà giáo dục, một nhà biên khảo văn học và sử học Việt Nam, ông đã có những đóng góp nhất định trong các lĩnh vực tư tưởng Đặc biệt phải kể đến tư tưởng giáo dục nói chung và tư tưởng giáo dục luân lý, đạo đức nói riêng Cho đến ngày nay nó vẫn con những giá trị nhất định trong đời sống của mỗi con người

Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Tư tưởng của Trần Trọng Kim

về Luân lý, Đạo đức” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những đóng góp cũng như cống hiến của Trần Trọng Kim được rất nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu Có rất nhiều các công trình, bài viết khoa học của các chuyên gia, các học giả từ trước tới nay đã ngày càng đánh giá xác đáng vị trí, vai trò, giá trị của những tư tưởng đó

Hướng thứ nhất, các công trình, các cuốn sách, luận văn, luận án nghiên cứu về luân lý, đạo đức

Cuốn “Giáo trình Đạo đức học” của Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn

Thế Kiệt đã định nghĩa một cách khái quát: Đạo đức là một hình thái ý thức

Trang 5

Cuốn sách “Tập bài giảng đạo đức học” của tác giả Phạm Văn Chung

đã góp phần làm sáng tỏ và cụ thể hơn về lịch sử, lý luận và thực tiễn những vấn đề, nội dung đạo đức cơ bản vốn được nêu lên và giải đáp trong lịch sử và

lý luận đạo đức như: bản chất, tính chất, nguồn gốc, cơ sở của đạo đức, các phạm trù thiện, ác, hạnh phúc, lương tâm, nghĩa vụ, lẽ sống Tác giả đã xem xét mối liên hệ bên trong giữa các phạm trù, quan niệm đạo đức học theo một trình tự nhất định trong hệ thống của chúng và cuối mỗi bài thường có sự nhận định về vị trí, ý nghĩa của mỗi phạm trù, quan niệm sau này

Cuốn sách “Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam” của tác giả

Trần Văn Giàu, đã phân tích sâu sắc về các giá trị tinh thần truyền thống dân tộc và sự vận động của quần chúng qua những giai đoạn lịch sử Việt Nam Theo tác giả, mục đích tìm hiểu giá trị tinh thần truyền thống không chỉ là tìm hiểu thêm về lịch sử dân tộc, mà còn nhằm mục đích thiết thực là góp phần xây dựng con người trong giai đoạn lịch sử cách mạng hiện nay, phục vụ cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trang 6

6

Cuốn sách “Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng tám” của tác giả Trần Văn Giàu Đây là một bộ sách gồm 3 tập

Tập I Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch

sử Trong tập này tác giả tập trung bàn về tư tưởng và đấu tranh tư tưởng ở

nước ta trong thể kỷ XIX, nhìn chung hệ ý thức phong kiến như là: “bao sân”: nó là chính, nó là thống trị tất cả Tình hình bao sân đó không còn nữa khi lịch sử đi sâu vào thể kỷ XX Vào thế kỷ XX, về phía người Việt Nam, thấy lưu hành hệ ý thức tư sản và hệ ý thức vô sản, hai hệ ý thức đó tuy xuất hiện không đồng thời, tuy phát triển không đồng đều nhưng cả hai đều hoạt động trong điều kiện lịch sử giống nhau, ít nhiều ảnh hưởng lẫn nhau Tuy

vậy trong Tập II Hệ ý thức tư sản và sự vất lực của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, tác giả không bàn một lượt đến cả hai hệ ý thức tư sản và vô sản mà

chỉ chuyên bàn về một hệ ý thức tư sản, các dạng của nó, các biểu hiện của

nó, sự chuyển biến của nó trong ngót nửa thế kỷ, tất cả đều được soi rọi dưới ánh sáng của tiêu chuẩn giải phóng dân tộc Chính vì vậy mà khi nói đến tư tưởng dân tộc cải lương và tư tưởng dân tộc Cách mạng Việt Nam vào những năm 20 mà chúng ta không nhấn mạnh vào sự nghiệp tư tưởng, lý luận của cụ Nguyễn Ái Quốc, ấy là vấn đề rất quan trọng đó sẽ được trình bày trong Tập

III viết về thành công của chủ nghĩa Mác – LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 7

Bài viết “Quan hệ giữa các giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng đạo đức” của tác giả Lê Thị Lan, từ chỗ cho rằng, thực tiễn dân tộc nào

dung hòa được các giá trị truyền thống với các giá trị hiện đại thì dân tộc đó

sẽ phát triển Hay nói cách khác, tìm được phương thức biểu hiện mới của giá trị truyền thống trong thời hiện đại thì sẽ phát triển Các giá trị truyền thống dân tộc cần phải được biến đổi cho phù hợp với thời đại mới Tuy nhiên, trong quá trình biến đổi đó cần phải có sự gạn lọc, kế thừa phát triển những giá trị truyền thống, kết hợp với những giá trị mới mang tinh thần của thời đại Tác giả đi đến khẳng định: “Việc giải quyết mối quan hệ giữa các giá trị truyền thống và hiện đại không thể dựa trên ý muốn chủ quan của các nhà lý luận, mà phải dựa trên cơ sở thực tiễn, dựa vào nền tảng kinh tế xã hội mà các giá trị mới hoặc cũ được thừa nhận, phát triển hay loại bỏ Trong đó tác giả đã khẳng định tinh thần yêu nước là một đặc trưng cản bản nhất của giá trị truyền thống Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự biến đổi hệ giá trị của dân tộc Việt Nam

Bài viết “Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc” của tác giả Nguyễn Văn Huyên, đã khẳng định

Trang 8

8

tính bền vững, trường tồn của các giá trị truyền thống, trong đó có giá trị đạo đức, cũng như vai trò, sự cần thiết phải bảo vệ, giữ gìn, kế thừa và phát huy chúng trong quá trình xây dựng xã hội mới

Bài viết “Giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, giao lưu văn hóa và hội nhập quốc tế”

của tác giả Đặng Hữu Toàn đã phân tích chỉ ra sự tác động tích cực, tiêu cực của nền kinh tế thị trường đến đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta làm cho nhiều giá trị đạo đức truyền thống và nếp sống văn hóa vận động, biến đổi không ngừng Điều đó, đặt ra việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trở nên cấp bách và cần thiết

Bài viết “Về luân lý xã hội ở nước ta (trích Đạo đức và luân lý Đông Tây)” của Phan Châu Trinh Trong bài viết luân lý xã hội mà tác giả muốn đề

cập đến trong đoạn trích này có nội dung gắn liền với lợi ích chung, là tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau trong đoàn thể về sự tiến bộ xã hội Theo ông, muốn có luân lý xã hội thì phải biết gây dựng đoàn thể để tự do bảo vệ quyền lợi của mình và hỗ trợ nhau trong cuộc sống Phải bỏ thói dựa dẫm vào quyền thế, chấm dứt nạn mua danh bán tước hòng có được vị trí ngồi trên, ăn trước Phải đánh đổ chế độ vua quan thối nát làm bại hoại luân lý xã hội, khiến tư tưởng cách mạng không thể nảy nở và nước ta không có được tự do, độc lập Điều tác giả đề nghị trong hoàn cảnh xã hội lúc đó có ý nghĩa rất quan trọng

và cấp thiết

Có thể nói, giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của mỗi dân tộc, là toàn bộ những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen đạo đức tốt đẹp có tác động tích cực tới cộng đồng, được truyền từ thế

hệ này nối tiếp thế hệ khác mang tính tự nguyện

Hướng thứ hai, các công trình nghiên cứu chung về Trần Trọng Kim

Trang 9

9

Với các công trình nghiên cứu đã công bố về cuộc cách mạng Tháng Tám và về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1940 – 1945, các tác giả đều có đề cập đến lịch sử và hoạt động của Nội các Trần Trọng Kim dưới những góc nhìn khác nhau, nhưng nhìn chung mới chỉ dừng lại ở mức đơn giản Trước tình

hình đó, PGS.TS Phạm Hồng Tung đã cho ra đời tác phẩm: “Nội các Trần Trọng Kim”

“Cuốn sách trình bày một cách toàn diện, sâu sắc và cụ thể về hoàn

cảnh, nguyên nhân ra đời, các chủ trương, chính sách và hoạt động của Nội các Trần Trọng Kim từ khi nó được Hoàng đế Bảo Đại chính thức phê chuẩn thành lập ngày 17/4/1945 cho đến phiên họp cuối cùng ngày 23/8/1945 và đề xuất cách tiếp cận, đánh giá mới về bản chất, vai trò và vị trí lịch sử của Nội các này Cuốn sách nêu rõ: Nội các Trần Trọng Kim và toàn bộ hệ thống chính quyền bản xứ do nó đứng đầu là một bộ phận hợp thành cuộc đảo chính ngày 9/3/1945 Vì vậy, lực lượng yêu nước và cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh lãnh đạo đã khôn khéo và dũng cảm, thông qua cuộc ngoại giao đầy sáng tạo mà trung lập hóa được gần 100 nghìn quân Nhật, đồng thời lật đổ hoàn toàn hệ thống chính quyền do Nội các Trần Trọng Kim đứng đầu chính là phương thức mà nhân dân ta vùng lên “đem sức

ta mà giải phóng cho ta”, “lấy lại nước Việt Nam tư tay Nhật” một cách nhanh gọn và ít đổ máu – như Hồ Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong bản

“Tuyên ngôn độc lập lịch sử”

Phạm Hồng Tung (2009), Hoàng Xuân Hãn với nội các Trần Trọng Kim

Bài viết này được đăng lên tạp chí Xưa và Nay, số 328 (2009) Trong bài viết này tác giả đã giới thiệu Hoàng Xuân Hãn là một trí thức Tây học mà như ông từng nhận xét: “Có đủ tài cán để chuyên nghề, nhiều lòng muốn phục vụ Tổ quốc” Giống như nhiều trí thức thuộc thế hệ của ông, Hoàng Xuân Hãn có cách

Trang 10

10

yêu nước và phụng sự dân tộc riêng của mình Trong bài viết, tác giả cũng đưa

ra những lý do mà Hoàng Xuân Hãn tham gia vào nội các Trần Trọng Kim

Ngô Tất Tố (1940), Phê bình nho giáo Trần Trọng Kim Trong bài viết

Ngô Tất Tố nghiêm khắc phê bình Trần Trọng Kim mà ông cho rằng có nhiều chố chưa thấu đáo tính yếu tính của Khổng giáo nhưng Ngô Tất Tố cũng dành nhiều lời khen ngợi cho Trần Trọng Kim đã có một tác phẩm xứng tầm Ông cũng đưa ra lời nhận xét: “Nho giáo tuy có nhiều chỗ sai lầm, nhưng mà cái sai lầm ấy phần nhiều ở cuốn thứ nhất Từ cuốn thứ hai trở đi hầu hết dịch theo sách Tàu, không bị sai lầm mấy lỗi Nếu đem cộng mà trừ với tội, thì nó vẫn là có công với nền văn học nước nhà Có lẽ thứ sách học thuật tư tưởng đời cổ của mình, ngoài bộ này cũng khó mà có bộ thứ hai”

Một số bài viết về Trần Trọng Kim trên các tạp chí:

Trong bài viết “Trần Trọng Kim với “Việt Nam sử lược” (Tạp chí Xưa

và Nay, số 346, tháng 12, 2009, tác giả Mai Khắc Ứng trong khi tập trung phê

phán tệ nạn viết sử giáo điều, thiếu tôn trọng sự thật đã đưa ra nhiều lý do để biện hộ cho Trần Trọng Kim về các mặt, rồi đi đến kết luận dứt khoát:

“Với tôi, Trần Trọng Kim qua Việt Nam sử lược là một người yêu nước thành tâm, một nhà sử học chân chính, trung thực, một người cầm bút có nhân cách, một học giả xuất sắc đã cống hiến phần trí tuệ, chi ít cho các thế hệ nửa đầu thế kỉ XX và chính phủ Trần Trọng Kim là sản phẩm của tình thế với hoài bão của lớp nhân sĩ trí thức cũ biết lường trước họa binh đao nên tha thiết nhân nhượng, dung hòa”

Tư tưởng giáo dục của ông được bàn khá lẻ tẻ trong một số bài viết như:

Trần Văn Chánh (2013), Học giả Trần Trọng Kim, Tạp chí Nghiên cứu và

phát triển, số 6-7, tr104-105

Vũ Ngọc Khánh (2009), Bàn thêm về Trần Trọng Kim

Trang 11

11

Trong các công trình kể trên các tác giả mới dừng lại ở việc nghiên cứu Trần Trọng Kim trên khía cạnh chính trị, nhà sử học, nhà nghiên cứu Nghiên cứu Trần Trọng Kim với tư cách học giả, nhà giáo dục, là nhà tư tưởng thì chưa từng có một công trình nghiên cứu công phu nào.Vì vậy, việc nghiên cứu tư tưởng luân lý, đạo đức của ông là hết sức cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: nội dung giá trị tư tưởng luân lý, đạo đức của Trần Trọng Kim

Phạm vi nghiên cứu: qua một số tác phẩm của Trần Trọng Kim bàn về luân lý, đạo đức

Trang 12

12

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý, quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề luân lý, đạo đức

Phương pháp luận: dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử

Luận văn đã sử dụng các phương pháp: logic – lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa

6 Ý nghĩa thực tiễn và lý luận của luận văn

Góp phần tìm hiểu, hệ thống hóa, làm sâu sắc hơn tư tưởng luân lý, đạo đức của Trần Trọng Kim

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy trong lĩnh vực giáo dục luân lý, đạo đức

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 2 chương, 7 tiết

Trang 13

13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH

TƯ TƯỞNG CỦA TRẦN TRỌNG KIM

1 1 Điều kiện chính trị, xã hội Việt Nam và thế giới đầu thế kỷ XX

1.1.1 Tình hình chính trị, xã hội thế giới đầu thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc Từ giữa thế kỷ XIX, các nước phương Tây đã tăng cường xâm chiếm thuộc địa để đáp ứng những yêu cầu phát triển của các nước đế quốc Đến đầu thế kỷ XX “ miếng bánh ngon” thuộc địa đã được các nước đế quốc phân chia rõ ràng Sự xâm lược và thống trị của các nước đế quốc đối với các nước thuộc địa đã tạo ra mâu thuẫn dân tộc Cuộc chiến tranh thứ nhất (1914 -1918) về thực chất chỉ là một cuộc chiến tranh phân chia thế lực, khu vực ảnh hưởng và các thuộc địa giữa các cường quốc đế quốc

Ngày 18 – 1 – 1919, đại diện của các nước thắng trận và bại trận trong hai phe Đồng minh và Hiệp ước đã tổ chức họp tại Vecxai gần thủ đô nước Pháp để phân chia quả thực chiến tranh Nước Anh, rồi đến Pháp giành được nhiều quyền lợi nhất Còn những nước bại trận, điển hình là Đức vừa mất các thuộc địa, vừa phải bồi thường các chi phí chiến tranh

Từ đầu những năm 20 trở đi, các nước tư bản bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế Đây là thời kỳ ổn định cục bộ và tạm thời của chủ nghĩa tư bản thế giới Chiến tranh thế giới đã làm thay đổi vị trí và tương quan lực lượng giữa các nước đế quốc, đồng thời còn đưa đến một hệ quả ngoài ý muốn của tất cả các nước tư bản Đó là cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi dẫn đến sự ra đời của Nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới

Trang 14

14

Về ý nghĩa, cuộc cách mạng tháng Mười Nga đã mở đầu một thời đại mới, thời đại cách mạng giải phóng thuộc địa, các nước bị áp bức trên thế giới liên minh với giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản làm cách mạng

Do ảnh hưởng trực tiếp của Cách mạng tháng Mười Nga và cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào đấu tranh chống đế quốc ở các tư bản phương Tây đã dâng lên mạnh mẽ Do sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, từ năm 1918 trở đi, tại nhiều nước ở Châu Âu, các đảng Cộng sản

đã lần lượt được thành lập

Ở châu Á, tháng 3 – 1919, cuộc khởi nghĩa của nhân dân Triều Tiên chống Nhật bùng nổ Sang tháng 5 – 1919, phong trào Ngũ Tứ ở Trung Quốc

nổ ra và lan rộng khắp Trung Quốc, thu hút hàng triệu người tham gia Tại Ấn

Độ, phong trào bất hợp tác chống ách thống trị của thực dân Anh cũng đã nhận được sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân trong nhiều năm

Tuy nhiên, từ những năm 1924 – 1925 trở đi, phong trào cách mạng thế giới tạm thời lắng xuống Đối với các nước đế quốc, đây là thời kỳ vừa ra sức khôi phục, phát triển kinh tế, vừa tìm cách bao vây, phá hoại Liên Xô – thành trì của cách mạng thế giới

Từ giữa những năm 30 cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) đã kết thúc, nhưng hậu quả của nó vẫn còn tác động nặng nề đến nhiều nước trên tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn trong lòng mỗi nước tư bản và mâu thuẫn giữa các nước đế quốc ngày càng gay gắt

Trong bối cảnh đó, giới cầm quyền một số nước tư bản đã đối phó bằng cách đưa đất nước vào con đường phát xít hóa Chúng chuyển toàn bộ nền kinh tế sang phục vụ cho guồng máy chiến tranh, thi hành những chính sách

mị dân, lừa phỉnh, kết hợp với sử dụng bạo lực đàn áp lực lượng tiến bộ trong nước và những người chống đối, gieo rắc tư tưởng sôvanh, phân biệt chủng

Trang 15

sử quan trọng, mở đầu cho sự hình thành của đế chế phát xít, lò lửa chiến tranh lớn nhất trong lịch sử thế giới hiện đại Ngay sau khi lên nắm chính quyền, Hitler đã lập tức thủ tiêu chế độ đại nghị ở nước Đức, thiết lập chế độ thống trị quân phiệt, độc tài và sử dụng vũ lực tối đa để tiêu diệt bất cứ lực lượng đối lập nào

Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản hình thành năm 1932 Năm 1937, Nhật Bản tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ba tỉnh Đông Bắc Trung Quốc Giới quân phiệt Nhật tích cực chuẩn bị chiếm toàn bộ Trung Quốc, tranh giành quyền lợi của Anh, Pháp, Mĩ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Các thế lực phát xít trên thế giới liên kết kí với nhau thành một khối Ngày 25 – 11 – 1936, Nhật Bản và Đức kí kết “Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản” Tháng 11 – 1937, Italia cũng tham gia kí Hiệp ước này Trục phát xít Béclin – Tôkyô – Roma hình thành

Chủ nghĩa phát xít còn xuất hiện ở nhiều nước khác như Ba Lan, Bungari, Nam Phi, Hunggari, Rumani bành trướng sang cả Tây Ban Nha, Pháp, Mĩ, Anh Họa phát xít và nguy cơ chiến tranh đe dọa loài người

Ngày 3 – 9 – 1939 Anh và Pháp cùng tuyên chiến với Đức Chiến tranh thế giới thứ hai chính thức bùng nổ Ngày 10 – 6 – 1940, quân Đức ào ạt tấn công nước Pháp Ngày 14 – 6 – 1940, Pari được tuyên bố là “thành phố bỏ ngỏ”, quân Đức chiếm được thủ đô nước Pháp tương đối dễ dàng Ngày 22 – 6 – 1940, Hiệp định

Trang 16

16

đình chiến được ký kết Ba phần năm lãnh thổ nước Pháp bị quân Đức chiếm đóng Phần còn lại thuộc quyền quản lý của Chính phủ Pháp do Petain đứng đầu với thủ phủ đóng ở Vichy

Việc nước Pháp bị đánh bại, phải đầu hàng phát xít Đức và bị quân Đức chiếm đóng là một biến cố đặc biệt quan trọng trong lịch sử nước Pháp, có tác động trực tiếp mạnh mẽ đến tiến trình lịch sử Việt Nam nằm trong liên bang Đông Dương

Trong thế kỷ này, cũng cần phải nhắc tới sự phát triển của khoa học –

kĩ thuật cùng với những thành tựu của nó Cùng với nó là sự phát triển của tư văn hóa, tư tưởng của các nước phương Tây tuy đóng góp cho văn minh nhân loại nhưng vẫn không giấu được những ý đồ, ham muốn cho bản chất bóc lột

và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc: sự phát minh các vũ khí chiến tranh ngày càng tinh vi, hiện đại với sự hủy diệt hàng loạt, sức chiến đấu cao

Đối với các nước phương Đông, các nước tư bản bắt đầu trực tiếp đe dọa, thực hiện xâm lược Thời kỳ này, nền kinh tế của các nước phương Đông chủ yếu vẫn dựa trên nền nông nghiệp lúa nước theo phương thức tổ chức sản xuất dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa kinh tế hộ gia đình và đơn vị kinh tế cộng đồng công xã nông thôn

Thủ công nghiệp và thương nghiệp ra đời sớm nhưng dù có phát triển thì cũng không tạo ra một bước ngoặt đáng kể nào, nó còn bị cản trở bởi các chính sách nhà nước phong kiến như: “trọng nông, ức thương”, “dĩ nông vi bản”, “bế quan tỏa cảng”

Cơ cấu xã hội điển hình của các nước phương Đông gồm các giai cấp, tầng lớp điển hình: vua chúa, quý tộc, quan lại, nông dân, thợ thủ công, thương nhân, trí thức chủ yếu là các nho sĩ, cao tăng

Trang 17

17

Sự xâm lược của các đế quốc phương Tây đã tàn phá xã hội truyền thống của các nước Phương Đông đồng thời nó cũng tạo ra trong xã hội phương Đông mầm mống của một cơ cấu xã hội mới, kiến trúc thượng tầng mới

1.1.2 Tình hình chính trị, xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX

* Bối cảnh chính trị

Nửa cuối thế kỷ XIX, nước Pháp tiến nhanh vào giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, thành công trong việc hình thành một hệ thống thuộc địa lớn thứ hai sau nước Anh Đối với Việt Nam, thực dân Pháp đã mất một thời gian dài từ

1858 đến 1883 để hoàn thành sự xâm lược Việt Nam Từ cuối thế kỷ XIX, phong trào khởi nghĩa vũ trang từ Nam chí Bắc với cuộc khởi nghĩa cuối cùng của nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo bị trong tình thế bao vây, o ép nên đến tháng 12-1897 buộc phải đình chiến lần thứ hai với kẻ thù Thực dân Pháp cố tranh thủ thời gian này chuẩn bị mọi điều kiện triệt hạ pháo đài cuối cùng của phong trào khởi nghĩa của nhân dân ta

Thực dân Pháp đã hoàn thành về căn bản công cuộc bình định Việt Nam

về mặt quân sự, và trong bối cảnh đó có thể bắt tay vào khai thác thuộc địa Việt Nam nói riêng cũng như Đông Dương nói chung một cách quy mô

Để phục vụ kịp thời và đắc lực cho công cuộc khai thác và bóc lột kinh tế, thực dân Pháp chú ý tới hai yếu tố chính trị “chia để trị” và “dùng người Việt trị người Việt”

Thực dân Pháp thành lập liên bang Đông Dương bao gồm có: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Campuchia trực thuộc Bộ hải quân và thuộc địa Việt Nam bị chia cắt làm 3 kì: Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kỳ Trong đó Bắc Kỳ và Trung Kỳ là hai xứ bảo hộ vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến về hình thức; Nam Kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm chính quyền cùng Lào

và Campuchia

Trang 18

18

Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ ở Châu Âu, rồi nhanh chóng lan nhanh ra khắp thế giới, lôi cuốn vào vòng chiến hầu hết các nước đế quốc và thuộc địa Nước Pháp tham chiến, vì vậy phải huy động tối đa sức người, sức của trong nước và các nước thuộc địa để cung cấp cho nhu cầu chiến tranh Thuộc địa Việt Nam chịu chung số phận đó

Chiến tranh bùng nổ, các nhà cầm quyền Pháp ở Việt Nam một mặt ra sức củng cố và mở rộng chỗ dựa xã hội, mặt khác tăng cường hơn nữa mọi hoạt động đề phòng và đàn áp những cuộc cách mạng có thể xảy ra trong khi chúng đang bận tham chiến, để trên cơ sở đó có điều kiện mọi thủ đoạn bắt người, vét ném vào lò lửa chiến tranh Pháp

Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đời sống kinh tế và xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi Một số ngành kinh tế mới như ngân hàng, công nghiệp chế biến, cơ khí đã hình thành Các đô thị được mở mang, các lực lượng xã hội mới như công nhân, tư sản, tiểu tư sản cũng ra đời và ngày càng phát triển

Về đối ngoại, thời gian cuối chiến tranh, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương chủ trương đòi nới rộng thêm quyền hạn cho Toàn quyền về nội trị và ngoại giao (được tự do giao dịch với các nước khác trên thế giới, nhất là với các nước láng giềng châu Á, không cần thông qua các bộ Thuộc địa như trước) Chính quyền Đông Dương tăng cường hoạt động ngoại giao với các nước trong khu vực: mở các cuộc thương thuyết với chính phủ Trung Hoa để phối hợp đàn áp, tiêu diệt các tổ chức cách mạng Việt Nam đang hoạt động ở Trung Quốc

Tóm lại, những cải cách chính trị của chính quyền thực dân ở Việt Nam trong những năm chiến tranh nhằm ổn định thuộc địa, huy động tiềm năng thuộc địa phục vụ cuộc chiến tranh ở nước Pháp Để thực hiện được việc đó, chính quyền thuộc địa đã thực hiện một, số chính sách mua chuộc tầng lớp

Trang 19

19

thượng lưu, quan lại bản xứ, xây dựng cơ sở xã hội vững chắc ở Việt Nam Đồng thời họ cũng cấu kết với các thế lực phản động trong khu vực, đàn áp,

cô lập phong trào cách mạng Việt Nam

* Sự thay đổi về cơ cấu xã hội

Thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác trên quy mô lớn từ đầu thế kỷ XX

đã làm cho cơ cấu kinh tế Việt Nam có những biến chuyển quan trọng Phương thức bóc lột mới theo lối tư bản chủ nghĩa đã được du nhập vào Việt Nam, bắt đầu xâm nhập các khu vực kinh tế nông, công thương nghiệp Đồng thời, phương thức bóc lột cũ theo lối phong kiến cổ truyền cũng được thực dân Pháp cố tình duy trì để mang lại lợi ích cho chúng Sự kết hợp giữa hai phương thức bóc lột đó đã dẫn tới sự hình thành phương thức bóc lột thuộc địa bảo đảm siêu lợi nhuận tối cao cho thực dân Pháp và phong kiến tay sai

Trong bối cảnh đó, xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX cũng bắt đầu thay đổi khá nhanh Nhân dân lao động bị bần cùng hóa, xã hội phân hóa ngày càng sâu sắc, nông thôn và thành thị đều có những biến chuyển rõ rệt

Đối với người Việt Nam, kết cấu xã hội theo tứ dân: sĩ, công, nông, thương dần bị xóa bỏ thay vào đó sự phân chia theo giai cấp dựa vào quyền lợi kinh tế và quan hệ dựa trên kiến trúc thượng tầng phương Tây:

Giai cấp địa chủ: Được thực dân Pháp nâng đỡ, ưu thế kinh tế và

chính trị của địa chủ Việt Nam tăng lên Một số người kinh doanh công thương nghiệp xuất thân từ địa chủ vẫn giữ lấy một phần ruộng đất để phát canh thu tô Một số ít khác, đề phòng công việc kinh doanh bấp bênh, cũng mua một ít ruộng đất cho phát canh thu tô Như vậy, ngoài địa chủ Pháp, địa chủ nhà thờ, địa chủ quan lại, địa chủ thường còn có địa chủ kiêm công thương

Tuy nhiên, giai cấp địa chủ thời kỳ này cũng có sự phân hóa sâu sắc, một bộ phận địa chủ trở thành chỗ dựa vững chắc cho thực dân ngoại bang, ra sức đàn áp, bóc lột nông dân Thực dân Pháp muốn tạo cho mình một hậu

Trang 20

20

thuẫn chắc chắn nên có các chính sách ưu đãi đối với địa chủ và phong kiến quan liêu Các quan lại, hào, lý là lớp người thừa hành mẫn cán giúp thực dân Pháp can thiệp một cách có hiệu quả vào các tổ chức làng, xã vốn xa lạ với thực dân người Pháp Tầng lớp này đã giúp chính quyền thực dân cai trị chặt chẽ xã hội mà lại tránh tiếp xúc trực tiếp với dân chúng, vốn căm thù thực dân

đế quốc Thực dân Pháp tiến hành cải lương hương chính nhằm từng bước đưa giai cấp địa chủ mới, sản phẩm của chế độ giáo dục thực dân lên thay thế lớp địa chủ cũ

Giai cấp nông dân: chiếm tới 90 % dân số, họ bắt đầu tác động bởi nền

kinh tế nửa thực dân, nửa phong kiến Tư bản và địa chủ tay sai cướp trắng trợn ruộng đất của nông dân trong các làng, xã Ruộng đất bị tập trung làm đồn điền nông nghiệp (trồng lúa) vẫn áp dụng chế độ bóc lột phong kiến cũ, phát canh thu tô với các tá điền, giống hệt như các địa chủ người Việt vì chúng nhận thấy đó là cách làm ăn ít tốn kém, chắc ăn và nhiều lời nhất Thêm vào đó, nạn sưu cao, thuế ngày một nặng, nạn cho vay lãi và cầm cố vẫn duy trì làm cho nông dân xơ xác, cuối cùng còn mảnh đất, mảnh vườn nào cũng bị tước đoạt Thực dân Pháp lại không chú ý đến việc đắp đê, nạn đê

vỡ, lụt lội xảy ra liên miên, trong hoàn cảnh đó đời sống nông dân càng thêm điêu đứng

Những cuộc đấu tranh của nông dân ở nhiều vùng đã nổ ra dữ dội, quyết liệt nhưng không có tổ chức nên đều thất bại; song tinh thần đấu tranh chống đế quốc, phong kiến thì không bao giờ ngừng

Công nhân: là giai cấp mới xuất hiện với lực lượng mới rất mỏng

Công, thương nghiệp phát triển đã dẫn đến sự nảy sinh lớp người làm thuê ăn lương, trong đó có một số đã trở thành những người vô sản công nghiệp hiện đại Khác với phương Tây, công nhân Việt Nam chủ yếu xuất thân từ những nông dân còn gắn bó nhiều với ruộng đất Họ trở thành công nhân bằng nhiều

Trang 21

Với số lượng phát triển khá cao, với chất lượng biểu hiện rõ ở tính tập trung (lao động trong guồng máy tư bản chủ nghĩa với kĩ thuật hiện đại), có tinh thần đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung, công nhân Việt Nam đã có các điều kiện cần và đủ để hình thành một giai cấp Tuy vậy, vì chưa có lý luận tiên tiến soi đường, họ chưa quan niệm được mình là một giai cấp riêng,

có quyền lợi và nguyện vọng riêng, chưa nhận thức được rõ vị trí và vai trò của mình trong lịch sử xã hội, giai cấp công nhân tuy đã ra đời, nhưng mới ở giai đoạn “tự phát”

Sự ra đời giai cấp công nhân Việt Nam trước giai cấp tư sản dân tộc là một đặc điểm lịch sử quy định những nét đặc thù của sự phát triển sau này của cách mạng Việt Nam

Tầng lớp tiểu tư sản: Cuối thế kỷ XIX, đô thị Việt Nam nằm trong

guồng máy của phương thức khai thác, bóc lột tư bản chủ nghĩa nên đã phát triển theo kiểu đô thị công, thương nghiệp; không còn mang nặng tính chất hành chính văn hóa như trước nữa Cùng với sự phát triển này, tầng lớp tư sản đầu tiên đã xuất hiện, tuy chưa đông về số lượng và có nguồn gốc xuất thân khác nhau Xuất hiện sớm nhất là một số tư sản mại bản đứng ra bao thầu các

bộ phận kinh doanh của Pháp như thầu làm cầu đường, trại lính, đồn bốt, phà, một đoạn đường xe lửa, nhận cung cấp, tiếp tê lương thực, nguyên liệu cho Pháp hay làm đại lý phân phối hàng hóa của chúng trong nhân dân

Trang 22

22

Một số xuất thân từ địa chủ giàu có cũng chuyển một phần vốn sang kinh doanh công thương nghiệp với ý thức chống lại độc quyền của thực dân Pháp Một số quan lại cáo quan về kinh doanh công thương nghiệp với ý thức phát triển kinh tế dân tộc Cũng có những người hoạt động yêu nước chuyển sang kinh doanh thương nghiệp để hỗ trợ cho công tác chính trị

Vì bị thực dân Pháp chèn ép nặng nề, tư sản Việt Nam phát triển chậm

về mọi mặt, chưa đủ điều kiện để hình thành một giai cấp Nhưng sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa dân tộc nói chung là cơ sở thuận lợi để tiếp thu các trào lưu tư tưởng từ ngoài vào

Trước kia, tại các đô thị lớn, những nhà buôn nhỏ và những thợ thủ công cũng tập hợp khá đông thành từng phòng, từng hội Khi Pháp sang, chúng độc chiếm thị trường, hàng hóa của chúng tràn ngập khắp nơi nên các ngành nghề thủ công, nghề phụ của nhân dân ta đều bị phá sản

Lớp tiểu thương khá đông đảo đã đứng làm trung gian giữa những người sản xuất và những người tiêu thụ Lớp công chức, trí thức và những người làm các dịch vụ cũng ngày càng tăng Tuy đời sống vật chất của các người này so với các tầng lớp khác có phần khá hơn đôi chút nhưng họ cũng

bị chèn ép rất nhiều về mặt chuyên môn lẫn chính trị, thấm sâu nỗi nhục của người dân mất nước

Tầng lớp trí thức: bắt đầu có sự phân hóa về mặt tư tưởng và hành động

giữa bộ phận trí thức theo Nho học thủ cựu và trí thức Nho học theo xu hướng duy tân Trí thức Tây học là những người trưởng thành từ học trò trở thành thầy giáo, bác sỹ, kỹ sư, luật sư, kiến trúc sư, nhà văn được đào tạo theo khoa học kỹ thuật phương Tây, đôi ngũ ngày càng đông đảo Đây là bộ phận nhạy cảm trong quá trình hội nhập văn hóa tư tưởng Đông – Tây thế kỷ XX

Trang 23

23

Bên cạnh đó còn có một bộ phận trí thức bảo thủ, trì trệ, cam phận làm tay sai cho triều đình và chính quyền thực dân Một bộ phận khác chọn phương thức “lánh đời, ở ẩn”, “mũ ni che tai” trước vận mệnh của dân tộc

Trong khoảng thời gian cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các tầng lớp

xã hội, quan hệ xã hội ở Việt Nam biến động không ngừng cả về quy mô lẫn tính chất, phá vỡ kết cấu xã hội cũ, tạo kết cấu xã hội mới Từ đó dẫn tới mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn giữa công nhân với tư bản, nông dân với địa chủ, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược ngày càng trở nên sâu sắc, quyết liệt hơn dẫn đến cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ngày càng mạnh mẽ

* Tình hình về văn hóa, giáo dục

Văn hóa có ít nhiều biến đổi và phát triển chủ yếu ở đô thị Ở nông thôn, “văn hóa làng” vẫn tồn tại trong chính sách “bần cùng hóa” và “ngu dân hóa” Những thói hư tật xấu vẫn được dung dưỡng Nạn cờ bạc không được cấm mà còn được khuyến khích bằng cách cho mở sòng bạc mà thu thuế Tệ nạn uống rượu không bị hạn chế mà dân ta còn bị bắt uống một loại rượu có

độ cồn nặng do Hãng rượu độc quyền Phongten sản suất trên khắp cả nước Thực dân Pháp còn mở các quán thu mua các ti bán thuốc phiện để lập quỹ

cho Phủ toàn quyền

Ở nông thôn, hủ tục ma chay cưới hỏi, nạn thù hằn giữa các phe phái vẫn tồn tại, thêm vào đó nạn bói toán, lên đồng, mê tín dị đoan ngày càng

nặng nề Nhân dân bị thất học lên đến 95%

Hệ thống giáo dục Pháp – Việt mở rộng hơn trước; tầng lớp học sinh, sinh viên, công chức và trí thức ngày càng thêm đông đảo Cơ sở in ấn và xuất bản và xuất bản đã xuất hiện ở khắp ba kì, với hàng chục tờ báo, tạp chí Pháp

và chữ Quốc ngữ

Trang 24

24

Trong bối cảnh đó, các trào lưu tư tưởng mới, các thành tựu khoa học

và kĩ thuật, văn hóa nghệ thuật từ phương Tây thông qua sách báo nước ngoài

đã ồ ạt tràn vào trong nước, thúc đẩy và tăng cường mối quan hệ tiếp xúc giữa hai nền văn hóa Á – Âu và Đông – Tây ở Việt Nam Việc in ấn, xuất bản và giới thiệu các công trình khoa học tự nhiên, về triết học, luật học của các học giả phương Tây đã góp phần làm thay đổi phương pháp tư duy, nghiên cứu trong một số trí thức tân học, hình thành phương pháp tư duy duy lý tồn tại bên cạnh lối tư duy duy cảm của người Việt Nam

Đầu thế kỷ XX, dường như có sự giao thoa, đan xen và tồn tại đồng thời giữa những yếu tố văn hóa truyền thống và văn hóa ngoại lai, giữa nền văn hóa nô dịch của các nhà tư bản thực dân và một nền văn hóa mới đang nảy sinh và dần dần phát triển trong lòng xã hội thuộc địa Việt Nam

Trong thời gian này, thực dân Pháp ra sức sử dụng vũ khí văn hóa phục

vụ cho mục đích khai thác thuộc địa, tuyên truyền chính sách hợp tác Pháp – Việt Chính quyền Pháp ưu tiên xuất bản các sách báo phổ biến Âu Châu Sau chiến tranh thế giới thứ nhất nhiều thể loại như: văn học mới, tiểu thuyết, tuồng, kịch nói đều có bước phát triển hơn Nội dung của các thể loại này đều hướng vào mục đích phê phán tình trạng thối nát của xã hội đương thời, nêu lên những xung đột giữa các quan điểm phong kiến và tư tưởng tư sản vừa mới nảy sinh, đã kích những trưởng giả học đòi làm sang, phơi bày những cảnh lầm than, khốn khó của quần chúng lao động bị bọn thực dân, địa chủ, quan lại ức hiếp, bóc lột; đồng thời nói lên tình cảm yêu nước thương nòi

và sự bất lực, chán trường của tầng lớp tiểu tư sản thành thị trước thời cuộc

Vào những năm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, cùng với sự biến đổi trong kinh tế và cơ cấu giai cấp xã hội, tình hình giáo dục ở Việt Nam cũng có nhiều biến đổi Thực dân Pháp xâm chiếm nước ta đã mang theo cùng với những chính sách bình định, cai trị của chúng, là cả một âm mưu xảo quyệt

Trang 25

25

trong giáo dục Về cả hai mặt nội dung và chính sách giáo dục thực dân là một chính sách thâm hiểm rất tinh vi, khôn khéo

Ngay từ cuối năm 1917, sau khi được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông

Dương, Albert Sarraut đã ra nghị định ban hành “học chính tổng quy” để cải

cách hệ thống giáo dục [45, tr.221] Đây là cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai

tiếp tục sau cuộc cải cách Toàn quyền Bô (Paul Beau) vào năm 1906

Sang đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp chủ trương nhanh chóng xóa bỏ nền giáo dục Nho học, đồng thời tiếp tục mở rộng hệ thống giáo dục Pháp – Việt Nền giáo dục bao gồm hai bộ phận: các trường Pháp chuyên dạy học sinh người Pháp theo chương trình “Chính quốc” và các trường theo chương trình Pháp – Việt chuyên dạy người Việt theo chương trình “bản xứ”

Toàn bộ hệ thống giáo dục được chia thành 3 cấp: tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học

Thời gian theo học các cấp của trẻ em được cụ thể hóa như sau: Cấp tiểu học 5 năm, sau khi hoàn thành chương trình tiểu học thi đỗ, học sinh được nhận bằng tốt nghiệp tiểu học và được thi vào trường trung học Ở bậc trung học, học sinh sẽ học trong 4 năm

Để củng cố và hoàn chỉnh một bước giáo dục trung học, thực dân Pháp

ra nghị định đặt thêm bằng Tú tài bản xứ, tức bằng Trung học đệ nhị cấp

Bằng tú tài bản xứ được coi tương đương với bằng tú tài thời đó quen gọi là

Tú tài Tây học theo đúng chương trình dạy bên Pháp Những người có bằng

Tú tài bản xứ có thể thi vào các trường Cao đẳng, Đại học ở Đông Dương và

cả ở Pháp “Tiếng Việt Nam ngay từ bậc sơ học đã bị gạt sang phần thứ yếu

Và từ bậc tiểu học trở đi thì chỉ được coi là một thứ sinh ngữ hàng nhì, hàng

ba Ở các lớp dưới, môn học lịch sử Việt Nam được dạy với tinh thần xuyên tạc: mạt sát những phong trào quần chúng, những người yêu nước, ca ngợi bè

lũ Việt gian và biện hộ cho những hành động xâm lược của thực dân” [19, tr.165]

Trang 26

26

Ngăn cản và xuyên tạc tinh thần dân tộc, tinh thần quốc tế, thực dân Pháp cũng tìm được cách bưng bít, không cho người Việt Nam được tiếp xúc với những phát minh khoa học, những tư tưởng tiến bộ ở nước ngoài

Nội dung giáo dục trong các chương trình học khóa cũng là một nội dung xa nhân dân, xa đại chúng Từ bậc sơ học, tiếng nói của nhân dân đã bị coi rẻ cho đến khi bị gạt bỏ hoàn toàn Tiếng nói duy nhất trong nhà trường chỉ là tiếng Pháp, cả lúc giảng bài và cả lúc thầy trò giao tiếp

Duy trì và tô đậm những quan niệm tư tưởng lạc hậu, giáo dục thực dân còn du nhập thêm những khuynh hướng ý thức có tác hại nặng nề hơn Không dùng biện pháp mở lớp, không viết sách tuyên truyền mà bằng những thủ đoạn rất tinh vi, khôn khéo bằng lối truyền bá dần dần, thầm lặng, dùng cách sắp đặt chương trình, biên soạn giáo khoa, lồng qua các trang khảo cứu trong vòng một thời gian mà thực dân Pháp đã đem đến cho không ít người trí thức Việt Nam một số nếp suy nghĩ lệch lạc mà cứ tưởng là chân lý

Để thực hiện những âm mưu về tổ chức, nội dung giáo dục, chính phủ thực dân đã có nhiều biện pháp khá chặt chẽ trong việc thi hành dần dần chế

độ giáo dục Các trường Thông Ngôn, Thông phán cũng được mở ra cả ở Hà Nội Khi có nền học nha Pháp – Việt, nha học chính giao cho một số nhà giáo như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận lại biên soạn loại sách “giáo khoa thư” cho bậc sơ học Còn từ bậc tiểu học trở đi đều là sách soạn bằng tiếng Pháp: in ở Pháp đưa sang hoặc do những nhà giáo Pháp ở Đông Dương viết [19, tr.169]

Tóm lại, những năm đầu của thế kỷ XX là một khoảng thời gian có những biến đổi sâu sắc và mạnh mẽ trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội, giáo dục, văn hóa, tư tưởng Cùng với bước chuyển mình của phong trào dân tộc, nhất là sự lớn mạnh của xu hướng cách mạng xã hội chủ nghĩa, một mô hình giáo dục hiện đại và một nền văn hóa mới đang trên đường hình thành và phát

Trang 27

27

triển, tạo tiền đề cho sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như cho các giai đoạn phát triển sau này của dân tộc Việt Nam

1.2 Tiền đề cho sự hình thành tư tưởng của Trần Trọng Kim

Trần Trọng Kim sống trong một giai đoạn của lịch sử, giai đoạn chứng kiến sự chuyển giao giữa cái cũ và cái mới, sự va chạm giữa phương Đông và phương Tây Điều này đã làm nên một diện mạo đặc biệt cho tư tưởng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX Sự gặp gỡ giữa những luồng tư tưởng truyền thống và canh tân, phương Đông và phương Tây đã có ảnh hưởng đến hầu hết các nhà trí thức cả cựu học lẫn tân học ở Việt Nam lúc đó Và Trần Trọng Kim cũng là một trong những trường hợp như vậy, xuất thân từ một gia đình

có truyền thống Nho học, rất có ý thức về văn hóa dân tộc nhưng bản thân lại được đào tạo bởi một nền Tây học Vì vậy, khi nói đến những tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng của Trần Trọng Kim nói chung, tư tưởng của ông

về luân lý, đạo đức nói riêng cần phải đề cập đến những nền tảng tư tưởng Việt Nam từ những giá trị truyền thống dân tộc đến những tinh hoa văn hóa nhân loại ở cả phương Đông lẫn phương Tây

1.2.1 Giá trị truyền thống dân tộc

Truyền thống là những thói quen được hình thành đã lâu đời trong nếp sống và nếp nghĩ, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Theo từ điển Tiếng Việt, thì từ “truyền thống” được hiểu là các yếu tố của di sản văn hóa

và xã hội được chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác và được bảo tồn, giữ gìn lâu dài trong xã hội, giai cấp hay nhóm xã hội nhất định

Dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp và cao quý đó là: tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, cần cù, tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân nghĩa, ý thức cố kết

Trang 28

28

cộng đồng dân tộc, ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn, thử thách Chúng

ta có thể hệ thống hóa một số giá trị trong truyền thống của dân tộc Việt Nam như:

* Tình yêu thương con người sâu sắc rộng lớn

Do phải đương đầu với những thử thách khắc nghiệt của tự nhiên cũng như kẻ thù xâm lược nên một cách rất tự nhiên, những con người trong cùng một dân tộc Việt Nam đã hình thành lối sống nhân ái, vị tha, nương tựa, đùm bọc lẫn nhau Phương châm xử thế của con người Việt Nam là: “Lá lành đùm

lá rách”, “Lá rách ít đùm lá rách nhiều” Hay: “Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Hay: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Tình yêu thương con người còn được dành cho người người từng lầm đường, lạc lối nhưng đã biết ăn năn hối cải để nâng đỡ họ, giúp họ phân biệt cái đúng, cái sai, cái chính nghĩa Khi ấy tình yêu thương con người đã trở thành lòng khoan dung, độ lượng Người Việt Nam có câu: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại” Sự khoan dung, tình yêu thương của con người được thể hiện rất rõ trong các cuộc chiến thắng ngoại xâm từ những ngày đầu xây dựng quốc gia phong kiến như: nhà Trần đối với quân tướng Nguyên Mông, nhà Lê đối với quân tướng nhà Minh

Không dừng lại ở đó, khi đất nước có đến hai phần ba lịch sử là đối mặt với chiến tranh thì dân tộc Việt Nam lại trân trọng hòa bình hơn bất cứ quốc gia nào Nhân dân Việt Nam luôn cố gắng hết sức mình để tránh xảy ra các cuộc chiến tranh Chúng ta chỉ đứng lên chống lại sự xâm lăng của kẻ thù khi không còn con đường nào khác để giữ gìn hòa bình cho đất nước Và tinh thần yêu chuộng hòa bình, ghét chiến tranh của dân tộc ta thực chất cũng bắt nguồn từ truyền thống yêu thương con người Bởi hơn ai hết, mọi người đều hiểu rằng chiến tranh luôn đi liền với chết chóc, với đổ máu Dù máu của quân ta hay của địch phải đổ xuống thì đó cũng là điều không muốn đối với

Trang 29

29

một dân tộc có truyền thống yêu thương con người Chính vì lẽ đó, mà trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đã nhiều lần chống sự xâm lược, thống trị và nô dịch của các nước lớn phong kiến, tư bản đều nêu cao chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn, giữ quan hệ hòa hiếu, thân thiện với những quốc gia, dân tộc đã từng xâm lược, thống trị mình

* Thái độ tôn trọng, đề cao con người và những giá trị tốt đẹp của con người

Nền văn hóa Việt Nam thấm đẫm tinh thần nhân văn trước hết vì nó luôn đặt con người ở vị trí trung tâm, luôn coi con người là sự kết tinh những

gì tinh túy nhất của tạo hóa Rất nhiều câu tục ngữ của ông cha ta đã thể hiện

tư tưởng này như:“Người sống đống vàng”.“Một mặt người bằng mười mặt của”

Kế thừa truyền thống tốt đẹp đó, nhiều triều đại phong kiến Việt Nam độc lập trong lịch sử dân tộc đã “lấy dân làm gốc” trong việc ban hành các chủ trương, chính sách từ kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật, an ninh, ngoại giao

Sự tôn trọng con người còn được thể hiện một cách thiết thực hơn bằng việc quan tâm đến lợi ích của người dân Luôn chăm lo đến dân đã trở thành một tiêu chuẩn để đánh giá một ông vua có phải là minh quân hay không? Đúng như Nguyễn Trãi đã từng viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”

Tinh thần cố kết cộng đồng dân tộc cũng là một trong những giá trị đoàn kết dân tộc truyền thống của dân tộc ta

Gắn liền với sự ra đời của nhân loại, đoàn kết là quy luật phổ biến, là yếu tố nội sinh, phương châm sống, mục đích phải hướng tới và là phương pháp để tồn tại và phát triển của mỗi con người, gia đình, bộ tộc và cả quốc gia, dân tộc

Cơ sở, nguồn gốc của tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Chính trong hoàn cảnh luôn phải chống lại sự tàn phá của thiên tai và giặc ngoại xâm mà dân ta đã “đoàn kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung” Bởi lẽ, trong thử thách đầy

Trang 30

30

cam go, khắc nghiệt ấy, chỉ có đoàn kết một lòng, nhân dân ta mới có sức mạnh để vượt qua những âm mưu của giặc ngoại xâm, những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên để bảo tồn dân tộc, phát triển sản xuất để phục vụ đời sống của mình

Tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam được tạo dựng từ lý tưởng nhân văn cao đẹp là yêu nước, thương nhà và được biểu hiện rất phong phú,

đa dạng Chính tinh thần đoàn kết đã làm nên sức mạnh của dân tộc, không chỉ để đương đầu trực tiếp và đánh quân xâm lược mà cả trong xây dựng cuộc sống cho con người ngay sau khi giành được độc lập, đưa đến cho con người cuộc sống hạnh phúc hiện thực

* Đức tính cần cù, lạc quan, sáng tạo trong lao động

Cần cù, lao động, tiết kiệm là giá trị đạo đức lâu đời của nhân dân ta Chính điều kiện khó khăn trong lao động sản xuất và kiếm sống đã hình thành nên đức tính này ở người Việt Nam Lao động không chỉ là điều kiện tất yếu của quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người nói chung, của dân tộc

ta nói riêng mà còn là môi trường rèn luyện và phát triển những năng lực và phẩm chất tinh thần của con người

Là một nước nông nghiệp, nhân dân Việt Nam xây dựng đất nước trong hoàn cảnh tự nhiên khắc nghiệt, có những lúc mưa dầm thối đất, có những khi hạn hán kéo dài, ngập lụt sắp đến ngày thu hoạch lại bị thiên nhiên vùi dập Nhờ có tinh thần cần cù lao động mà “tổ tiên ta đã xây dựng được non sông gấm vóc trải dài từ các lưu vực sông Hồng Hà, Thái Bình đến các lưu vực sông Mã, sông Lam Người, đất, cần cù và lịch sử đấu tranh là gốc của nước”[11, tr 156 – 157]

Mặc dù lao động trong điều kiện khó khăn, nặng nhọc “hai sương, một nắng”; “chân lấm tay bùn”; “đầu tắt mặt tối”, nhưng nhân dân Việt Nam vẫn luôn lạc quan, tin tưởng vào những điều tốt đẹp phía trước Theo giáo sư Trần

Trang 31

31

Văn Giàu, lạc quan là “Một đức tính lớn từ thời thiên cổ” [11, tr 228] Chính niềm tin và sự lạc quan đã giúp người dân Việt Nam vượt quan khó khăn, thử thách trong cuộc sống chiến đấu, lao động và học tập Người Việt Nam cũng luôn tin tưởng, tự hào sâu sắc đối với giá trị cao quý và vẻ vang của lao động

Truyền thống cần cù lao động của dân tộc ta đã phát huy được sức mạnh của mình trong những cuộc chiến tranh nhân dân Đức tính cần cù lao động sáng tạo của người Việt Nam được thể hiện rõ nét trong các giai đoạn lịch sử khác nhau của dân tộc và đã góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc

* Tinh thần hiếu học, tôn sư trọng đạo

Được hình thành rất sớm, cùng với những ảnh hưởng tích cực của Nho

giáo, Phật giáo “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” Trong lịch sử dân tộc Việt Nam,

ông cha ta đặc biệt đề cao vai trò của giáo dục đối với việc xây dựng và bảo

vệ đất nước Lịch sử dân tộc đã chứng minh rằng từ nhiều năm nay, giáo dục đại học không chỉ là thước đo trình độ văn minh, văn hiến của dân tộc mà còn

là cơ sở đào tạo ra các thế hệ thiền tài – nhân tố quyết định sự hưng thịnh của các triều đại phong kiến Việt Nam Những nhà giáo nổi tiếng như Chu Văn

An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi đã trở thành tấm gương về tài trí, khí phách và văn hóa của một dân tộc hiếu học, giàu truyền thống tôn sư trọng đạo

Ngoài những giá trị truyền thống dân tộc kể trên còn phải kể đến các đức tính như: khiêm tốn, giản dị, trung thực, thủy chung Đó cũng là những đức tính tốt đẹp mà mỗi con người chúng ta cần phải quý trọng và giữ gìn

Với tư cách là một người thầy, một nhà giáo dục, một học giả có tiếng trong xã hội Việt Nam đương đại, Trần Trọng Kim đã tiếp thu, kế thừa thể hiện rất rõ trong việc lồng ghép những tư tưởng đó vào các bài học mà ông

biên soạn trong các cuốn sách giáo khoa như: Luân lý giáo khoa thư, Quốc

Trang 32

32

văn giáo khoa thư, Việt Nam văn phạm Tuy các tư tưởng đó được diễn giải

một cách ngắn gọn nhưng hàm chứa trong đó là những bài học sâu sắc, mang tính nhân văn, giáo dục cao

1.2.2 Tư tưởng phương Đông

Tư tưởng về luân lý, đạo đức của Trần Trọng Kim không chỉ kết tinh từ những giá trị truyền thống của dân tộc mà còn bắt nguồn từ tinh hoa văn hóa nhân loại cả phương Đông và phương Tây được ông kế thừa và phát triển Trong văn hóa phương Đông, Trần Trọng Kim đặc biệt coi trọng việc kế thừa

và phát triển những nhân tố tích cực của Nho giáo

Nho giáo là một học thuyết chính trị, xã hội của Trung Quốc gắn liền với tên tuổi người sáng lập ra là Khổng Tử

Vấn đề trung tâm của Nho giáo là con người, tư tưởng về con người Nho giáo coi mỗi cá nhân có quan hệ mật thiết tới sự tồn tại và phát triển của

xã hội Vì vậy, việc tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cá nhân luôn được coi trọng Trong Nho giáo, mọi sự thịnh, suy trong phạm vi gia đình, nhà nước đều có điểm xuất phát từ chỗ có hay không sự nỗ lực học tập, rèn luyện của những con người cụ thể Mỗi người phải chịu khó học tập, rèn luyện mới có khả năng làm tốt vai trò làm người chủ trong gia đình, người chủ đất nước

Nho giáo cho rằng tính Thiện của con người gồm 5 đức: Nhân, Nghĩa,

Lễ, Trí, Tín hay còn gọi là Ngũ thường Có Ngũ thường con người sẽ thực hiện Tam cương, ngũ luân (Tam cương là ba mối quan hệ cơ bản của xã hội: Vua – tôi, Cha – con, Chồng – vợ; Ngũ luân là năm mối quan hệ: Vua – tôi, Cha – con, Chồng – vợ, Anh – em, bạn bè) Ngũ thường là bản tính của con người, nó là phổ biến và vĩnh hằng Tính là do trời sinh Trời sinh ra tính thiện, thì trời cũng là thiện, cũng là tam cương ngũ thường cho nên tam cương ngũ thường là thường kính (quy luật hằng thường) của trời đất Thế thì tại sao trong xã hội lại có người thiện hay người ác?, Nho giáo chỉ ra rằng sở dĩ có

Trang 33

33

người ác là do khí bẩm sinh thụ mà thành Tức là họ đã nhiễm phải những thói hư, tật xấu từ chính cuộc đời này Do vậy, con người cần phải được giáo dục Mặt khác Nho giáo rất chú trọng đạo làm người, hướng vào rèn luyện đạo đức con người, đề cao giáo dục, giáo dục làm con người ác thành thiện Đây là quan điểm hết sức tiến bộ của Nho giáo

Nội dung chủ yếu của Nho giáo là chủ trương dùng “nhân trị”, “đức trị”

để quản lý xã hội, nêu lên một xã hội lý tưởng, xã hội “đại đồng”

Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam từ những năm đầu sau công nguyên Tiếp thu một học thuyết từ bên ngoài để làm giàu vốn trí thức, văn hóa của dân tộc là một sự thực khách quan qua các triều đại của dân tộc Việt Nam Trong ý thức hệ phong kiến mà người Hán đưa vào nước ta từ thời Bắc thuộc, Nho giáo tồn tại lâu bền và có ảnh hưởng sâu sắc trong nếp sống, lối suy nghĩ, tư tưởng của mỗi người

Nho giáo đã đem lại một bước tiến khá căn bản trong lĩnh vực văn hóa tinh thần của xã hội, trước hết nó làm cho nền giáo dục phát triển hết sức mạnh mẽ Nền giáo dục ấy cùng với chế độ thi cử đã đào tạo một đội ngũ trí thức đông đảo cho dân tộc Việt Nam như: Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du

Xuất thân trong một gia đình nhà Nho, được học chữ Hán từ nhỏ Đây

là một tiền đề rất quan trọng, giúp Trần Trọng Kim sớm được tiếp xúc với các học thuyết Nho giáo vốn đã được truyền bá và phát triển ở nước ta Ông có điều kiện thấu hiểu những tư tưởng cũng như nội dung chính mà đạo Khổng Mạnh đã để lại từ xưa như: các vấn đề chính trị, xã hội, về tam cương ngũ thường, cách ứng xử cũng như bổn phận của mỗi con người đối với cá nhân, gia đình và xã hội Trần Trọng Kim đã biết chắt lọc lấy những gì tinh túy nhất trong các học thuyết triết học, trong tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử, tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo Đó là các triết lý về một xã hội bình trị,

Trang 34

34

hòa mục, hòa đồng, là triết lý nhân sinh; là tam cương, ngũ thường, là tu thân dưỡng tính, đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học

Công phu lớn nhất của Trần Trọng Kim là ông đã viết được bộ sách

“Nho giáo” Trong bộ sách này, ông đã hệ thống, sắp đặt, chia các phần rất khéo, khoa học Có thể khẳng định rằng đây là cuốn sách nói về Nho giáo đầu

tiên ở Việt Nam tường tận, tinh tế đến vậy

Cùng với Nho giáo, Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, nó được truyền bá vào nước ta từ rất sớm

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Phật giáo Việt Nam đã có nhiều đóng góp đáng kể với sự phát triển kinh tế - xã hội của dân tộc trên nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục Có thể nói, Phật giáo được xem là một trong những nhân tố quan trọng góp phần định hình nên các quan niệm, hệ giá trị đạo đức trong xã hội, hướng con người tới chân, thiện, mỹ

Với những tư tưởng về “vô thường”, “vô ngã”, “từ, bi, hỷ, xả”, “nghiệp chướng”, “luân hồi”, “nhân quả” Phật giáo đã phần nào đáp ứng nhu cầu về tâm linh của người dân Do đó, Phật giáo đã nhanh chóng tạo lập được cơ sở thực tiễn vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của mình trên đất nước Việt Nam Cùng với quá trình du nhập và phát triển đó, những chuẩn mực đạo đức Phật giáo cũng xâm nhập và tác động nhất định đến nền đạo đức của dân tộc Việt Nam Đạo đức Phật giáo đã góp phần hình thành nên những giá trị đạo đức mới, phù hợp với tâm lý, đạo đức của người Việt, làm phong phú và sâu sắc thêm hệ giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc

Đối tượng mà Phật giáo hướng tới trong lĩnh vực đạo đức xã hội chính

là con người với tư cách là chủ thể chịu trách nhiệm với chính cuộc đời của mình

Thuyết nhân quả của Phật giáo đã chỉ ra rằng: con người tự chịu trách nhiệm về hạnh phúc hay khổ đau bằng hành vi của chính mình chứ không phải do may rủi, định mệnh hay thần linh trừng phạt Giá trị của thuyết này

Trang 35

35

chính là việc khẳng định con người làm chủ được cuộc đời của mình, đặt con người vào đúng vị trí, vai trò của nó trong xã hội Trên cơ sở đó, đạo đức Phật giáo giúp con người phát huy hết những đặc tính ưu việt, giảm thiểu những nhân tố đưa tới sự bất lợi cho bản thân, gia đình, xã hội

Từ việc xác định đối tượng, Phật giáo cũng đề cập đến mục đích chủ yếu của Phật giáo Trước hết, đạo Phật hướng đến việc giải thoát con người khỏi vô minh, phiền não, giác ngộ thành Phật Xã hội lý tưởng mà Phật giáo hướng đến đó là thế giới Tịnh độ, bình đẳng, hòa bình, an vui

Tuy nhiên, không phải đạo Phật khuyên con người hướng tới một thế giới an lạc hư ảo nào mà đó chính là một cuộc sống hiện thực này Đối với đạo Phật, muốn thay đổi cuộc sống từ khổ đến an vui, hạnh phúc thì không có

gì hơn là chuyển hóa nội tâm theo luật nhân quả, nhân duyên sinh của vũ trụ

để an lạc hưởng phúc ở hiện tại Mục đích của Phật giáo là hướng dẫn, chỉ dạy cho con người con đường khai mở tâm thức, phát triển trí tuệ trực giác, hướng đến giác ngộ, giải thoát

Phật giáo quan niệm “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính” hay là “Phật

là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành” Điều này cũng có nghĩa là tất

cả mọi người đều bình đẳng về mặt nghiệp báo, luân hồi và về phương diện thành tựu chính quả Giá trị của tư tưởng bình đẳng của Phật giáo ở đây chính

là đường lối giáo dục bình đẳng không phân biệt Trong lĩnh vực giáo dục đạo đức xã hội, tư tưởng của Phật giáo thực sự có ý nghĩa, khi thừa nhận Phật tính nơi con người Theo đó, bất kỳ ai cũng có khả năng hướng thiện, có đạo đức nếu biết cách tu dưỡng, rèn luyện

Thông qua Phật giáo chúng ta có thể tìm thấy nhiều nội dung, tư tưởng mang tính giáo dục sắc của Phật giáo Mục tiêu của đạo Phật là con người giác ngộ, con người có năng lực tự giải thoát để đạt tới hạnh phúc Có thể nói, Phật giáo đã mang đến một quan niệm tiến bộ, bình đẳng và đề cao vai trò của

Trang 36

36

con người trong hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, cũng theo Phật giáo, trong quá trình vươn lên hoàn thiện mình, con người cần lắm vững quy luật khách quan, phải có những phương thức hành động đúng đắn, hợp quy luật “Giới”

là phương tiện dẫn dắt con người thoát khỏi vô minh, bể khổ, luân hồi, tới chốn an lạc, giải thoát Không chỉ vậy, giới còn là điều kiện tối quan trọng trong việc tu thân Do vậy, giới cũng đồng nghĩa với việc con người tự rèn luyện, trau dồi đạo đức Ngũ giới góp phần hướng tới con người đi đến sự hoàn thiện trong tư tưởng, hành vi, bồi dưỡng nhân cách theo nhân sinh quan Phật giáo

Như vậy, Phật giáo trong suốt quá trình lịch sử ngày càng khẳng định vai trò quan trọng đối với vấn đề giáo dục đạo đức xã hội Quan điểm nghiệp báo luân hồi của nhà Phật hàm chứa nội dung giáo dục rất lớn Giáo lý nhà Phật có tác dụng điều chỉnh ý thức và hành vi đạo đức cho con người, nâng

đỡ, khơi dậy tình thương yêu, đức vị tha, làm điều thiện, tránh điều ác tất cả

đó đều là những nội dung mang tính đạo đức của Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến mỗi con người trong xã hội Điều này góp phần hoàn thiện đạo đức cho từng cá nhân cũng như có lợi cho việc xây dựng một nền đạo đức tốt đẹp trong xã hội

Trần Trọng Kim tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc các tư tưởng của Phật giáo như: vị tha, cứu khổ cứu nạn, nếp sống có đạo đức trong sạch, giản

dị, chăm lo làm việc thiện…được ông thể hiện rất rõ nét trong các cuốn sách như: Phật giáo, Phật lục, Phật giáo thuở xưa và Phật giáo ngày nay đặc biệt

trong cuốn “Phật giáo”với 5 chương và một bản phụ lục Soạn giả đã nói rõ

về tiểu sử và hành trạng Thích Ca, nêu rõ về các vị Phật tổ, các vị Bồ tát Có chương thuật rõ về các tượng trong những ngôi chùa ở Việt Nam, từ tượng Tam thế đến Bát bộ kim cương Phần phụ lục nói đến một ngôi chùa lớn ở nước ta Với các môn đồ Phật tử cũng như quần chúng nói chung thì quyển

Trang 37

37

sách Phật lục của Trần Trọng Kim là một tài liệu phổ thông, biên soạn rất có phương pháp, có giá trị sử dụng lớn vào thời điểm lúc bấy giờ

1.2.3 Tư tưởng phương Tây

Cùng với những tư tưởng triết học phương Đông, Trần Trọng Kim còn tiếp thu ảnh hưởng nền văn hóa phương Tây: tư tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái, tư tưởng về nền giáo dục nhân bản lấy con người làm gốc, tôn trọng giá trị con người, đặc biệt là truyền thống văn hóa dân chủ, tiến bộ của nước Pháp

So với các tôn giáo khác du nhập vào Việt Nam thì Công giáo là tôn giáo trẻ vì nó mới được truyền đến Việt Nam từ thế kỉ XVI, đã đem lại cho một bộ phận dân chúng nguời Việt một niềm tin tôn giáo mới Đó là một tôn giáo nghiêm chỉnh, với một nền thần học cao siêu, những giáo lý chặt chẽ và nhất là một hệ thống đạo đức giàu tính nhân văn, rất gần gũi với đạo lý đời thường cũng như những quan điểm chung với hệ thống đạo đức, luân lý của các tôn giáo đang hiện diện ở Việt Nam

Tôn giáo này cũng tập hợp các giáo hữu của mình thành những cộng đồng có nếp sống văn hóa đặc trưng văn hóa Kitô giáo Đó là một cộng đồng gắn bó với nhau rất chặt chẽ trong một Đức tin không thể lay chuyển, trong một hệ thống giáo luật không thể vi phạm, trong một tổ chức nhân sự chặt chẽ cùng với những lễ nghi tôn nghiêm, những sinh hoạt tâm linh mang tính quy phạm và thống nhất rất cao, tạo nên trong mỗi người giáo hữu một cuộc sống tinh thần ổn định, thăng bằng, tin tưởng vào cuộc sống hiện tại cũng như ở thế giới bên kia, một ý thức tự tu dưỡng về phẩm cách để xứng đáng được hưởng phúc trong cuộc sống nơi trần thế cũng như trong cõi vĩnh hằng

“Cộng đồng Công giáo không chỉ lo cho bản thân mình mà còn rất quan tâm đến đời sống của người ngoại đạo, xuất phát từ một nguyên lý đạo đức tối trọng của đạo Công giáo là tình yêu thương đồng loại Trong những điều kiện hoàn cảnh cho phép, người theo đạo Công giáo không quản khó

Trang 38

38

khăn, tốn kém để cưu mang những người ngoại đạo trong cơn hoạn nạn bằng nhiều hình thức khác nhau và luôn khuyến dụ người bên đời cải giáo để được hưởng ơn cứu rỗi của Chúa, với một động cơ rất chân thành và vô tư”.[28,tr 90]

Không chỉ dừng lại ở tình thương, Công giáo rất chú trọng về đạo hiếu

và coi đạo hiếu như nền tảng của mình nên Công giáo phù hợp với tinh thần hiếu thảo của dân tộc ta Công giáo quan niệm vũ trụ như một đại gia đình, trong đại gia đình đó, Chúa là cha mẹ sinh ra tất cả và tất cả mọi tạo vật là anh em

Như vậy, khi đưa quan niệm về đạo hiếu vào nền văn hóa dân tộc thì người Công giáo đã hoàn thiện quan niệm hiếu thảo đối với cha mẹ vốn sẵn

có trong nền văn hóa Việt Nam, làm cho quan niệm về đạo hiếu của dân tộc được nâng lên và đầy đủ hơn

Năm 1905, Trần Trọng Kim sang Pháp học, cũng chính tại nơi đây ông cũng đã chịu ảnh hưởng rộng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây Đặc biệt là đến với nước Pháp – trung tâm văn hóa nghệ thuật của Châu

Âu, các trào lưu triết học và các trường phái nghệ thuật nổi tiếng phần lớn đều được hình thành và ra mắt tại đây Sống ở giữa nơi hội tụ của các dòng văn hóa thế giới, ông đã có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng lĩnh hội vốn tri thức của thời đại, đặc biệt là truyền thống văn hóa dân chủ và tiến bộ của nước Pháp

Đến với quê hương của lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, Trần Trọng Kim sớm được tiếp xúc trực tiếp với các tư tưởng, tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng như: Vôn - te; Rút xô; Môngtexkiơ, những lý luận gia của cách mạng Pháp năm 1789

Triết học khai sáng Pháp là trào lưu tư tưởng nảy sinh và phát triển trong bối cảnh lịch sử đặc thù – những biến động mạnh mẽ của xã hội Pháp trong thế kỷ XVIII Là vũ khí lý luận của giai cấp tư sản Pháp trong thời kỳ chuẩn bị cách mạng, các nhà khai sáng Pháp thông qua ngòi bút của mình có

Trang 39

39

nhiệm vụ phải thu hút và tập hợp đông đảo mọi tầng lớp tiến bộ trong xã hội, hướng tới cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chế độ phong kiến Vì vậy trong các tác phẩm của họ thường xuyên đề cập đến những vấn đề tiến bộ xã hội, tự do con người

Đầu tiên phải kể đến Môngtexkiơ, một trong những nhà sáng lập ra triết học khai sáng Pháp Tác phẩm có giá trị nhất của ông là “Tinh thần pháp luật” Trong tác phẩm ông cho rằng phần thiêng liêng nhất, quý giá nhất nơi con người là tự do Tự do cao cả thống nhất với lý trí, với thiên tính và nhân tính Môngtexkiơ thể hiện ý chí và khát vọng xây dựng một xã hội mới, đem lại tự do cho con người

Một trong những tên tuổi được ngưỡng mộ nhiều nhất tại Châu Âu khai sáng thế kỷ XVIII là Vonte Tuyên ngôn của ông: tự do – bình đẳng – sở hữu Nền cộng hòa tốt phải đảm bảo tốt ba nguyên tắc đó

Rútxo là nhà tư tưởng vĩ đại, là nhà biện chứng lỗi lạc của triết học khai sáng Pháp Quan điểm triết học của Rútxo là đề cao con người tự nhiên, chống lại con người xã hội, đấu tranh cho nền giáo dục dân chủ, tự do, lên án

xã hội đương thời chà đạp, nô dịch và làm tha hóa con người Những lý tưởng

về cải tạo xã hội được ông gửi gắm vào các tác phẩm: Bàn về khế ước xã hội (1761), Suy diễn về nguồn gốc và cơ sở của sự bất bình đẳng (1755)

Trên cơ sở tiếp thu những tư tưởng của các nhà triết học khai sáng Pháp, đó chính là tiền đề cho những quan niệm của Trần Trọng Kim về: công bình và nhân ái, lòng nhân ái, sự bố thí, sự khoan dung

Từ những giá trị truyền thống của dân tộc rồi đến sự ảnh hưởng, tiếp thu của tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây, những tư tưởng tiến bộ mang tính nhân văn, dân chủ chính là những tiền đề quan trọng cho sự hình thành tư tưởng về luân lý, đạo đức của Trần Trọng Kim sau này

Trang 40

40

1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Trọng Kim

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Trọng Kim

Trần Trọng Kim (1883-1953), tự là Lệ Thần là người ở làng Kiều Lĩnh,

xã Đan Phổ (nay là Xuân Phổ) huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh – đây được coi

là một vùng đất văn vật Phía Đông là biển, phía Nam là Hồng Lĩnh, phía Tây

là huyện Hưng Nguyên và thành phố Vinh, phía Bắc có đảo Song Ngư Các nhà văn hóa lớn của nước ta hầu như đều sinh ra ở đây như: Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Chính Nghị Họ Trần của Trần Trọng Kim là một

họ lớn Hầu như cả xã Đan Phổ là họ Trần

Trần Trọng Kim sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho giáo

Cụ thân sinh ra Trần Trọng Kim là Trần Bá Huân, có tham gia phong trào Cần Vương Em gái là Trần Thị Liên, một cán bộ Xô Viết, hoạt động năm 1930 và mất vào năm 1964

Họ Trần của Trần Trọng Kim còn có ông Trần Sĩ Đức, học giỏi thi hạch đỗ đầu nên gọi là Huyện Đức Ông tham gia phong trào Đông Du, thiên

về chế tạo súng rồi bị bắt, nhưng tiếng tăm của ông khá trội ở Hà Tĩnh Lớp

em họ của ông Kim còn có những thầy giáo dạy giỏi như các thầy Trần Văn Kiêm, Trần Trọng Tính công tác ở trường Minh Tân, trường Lễ Văn ở thành phố Vinh (khoảng từ năm 1939 về sau)

Năm 1897, ông học trường Pháp - Việt ở Nam Định, học chữ Pháp Năm 1900, ông thi đỗ vào trường Thông Ngôn và đến năm 1903 thì tốt nghiệp Năm 1904, ông làm Thông sự ở Ninh Bình

Năm 1905, Trần Trọng Kim được một hãng buôn tư nhân cử sang Pháp làm việc Tại Pháp, lúc đầu ông học trường Thương mại ở Lyon Năm 1908 ông được nhận học bổng vào trường thuộc địa Pháp – trường Đại học Sư phạm Melun

Ngày đăng: 11/11/2016, 20:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Trọng Báu (2015) , Giáo dục Việt Nam thời cận đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam thời cận đại
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
2. Trần Văn Chánh (2013), Học giả Trần Trọng Kim, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, số 6-7 tr104-105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu và phát triển
Tác giả: Trần Văn Chánh
Năm: 2013
3. Nguyễn Hữu Châu (2007), Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
4. Doãn Chính (2004), Đại cương lịch sử Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đại cương lịch sử Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
5. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ biên) (2003), Mấy vấn đề đạo đức trong trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề đạo đức trong trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
6. Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng (2002), Đạo đức học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
7. Vũ Trọng Dung, Giáo trình Đạo đức học Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đạo đức học Mác – Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
8. Lê Quang Dũng (2004), Giáo dục là khuôn đúc tương lai của một quốc gia, Tạp chí Tia sáng, số 10. Tr 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tia sáng
Tác giả: Lê Quang Dũng
Năm: 2004
9. Đại học, Trung dung, Tứ thơ (1996), Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học, Trung dung, Tứ thơ
Tác giả: Đại học, Trung dung, Tứ thơ
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1996
10. Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn: Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
11. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1980
12. G.Bandzeladze (1985), Đạo đức học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: G.Bandzeladze
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
13. Phạm Minh Hạc (1992), Sơ thảo giáo dục Việt Nam (1945 – 1992), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo giáo dục Việt Nam (1945 – 1992)
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
14. Phạm Xuân Hòa (1949), Từ nội các Trần Trọng Kim đến Chính phủ Bảo Đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ nội các Trần Trọng Kim đến Chính phủ Bảo Đại
Tác giả: Phạm Xuân Hòa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1949
15. Lê Mậu Hãn (2006), Đại cương lịch sử Việt Nam. Tập III, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam. Tập III
Tác giả: Lê Mậu Hãn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
16. Trần Thị Hạnh (2012), Quá trình chuyển biến tư tưởng của nho sĩ Việt Nam trong 30 năm đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình chuyển biến tư tưởng của nho sĩ Việt Nam trong 30 năm đầu thế kỷ XX
Tác giả: Trần Thị Hạnh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
18. Phạm Quang Hưng (2013), Triết học chính trị xã hội của I.Kant, J.G Fichte và G.W. F. Heghel, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học chính trị xã hội của I.Kant, J.G Fichte và G.W. F. Heghel
Tác giả: Phạm Quang Hưng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
20. Nguyễn Quang Hưng (2013), Văn hóa tôn giáo và quan niệm của Phan Bội Châu và Trần Trọng Kim về văn hóa tôn giáo, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 3 (117) – tr.3-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Quang Hưng
Năm: 2013
21. Trần Đình Huợu (1994), Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến hiện đại từ truyền thống
Tác giả: Trần Đình Huợu
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1994
22. Nguyễn Văn Kiệm (1972), Lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Kiệm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1972

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w