1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông qua thực tiễn quận hai bà trưng, TP hà nội

107 971 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, quận Hai Bà Trưng đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong cải cách hành chính đặc biệt là cải cách TTHC, đã có nhiều chuyển biến tích cực, cơ chế một cửa, một cửa liên thô

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người thực hiện

Lưu Xuân Trịch

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục bảng, sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG 8

1.1 Khái quát chung về thủ tục hành chính 8

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc của thủ tục hành chính 8

1.1.2 Vai trò của thủ tục hành chính 9

1.1.3 Phân loại thủ tục hành chính 10

1.2 Cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam 13

1.2.1 Sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính 13

1.2.2 Mục tiêu của cải cách thủ tục hành chính 15

1.2.3 Các yêu tố tác động trực tiếp đến cải cách thủ tục hành chính 15

1.3 Cải cách thủ tục hành chính ở một số nước trên thế giới 17

1.3.1 Hàn Quốc 17

1.3.2 Singapore 18

1.3.3 Nhật Bản 19

1.3.4 Trung Quốc 20

1.3.5 Cải cách thủ tục hành chính ở Đức 22

1.3.6 Thực hiện cơ chế một cửa ở Thụy Điển 22

1.3.7 Một số nhận xét 23

1.4 Khái niệm, nguyên tắc, mục đích, lợi ích của việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông 24

1.4.1 Khái niệm cơ chế một cửa, một cửa liên thông 25

1.4.2 Các nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông 26

1.4.3 Mục đích của việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông 26

1.4.4 Lợi ích của việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông 26

Trang 5

1.5 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Bộ phận tiếp nhận và trả

kết quả 27

1.5.1 Cơ cấu tổ chức 27

1.5.2 Chức năng, nhiệm vụ của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 28

1.6 Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại 28

1.7 Dịch vụ công trực tuyến (hay còn gọi là dịch vụ công điện tử) 28

1.7.1 Khái niệm 28

1.7.2 Vai trò của dịch vụ công trực tuyến 29

1.7.3 Các tiêu chí đánh giá dịch vụ công trực tuyến 29

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG QUẬN HAI BÀ TRƯNG 31

2.1 Khái quát chung về quận Hai Bà Trưng 31

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của quận Hai Bà Trưng 31

2.1.2 Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND quận Hai Bà Trưng 32

2.1.3 Nguyên tắc làm việc của UBND quận Hai Bà Trưng 33

2.1.4 Mỗi quan hệ công tác của UBND quận Hai Bà Trưng 33

2.2 Thực trạng về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại quận Hai Bà Trưng 34

2.2.1 Việc ban hành các văn bản thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại quận Hai Bà Trưng 34

2.2.2 Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông 37

2.2.3 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND quận Hai Bà Trưng 42

2.2.4 Về cơ sở vật chất, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin phục vụ công tác cải cách thủ tục hành chính 44

2.2.5 Kết quả rà soát thủ tục hành chính tại quận Hai Bà Trưng 48

2.2.6 Thực trạng cải cách thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực cụ thể 50

2.3 Thủ tục hành chính trước khi áp dụng cơ chế một cửa và một cửa liên thông 69

2.4 Đánh giá những thành công và hạn chế của thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại quận Hai Bà Trưng 69

2.4.1 Những mặt đã đạt được 69

Trang 6

2.4.2 Những mặt hạn chế 72

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế trên 74

2.4.4 Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông 77

Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI QUẬN HAI BÀ TRƯNG 79

3.1 Quan điểm và yêu cầu đối với cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại quận Hai Bà Trưng 79

3.2 Phương hướng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông 80

3.3 Một số giải pháp chủ yếu 81

3.3.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị đối với công cuộc cải cách hành chính nói chung, cải cách thủ tục hành chính nói riêng 81

3.3.2 Tập trung rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính 82

3.3.3 Nâng cao mức độ hài lòng của người dân đối với việc thực hiện các thủ tục hành chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng 83

3.3.4 Cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính 84

3.3.5 Về công tác cán bộ 85

3.3.6 Xây dựng quy trình và niêm yết công khai thủ tục hành chính 86

3.3.7 Xây dựng hệ thống các tiêu chí cơ bản để đánh giá, phân loại kết quả hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 87

3.3.8 Giải quyết thủ tục hành chính theo hướng liên thông 87

3.3.9 Giải pháp về ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách thủ tục hành chính 89

3.3.10 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật 91

3.3.11 Giải pháp về thanh tra, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện giải quyết thủ tục hành chính 91

3.3.12 Cải thiện điều kiện làm việc, chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức 92

3.4 Kiến nghị 92

3.4.1 Đối với Chính phủ 92

3.4.2 Đối các bộ, ban, ngành 93

3.4.3 Đối với Thành phố Hà Nội 94

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Kết quả giải quyết thủ tục hành chính năm 2014, 2015 và 5

Sơ đồ 2.1: Quy trình tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả hồ sơ hành

Sơ đồ 2.2: Quy trình tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả hồ sơ hành

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Ngày nay, cải cách hành chính luôn là vấn đề mang tính toàn cầu Các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển đều xem cải cách hành chính như một động lực tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, đem lại dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế

đó Trong những năm vừa qua, cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính (TTHC) nói riêng luôn là một trong những nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Cải cách hành chính ở Việt Nam được triển khai trên nhiều nội dung: Cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính [7], trong đó cải cách thủ tục hành chính là khâu quan trọng và được đặt ra ngày từ đầu của tiến trình cải cách Thủ tục hành chính liên quan không chỉ đến công việc nội bộ của mỗi cơ quan, mà còn đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ với Nhà nước Các quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp hay các văn bản pháp luật khác có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào, về cơ bản đều thông qua thủ tục hành chính do các cơ quan nhà nước quy định và trực tiếp thực hiện

Để cụ thể hóa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về cải cách hành chính, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản và tổ chức thực hiện như: Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/06/2007 của Chính phủ về việc Ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước

ở địa phương (nay được thay thế bằng quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/03/2015 của Thủ tướng chính phủ); Nghị quyết 25/NQ-CP ngày 2/6/2010 về đơn giản hóa thủ tục hành chính; Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/06/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà

Trang 10

nước giai đoạn 2011-2020 Thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 84/2009/QĐ-UBND ngày 01/07/2009, về ban hành Quy định thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân tại các cơ quan hành chính nhà nước thuộc thành phố Hà Nội nay được thay thế bằng Quyết định số 07/2016/QĐ-UBND ngày 8/3/2016 và nhiều văn bản ban hành về cải cách hành chính khác

Cải cách thủ tục hành chính bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào thành tựu chung của đất nước Thủ tục hành chính, nhất là thủ tục giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính nhà nước với người dân và doanh nghiệp

có bước chuyển biến rõ rệt, tăng cường công khai, minh bạch, góp phần phòng chống tiêu cực, nhũng nhiễu Cải cách thủ tục hành chính trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, đầu tư, thuế, hải quan, chế độ chính sách, đã có những bước tiến quan trọng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Cơ chế một cửa, một cửa liên thông tiếp tục được thực hiện có hiệu quả Đến nay, hầu hết các địa phương trong cả nước đã triển khai mô hình một cửa, một cửa liên thông tại các cấp chính quyền

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế Hiện nay thủ tục hành chính ở nước ta còn nhiều nhược điểm: Cứng nhắc (hợp pháp nhưng nhưng chưa phù hợp thực tế), hình thức đòi hỏi quá nhiều giấy tờ, rườm rà, chồng chéo, nhiều cấp trung gian Thủ tục hành chính thiếu thống nhất, thường bị thay đổi một cách tuỳ tiện Bên cạnh đó, việc ban hành thủ tục hành chính có lúc, có nơi còn tuỳ tiện, kể cả ban hành "giấy phép con" Việc tổ chức thực hiện TTHC của các cơ quan công quyền còn nhiều hạn chế, có nơi còn chưa thực hiện đúng quy định; trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, cán bộ, công chức trực tiếp thụ lý hồ sơ còn chưa đáp ứng được yêu cầu; cách thức giải quyết công việc vẫn còn hiện tượng cửa quyền, hạch sách, chậm trễ theo lối dân cần, quan không vội

Uỷ ban nhân dân (UBND) quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, có 236 thủ

Trang 11

tục hành chính thuộc thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết trên các lĩnh vực: Tài chính – Kế hoạch; Công thương, Nông nghiệp, Tài nguyên - Môi trường, Đô thị, Tư pháp, Giáo dục, Y tế, Nội vụ, Văn hóa – Thông tin, Lao động Thương binh và Xã hội, Thanh tra Trong những năm qua, quận Hai Bà Trưng đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong cải cách hành chính đặc biệt là cải cách TTHC, đã có nhiều chuyển biến tích cực, cơ chế một cửa, một cửa liên thông được thực hiện nghiêm túc, việc bố trí

cơ sở vật chất, phân công cán bộ có năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhiều thủ tục hành chính đã được giải quyết rút ngắn so với thời gian quy định, bước đầu

đã tạo được thuận lợi cho nhân dân Song cũng như nhiều địa phương khác, việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức vẫn còn nhiều bất cập như đã nêu ở trên

Vì vậy, nghiên cứu về cải cách thủ tục hành chính nói chung cũng như thực

tế của quận Hai Bà Trưng nói riêng, nhằm làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của cải cách thủ tục hành chính, chỉ ra những nguyên nhân của các hạn chế, trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc theo thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức là một điều cấp thiết hiện nay Do vậy, việc

chọn đề tài “Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông - qua thực tiễn quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ luật

học để nghiên cứu là đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Khái quát được các vấn đề lý luận về cải cách thủ tục hành chính, về cơ chế một cửa, một cửa liên thông Phân tích, đánh giá được thực trạng cải cách thủ tục hành chính tại quận Hai Bà Trưng Đề xuất những giải pháp thích hợp nhằm cải cách thủ tục hành chính của quận Hai Bà Trưng

Trang 12

Đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm thực hiện cải cách thủ tục hành chính của quận Hai Bà Trưng

1.3 Tính mới của đề tài

Nhìn nhận cải cách thủ tục hành chính của quận Hai Bà Trưng một cách tổng quát, khách quan trong mối liên hệ với việc xây dựng và phát triển Thủ đô trong thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế

Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông; vai trò, tác dụng của ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong cải cách TTHC, xây dựng Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại

Đánh giá một cách toàn diện thực trạng thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông quận Hai Bà Trưng

Đưa ra quan điểm, giải pháp cải cách TTHC của quận Hai Bà Trưng

1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

Nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Phạm vi nghiên cứu: Trong khuân khổ hạn chế của một luận văn thạc sỹ, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về lý luận và thực tiễn cải cách thủ tục hành chính tại UBND quận Hai Bà Trưng Từ đó có sự đánh giá về thực trạng

và một số giải pháp tiếp tục cải cách TTHC hiện nay và những năm tiếp theo

Về mặt thời gian nghiên cứu thực trạng cải cách thủ tục hành chính từ khi có quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/06/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông có hiệu lực thi hành cho đến nay

1.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Cải cách thủ tục hành chính là một trong những nội dung quan trọng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Cải cách thủ tục hành chính là

Trang 13

chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm Trước hết cần kể tới các công trình khoa học có tính giáo khoa như: giáo trình Luật hành chính - Đại học luật Hà Nội, giáo trình Thủ tục hành chính - Học viện Hành chính Quốc gia; Giáo trình Luật hành chính Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, trong đó đã đề cập tới khái niệm, đặc điểm, các giai đoạn, các nguyên tắc của thủ tục hành chính Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu chuyên sâu như:

Nguyễn Văn Thâm (2002), (Chủ biên), Thủ tục hành chính, lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu về thủ tục hành chính đi từ khái niệm, phân loại, đặc điểm, ý nghĩa của việc cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam và có những phân tích các thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực

Cuốn sách: Cải cách quy trình và thủ tục hành chính về đầu tư, đất đai và xây

dựng- Sổ tay tham khảo về cải cách hành chính dành cho địa phương, được xuất

bản vào tháng 5/2011, thực hiện bởi tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

Cuốn sách là sự đúc kết lý luận, thông lệ Quốc tế và thực tiễn nhiều năm của IFC (International Finance Corporation: Công ty tài chính quốc tế), CIEM (Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương) và VCCI (Phòng Công nghiệm và Thương mại Việt Nam) trong hỗ trợ cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh ở các địa phương nước ta Cuốn sách đã giới thiệu các công cụ phân tích và các nhóm giải pháp cải cách, đơn giản hoá tủ tục về đầu tư, đất đai và xây dựng và một số lĩnh vực khác Cuốn sách đươ ̣c chia làm 3 phần chính gồm : Tổng quan quy trình thủ tục hành chính về đầu tư , đất đai, xây dựng, phần này tóm tắt thực tra ̣ng và mô ̣t số cải cách gần đây của Chính phủ và các địa phương Phần hai là các công cu ̣ phân tích giới thiê ̣u mô ̣t số công cu ̣ phân tích để các đi ̣a phương tham khảo , sử du ̣ng vào viê ̣c đánh giá thực tra ̣ng và th iết kế giải pháp cải thiê ̣n Và phần ba là các công cụ cải cách hành chính , phần này giới thiê ̣u mô ̣t số mẫu mô hình mô ̣t cửa , mẫu quy trình giải quyết thủ tục đầu tư, đất đai và xây dựng

Cuốn sách là tài liệu cần thiết để các địa phương, các ngành có liên quan

Trang 14

tham khảo, nghiên cứu về các mô hình một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết các vụ, việc theo thủ tục hành chính; về các công cụ phân tích, đánh giá thực trạng và thiết kế các giải pháp cải tiến về quy trình cách thức thực hiện thủ tục hành chính

Cuốn tập hợp các bài viết về cải cách hành chính của Việt nam với tựa đề

“Cải cách hành chính Việt Nam, hiểu và nghĩ, nói và làm” được thực hiện bởi Nhóm dự án sáng kiến cải cách hành chính công của ActionAid Việt Nam xuất bản năm 2010, tập hợp những bài viết của các nhà khoa học, nhà quản lý về cải cách hành chính ở Việt Nam, khá sâu sắc, chứa đựng những quan điểm triết lý, những suy nghĩ đa chiều về cải cách hành chính vừa mang tính học thuật, mang tính lý luận và thực tiễn cao

Ngoài ra còn có các bài báo khoa học về cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính đăng trên các tạp chí khoa học khác nhau

Các công trình nghiên cứu nói trên tuy không trực tiếp nghiên cứu về cải cách thủ tục hành chính của quận Hai Bà Trưng nhưng đã cung cấp cho tác giả luận văn những kiến thức lý luận và gợi mở những vấn đề có ý nghĩa để tiếp thu, vận dụng trong quá trình nghiên cứu làm luận văn; để đưa ra được những đánh giá, những giải pháp về cải cách thủ tục hành chính phù hợp với điều kiện thực tế ở mỗi địa phương và đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế

2 Nội dung, địa điểm, phương pháp nghiên cứu

2.1 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu về TTHC, về mô hình một cửa, một cửa liên thông

Nghiên cứu, rà soát các văn bản pháp luật là cơ sở để thực hiện cải cách thủ tục hành chính

Nghiên cứu, đánh giá về thực trạng giải quyết các vụ, việc theo thủ tục hành chính tại quận Hai Bà Trưng Tìm ra các nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến cải cách thủ tục hành chính

Xây dựng các giải pháp để thực hiện cải cách TTHC tại quận Hai Bà Trưng

Trang 15

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về quản lý nhà nước; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, của Nhà nước ta về cải cách hành chính; quan điểm khoa học của các nhà khoa học ở trong và ngoài nước về cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính Để thực hiện nhiệm vụ đặt ra của luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: nghiên cứu các tài liệu thứ cấp; phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, nghiên cứu thực tiễn, lịch sử cụ thể, phương pháp thống kê

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu cải cách thủ tục hành chính được thực hiện trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

3 Đóng góp của luận văn

Về mặt lý luận, góp phần làm sáng tỏ hệ thống lý luận về TTHC, về cơ chế một

cửa, một cửa liên thông ở nước ta làm cơ sở lý luận cho các nghiên cứu khoa học

Về mặt thực tiễn, Luận văn là một công trình nghiên cứu, đánh giá được một

cách tổng thể cải cách thủ tục hành chính tại quận Hai Bà Trưng, những đòi hỏi về mặt khách quan và chủ quan ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác cải cách thủ tục hành chính

Đưa ra giải pháp hữu hiệu trong việc cải cách thủ tục hành chính thực hiện

cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại quận Hai Bà Trưng và cũng là giải pháp cho cải cách TTHC đối cấp huyện của Thủ đô Hà Nội

4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh sách các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Những vấn đề lý luận về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế

một cửa, một cửa liên thông

Chương 2 Thực trạng thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một

cửa liên thông quận Hai Bà Trưng

Chương 3 Những giải pháp tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính tại

quận Hai Bà Trưng

Trang 16

Chương 1

NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG

1.1 Khái quát chung về thủ tục hành chính

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc của thủ tục hành chính

Hoạt động hành chính chính cũng như mọi hoạt động nhà nước khác, hay để làm, để giải quyết một vụ việc bất kỳ cụ thể nào đó, đều phải thực hiện những hành động nhất định theo trình tự thời gian và cách thức nhất định

Trong khoa học Luật hành chính Việt Nam có nhiều quan niệm khác nhau về

thủ tục hành chính, có quan niệm cho rằng “Thủ tục hành chính là trình tự và cách

thức thực hiện hoạt động hành chính nói chung, hoặc là trình tự và cách thức thực hiện những hoạt động cụ thể trong các ngành và lĩnh vực hoạt động hành chính và

do luật hành chính quy định” [35]; người khác quan niệm thủ tục hành chính là

trình tự và cách thức thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước; theo Nghị định 63/2010/NĐ-CP, ngày 8/6/2010 của Chính phủ về Kiểm soát thủ tục

Thủ tục hành chính khác với thủ tục lập pháp, tố tụng trong tư pháp và các thủ tục khác bởi các đặc điểm sau đây: Thủ tục hành chính được luật hành chính

quy định chặt chẽ; thủ tục hành chính được thực hiện chủ yếu ngoài trình tự Tòa

án; các quy phạm thủ tục hành chính không chỉ quy định thủ tục thực hiện quy phạm vật chất của ngành luật hành chính, mà cả quy phạm vật chất của hầu hết

các ngành luật khác [35]

Trang 17

Thủ tục hành chính, cũng như các loại thủ tục pháp lý khác, được thực hiện trên cơ sở những nguyên tắc được Hiến pháp Việt Nam quy định trực tiếp hoặc gián tiếp, và được cụ thể hóa, chi tiết hóa và bổ sung trong các văn bản pháp luật về thủ tục hành chính trong các lĩnh vực

Thủ tục hành chính có các nguyên tắc sau đây: Nguyên tắc pháp chế; nguyên tắc công khai minh bạch; nguyên tắc khách quan; nguyên tắc bình đẳng giữa các bên tham gia thủ tục hành chính; nguyên tắc đơn giản, rõ ràng, tiết kiệm; nguyên tắc nhanh chóng, kịp thời; nguyên tắc trách nhiệm của những người có thẩm quyền; nguyên tắc bảo đảm sự tham gia rộng rãi của nhân dân, cơ quan, tổ chức; nguyên

tắc hạn chế số cấp giải quyết một công việc; nguyên tắc hiện thực, khả thi [35]

Một thủ tục hành chính được tạo thành bởi các bộ phận sau: Tên thủ tục hành chính; trình tự thực hiện; cách thức thực hiện; hồ sơ; thời hạn giải quyết; đối tượng thực hiện TTHC; cơ quan thực hiện TTHC; kết quả thực hiện TTHC; trường hợp TTHC phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện TTHC; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí thì mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện TTHC; yêu cầu điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận tạo thành của các TTHC [6]

1.1.2 Vai trò của thủ tục hành chính

Thủ tục hành chính đảm bảo cho các quy phạm vật chất luật hành chính và quy phạm vật chất của một số ngành luật khác được thực hiện trong thực tiễn Thủ tục hành chính càng đơn giản, càng tạo thuận lợi cho việc giải quyết các công việc của cá nhân, cơ quan, tổ chức

Đảm bảo cho việc thi hành các quyết định được thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý cũng như các hệ quả do việc thực hiện các quy định hành chính tạo ra

Thủ tục hành chính khi được xây dựng và vận dụng một cách hợp lý sẽ tạo khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý đã được thông qua, đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lý Nhà nước TTHC liên quan đến quyền lợi của công dân do vậy khi được xây dựng và vận dụng tốt vào đời sống sẽ có ý nghĩa rất thiết thực, giảm sự phiền hà, củng cố được quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân

Trang 18

Các quy phạm thủ tục hành chính cũng là một bộ phận của pháp luật về hành chính, nên việc xây dựng và thực hiện tốt các TTHC sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình xây dựng và triển khai pháp luật Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang tiếp tục công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, thì TTHC lại càng có vai trò quan trọng

Nhìn một cách tổng quát, TTHC có ý nghĩa như một chiếc cầu nối quan trọng giữa cơ quan Nhà nước với cá nhân, với các tổ chức khác Chiếc cầu nối này

có khả năng làm bền chặt các mối quan hệ, làm cho Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Nhưng nếu xây dựng thiếu tính khoa học, áp dụng tùy tiện vào đời sống thì chính TTHC sẽ làm xa cách dân với Nhà nước và hậu quả của nó là làm niềm tin của người dân với chính quyền tiếp tục bị giảm sút

TTHC trên một phương diện nhất định là sự biểu hiện trình độ văn hóa của

tổ chức Đây là văn hóa giao tiếp trong bộ máy Nhà nước, văn hóa điều hành Nó cho thấy mức độ văn minh của một nền hành chính phát triển Thủ tục hành chính là một bộ phận vô cùng quan trọng của thể chế hành chính nhà nước với vai trò thiết lập trật tự trong quản lý hành chính nhà nước trên các mặt, thủ tục hành chính là công cụ để cơ quan nhà nước sử dụng thực hiện chức năng quản lý của mình Chính

vì lẽ đó, cải cách TTHC sẽ không chỉ đơn thuần liên quan đến pháp luật, pháp chế

xã hội chủ nghĩa mà còn liên quan đến sự phát triển chung của đất nước về các mặt chính trị, văn hóa, giáo dục và sự mở rộng giao lưu giữa nước ta với các nước khác trong khu vực và trên thế giới

1.1.3 Phân loại thủ tục hành chính

Việc phân loại thủ tục hành chính trước hết là phục vụ các hoạt động nghiên cứu và đào tạo trong khoa học hành chính, nhất là ngành luật hành chính Ngoài ra, phân loại TTHC còn có ý nghĩa đối với việc xây dựng, hoàn thiện và áp dụng TTHC tại bộ máy chính quyền các cấp

Kinh nghiệm thực tế của nước ta cũng như nhiều nước khác cho thấy muốn xây dựng và áp dụng TTHC một cách có hiệu quả thì cần phải phân loại chúng một cách có khoa học

Trang 19

Theo GS.TS.KH Nguyễn Văn Thâm, TTHC có thể phân loại theo đối tượng quản lý hành chính, theo loại hình công việc cụ thể, theo chức năng cung cấp dịch

vụ và theo quan hệ công tác [15]

Phân loại theo đối tượng quản lý hành chính nhà nước:

Theo cách phân loại này các TTHC được xác định cho từng lĩnh vực quản lý nhà nước và được phân chia theo cơ cấu chức năng của bộ máy quản lý hiện hành như: Lĩnh vực quản lý đô thị, lĩnh vực tư pháp, lĩnh vực công thương, lĩnh vực tài nguyên môi trường, lĩnh vực đầu tư,

Lợi ích của việc phân chia này là giúp người quản lý xác định được tính đặc thù của lĩnh vực mà mình phụ trách Từ đó đề ra yêu cầu xây dựng cho lĩnh vực này, những TTHC cần thiết, thích hợp, nhằm quản lý tốt các nhiệm vụ đặt ra theo mục tiêu của nhà nước quy định

Phân loại theo các loại hình công việc cụ thể mà các cơ quan nhà nước được giao thực hiện trong quá trình hoạt động của mình:

Cách phân loại này đơn giản, có khả năng áp dụng rộng rãi

Ví dụ: Thủ tục tuyển dụng công chức, viên chức; thủ tục tặng danh hiệu thi đua, thủ tục thành lập trường học,

Thực tế cho thấy cách phân loại này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng bởi lẽ nó

có thể giúp người thừa hành công vụ và những người thi hành các thủ tục hành

chính trong thực tế định hướng theo công việc dễ dàng và chính xác hơn

Phân loại theo chức năng cung cấp các dịch vụ công trong quản lý nhà nước:

Cách phân loại này giúp các nhà quản lý khi giải quyết công việc chung có liên quan đến tổ chức hoặc công dân, tìm được các hình thức giải quyết thích hợp theo đúng chức năng quản lý nhà nước của cơ quan

Ví dụ: Thủ tục cung cấp các dịch vụ thông tin; thủ tục cho phép xuất khẩu, nhập khẩu; thủ tục kiểm tra mức độ an toàn lao động,…

Cách phân loại này cũng có ý nghĩa thực tiễn quan trọng như cách phân loại TTHC theo các loại hình công việc cụ thể Nó giúp các nhà quản lý khi giải quyết công việc chung có liên quan đến các tổ chức khác hoặc công dân, tìm

Trang 20

được các hình thức giải quyết thích hợp theo đúng chức năng quản lý Nhà nước của cơ quan mình

Phân loại dựa trên quan hệ công tác:

Đây là cách phân loại được xây dựng trên cơ sở xem xét các quan hệ trong hoạt động của các cơ quan thuộc bộ máy quản lý nhà nước, theo cách phân loại này

Thủ tục thực hiện thẩm quyền: Thủ tục tiến hành giải quyết các công việc có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phòng ngừa, ngăn chặn, xử phạt các hành vi vi phạm hành chính, trưng mua, trưng thu các động sản và bất động sản của công dân và của tổ chức Các loại TTHC kể trên có đặc điểm cơ bản là

cơ quan hành chính và công chức nhà nước có thẩm quyền thực hiện quyền lực nhà nước bằng hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật để giải quyết các công việc, tình huống cụ thể

Thủ tục văn thư: Toàn bộ các hoạt động lưu trữ, xử lý, cung cấp các loại giấy

tờ và đưa ra các quyết định dưới hình thức văn bản liên quan chặt chẽ với hoạt động văn thư, tạo thành thủ tục văn thư trong hoạt động hành chính nhà nước

Do mọi cơ quan đều hoạt động trong những mối quan hệ nhất định và ảnh hưởng lẫn nhau nên việc phân loại TTHC theo các quan hệ đó là rất cần thiết và có

ý nghĩa thực tế quan trọng, có thể áp dụng rộng rãi

Ngoài các cách phân loại trên, qua thực tiễn thực hiện TTHC ở quận Hai Bà Trưng, việc phân loại TTHC có thể thực hiện bằng các cách sau:

Căn cứ vào thời gian giải quyết TTHC có thể phân loại TTHC thực hiện ngay trong ngày (cấp sao từ sổ gốc các giấy tờ hộ tịch, ), TTHC trả ngay khi tiếp nhận (như chứng thực bản sao từ bản chính) hay TTHC có thời gian giải quyết qua

Trang 21

ngày (như TTHC về cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất), cách phân loại này giúp cơ quan thực hiện xây dựng quy trình giải quyết và phân công cán bộ tiếp nhận và thụ lý hồ sơ cho phù hợp

Phân loại TTHC theo quy trình giải quyết có TTHC liên thông theo chiều dọc, TTHC liên thông theo chiều ngang và TTHC liên thông hỗn hợp Cách phân loại này giúp cho các cơ quan nhà nước phân công, phối hợp trong việc thực hiện tốt các công việc của người dân

Phân loại TTHC theo mức độ dịch vụ công trực tuyến được quy định tại Thông tư số 26/2009/TT-BTTTT ngày 31/7/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông có: TTHC mức độ 1, TTHC mức độ 2, TTHC mức độ 3 và 4 Cách phân loại này giúp cơ quan nhà nước thực hiện tốt việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách thủ tục hành chính

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại quá nhiều các loại thủ tục ở nhiều lĩnh vực khác nhau, thậm chí có nhiều loại không cần thiết Điều đó dẫn đến cản trở hoạt động của nền hành chính cũng như hoạt động của các ngành, lĩnh vực liên quan, kìm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước Một yêu cầu cấp thiết được đặt ra đó là phải rà soát, loại bỏ bớt các loại thủ tục không cần thiết cũng như đổi mới quy trình giải quyết các thủ tục hành chính

1.2 Cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam

1.2.1 Sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính

Cải cách thủ tục hành chính là một trong sáu nội dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính của Chính phủ Tuy nhiên, cải cách thủ tục hành chính lại được đặt ra trước tiên, được xem như là khâu đột phá của cải cách hành chính, và trong tiến trình cải cách hành chính, vấn đề thủ tục hành chính thường xuyên được Chính phủ quan tâm Đó là vì TTHC hàng ngày liên quan đến công việc nội bộ của một cơ quan, cấp chính quyền, cũng như đến các tổ chức và cá nhân trong mối quan

hệ với Nhà nước Các quyền, nghĩa vụ của mọi công dân đã được quy định ở Hiến pháp hay ở các văn bản luật, cũng như các yêu cầu, nguyện vọng của công dân có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào đều phải thông qua TTHC do các

cơ quan, các cấp chính quyền nhà nước quy định và trực tiếp giải quyết

Trang 22

Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện trên hầu khắp các lĩnh vực đời sống xã hội, từ kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế, dân tộc, tôn giáo cho đến an ninh - quốc phòng, đối ngoại, Chức năng quản lý nhà nước không chỉ nhằm bảo vệ pháp luật, chế độ chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, các quyền hợp pháp chính đáng của mọi tổ chức và công dân, mà còn tạo điều kiện, môi trường pháp lý, môi trường xã hội thuận lợi cho các tổ chức và công dân làm

ăn, sinh sống Việc tạo điều kiện, môi trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức và công dân sinh sống, phát triển kinh tế thường được xác định như là một chính sách; còn trên thực tế, sự thuận lợi hay khó khăn trong làm ăn, sinh sống của người dân cũng như niềm tin của họ đối với Nhà nước như thế nào lại được thẩm định thông qua các quy định thủ tục hành chính và cách thức giải quyết các thủ tục ấy

Trong điều kiện Nhà nước ta thực hiện chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và tham gia sâu rộng vào các quan hệ quốc tế, thì nhu cầu của nhân dân cũng tăng lên về số lượng và đa dạng, phong phú, phức tạp về hình thức, nội dung Tình hình đó đặt ra các yêu cầu mà Nhà nước phải thực hiện:

1) Chuyển đổi cơ chế quản lý thích ứng với cơ chế kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế

2) Mở rộng và nâng cao khả năng cung ứng dịch vụ, phục vụ xã hội

3) Khắc phục tình trạng yếu kém, hạn chế, bất cập của bộ máy quản lý, gồm:

tổ chức, thể chế, cán bộ, nguồn lực tài chính

Cải cách thể chế hành chính, trong đó có thủ tục hành chính, là một vấn đề không riêng của Nhà nước, mà còn liên quan đến đời sống của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Đó chính là nguyên do đòi hỏi Nhà nước phải dành sự quan tâm nhiều hơn đối với việc cải cách thủ tục hành chính, nhằm đáp ứng các yêu cầu dịch

vụ, phục vụ xã hội và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong điều kiện chuyển đổi cơ chế kinh tế

Có thể nói, tính bức xúc của việc đẩy mạnh cải cách TTHC không chỉ nhìn

từ khía cạnh kinh tế, tức là tiết kiệm tiền của, là xây dựng môi trường pháp lý để các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư yên tâm làm ăn, phát triển; không chỉ nhìn từ

Trang 23

khía cạnh xã hội, tức là tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện các quyền

và nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước Hơn thế, nó còn xuất phát từ việc sắp xếp,

tổ chức bộ máy theo hướng gọn nhẹ, hiện đại; đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức về chuyên môn, nghiệp vụ theo hướng chuyên nghiệp hoá; góp phần bài trừ tệ quan liêu, cửa quyền, hối lộ, làm trong sạch bộ máy nhà nước

Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch, công bằng trong khi giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức; loại bỏ những TTHC rườm rà, chồng chéo, bất hợp lý, dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho người dân Cơ chế một cửa, một cửa liên thông là giải pháp đổi mới

về phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương các cấp, nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệ giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức, cá nhân

Việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông được coi là một trong những biện pháp mang tính đột phá trong việc cải cách thủ tục hành chính ở nước ta hiện nay

1.2.2 Mục tiêu của cải cách thủ tục hành chính

Thứ nhất, phát hiện và xoá bỏ những TTHC thiếu đồng bộ, chồng chéo,

rườm rà, phức tạp gây trở ngại trong việc tiếp nhận và xử lý công việc giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước với cá nhân và tổ chức

Thứ hai, xây dựng và ban hành các TTHC giải quyết công việc đơn giản, rõ

ràng, thống nhất, đúng pháp luật và phù hợp với thực tiễn

Thứ ba, Tổ chức thực hiện TTHC đảm bảo đúng quy định, tạo thuận lợi cho

cá nhân, tổ chức; nâng cao mức độ hài lòng của người dân đối với việc thực hiện TTHC của các cơ quan nhà nước

1.2.3 Các yêu tố tác động trực tiếp đến cải cách thủ tục hành chính

Việc thực hiện cải cách TTHC có hiệu quả phải thực hiện đồng bộ từ khâu ban hành TTHC (tức là ban hành các văn bản Luật và dưới Luật) đến việc tổ chứcthực hiện TTHC ở các cơ quan nhà nước, rồi phụ thuộc vào trình độ hiểu biết và ý thức pháp luật của người dân

Trang 24

Về cơ bản các yếu tố sau đóng vai trò quan trọng tác động đến cải cách thủ tục hành chính:

Hệ thống văn bản pháp luật về TTHC và các cơ chế chính sách liên quan:

Để thực hiện có hiệu quả một TTHC không chỉ có các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp quy định TTHC mà còn rất nhiều các quy định khác của các cơ quan nhà nước ảnh hưởng đến Một quy định hành chính, TTHC được ban hành ra

để giải quyết các công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức chỉ được thực hiện một cách thuận lợi khi mà các văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước được phân công, phân nhiệm rõ ràng, không chồng chéo Bên cạnh đó việc ban hành ra các TTHC phải hợp Hiến và hợp pháp, phải phù hợp với yêu cầu thực tiễn và phải đáp ứng được lợi ích của nhà nước và của nhân dân Các văn bản chỉ đạo, tổ chức thực hiện thủ tục hành chính cũng tác động không nhỏ đến hiệu quả của việc thực hiện, việc ban hành văn bản chỉ đạo kịp thời, kỷ cương, kỷ luật hành chính được thực hiện nghiêm minh, cùng với các chế độ chính sách, quan tâm kịp thời đến đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp thực thi công vụ cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các TTHC

Về nguồn nhân lực: Đội ngũ cán bộ có ảnh hưởng quyết định đến hiệu lực,

hiệu quả hoạt động của bộ máy cơ quan nhà nước, đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân Cán bộ, công chức có trình độ, năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt vì việc chung, vì lợi ích của người dân sẽ giải quyết các công việc được thấu tình đạt lý; những cán bộ, công chức có năng lực, trình độ chuyên môn yếu, có thái độ sách nhiễu, vụ lợi cá nhân sẽ ảnh hưởng đến kết quả thực hiện TTHC, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân Thực tế cho thấy mức độ hài lòng của người dân đối việc giải quyết công việc của các cơ quan nhà nước phần lớn phụ thuộc vào cách giải quyết công việc và thái độ, ứng xử của cán bộ, công chức với người dân

Về cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất cũng là yếu tố ảnh hướng đến việc thực

hiện cải cách TTHC Cơ sở vật chất bao gồm trụ sở làm việc, các thiết bị văn phòng, điều kiện làm việc, các trang thiết bị máy tính, máy in, internet và việc ứng

Trang 25

dụng khoa học, công nghệ để cải tiến phương thức làm việc của các cơ quan nhà nước, của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức,

Về công khai, minh bạch TTHC: Việc công khai, minh bạch TTHC phải

được thực hiện đầy đủ, kịp thời đúng quy định, các hình thức công khai phải thuận tiện để người dân tìm hiểu, kiểm tra Bên cạnh đó phải công khai quy trình thực hiện TTHC để người dân biết trách nhiệm thực hiện từng công việc của mỗi bộ phận, cơ quan nhà nước

Về công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật:

Các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước có đến được với người dân kịp thời không, để người dân hiểu, ủng hộ và tạo sự đồng thuận trong nhân dân, phụ thuộc phần lớn vào công tác thông tin, tuyên truyền, phố biến giáo dục pháp luật của các cơ quan nhà nước

1.3 Cải cách thủ tục hành chính ở một số nước trên thế giới

1.3.1 Hàn Quốc

Từ năm 2003 trở lại đây, công cuộc cải cách hành chính ở Hàn Quốc được đẩy mạnh với những biện pháp mạnh mẽ Mục tiêu đề ra là xây dựng Chính phủ có hiệu quả, cởi mở, gần dân, được dân tin cậy, minh bạch, hoạt động linh hoạt, có khả năng cung cấp dịch vụ chất lượng cao và loại trừ tham những

Cũng như nhiều nước trên thế giới, Hàn Quốc tiến hành cải cách đồng bộ nền hành chính Nhà nước Đặc biệt, Hàn quốc chú trọng tăng cường đào tạo, bồi dưỡng công chức, đa dạng hóa các loại hình và cách thức đào tạo Hệ thống một cửa quốc gia Hàn quốc được thiết lập từ tháng 3/2006 và kết nối được 4 cơ quan, tháng 7/2007 tăng lên 8 cơ quan và đến nay toàn bộ các cơ quan quản lý có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, giải quyết các công việc hành chính khác cho cá nhân, tổ chức đã tham gia hệ thống một cửa quốc gia, đem lại rất nhiều thuận lợi và tiết kiệm cho người dân và doanh nghiệp về thời gian, chi phí hành chính Bên cạnh đó Hàn quốc rất chú trọng xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử trong cải cách TTHC Hàn quốc đã hoàn tất việc kết nối mạng Trung ương, địa phương, thiết lập hệ thống

Trang 26

xử lý công việc hành chính trong nội bộ các cơ quan hành chính thông qua mạng điện tử Với việc công khai hóa xử lý các vấn đề của dân, của doanh nghiệp trên mạng, công chức có trách nhiệm trả lời trực tiếp các ý kiến và kiến nghị của nhân dân trên mạng Internet Điều này đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian, đồng thời làm cho người dân quan tâm hơn đến hoạt động của cơ quan nhà nước

1.3.2 Singapore

Vấn đề cải cách hành chính được Sinhgapore đặt ra khá sớm Sự thần kỳ trong quản lý và phát triển kinh tế của nước này xuất phát từ việc cải cách hành chính được quan tâm thực hiện từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX và có chính sách thu hút nhân tài rõ ràng, đúng đắn Vào những năm 80, giới lãnh đạo Singapore đề ra phong trào “hướng tới sự thay đổi” mà trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lý để thích ứng với sự thay đổi Singapore triển khai cơ chế một cửa từ 12/1986, với dự án Tradenet ( cơ chế một cửa Singapore, với mực tiêu hai năm đầu đưa vào hoạt động chính chức, được khai chương vào tháng 1/1989 Mô hình đầu tiên này tập trung chủ yếu vào thực hiện các giao dịch thương mại hang háo đường biển và đường hành không Đến năm 1991 thực hiện cho tất cả các giao dịch thương mại và nay là cả các giao dịch hành chính khác Singapore thực hiện cơ chế một cửa điện tử hoạt động theo cơ chế sẵn sang 24/7, với 99% hồ sơ cấp phép được phê duyệt và truyền tới người xin cấp phép bằng phương thức điện tử chỉ trong 10 phút

Tiếp tục chương trình cải cách TTHC, đến năm 1991 khởi động chương trình cải cách mang tên “Nền công vụ thế kỷ 21” nhằm xây dựng nền công vụ có hiệu quả, hiệu lực với lực lượng công chức liêm chính, tận tụy, có năng suất lao động và chất lượng dịch vụ cao Một số biện pháp đồng bộ đã được áp dụng, đó là:

Áp dụng bộ quy chuẩn ISO trong bộ máy hành chính, coi đó vừa là công cụ cải tiến lề lối làm việc, vừa là công cụ đánh giá hiệu quả, phân loại công chức

Đưa tinh thần “doanh nghiệp” vào hoạt động của bộ máy hành chính mà cốt lõi là lấy hiệu quả làm thước đo

Thành lập Uỷ ban hỗ trợ doanh nghiệp nhằm tìm hiểu, đánh giá và đề xuất phương án giải quyết các kiến nghị của doanh nghiệp

Trang 27

Đề ra Chương trình xoá bỏ cách làm việc quan liêu, nhiều tầng nấc của bộ máy hành chính với mục tiêu là việc gì cũng phải có cơ quan chịu trách nhiệm

Thường xuyên rà soát để loại bỏ những quy định lỗi thời không còn phù hợp Đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, coi đó là giải pháp cơ bản nhất để xây dựng nền công vụ có hiệu quả

Từ năm 1983 đến nay, Singapore đã tập trung phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho công nghệ thông tin, tăng cường năng lực cho đội ngũ công chức để áp dụng công nghệ mới, hiện đã cung cấp dịch vụ công thông qua Internet và dự kiến tiến tới giải quyết công việc của dân qua điện thoại di động trong mọi thời điểm Theo đánh giá của giới chuyên môn, hiện nay Singapore đứng ở nhóm những nước dẫn đầu về tốc độ phát triển chính phủ điện tử và đang bước sang giai đoạn “phát triển công dân điện tử”

Nhà nước đã có chính sách cụ thể trong việc trả lương xứng đáng cho cán bộ, công chức, qua đó hạn chế tối đa nạn tham nhũng, minh bạch hóa chính phủ, tạo đà cho cán bộ công chức dành hết tâm sức cho công việc được giao

Có chính sách thu hút và sử dụng nhân tài ngoại quốc rất bài bản, từ hàng chục năm nay, Singapore đã xác định rằng, người tài là yếu tố then chốt quyết định khả năng cạnh tranh và phát triển của nền kinh tế với bước đột phá là việc sử dụng nhân tài ngoại quốc trong bộ máy nhà nước Một Bộ trưởng của Singapore đã tuyên

bố, Singapore tích cực tham gia vào “cuộc chiến toàn cầu để giành giật nhân tài”, còn cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu từng khẳng định: “Nhân tài nước ngoài là chìa khoá bước tới tương lai”, chính vì thế, “các công ty cần các nhân tài hàng đầu để cạnh tranh trên toàn cầu”

1.3.3 Nhật Bản

Cải cách hành chính ở Nhật bản được thực hiện từ những năm 70 của thế kỷ

XX, nhưng đến thập kỷ 90 và đặc biệt trong những năm gần đây mới thực sự là cuộc cải cách sâu rộng và tạo ra nhiều chuyển biến mới trong xã hội Mục tiêu của cải cách hành chính ở Nhật bản là xây dựng một “bộ mặt nhà nước” mới mẻ, một xã hội mới phát triển và phồn vinh

Trang 28

Cải cách hành chính ở Nhật bản trước hết được thực hiện từ việc điều chỉnh lại quy chế hành chính (các thể chế hành chính) Theo đó, hàng loạt giải pháp được Chính phủ áp dụng nhằm tạo ra một nền hành chính lành mạnh và gần dân như: giảm bớt TTHC, giảm sự can thiệp không cần thiết của nhà nước; tạo cơ hội kinh doanh mới cho các doanh nghiệp; điều chỉnh những quy định để phù hợp với thông lệ quốc tế, Đặc biệt cải cách chế độ công chức được Nhật bản rất chú trọng Nhật bản đã xây dựng Luật công chức và Luật đạo đức công chức, theo đó công chức khi được tuyển dụng vào cơ quan làm việc phải tuyên thệ phục vụ Nhật bản đặc biệt chú trọng các yếu tố: Phẩm chất đạo đức và ý thức công dân của công chức; quan tâm bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho công chức; chú trọng năng lực và kết quả công tác của công chức; hoàn thiện cơ chế hoạt động công vụ linh động Hơn nữa, với cơ chế tuyển dụng công chức hoàn thiện, tiêu cực trong thi cử được khắc phục, Nhật bản đã

bảo đảm việc tuyển chọn những người thực sự có tài, đủ năng lực phục vụ đất nước

Cơ chế một cửa của Nhật bản cũng được thực hiện từ lâu, nó không chỉ mang lại lợi ích cho cộng đồng thương mại với việc giảm thời gian và chi phí mà còn mang lại lợi ích cho các cơ quan quản lý nhờ tăng cường sự trao đổi thông tin, khẳ năng quản lý, giám sát và hiệu xuất công việc Lần đầu tiên tháng 10/2008, bước phát triển tiếp theo của cơ chế một cửa ở Nhật bản là đưa ứng dụng CNTT vào xây dựng Cổng thông tin chung, được đánh giá là tính năng hiệu quả nhất, đáng kể nhất trong bước phát triển tiếp theo của cơ chế một cửa

1.3.4 Trung Quốc

Từ khi mở cửa nền kinh tế (1978), cùng với sự tăng trưởng vượt bậc về kinh

tế, Trung Quốc tiến hành sáu cuộc CCHC với quy mô lớn vào các năm 1981, 1988,

1993, 1998, 2003 và 2008 Kết quả của các lần cải cách này đã thay đổi rõ nét bộ mặt của nền hành chính Trung Quốc Trong đó, cải cách giai đoạn 1998-2002 được coi là mốc quan trọng trong tiến trình cải cách BMHC nhà nước Nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn này là cơ cấu lại Chính phủ, điều chỉnh lại chức năng của các cơ quan Chính phủ để phù hợp với sự chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, bảo đảm thích ứng với quá trình hội nhập, đặc biệt là tham

Trang 29

gia vào WTO Qua cải cách, đã giảm 900 trên tổng số 2000 cơ cấu tổ chức ở 4 cấp chính quyền, Quốc vụ viện (Chính phủ) giảm từ 100 cơ quan (năm 1981) xuống 27

cơ quan (năm 2008), biên chế cơ quan nhà nước giảm từ 7,15 triệu người xuống còn 6,24 triệu người

Phát huy kết quả các giai đoạn trước, giai đoạn từ cuối 2003, Trung Quốc đưa cải cách đi vào chiều sâu để thực sự thay đổi chức năng của chính quyền theo phương châm: biến từ chính quyền vô hạn (cái gì cũng làm) sang chính quyền hữu hạn (quản lý bằng pháp luật, chỉ làm những việc thuộc chức năng đích thực là quản

lý hành chính nhà nước)

Trung Quốc đã thành lập cơ quan quản lý công sản để triệt để tách chức năng quản lý hành chính nhà nước của cơ quan công quyền với quản lý của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN)

Về cải cách cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tại nông thôn, thay đổi rõ nét nhất là việc lập ra Uỷ ban làng - tổ chức tự quản - do dân trực tiếp bầu Theo đánh giá của Trung Quốc, đây là chủ trương đúng đắn, có hiệu quả trong việc góp phần củng cố chính quyền cơ sở Tương tự như vậy, đối với các đô thị là mô hình Tổ dân phố… Đối với các DNNN, mục tiêu cải cách cơ cấu là giảm thiểu số lượng các doanh nghiệp này, bỏ cơ chế chính quyền trực tiếp quản lý doanh nghiệp; sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp Cho đến nay về cơ bản không còn doanh nghiệp thuộc bộ Chính quyền trung ương chỉ tập trung quản lý 7 lĩnh vực là: quốc phòng, ngoại giao, chính sách tài chính, ngân hàng, điện lực, thông tin, đường sắt Các lĩnh vực còn lại thực hiện phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương

Về cải cách công vụ và công chức, Trung Quốc áp dụng rộng rãi hình thức thi tuyển công chức Công chức được tuyển dụng vào bộ máy thông qua thi tuyển theo nguyên tắc công khai, bình đẳng, cạnh tranh và tự do Thay chế độ tuyển dụng suốt đời bằng chế độ hợp đồng có thời hạn…

Đẩy mạnh Chương trình tin học hoá, từng bước xây dựng chính phủ điện tử

Ở một số khu vực kinh tế phát triển và đô thị thì những dịch vụ hành chính công chủ yếu như đăng ký thuế, hải quan,… đã thực hiện thông qua mạng điện tử

Trang 30

1.3.5 Cải cách thủ tục hành chính ở Đức

Cải cách hành chính ở Đức hướng tới mục tiêu: Đơn giản hóa các TTHC và quy định pháp luật Để đơn giản hóa các TTHC, điều đầu tiên người Đức xác định là: phải xác định được chính xác các TTHC cần đơn giản Ai là người xác định các thủ tục này? kinh nghiệm của Đức là kết hợp giữa việc giao cho các cơ quan chuyên môn (chủ yếu là các Bộ chức năng) xác định (thường chỉ được 20-40%) và kết hợp với việc giao cho một cơ quan độc lập xác định 60-80% Thực tế cho thấy, việc giao cho các cơ quan chuyên môn xác định các thủ tục cần đơn giản hóa thường chỉ có tác dụng rất hạn chế vì các cơ quan này thường không muốn thay đổi việc mình đang làm Vì vậy, cần phải có cơ quan độc lập với cơ quan chuyên môn để đánh giá

và xác định một cách khách quan những công việc và thủ tục cần đơn giản Bên cạnh đó kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quy trình lập pháp, việc ban hành văn bản luật mới, phải song song với việc đánh giá những phí tổn phát sinh khi ban hành luật và những lợi ích mà luật đó mang lại

Kinh nghiệm cải cách hành chính và cải cách TTHC ở Đức cho thấy:

Một là, phải chủ động và có tầm nhìn chiến lược, có quyết tâm chính trị cao; Hai là, trong quá trình cải cách, phải lực chọn ra những bước đột phá vào

những khâu, những lĩnh vực then chốt được cả xã hội quan tâm;

Ba là, phải có lộ trình và bước đi phù hợp, gắn với việc tạo đồng thuận xã

hội đối với các mục tiêu và nội dung cải cách;

Bốn là, phải có đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ mạnh để đề xuất và tổ chức

thực hiện các sáng kiến cải cách hành chính

1.3.6 Thực hiện cơ chế một cửa ở Thụy Điển

Thụy điển xây dựng và phát triển cơ chế một cửa quốc gia từ năm 1989, thực hiện một cách tuần tự và có lộ trình Đến nay, cơ chế một cửa quốc gia Thụy điển

đã thu được những kết quả rất tốt đẹp Việc xây dựng cơ chế một cửa quốc gia Thụy điển nhằm giải quyết tình trạng chồng chéo về TTHC giữa các cơ quan quản lý nhà nước Cơ chế một cửa quốc gia của Thụy điển đã giúp cho công dân, tổ chức giảm thời gian và kinh phí gửi thông tin đến các cơ quan quản lý nhà nước Đối với cơ

Trang 31

quan nhà nước, cơ chế một cửa quốc gia giúp giảm thời gian xử lý công việc của hành chính Bên cạnh đó, nguồn lực sẽ được sử dụng hiệu quả hơn nhờ tập trung nguồn lực vào những vị trí phức tạp và không thể vi tính hóa được Nhờ cơ chế một cửa quốc gia, các cơ quan hành chính nhà nước có thể thực hiện hiệu quả hoạt động quản lý của mình, đồng thời cải thiện dịch vụ cung cấp cho công dân, doanh nghiệp

Để thực hiện được cơ chế một cửa quốc gia, Thụy điển đã thực hiện sửa đổi,

bổ sung hệ thống pháp luật hiện hành Nội dung sửa đổi, bổ sung đó cho phép sử dụng chứng từ điện tử, chữ ký số, dán tem, thẩm quyền chia sẻ thông tin giữa các

cơ quan hành chính nhà nước được quy định trong nội dung sửa đổi, bổ sung của pháp luật Nhờ đó tổ chức, cá nhân khi gửi thông tin được đảm bảo rằng chỉ những thông tin cần thiết phục vụ cho những nhiệm vụ quản lý riêng biệt của từng cơ quan quản lý mới được chia sẻ Khi thông tin được gửi đi, mỗi cơ quan quản lý sẽ chịu trách nhiệm bảo mật thông tin đó theo quy định pháp luật bảo mật của Thụy điển

1.3.7 Một số nhận xét

Tuy trình độ phát triển và đặc điểm lịch sử, kinh tế, văn hoá - xã hội khác nhau, nhưng các nước đều coi cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách TTHC là nhiệm vụ quan trọng, là mối quan tâm hàng đầu của mỗi nước, là nhiệm vụ thường xuyên của các Chính phủ Mục tiêu của cải cách hành chính là để thích ứng với tình hình mới, giải quyết hữu hiệu những vấn đề mới về kinh tế - xã hội nảy sinh trong

xu thế hội nhập quốc tế; đồng thời nhanh chóng khắc phục sự bất cập của bộ máy hành chính, xóa bỏ tình trạng quan liêu, tham nhũng của công chức nhà nước

Mọi nỗ lực cải cách đều nhằm hướng vào mục tiêu giảm gánh nặng hành chính cho người dân và doanh nghiệp, hạn chế quan liêu và chi tiêu công; điều chỉnh chức năng bộ máy hành chính để giảm sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước bằng sự khuyến khích và hỗ trợ; và cuối cùng là nhằm phát triển kinh tế - xã hội

Thực hiện mô hình mô hình một cửa trong giải quyết các công việc cho cá nhân, tổ chức là một trong biện pháp hữu hiệu để thúc đẩy công tác cải cách TTHC

ở các nước

Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức được xác định là giải pháp quan trọng hàng đầu để tăng cường hiệu lực hiệu quả của bộ máy hành chính

Trang 32

nhà nước Xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp, đào tạo dài hạn kết hợp với đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn theo chức danh và vị trí công tác Đặc biệt chính phủ nhiều nước đã quan tâm đầu tư tài chính cho công tác này, coi đó là nguồn kinh phí đầu tư cho tương lai

Hiện đại hóa chính phủ, xây dựng chính phủ điện tử là một trong những mực tiêu trọng tâm của chương trình cải cách hành chính ở các nước Để làm được điều này, một số nước đã chú trọng đào tạo con người, sau đó mới là đầu tư xây dựng cơ

sở vật chất kỹ thuật

Để hạn chế quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước, Chính phủ một

số nước đã xây dựng một nền hành chính công khai, dân chủ, gần dân với các giải pháp hiệu quả là: Quy định rõ chế độ trách nhiệm công chức, công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan hành chính; loại bỏ quy trình, thủ tục phiền hà, sách nhiễu, gây tốn kém cho người dân và doanh nghiệp

Chính phủ các nước chú trọng khâu xây dựng, quản lý, triển khai và kiểm soát quá trình cải cách; chủ động, có tầm nhìn và quyết tâm chính trị cao; tạo sự đồng tình, ủng hộ của toàn xã hội đối với mục tiêu và phương hướng cải cách; lựa chọn lĩnh vực then chốt để đột phá với lộ trình và bước đi phù hợp; kết hợp xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách để đề xuất ý kiến cải cách hành chính với tham khảo ý kiến của chuyên gia và người dân

Trên đây là một số nội dung cơ bản về cải cách hành chính của các nước, hy vọng kinh nghiệm của một số nước trên đây là bài học giúp chúng ta có những bước

đi nhanh và hiệu quả hơn trong nỗ lực xây dựng được một nền hành chính phục vụ, trong sạch, minh bạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phục, vụ tốt người dân, doanh nghiệp, xã hội và hội nhập quốc tế

1.4 Khái niệm, nguyên tắc, mục đích, lợi ích của việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Những năm gần đây, nhiều quốc gia đã tích cực cải cách hành chính bằng cách đặt mình vào vị trí của doanh nghiệp, người dân để đổi mới quy trình, thủ tục

Trang 33

hành chính theo hướng minh bạch hóa quy trình thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết, giảm khối lượng hồ sơ thủ tục không cần thiết Ở các quốc gia trên thế thới thực hiện mô hình một cửa trong giải quyết thủ tục hành chính là một trong những biện pháp cải cách hành chính phổ biến được sử dụng

1.4.1 Khái niệm cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Cơ chế một cửa:

Cơ chế một cửa là cách thức giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước trong việc công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nước [21]

Cơ chế một cửa liên thông:

Cơ chế một cửa liên thông là cách thức giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước [21]

Các loại hình liên thông

Liên thông giữa các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp (liên thông ngang): Giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; giữa các

cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại huyện; giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại tỉnh [21]

Liên thông giữa các cơ quan hành chính nhà nước các cấp (liên thông dọc): Giữa Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại huyện; giữa Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Trang 34

hoặc các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại tỉnh; giữa Ủy ban nhân dân cấp huyện và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại tỉnh; giữa cơ quan hành chính nhà nước thuộc tỉnh và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ [21]

1.4.2 Các nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông [21]

Niêm yết công khai, đầy đủ, kịp thời các thủ tục hành chính đã được công bố tại Quyết định công bố của cấp có thẩm quyền theo quy định

Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho cá nhân, tổ chức; việc yêu cầu bổ sung hồ sơ chỉ được thực hiện không quá một lần trong suốt quá trình giải quyết hồ sơ tại một cơ quan chuyên môn

Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan hành chính nhà nước trong giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức

Việc thu phí, lệ phí của cá nhân, tổ chức được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

1.4.3 Mục đích của việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông nhằm đảm bảo thuận lợi nhất cho tổ chức và cá nhân, tạo sự thống nhất, đồng bộ và thông suốt trong quá trình giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức Giúp cho việc giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức được nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo đúng pháp luật, chống phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực của cán bộ, công chức Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, đáp ứng yêu cầu của nhân dân

Đây là biện pháp nhằm đơn giản, công khai thủ tục hành chính; quy trình giải quyết từng TTHC được thống nhất, mẫu hóa thống nhất trong cả nước các loại giấy tờ mà công dân hoặc doanh nghiệp cần phải làm khi có yêu cầu giải quyết các công việc

1.4.4 Lợi ích của việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Sau hơn 13 năm thực hiện, từ năm 2003 đến nay, cơ chế một cửa đã trở thành một trong những giải pháp hữu hiệu đẩy nhanh tiến trình cải cách thủ tục hành chính, tạo bước chuyển căn bản về việc đơn giản và minh bạch trong mối quan

Trang 35

hệ giữa cơ quan nhà nước với tổ chức và công dân Người dân và doanh nghiệp chỉ phải liên lạc với một đầu mối duy nhất để hoàn thành mọi thủ tục hành chính, được cấp mọi giấy tờ, quy định, chứng chỉ,

Góp phần sắp xếp lại tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước theo hướng gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả

Góp phần lãm rõ trách nhiệm của bộ máy cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong giải quyết công việc liên quan đến tổ chức, công dân

Rút ngắn quy trình xử lý hồ sơ Các qui định về TTHC được công khai, minh bạch hóa, giảm đáng kể thời gian chờ đợi cho người dân, doanh nghiệp

Giảm bớt gánh nặng cho cán bộ, công chức các cơ quan hành chính để họ tập trung vào các vấn đề mang tính chiến lược

Giảm tối đa sự phiền hà cho tổ chức, công dân, góp phần chống tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng của một bộ phận cán bộ, công chức; tạo lòng tin của người dân đối với cơ quan nhà nước, chuyển dần từ cơ chế xin - cho sang cơ chế phục vụ

Nâng cao chất lượng phục vụ của cơ quan nhà nước, đảm bảo thuận tiện cho nhân dân, thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển

Tạo thuận lợi để người dân tham gia giám sát và xây dựng chính quyền

1.5 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả

Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp huyện đặt tại Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hoặc Văn phòng Ủy ban nhân dân nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân cấp huyện (sau đây gọi chung là Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện); chịu sự quản lý, chỉ đạo

Trang 36

của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND cấp huyện gồm Trưởng bộ phận và một số công chức, Trưởng bộ phận do một công chức lãnh đạo Văn phòng Hội đồng nhân dân và

Ủy ban nhân dân cấp huyện đảm nhận

Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã đặt tại trụ sở

Ủy ban nhân dân cấp xã Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND cấp xã gồm Trưởng bộ phận và một số công chức cấp xã Trưởng bộ phận do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đảm nhận

Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc thực hiện theo quy định của cơ quan chủ quản

1.5.2 Chức năng, nhiệm vụ của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả [21]

Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả là đầu mối tập trung hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ của cá nhân, tổ chức để chuyển đến các cơ quan chuyên môn hoặc cấp có thẩm quyền giải quyết và nhận, trả kết quả cho cá nhân, tổ chức

1.6 Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại [21]

Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả

có trang bị thiết bị điện tử và áp dụng phần mềm điện tử trong các giao dịch hành chính giữa cá nhân, tổ chức với các cơ quan hành chính nhà nước và giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau trong công việc công khai, hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ để chuyển đến các cơ quan chuyên môn giải quyết và nhận trả kết quả cho cá nhân, tổ chức theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, trên tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước

1.7 Dịch vụ công trực tuyến (hay còn gọi là dịch vụ công điện tử)

1.7.1 Khái niệm [4]

Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ công được sử dụng một cách có hệ thống công nghệ thông tin và viễn thông để thực hiện các hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, cung cấp và đáp ứng các nhu cầu chung thiết yếu của công dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội

Khái niệm dịch vụ công trực tuyến còn được hiểu ngắn gọn và rõ ràng như

Trang 37

sau: Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng.

1.7.2 Vai trò của dịch vụ công trực tuyến [3]

Xây dựng và phát triển chính phủ điện tử là xu hướng tất yếu của các quốc gia trên thế giới, với việc cung cấp ngày càng nhiều hơn các dịch vụ công trực tuyến, cho mọi người dân Tuy nhiên, Chính phủ điện tử sẽ chỉ thành công nếu có

sự ủng hộ lớn từ phía đa số người dân Các dịch vụ công trực tuyến dễ sử dụng, nhanh chóng và hiệu quả là những yếu tố quan trọng tác động đến nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp hướng tới sử dụng ngày càng nhiều những dịch vụ này Với việc

sử dụng dịch vụ công trực tuyến, giúp thu hẹp khoảng cách về không gian và thời gian của cá nhân, tổ chức khi thực hiện giải quyết công việc với cơ quan nhà nước, hạn chế được việc cán bộ, công chức tiếp xúc trực tiếp với người dân, công khai, minh bạch hơn trong việc thụ lý, giải quyết hồ sơ hành chính từ đó giảm được phiền

hà, nhũng nhiễu của công chức thụ lý hồ sơ, giảm được thời gian đi lại của người dân và cơ quan nhà nước cũng dễ kiểm soát công việc

1.7.3 Các tiêu chí đánh giá dịch vụ công trực tuyến

Các mức độ của dịch vụ công trực tuyến [4]:

Mực độ 1: Là dịch vụ công trực tuyến đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin về quy trình, thủ tục; hồ sơ; thời hạn; phí và lệ phí thực hiện giao dịch trên Web

Mức độ 2: Là dịch vụ công trực tuyến mức 1 và cho phép người sử dụng tải

về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ

Mực độ 3: Là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến các cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng Việc thanh toán lệ phí nếu có và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ

Mức độ 4: Là dịch vụ công trực tuyến mức 3 và cho phép người sử dụng

Trang 38

thanh toán lệ phí nếu có được thực hiện trực tuyến Việc trả kết quả có thể thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện cho người sử dụng

Các tiêu chí đánh giá việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến của một quốc gia [3]:

Chính phủ cung cấp các dịch vụ thông tin trực tuyến cơ bản

Chính phủ sử dụng công nghệ đa phương tiện và thúc đẩy tương tác hai chiều với người dân, doanh nghiệp và các tổ chức

Chính phủ sử dụng internet để cung cấp dịch vụ công và tiếp nhận ý kiến phản hồi về các vấn đề công chúng quan tâm

Chính phủ kết nối các chức năng của dịch vụ công và tiếp nhận ý kiến phản hồi về các vấn đề công chúng quan tâm

Nếu một quốc gia đạt tất cả bốn tiêu chí trên tốt thì quốc gia này đã thiết lập được một nền tảng số cho việc nâng cao tính dân chủ và quyền công dân

Trên đây là hệ thống cơ sở lý luận về cải cách thủ tục hành chính, về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông Thủ tục hành chính có vai trò rất quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước, TTHC là những công cụ đắc lực để các

cơ quan hành chính nhà nước sử dụng trong quá trình quản lý các mặt của đời sống xã hội Trong những năm qua nhà nước đã có những nỗ lực mạnh mẽ trong cải cách TTHC thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông, tạo điều kiện thuận lợi trong giải quyết các công việc liên quan đến cá nhân và tổ chức

Trang 39

Chương 2

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG QUẬN HAI BÀ TRƢNG

2.1 Khái quát chung về quận Hai Bà Trƣng

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của quận Hai Bà Trưng

Quận Hai Bà Trưng là quận nội thành của Thủ đô Hà Nội, nằm ở phía nam thành phố, phía tây giáp quận Đống Đa, phía Bắc giáp quận Hoàn Kiếm, phía đông

có 12 phòng chuyên môn và 10 đơn vị sự nghiệp, 63 trường học công lập (Trung học cơ sở, Tiểu học và Mầm non) Dân số trên 40 vạn dân, có 20 phường bao gồm: Bách Khoa, Lê Đại Hành, Cầu Dền, Bạch Mai, Quỳnh Lôi, Minh Khai, Quỳnh Mai, Thanh Lương, Vĩnh Tuy, Đông Mác, Bạch Đằng, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Bùi Thị Xuân, Thanh Nhàn, Phạm Đình Hổ, Đồng Tâm, Phố Huế, Trương Đinh, Đồng Nhân Trong những năm qua, kinh tế quận đã chuyển dịch từ công nghiệp sang dịch

vụ, thương mại và công nghệ cao với nhiều trung tâm thương mại lớn Quận có nhiều trung tâm văn hóa, khoa học kỹ thuật, khu vui chơi giải trí của Thành phố; là địa bàn có các trung tâm nghiên cứu khoa học và các trường đại học lớn như Kinh

tế quốc dân, Bách khoa, Xây dựng, Quản trị Kinh doanh, Quận Hai Bà Trưng cũng là đầu mối giao thông quan trọng, với tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh như hiện nay, đã làm nảy sinh nhiêu vấn đề phức tạp và khó khăn trong việc quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, cũng như quản lý đất đai, đô thị

Đặc biệt quận Hai Bà Trưng còn khác với các quận, huyện khác ở Thủ đô không chỉ về đất rộng, dân đông mà chủ yếu là sự đa dạng, nhiều cấp độ khác nhau của các đối tượng quản lý Xác định rõ những thuận lợi, khó khăn UBND quận đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt chú trọng đến cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong sản xuất, kinh doanh, trong giải quyết các công việc về hành chính, đảm bảo góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng –

an ninh của quận và Thủ đô Hà Nội

Trang 40

2.1.2 Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND quận Hai Bà Trưng

Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015

Cơ cấu, tổ chức:

Ủy ban nhân dân quận gồm Chủ tịch và 3 Phó Chủ tịch và các Ủy viên là trưởng của 12 phòng chuyên môn và Ủy viên phụ trách công an là Trưởng Công an quận, Ủy viên phụ trách quận sự là Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự quận

Cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận gồm có 12 phòng chuyên môn và các đơn vị sự nghiệp gồm: Phòng Nội vụ, Tư pháp, Tài chính - Kế hoạch, Giáo dục

- Đào tạo, Y tế, Văn hóa và Thông tin, Tài nguyên và Môi trường, Quản lý đô thị, Kinh tế, Lao động Thương binh và Xã hội, Văn phòng HĐND&UBND quận; Thanh tra quận

Các đơn vị sự nghiệp: Ban Quản lý dự án, Ban Bồi thường Giải phóng mặt bằng, Ban quản lý chợ: Hòa Bình, Hôm Đức viên, chợ Đồng tâm; Trung tâm Dạy nghề, Trung tâm Thể dục thể thao, Trung tâm dân số, Nhà văn hóa

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân quận

Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân quận quyết định các nội dung sau và tổ chức thực hiện các Nghị quyết của HĐND quận:

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hàng năm của quận

Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách quận; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; quyết định, chủ trương đầu tư chương trình, dự án trên địa bàn quận trong phạm vi được phân quyền

Quyết định các biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp; quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở quận

Quyết định thành lập, bãi bỏ cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận

Ngày đăng: 11/11/2016, 20:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (đồng củ biên) (2006), Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam, Nxb Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (đồng củ biên)
Nhà XB: Nxb Thống Kê
Năm: 2006
13. Quốc hội (2015), Luật Tổ chức Chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2015
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
15. Nguyễn Văn Thâm (Chủ biên) (2002), Thủ tục hành chính; Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục hành chính; Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Văn Thâm (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
16. Nguyễn Văn Thâm (chủ biên) (2005), Thủ tục hành chính, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục hành chính
Tác giả: Nguyễn Văn Thâm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
35. Nguyễn Cửu Việt (2010), Giáo trình Luật Hành chính, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hành chính
Tác giả: Nguyễn Cửu Việt
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
2. Bộ Nội vụ (2007), Quyết định số 2007/QĐ-BNV ngày 31 tháng 12 năm 2015 Ban hành kế hoạch triển khai xác định chỉ số cải cách hành chính năm 2015 của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Khác
3. Bộ Nội vụ (2013), Tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính, ban hành kèm theo quyết định số 2327/QĐ-BNV ngày 31/12/2013 Khác
4. Bộ Thông tin và truyền thông (2009), Thông tư số 26/2009/TT-BTTTT ngày 31/7/2009 quy định về việc cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước Khác
5. Chính phủ (1994), Nghị quyết 38/CP ngày 04/05/1994 về cải cách một bước TTHC trong việc giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân Khác
6. Chính phủ (2010), Nghị định 63/2010/NĐ ngày 8/6/2010 về kiểm soát thủ tục hành chính Khác
7. Chính phủ (2011), Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 Khác
8. Chính phủ (2013), Nghị định số 48/2013/NĐ-CP gày 14/5/2013 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính Khác
9. Chính phủ (2015), Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 về Chính phủ điện tử Khác
10. Quận Hai Bà Trưng (2010), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXIV nhiệm kỳ 2010-2015 Khác
11. Quận Hai Bà Trưng (2015), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXV nhiệm kỳ 2015-2020 Khác
12. Quận ủy Hai Bà Trưng (2016), Chương trình 01-Ctr/QU ngày 11/01/2016 về đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm, chất lượng phục vụ và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Bộ máy chính quyền các cấp trên địa bàn quận Hai Bà Trưng giai đoạn 2015-2020 Khác
14. Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội (2013), Văn bản số 1555/STTTT- ƯDCNTT ngày 15/11/2013 hướng dẫn các thành phần cơ quan điện tử Khác
17. Thủ tướng Chính phủ (2001), Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/01/2001 về thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010 Khác
18. Thủ tướng Chính phủ (2003), Quyết định số: 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/09/2003 về việc ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Khác
19. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 phê duyệt Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Kết quả giải quyết thủ tục hành chính năm 2014, 2015 và 5 - Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông   qua thực tiễn quận hai bà trưng, TP hà nội
Bảng 2.1 Kết quả giải quyết thủ tục hành chính năm 2014, 2015 và 5 (Trang 8)
Sơ đồ 2.1: Quy trình tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả hồ sơ hành chính - Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông   qua thực tiễn quận hai bà trưng, TP hà nội
Sơ đồ 2.1 Quy trình tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả hồ sơ hành chính (Trang 45)
Sơ đồ 2.2: Quy trình tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả hồ sơ hành chính một - Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông   qua thực tiễn quận hai bà trưng, TP hà nội
Sơ đồ 2.2 Quy trình tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả hồ sơ hành chính một (Trang 48)
Bảng 2.1: Kết quả giải quyết thủ tục hành chính năm 2014, 2015 và 5 tháng đầu - Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông   qua thực tiễn quận hai bà trưng, TP hà nội
Bảng 2.1 Kết quả giải quyết thủ tục hành chính năm 2014, 2015 và 5 tháng đầu (Trang 75)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w