1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trang tham gia bảo hiểm Y tế của người dân tại tỉnh Quảng Trị năm 2015 - Nghiên cứu tại 4 xã

54 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 314,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo hiểm Y tế (BHYT) là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe (CSSK) không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của pháp luật [1]. BHYT là một bộ phận trong hệ thống An sinh xã hội. Chính sách BHYT là một trong những chính sách chiến lược phát triển chung về kinh tế, xã hội, chính trị, giáo dục, y học và các lĩnh vực khác của quốc gia. Thông qua BHYT, người tham gia được đảm bảo các quyền lợi về chăm sóc sức khỏe

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGHIÊM THỊ THANH VÂN

THỰC TRẠNG THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NGƯỜI DÂN TẠI TỈNH

QUẢNG TRỊ NĂM 2015 – NGHIÊN CỨU TẠI 4 XÃ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP THẠC SỸ Y HỌC

Khóa 2015 - 2017

Chuyên ngành: Y tế công cộng

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGHIÊM THỊ THANH VÂN

THỰC TRẠNG THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NGƯỜI DÂN TẠI TỈNH

QUẢNG TRỊ NĂM 2015 – NGHIÊN CỨU TẠI 4 XÃ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP THẠC SỸ Y HỌC

Khóa 2015 - 2017

Chuyên ngành: Y tế công cộng

Người hướng dẫn khoa học:

Hướng dẫn 1: TS Dương Huy Lương Hướng dẫn 2: PGS.TS Phạm Huy Tuấn Kiệt

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BHYTTN Bảo hiểm Y tế tự nguyện

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH VẼ

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bảo hiểm Y tế (BHYT) là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vựcchăm sóc sức khỏe (CSSK) không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thựchiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của pháp luật [1].BHYT là một bộ phận trong hệ thống An sinh xã hội Chính sách BHYT là mộttrong những chính sách chiến lược phát triển chung về kinh tế, xã hội, chính trị,giáo dục, y học và các lĩnh vực khác của quốc gia Thông qua BHYT, người thamgia được đảm bảo các quyền lợi về chăm sóc sức khỏe

Bảo hiểm y tế là một hình thức bảo hiểm theo đó người mua bảo hiểm sẽđược cơ quan bảo hiểm trả thay một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnhcũng như chi phí mua thuốc men khám chữa bệnh Tùy mỗi Quốc gia mà phạm viđối tượng bảo hiểm và mức độ bảo hiểm (một phần hay toàn bộ) ở mỗi nước mộtkhác Tại Mỹ các công ty BHYT tư nhân hoạt động theo nguyên tắc thị trường nênkhông chấp nhận bảo hiểm cho những người từ 65 tuổi trở lên Chính phủ đảm bảoviệc KCB cho người già (từ 65 tuổi trở lên) theo chương trình Medicare và ngườinghèo bằng Medicaid Tại Đức, theo luật bắt buộc người Đức phải mua bảo hiểm từquỹ bệnh tật trên toàn quốc Trung bình một công nhân Đức đóng 15% tiền lươngcho BHYT, chủ sử dụng lao động đóng 15% Tại Pháp, BHYT là một sự bắt buộc,mọi người sinh ra đều phải có BHYT, tự ý bỏ BHYT là một hành vi phạm luật Mọingười trả tiền mua BHYT tủy thuộc theo thu nhập của mình Tại Nhật, năm 1961luật BHYT bắt buộc toàn dân, tỷ lệ bao phủ đạt 100% [2]

Tại Việt Nam, sau hơn 20 năm triển khai thực hiện, chính sách BHYT đã cónhững bước tiến quan trọng, góp phần tích cực trong việc xóa đói giảm nghèo, đảmbảo an sinh xã hội, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Đặc biệt, đối tượng tham giaBHYT đã tăng từ 60% năm 2010 lên 65% vào năm 2011 và đến năm 2015 có trên

69 triệu người tham gia BHYT, đưa diện bao phủ BHYT lên hơn 76% [3], [4] Năm

2013, Quỹ BHYT đã chi trả trên 42.000 tỷ đồng cho hơn 131 triệu lượt người khámchữa bệnh BHYT, trong đó có hàng chục triệu người nghèo, người có công với đấtnước, người mắc bệnh hiểm nghèo [3] Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt

Trang 8

được, Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức trong việc mở rộng độ bao phủBHYT toàn dân

Quảng Trị là một tỉnh ở dải đất miền Trung thuộc vùng Bắc Trung bộ, phíabắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía nam giáp thừa Thừa Thiên Huế, phía tây giáp Lào,phía đông giáp biển Đông Phần lớn lao động trên địa bàn tỉnh làm việc trong cácngành nông, lâm, ngư nghiệp (năm 2010 chiếm tỷ lệ 55%) Năm 2014 dân số tỉnhQuảng Trị là 616.400 người [5], trong đó có 18.982 hộ nghèo (tỷ lệ 11,76%),17.393 hộ cận nghèo (tỷ lệ 10,78%) [6] Trong thời gian gần đây, Quảng Trị đã thựchiện nhiều các chương trình nhằm cải thiện chất lượng hệ thống y tế và nâng caosức khỏe người dân Từ năm 2011 đến năm 2014, tỷ suất chết trẻ em < 1 tuổi đãgiảm từ mức 35,4‰ xuống còn 32,4‰, tuy nhiên vẫn còn cao hơn rất nhiều so với

cả nước (14,9‰) Tương tự như vậy, tỷ lệ SDD TE< 5 tuổi (%) cũng giảm xuốngmức 50,2% - nhưng vẫn cao hơn so với cả nước (46,2%) Bên cạnh đó, tỷ lệ baophủ BHYT ở Quảng Trị đạt mức 79,93% năm 2015 [4], nhưng vẫn chưa đạt đượcchỉ tiêu theo quyết định 1584 /QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiêu thực hiệnbao phủ bảo hiểm y tế giai đoạn 2015 – 2020 (81,3%) Như vậy, hướng tới mục tiêubao phủ BHYT toàn dân trên 90% dân số tham gia BHYT vào năm 2020 [7],nghiên cứu này cung cấp những thông tin về thực trạng mua BHYT của người dân

và những yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia BHYT của họ, từ đó đưa ra cái nhìntổng quan nhất về vấn đề BHYT của tỉnh Quảng Trị và đưa ra những khuyến nghị,giải pháp can thiệp làm tăng tỷ lệ này Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu

“Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của người dân tỉnh Quảng Trị năm 2015 – Nghiên cứu tại 4 xã” với các mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng tham gia BHYT của người dân tại tỉnh Quảng Trị năm 2015

2 Xác định một số yếu tố liên quan với thực trạng tham gia BHYT của người dântại tỉnh Quảng Trị năm 2015

3 Mô tả chi phí sử dụng cho y tế của người dân tại tỉnh Quảng Trị năm 2015

Trang 9

Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các khái niệm chung

1.1.1 Khái niệm

BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực CSSK, không vìmục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệmtham gia theo quy định của pháp luật [8]

Viện phí là khái niệm riêng của Việt Nam và một số nước trong quá trìnhchuyển đổi nền kinh tế Viện phí là hình thức chi trả trực tiếp các chi phí khám chữabệnh tại thời điểm người bệnh sử dụng dịch vụ y tế, hay nói cách khác là khoản phí

mà người bệnh phải trả từ tiền túi của mình khi sử dụng dịch vụ y tế [2]

Chi phí Y tế thảm họa (CATA) là khoản chi trực tiếp của hộ gia đình dànhcho y tế (thường tính trong một năm) vượt quá khả năng chi trả của hộ gia đình ởmột mức nào đó Khả năng chi trả của hộ gia đình là phần thu nhập còn lại của hộgia đình sau khi đã chi cho lương thực, thực phầm [9]

1.1.2 Nguyên tắc bảo hiểm y tế [ 10 ]

− Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế

− Mức đóng bảo hiểm y tế được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiềncông, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính(sau đây gọi chung là mức lương tối thiểu)

− Mức hưởng bảo hiểm y tế theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm viquyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế

− Chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế do quỹ bảo hiểm y tế và người thamgia bảo hiểm y tế cùng chi trả

− Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảođảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ

1.1.3 Phân loại Bảo hiểm Y tế

Mục đích của BHYT xã hội bắt buộc và tự nguyện là nhằm tạo ra dịch vụ y

tế tốt hơn và công bằng hơn về mặt tài chính, có nghĩa là mức thanh toán cho cácdịch vụ y tế sử dụng phân bổ theo thu nhập chứ không phụ thuộc vào nhu cầu KCB.BHYT nói chung và tự nguyện nói riêng đều nhằm mục đích: bảo vệ sức khoẻ chongười tham gia và bảo vệ hậu quả về kinh tế do phí tổn tiêu dùng cho khám chữa

Trang 10

bệnh Bảo hiểm y tế được chia thành hai loại hình BHYT bắt buộc và BHYT tựnguyện [2], [11].

Bảo hiểm y tế bắt buộc: là hình thức BHYT được thực hiện trên cơ sở bắt buộc của người tham gia, trong đó toàn bộ thành viên trong một tổ chức, cộng đồng

nào đó dù muốn hay không cũng phải mua BHYT với mức phí quy định Tiêu chí

để định mức phí BHYT thường tính theo tỷ lệ % thu nhập của người tham gia bảohiểm, người có thu nhập cao thì đóng nhiều, nhưng việc hưởng chế độ BHYT lạidựa trên sự kiện pháp lý (ốm đau, tai nạn…) theo quy định của pháp luật [7], [2]

Bảo hiểm y tế tự nguyện: là hình thức BHYT được thực hiện trên cơ sở tự

nguyện của người tham gia Người dân thường được tự do trong việc lựa chọn vềviệc tham gia hay không, mức hưởng bảo hiểm, mức đóng, hình thức đóng v.v Việc tự do lựa chọn của người tham gia trong hình thức BHYT này tùy thuộc vàochính sách bảo hiểm của quốc gia đó BHYT tự nguyện có số lượng người tham giađông đảo, đa dạng về các thành phần và nhận thức xã hội, có điều kiện kinh tế vànhu cầu chăm sóc sức khỏe khác nhau [7], [12]

1.1.4 Tầm quan trọng của BHYT

Đầu thập kỷ 90, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới trong lĩnh vực y tế,trong đó có chính sách đổi mới về cơ chế tài chính cho y tế, chuyển đổi từ cơ chế tàichính cho y tế hoàn toàn dựa trên ngân sách Nhà nước (NSNN) sang cơ chế tàichính y tế hỗn hợp với nhiều nguồn tài chính Theo đó, từ năm 1992, chính sáchBHYT xã hội được triển khai thực hiện

BHYT được áp dụng trong lĩnh vực CSSK, không vì mục đích lợi nhuận, doNhà nước tổ chức thực hiện [10] Bản chất của BHYT dựa trên nguyên lý tập hợp

và chia sẻ rủi ro về sức khỏe, bệnh tật Khi ốm đau hay tai nạn thường chỉ là một sựkiện bất ngờ và không dự đoán trước được BHYT sẽ giúp giảm rủi ro và tăng sựbảo vệ về tài chính đối với mỗi cá nhân đứng trước nguy cơ tổn thất về tài chính do

ốm đau, bệnh tật Các cá nhân tham gia BHYT sẽ được chi trả, đền bù các chi phíphát sinh Mức độ chi trả do cơ quan bảo hiểm quy định dựa trên mức đóng BHYTcủa mỗi cá nhân và sự tính toán về khả năng hay tần suất xuất hiện nguy cơ ốm đau

Trang 11

của mỗi cá thể Mức đền bù này gọi là quyền lợi mà người tham gia BHYT đượchưởng [13]

Theo Luật BHYT do Quốc hội ban hành ngày 14/11/2008, BHYT là hìnhthức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực CSSK, không vì mục đích lợi nhuận, doNhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy địnhcủa Luật [14] Về cơ bản, đó là một cách dành dụm một khoản tiền trong số tiền thunhập của mỗi cá nhân hay mỗi hộ gia đình để đóng vào quỹ do Nhà nước đứng raquản lý, nhằm giúp mọi thành viên tham gia quỹ có ngay một khoản tiền trả trướccho các cơ sở cung cấp dịch vụ CSSK, khi người tham gia không may ốm đau phải

sử dụng các dịch vụ đó Cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ thanh toán khoản chi phí nàytheo quy định của Luật BHYT [15]

Chính sách của Nhà nước về BHYT: Nhà nước đóng hoặc hỗ trợ tiền đóngbảo hiểm y tế cho người có công với cách mạng và một số nhóm đối tượng xã hội.Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với hoạt động đầu tư từ quỹ BHYT để bảo toàn

và tăng trưởng quỹ Nguồn thu của quỹ và số tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư từquỹ BHYT được miễn thuế Nhà nước tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham giaBHYT hoặc đóng BHYT cho các nhóm đối tượng Nhà nước khuyến khích đầu tưphát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến trong quản lý BHYT [10]

BHYT có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo người dân được tiếp cận

và sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hệ thống tàichính y tế dựa vào thuế hoặc BHYT xã hội được xem là nguyên tắc cơ bản để đảmbảo tiếp cận y tế khi có nhu cầu và sự bảo vệ về tài chính khi ốm đau Tuy nhiên, sovới phương thức huy động nguồn tài chính từ thuế, BHYT minh bạch, rõ ràng hơnkhi người tham gia biết rõ mình đang góp tiền cho CSSK cũng như gói quyền lợimình được hưởng Mặt khác, thực tế các nước đang phát triển cho thấy việc thiếtlập một hệ thống y tế dựa trên thuế không hề đơn giản [16]

BHYT phải đảm bảo đủ nguồn tài chính cho CSSK sao cho người dân đượcCSSK khi cần và bảo vệ người dân trước rủi ro rơi vào bẫy đói nghèo do phải chitrả quá lớn khi đau ốm đồng thời loại bỏ cản trở về tài chính đối với người dân khi

bị đau ốm

Trang 12

BHYT toàn dân là mọi người dân đều được quyền tham gia và được bảo vệbởi hệ thống BHYT BHYT toàn dân có nghĩa là tất cả mọi người có thể tiếp cậndịch vụ y tế chất lượng mà không cần phải lo sợ tới gánh nặng từ tài chính mang lại.Theo quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), vấn đề BHYT toàn dân phảiđược tiếp cận đầy đủ trên cả ba phương diện về chăm sóc sức khỏe toàn dân, baogồm: (1) Bao phủ về dân số, tức là tỷ lệ dân số tham gia BHYT; (2) Bao phủ góiquyền lợi về BHYT, tức là phạm vi dịch vụ y tế được đảm bảo; và (3) Bao phủ vềchi phí hay mức độ được bảo hiểm để giảm mức chi trả từ tiền túi của người bệnh[17], [18]

Hình 1.1 Khái niệm không gian 3 chiều của bao phủ BHYT toàn dân

Tại Việt Nam, BHYT được coi là một chính sách quan trọng để thực hiệnmục tiêu xây dựng nền y tế theo định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển; làmột chính sách xã hội quan trọng được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm Trongtiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước hội nhập sâu vào nền kinh tếthế giới hiện nay, thì hệ thống an sinh xã hội nói chung và BHYT nói riêng phảiđược phát triển và hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu của người lao động, của nhân dân,

là một trong những nhu cầu rất cơ bản của con người Bảo đảm nhu cầu về an sinh

xã hội, trước hết là nhu cầu về BHYT là một trong những mục tiêu rất quan trọng,thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng phù hợp với xuthế chung của cộng đồng quốc tế hướng tới một xã hội phồn vinh, công bằng và antoàn [19]

3 Tăng tỷ

lệ chi trả

2 Mở rộng gói dịch vụ

Mức độ bao phủ hiện tại

1 Tăng tỷ lệ bao phủ

Trang 13

1.2 Bao phủ bảo hiểm y tế

1.2.1 Tình hình bao phủ bảo hiểm y tế tại một số quốc gia trên thế giới

Mở rộng diện bao phủ BHYT đòi hỏi kinh phí bổ sung đáng kể từ NSNN.Hiện nay, chiến lược tăng mức bao phủ BHYT vẫn phần lớn dựa vào chế độ thamgia tự nguyện Thực tế, đa số những nước đã thành công trong việc nâng mức baophủ đến các nhóm khó tiếp cận như cận nghèo hay các đối tượng chính sách đều ápdụng chế độ tham gia bắt buộc và hỗ trợ đóng phí từ NSNN, dù đó là hỗ trợ toàn bộhay một phần

Nước Đức: Đến năm 2007 được đánh dấu là năm nước Đức hoàn thành mục

tiêu BHYT toàn dân Khi đó thì toàn bộ người dân của Đức (82 triệu người) có thẻBHYT Mặc dù vậy, vẫn còn một bộ phận dân cư không thể tiếp cận được vớiBHYT, họ là những người nhập cư trái phép (ước tính có khoảng 300.000 đến 1triệu người) Đối với những người không có thẻ BHYT thì khi vào bệnh viện, họvẫn nhận được các dịch vụ y tế mà không trả được tiền, tuy nhiên bệnh viện sẽ báolên cơ quan bảo hiểm xã hội, và cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ báo lên cơ quan luậtpháp để giải quyết Vì lý do đó mà người nhập cư trái phép không muốn đến bệnhviện ngay cả khi họ cần đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Vì vậy, ở Đức đã thànhlập những Quỹ (Trust Fund) do tư nhân đóng góp để hỗ trợ cho nhóm đối tượng này[20]

Hàn Quốc cũng là 1 nước trong khu vực Châu Á xây dựng luật BHYT sớm,

từ năm 1963 đã xây dựng chính sách về BHYT, ngay từ đó đã quyết định áp dụngchính sách BHYT tự nguyện Mãi đến năm 1977 khi đã trở thành một nước có nềnkinh tế phát triển thì Hàn Quốc mới ban hành luật BHYT bắt buộc toàn dân Đếnnăm 1989, gần 100% người Hàn Quốc có thẻ BHYT Hiện nay tại Hàn Quốc đã baophủ BHYT toàn dân, bao cấp y tế tốt hơn cho đối tượng dễ bị tổn thương [21] Để

hỗ trợ cho chương trình này, tới tận năm 2000, chủ doanh nghiệp có dưới 5 laođộng vẫn được miễn các khoản đóng góp cho người lao động [22]

Trung Quốc đã tiến hành bao phủ BHYT đạt tỷ lệ 90% nhờ chương trình

BHYT nông thôn mới Trong chương trình này, người dân nông thôn được trợ cấp85% phí BHYT Bên cạnh đó, chương trình này cũng yêu cầu sự tham gia của cả

Trang 14

gia đình Bên cạnh quảng cáo về BHYT tự nguyện trên các phương tiện thông tinđại chúng, thông tin về số tiền BHYT đã chi trả cho các cá nhân hưởng lợi được dáncông khai trên bảng tin thôn/tổ dân phố, công khai lợi ích hữu hình của BHYT [22].

Đài Loan công bố chính sách BHYT toàn dân, thực hiện chế độ BHYT bắt

buộc từ 01/05/1995 cho tất cả công dân nước mình trong khi số lao động khu vựcnông nghiệp chỉ còn khoảng 10%, trừ công chức Nhà nước và tù nhân (được KCBmiễn phí), đến cuối năm 1998 đã đạt 96% dân số có BHYT (26,8 triệu người).Người lao động nước ngoài, công dân cư trú dài hạn tại Đài Loan cung thuộc đốitượng tham gia BHYT bắt buộc Đài Loan và Hàn Quốc có điểm chung lớn trongviệc thành công trong bao phủ BHYT toàn dân, đó là sự kết hợp giữa tăng trưởngkinh tế và chế độ chính trị độc đoán, tạo điều kiện để thực hiện BHYT bắt buộc, bảođảm người sử dụng lao động tuân thủ luật pháp và đóng góp tới một nửa chi phí chonhững người lao động [22]

Thái Lan, chương trình 30 bath của Thái Lan khá thành công với 24,3 triệu

người được miễn giảm khoản đóng góp 30 bath và 22,2 triệu người phải đóng góp

30 bath khi sử dụng dịch vụ y tế Chương trình đã đem lại độ bao phủ dân số 72%vào năm 2003 chỉ sau 2 năm thực hiện Chương trình BHYT cho công chức có chiphí lớn nhất và chương trình 30 bath có mức chi phí thấp nhất Năm 2007, chươngtrình bao phủ toàn dân với sự hỗ trợ 100% từ NSNN Tuy nhiên, trong vòng ba nămđầu tiên thực hiện bao phủ toàn dân, số lao động phi chính thức đã tăng 10% Vớiviệc ngày càng mở rộng đối tượng, đến tháng 4 năm 2012 Thái Lan đã thực hiệnthành công BHYT toàn dân [15], duy trì mức độ bao phủ luôn đạt 90 - 100% Haichương trình nổi bật nhất trong các chính sách BHYT là chương trình miễn phíBHYT cho công chức nhà nước và người phụ thuộc, và đặc biệt là chỉ yêu cầu đóngphí BHYT với người lao động chính, còn các thành viên khác trong gia đình thamgia bao phủ y tế toàn dân được miễn phí 100% Hiện nay, trên 60% kinh phí quỹBHYT được huy động từ NSNN [15]

Philippine, chương trình BHYT xã hội tại Philippine được bắt đầu từ năm

1997, năm 2004 đạt tỷ lệ bao phủ BHYT xã hội 81% nhờ chương trình bao cấp củaChính phủ cho người nghèo tham gia BHYT Tuy nhiên, suốt 13 năm (1999 -

Trang 15

2012), nước đã cố gắng triển khai BHYT trong nhóm lao động PCT và cận nghèotheo phương thức tự chi (phải có thẻ BHYT mới cấp bằng lái xe, tham gia BHYTtheo nhóm,…) nhưng 2/3 số người trong nhóm này không đóng phí BHYT thườngxuyên Các đối tượng đóng thường xuyên lại thường bị bệnh mãn tính nên có tỷ lệ

sử dụng BHYT cao hơn mức trung bình Đến năm 2013, Philippine đã chấp nhận hỗtrợ chi trả cho nhóm cận nghèo [15], [23]

Điểm qua một số loại hình BHYT ở một số nước trên đây cho chúng ta thấycác loại hình BHYT khá đa dạng về cách thức tổ chức cũng như đối tượng tham gia.Hiện tại, Hàn Quốc và Philippine đang giải quyết vấn đề tài chính thông qua thuếhàng hóa độc hại Bên cạnh đó, để đảm bảo tỷ lệ bao phủ BHYT thì việc cung cấpkiến thức về BHYT bằng tiếp thị xã hội là không thể thiếu Ví dụ như tại Kenya hayIndonesia, rào cản chính trong tiếp cận BHYT chỉ đơn giản là thiếu thông tin vềBHYT và các lựa chọn sẵn có

1.2.2 Thực trạng bao phủ BHYT tại Việt Nam

Mở rộng đối tượng tham gia BHYT là nhiệm vụ ưu tiên trong giai đoạn hiệnnay đối với công tác BHYT Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án thực hiện lộ trình BHYTtoàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020 Và đến tháng 6 năm 2016, Thủ tướng Chínhphủ đã ban hành nghị quyết số 1167/QĐ-TTg về “Điều chỉnh giao chỉ tiêu thực hiện bao phủ BHYT” trong đó đến năm 2020, tất cả các tỉnh thành phố đều có tỉ lệ

bao phủ BHYT đạt trên 90% Bên cạnh đó, Bộ Y tế đã phối hợp với Bộ Tài chínhxây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 705/QĐ-TTg về việc

hỗ trợ 100% mức đóng BHYT cho người cận nghèo mới thoát nghèo trong 5 năm,người cận nghèo sinh sống ở các huyện nghèo và huyện được hưởng chính sách nhưhuyện nghèo [7], [24]

Về kết quả thực hiện mở rộng BHYT (Bảng 1.1), ước tính năm 2015, sốngười tham gia BHYT là 69.972.649 người đạt tỷ lệ bao phủ 76,52% dân số, tăng55,42% so với năm 2004 (21,10%); 32,76% so với năm 2008 (43,76%) và vượt1,12% so với chỉ tiêu theo quyết định 1584/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ vềviệc thực hiện BHYT toàn dân giai đoạn 2015 - 2020 [4]

Trang 16

Bảng 1 1 Thực trạng sử dụng BHYT theo các năm tại Việt Nam

Năm Số người tham gia BHYT (triệu người) Tỷ lệ dân số có thẻ BHYT (%)

Bảng 1 2 Hoạt động BHYT tại Việt Nam qua các năm Năm

Tổng số thu BHYT (triệu đồng)

Tổng số chi BHYT (triệu đồng) Tỷ lệ chi/thu BHYT (%)

Nguồn Niên giám thống kê 2014

Theo số liệu của BHYT Việt Nam năm 2013 Trong tổng số người tham giaBHYT, nhóm nghèo, cận nghèo chiếm tỷ lệ cao nhất với 26% Các đối tượng đượcNSNN hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần kinh phí tham gia BHYT chiếm tỷ lệ 60% tổng

số người có BHYT (Biểu đồ 1.1) [24]

Biểu đồ 1 1 Cơ cấu các nhóm đối tượng tham gia BHYT năm 2013

Trang 17

Bên cạnh đó còn tỷ lệ lớn người dân Việt Nam chưa tham gia BHYT, ướctính khoảng 31,9 triệu người Trong số đó, có 15,7 triệu người là lao động khôngthuộc diện nghèo và gia đình của họ thuộc nhóm đối tượng tham gia tự nguyện; 7,4triệu người cận nghèo, học sinh, sinh viên, được nhà nước trợ cấp một phần phítham gia; 6,2 triệu lao động chính thức, trong đó chi phí tham gia do cả người sửdụng lao động và người lao động chi trả; 1,9 triệu trẻ em dưới 6 tuổi được nhà nướctài trợ hoàn toàn Trong số 14,3 triệu người thuộc diện nghèo hay người dân tộcthiểu số được nhà nước trợ cấp BHYT toàn bộ, gần 300.000 người chưa tham giaBHYT [22].

Biểu đồ 1 2 Tỷ lệ mua BHYT theo các nhóm dân số năm 2012 [ 14 ]

Tỷ lệ mua BHYT ở các hộ gia đình cận nghèo còn thấp, mặc dù đã đượcNSNN tăng mức hỗ trợ từ 50% mức phí BHYT lên 70% từ năm 2012 Năm 2012,vẫn còn 3/4 trong tổng số 5,8 triệu người cận nghèo chưa tham gia BHYT, do nhiềunguyên nhân khác nhau, như: nhận thức về quyền lợi, trách nhiệm BHYT; mứcđóng còn cao, cùng chi trả tới 20% Nguyên lý cơ bản của BHYT xã hội là “đónggóp một khoản tiền định trước để bảo vệ bản thân trước chi phí y tế lớn khônglường trước” [25] dường như chưa được thực hiện trong thực tế cuộc sống

Trang 18

Việt Nam đang gặp vấn đề “khoảng trống giữa” thường thấy ở hầu hết cácnước trong khu vực khi tỷ lệ mua BHYT cao ở các nhóm đối tượng có thu nhậpthấp và cao nhất, trong khi tỷ lệ này thấp ở các đối tượng thu nhập trung bình.

“Khoảng giữa” ở đây chủ yếu gồm người lao động không chính thức không thuộcdiện nghèo Thân nhân của người lao động có việc làm chính thức cũng thuộc diệnnày vì chế độ BHYT của lao động chính thức chỉ dành cho chính người lao động

mà thôi Người thuộc hộ gia đình nông nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp và lâmnghiệp có thu nhập trung bình trở lên cũng thuộc nhóm này Theo luật BHYT, tất cảnhững đối tượng này đều được coi là đối tượng bảo hiểm tự nguyện, bổ sung.Nhưng tỷ lệ mua BHYT của nhóm này rất thấp, chỉ đạt 26% năm 2011, do chi phíquá cao và giá trị của BHYT được cho là không tượng xứng với chi phí tham gia[22]

Nguyên nhân của tỷ lệ mua BHYT thấp ở các hộ cận nghèo và lao động phichính thức có thu nhập trung bình trở lên là do: (i) chất lượng dịch vụ KCB ở y tế

cơ sở chưa đáp ứng nhu cầu và do vẫn phải trả tiền túi khi KCB ở tuyến trên, (ii)mức hỗ trợ đóng BHYT từ NSNN cho khu vực lao động phi chính thức còn thấp,trong khi thu nhập của các hộ cận nghèo, cũng như các hộ gia đình nông thôn trêncận nghèo ở nước ta còn thấp Mức độ hỗ trợ từ NSNN để đóng phí BHYT chongười cận nghèo, người thu nhập trung bình chưa đủ để giúp họ mua BHYT

1.2.3 Tầm quan trọng của bao phủ BHYT

Bao phủ chăm sóc tế toàn dân đang là một xu hướng chung của nhiều nướctrên thế giới Việt Nam, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới và các tổ chức khác,

là một trong những nước đã coi BHYT toàn dân là một chiến lược quốc gia và đã cónhững bước tiến lớn trong việc thực hiện mục tiêu bảo đảm cho người dân có thểtiếp cận tới những dịch vụ y tế cần thiết, có chất lượng và với chi phí hợp lý Đạihội đồng Liên hiệp Quốc kêu gọi chính phủ các nước “khẩn trương đẩy mạnh nỗlực thực hiện mục tiêu tiếp cận toàn dân tới các dịch vụ y tế có chất lượng và chi phíhợp lý”, và thậm chí trước năm 2005, khi Hội đồng Y tế Thế giới kêu gọi chính phủcác nước “xây dựng hệ thống y tế quốc gia nhằm bảo đảm cho mọi người dân đều

Trang 19

được tiếp cận dịch vụ và không phải đối mặt với những khó khăn về tài chính khichi trả cho dịch vụ y tế” [22]

Bao phủ CSSK toàn dân được trình bày theo nhiều cách khác nhau, dù cóliên quan tới nhau Hiểu theo cách đơn giản nhất, bao phủ CSSK toàn dân gồm 3mục tiêu: Đảm bảo công bằng (KCB theo nhu cầu chứ không theo khả năng chi trả),bảo vệ tài chính (bảo đảm KCB không dẫn tới bần cùng hóa) và tiếp cận hiệu quả,toàn diện các dịch vụ y tế có chất lượng [22]

Chia sẻ rủi ro và chi trả trước cho CSSK có tính quyết định trong bảo vệ tàichính đối với người sử dụng dịch vụ y tế [25] Tài chính cho y tế dựa trên NSNN vàtài chính cho y tế dựa trên BHYT xã hội là 2 cơ chế thực hiện chia sẻ rủi ro và chitrả trước cho CSSK Theo khuyến cáo của WHO, để tiến tới bao phủ CSSK toàndân cho các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong giai đoạn 2011–

2015, về mặt tài chính, cần bao phủ hình thức chi trả trước và chia sẻ rủi ro cho hơn90% dân số; và bao phủ cho gần 100% các đối tượng dễ bị tổn thương bằng trợ cấp

xã hội và các chương trình an sinh [25]

Tại Việt Nam, năm 2008, Luật BHYT được ban hành với lộ trình bao phủcác nhóm dân cư cuối cùng vào năm 2014 Trên 27 triệu người, bao gồm ngườinghèo, người dân tộc thiểu số sống ở các khu vực kinh tế khó khăn, trẻ em dưới 6tuổi và nhiều nhóm đối tượng đang hưởng các chính sách ưu đãi, bảo trợ xã hộikhác đã được Nhà nước hỗ trợ toàn phần phí BHYT Người cận nghèo, học sinhsinh viên cũng được Nhà nước hỗ trợ phần lớn phí BHYT (đối với hộ cận nghèo,mức hỗ trợ đến năm 2012 là 50% mức phí; từ năm 2013 tối thiểu là 70% mức phí)[26] Năm 2013, có 61,76 triệu người tham gia BHYT, chiếm tỷ lệ 68,84% dân số.Năm 2015, ước tính khoảng 69,97 triệu người tham gia BHYT, chiếm khoảng76,52% dân số [4] (Bảng 1.3)

Bảng 1 3 Tỷ lệ bao phủ BHYT tại Việt Nam, 2013 –2015

Trang 20

Tài chính từ quỹ BHYT đã trở thành một nguồn tài chính quan trọng choCSSK Năm 2012, quỹ BHYT đã chi khoảng 33.419 tỷ đồng cho hoạt động KCB.Phạm vi bao phủ BHYT đối với các dịch vụ KCB khá toàn diện bao gồm cả dịch vụphục hồi chức năng ở tất cả các tuyến y tế Nhiều chính sách mới được thực hiệnnhằm nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ và cải thiện chất lượng dịch vụ y tế Bêncạnh đó, Chính phủ cũng đã có quyết định về việc điều chỉnh giao chỉ tiêu thực hiệnbao phủ BHYT cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươnggiai đoạn 2016 – 2020, theo đó, đến năm 2020, tất cả 63 tỉnh, thành phố đều đượcgiao chỉ tiêu bao phủ BHYT đạt trên 90%; trong đó, một số địa phương được giaochỉ tiêu đạt gần 100% là: Lào Cai 98,8%, Thái Nguyên và Điện Biên 98,5%, HàGiang 98,2% [7]… Trên cơ sở đó, Bộ Y tế xác định thực hiện BHYT toàn dân làmột trong các nhiệm vụ trọng tâm của Kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sứckhoẻ nhân dân giai đoạn 2016–2020

1.3 Các yếu tố liên quan đến thực trạng sử dụng BHYT

Hiện nay, ở Việt Nam có một vài nghiên cứu liên quan đến thực trạng sửdụng BHYT, cũng như các yếu tố liên quan đến việc sử dụng BHYT của người dân.Điển hình là nghiên cứu “Thực trạng tham gia BHYT của nông dân tỉnh Thái Bìnhnăm 2014” của tác giả Vũ Ngọc Huyên và Nguyễn Văn Song Trong nghiên cứunày các tác giả đã chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng cũng như nhu cầumua BHYT của người nông dân: (1) Không có thói quen đi KCB (chiếm 80%); (2)Thủ tục hành chính rườm rà (chiếm 75%); (3) Mức đóng BHYT cao (chiếm 65%)

và (4) Thu nhập thấp (chiếm 55%) [19] Trong báo cáo Kết quả nghiên cứu khảnăng thực hiện BHYT toàn dân năm 2011, đa số hộ gia đình nông dân không có khảnăng đóng BHYT, nhất là đối tượng phải đóng toàn bộ chi phí mua thẻ (45,3%người dân được hỏi cho rằng mức đóng cao, không có khả năng tham gia) [27]

Trong nghiên cứu của Ngô Văn Đôn về “Nhận thức, mua và sử dụng thẻBHYT tự nguyện và một số yếu tố liên quan của người dân” (nghiên cứu mô tả cắtngang tại 215 hộ gia đình tại xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2006)cho thấy nhóm có thẻ BHYT có kiến thức về BHYT đạt cao hơn nhóm không có thẻBHYT (47,7% và 9,3%), kết luận có mối liên quan giữa kiến thức về BHYTTN,

Trang 21

người dân có kiến thức về BHYTTN càng tốt thì tỷ lệ mua BHYT càng cao Về việc

sử dụng thẻ BHYTTN khi KCB, kết quả cho thấy chỉ có 78,6% có sử dụng, còn lại21,4% không sử dụng Các lý do không sử dụng gồm: không thích dùng 10,7%;chất lượng thuốc không đảm bảo 9,8% Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy 29,6%trả lời là có gặp phiền hà khi KCB bằng thẻ BHYT Nghiên cứu cũng chỉ ra cácnguyên nhân người dân chưa hoặc không tham gia BHYT: thiếu thông tin (49,8%),không biết mua ở đâu (do thiếu thông tin) (17%), điều kiện và thủ tục tham gia phứctạp (16,7%) Về mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe với việc mua thẻ, kết quảcho thấy có mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe và việc mua thẻ BHYTTN.Nhóm có sức khỏe trung bình và yếu có xu hướng mua thẻ BHYTTN cao hơn nhóm

có sức khỏe tốt [28]

Nghiên cứu của Trần Thúy Hà về “Nhận thức và yếu tố liên quan đến mua

và sử dụng thẻ BHYT tự nguyện của người dân xã Trung Hòa, huyện Chương Mỹ,tỉnh Hà Tây” năm 2006, nghiên cứu mô tả cắt ngang tại 200 hộ gia đình có thànhviên mua thẻ BHYTTN và 200 hộ gia đình chưa có thành viên mua thẻ BHYTTN,kết quả cũng cho thấy việc đối tượng đích tham gia và quyết định tham giaBHYTTN phụ thuộc vào sự hiểu biết của họ (những người có kiến thức đạt vềBHYT thuộc nhóm có tham gia BHYTN là 95,5%; trong khi đó, nhóm không thamgia BHYTTN có tỷ lệ kiến thức không đạt khá cao, 76%) Về độ tuổi tham giaBHYT, có mối liên quan giữa tuổi với việc mua BHYTTN Nghiên cứu chỉ ra phầnlớn người dân mua thẻ là do tổ chức, đoàn thể yêu cầu mua (27,88%); có 10,99%mua vì cho rằng thường hay đau ốm; có 2,41% người dân tin tưởng vào chất lượngđiều trị [21]

1.4 Chi phí sử dụng BHYT cho khám chữa bệnh

1.4.1 Chi phí sử dụng BHYT cho KCB

Giai đoạn 2009 – 2012, ngân sách nhà nước (NSNN) hỗ trợ cho khoảng 70%

số đối tượng tham gia BHYT, bình quân chiếm 42% so với tổng thu BHYT, chủyếu hỗ trợ cho người có công, người nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số,trẻ em dưới 6 tuổi, học sinh, đối tượng bảo trợ xã hội Số tiền NSNN hỗ trợ tăngmạnh từ 4.537 tỷ đồng (2009) lên 16.937 tỷ đồng (2012) Phần ngân sách hỗ trợ cho

Trang 22

các đối tượng tham gia BHYT so với tổng chi thường xuyên cho y tế hàng năm đãtăng từ 27% (2009) lên 33% (2012).

Đối với các nhóm đối tượng không sử dụng lao động và người lao động,nhóm cán bộ, công chức, viên chức và đối tượng tham gia BHYT tự nguyện đóngtrên 52.540 tỷ đồng chiếm 49% tổng số thu BHYT Số tiền này đã tăng từ 7.170 tỷvào năm 2009 lên 18.072 tỷ đồng vào năm 2012, nhưng tỷ lệ này có xu hướng giảmdần (năm 2009: 55%, năm 2010: 49%, 2011 và 2012 đều là 46%) [29]

Theo Thông tư liên tịch về việc hướng dẫn thực hiện BHYT số41/2014/TTLT-BYT-BTC ngày 24 tháng 11 năm 2014 của Bộ Y tế, Bộ Tài chínhquy định:

- Các đối tượng sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, người cócông, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm, trẻ emdưới 6 tuổi, người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội, người thuộc hộ gia đìnhnghèo, người dân tộc thiểu số… được NSNN hỗ trợ 100% mức đóng

- Đối với nhóm đối tượng được NSNN hỗ trợ một phần mức đóng BHYTbao gồm: hộ gia đình cận nghèo, học sinh, sinh viên, người thuộc hộ gia đình làmnông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình sốtiền đóng của người tham gia được xác định theo mức đóng BHYT và mức lương

cơ bản tại thời điểm đóng BHYT

- Đối với nhóm đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình số tiền đóngđược xác định theo mức đóng giảm dần từ thành viên thứ 2 trở đi

Bảng 1 4 Mức thanh toán trực tiếp cho người bệnh có thẻ BHYT [ 30 ]

Loại hình khám

bệnh, chữa bệnh Tuyến chuyên môn kỹ thuật

Mức thanh toán tối đa cho một đợt khám bệnh, chữa bệnh (đồng)

Ngoại trú Cơ sở y tế tuyến huyện và

Trang 23

Cơ sở y tế tuyến trung ương và

1.4.2 Chi phí y tế thảm họa

Trong xu thế vận động của các nước thành viên hướng tới mục tiêu CSSKtoàn dân, WHO đã khuyến cáo các nước cần tăng cường các cơ chế tài chính chi trảtrước và giảm các hình thức chi trả trực tiếp qua phí dịch vụ [17] Tại Việt Nam,nhìn chung mức chi phí cho KCB là rất cao Chi công trong tổng chi tiêu y tế (baogồm NSNN, BHYT và viện trợ) trong vài năm qua có xu hướng giảm, từ 46,6%năm 2010 xuống còn 42,6% năm 2012 theo số liệu Tài khoản y tế quốc gia ước tínhmới nhất năm 2014 Hậu quả tiêu cực của xu hướng này là chi tiêu từ tiền túi của hộgia đình cho y tế, đã từng có xu hướng giảm như mong muốn, và bắt đầu tăng trởlại, chiếm 48,8% tổng chi tiêu cho y tế năm 2012 [24]

Hệ thống y tế cung cấp các dịch vụ y tế, phòng và chữa bệnh Các dịch vụnày có thể cải thiện sức khỏe của người dân Tuy nhiên, việc sử dụng những dịch vụnày có thể dẫn tới người bệnh cần phải chi một phần chi phí khá lớn (Chi phí thảmhọa) từ thu nhập của họ và điều này có thể đẩy một số gia đình đến với nghèo đói[9] Một cuộc điều tra chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe hộ gia đình trên quy mô toàncầu cho biết mỗi năm có hơn 150 triệu người trên toàn thế giới phải đối mặt vớinhững khó khăn về tài chính do phải chi trả cho CSSK và có hơn 100 triệu người bịđẩy vào cảnh nghèo khó do những chi phí y tế [31]

Tại Việt Nam, Theo báo cáo về điều tra mức sống dân cư từ năm 2010 đến

2014 đã phản ánh tỷ lệ HGĐ có mức chi tiêu trực tiếp cho y tế trên tổng số chikhông tính cho lương thực thực phẩm bằng từ 25% và sự thay đổi của tỷ lệ này.Theo đó tỷ lệ này tính chung cho các nhóm dân số chưa có xu hướng giảm dần theothời gian như kết quả mong đợi mà có xu hướng tăng nhẹ từ khoảng 15% (các năm

2010 và 2012) lên 16,6% vào năm 2014 Nhóm HGĐ khá giả có tỷ lệ hộ gia đình có

số chi tiêu cho CSSK > 25% tổng chi ngoài lương thực thực phẩm là lớn nhất.Trong đó, nhóm người nghèo lại chiếm tỉ lệ nhỏ nhất trong 5 nhóm

Trang 24

Bảng 1 5 Tỷ lệ HGĐ có số chi tiêu cho CSSK > 25% tổng chi ngoài lương thực

Trang 25

Chương 2 – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: 4 xã: Gio An, Gio Hải thuộc huyện Gia Linh và HảiXuân, Hải Dương thuộc huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị

2.2 Thời gian nghiên cứu:

Thời gian: từ tháng 2/2016 đến tháng 8/2016

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Người dân trên 18 tuổi sinh sống tại 4 xã: Gio An, Gio Hải thuộc huyện GiaLinh và Hải Xuân, Hải Dương thuộc huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị

Tiêu chí lựa chọn đối tượng:

- Đang sống tại 4 xã: Gio An, Gio Hải, Hải Xuân, Hải Dương;

- Độ tuổi từ 18 trở lên;

- Đại điện cho hộ gia đình;

- Đủ khả năng điền vào phiếu trả lời;

- Đồng ý tự nguyện tham gia điền phiếu điều tra

2.4 Phương pháp nghiên cứu:

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả

2.4.2 Cỡ mẫu

Cỡ mẫu nghiên cứu dựa trên các giả định 60% số hộ gia đình đại diện sẽ cóthể cung cấp thông tin đầy đủ và đáng tin cậy về chi phí liên quan đến việc nhậpviện đã có trong 12 tháng trước thời điểm điều tra Cỡ mẫu các hộ đã được tính toán

sử dụng công thức:

Trong đó:

Z = giá trị Z (1.96 tương ứng với 95% mức độ tin cậy)

p = 0.6 là xác suất của đại diện hộ gia đình

Biên độ sai số d = 0.07

n = (1.96²)(0.60)(1-0.60)/(0.07)² = 188

Trang 26

Thêm 10% cho trường hợp từ chối hoặc phỏng vấn không đầy đủ, số lượngcác hộ gia đình phải được đưa vào cuộc nghiên cứu bằng với 188 x 1.1 = 206 hộ giađình.

2.4.3 Cách thức tiến hành chọn mẫu

Sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn

Giai đoạn 1: Chọn xã tiến hành điều tra và tính số hộ cần phỏng vấn tại mỗi xã:

- Cách chọn:

• Bước 1: Chọn tổ tiến hành điều tra

Qua thông tin có được từ Sở Y tế tỉnh Quảng Trị, chọn ngẫu nhiện 2 huyệntrong địa bản của tỉnh là huyện Gio Linh và huyện Hải Lăng và chọn ngẫu nhiên 2

xã trong mỗi tỉnh đó là xã Gio An, Gio Hải, Hải Xuân và Hải Dương

• Bước 2: Chọn số hộ gia đình cần phỏng vấn tại xã:

Số người được phỏng vấn tỉ lệ với dân số của xã 4 xã được chọn có số dântương đối giống nhau Vì vậy số đối tượng cần phỏng vấn tại mỗi xã có thể chia đều

ra để phòng vấn

- Xã Gio An: 52 hộ gia đình;

- Xã Gio Hải: 52 hộ gia đình;

- Xã Hải Xuân: 51 hộ gia đình;

- Xã Hải Dương: 51 hộ gia đình

Giai đoạn 2: Chọn đối tượng phỏng vấn

Cách chọn: Sử dụng bảng kiểm sàng lọc đối tượng trước khi phỏng vấn Quátrình thu thập thông tin bắt đầu từ 1 hộ gia đình ngẫu nhiên Sau đó, lần lượt phỏngvấn các hộ gia đình có đối tượng đủ tiêu chuẩn phía bên trái hộ gia đình đầu tiên lựachọn theo hệ số k Phỏng vấn cho đến khi đạt đủ số đối tượng cần phỏng vấn tạimỗi xã

Trang 27

2.5 Các biến số trong nghiên cứu

Bảng 2 1 Các biến số trong nghiên cứu

STT Biến nghiên

Loại biến số

Công cụ thu thập số liệu

A Thông tin chung

của từng thành viên trong gia đình

Tuổi = 2016 – “năm sinh”

Rời rạc Bộ câu hỏi

phỏng vấn

và của từng thành viên trong giađình

Nhịphân

Bộ câu hỏiphỏng vấn

vấn

Cấp học cao nhất đã và đang hoànthành của người được phỏng vấn vàthành viên trong gia đình

Thứhạng

Bộ câu hỏiphỏng vấn

chính

Công việc chính chiếm phần lớnthời gian làm việc của đối tượng,mang lại thu nhập cho đối tượng

Danhmục

Bộ câu hỏiphỏng vấn

và từng thành viên trong gia đình

Danhmục

Bộ câu hỏiphỏng vấn

6 Thẻ BHYT Loại thẻ BHYT của người được

phỏng vấn và của từng thành viêntrong gia đình

Danhmục

Bộ câu hỏiphỏng vấn

B Điều kiện kinh tế, xã hội B1 Phân loại kinh

tế hộ gia đình

Kinh tế của hộ gia đình trong năm

2015 của người được phỏng vấnthuộc diện nào?

Danhmục

Bộ câu hỏiphỏng vấn

B2 Thu nhập bình

quân năm 2015

Tổng thu nhập của hộ gia đìnhngười được phỏng vấn trong năm2015

Liên tục Bộ câu hỏi

Liên tục Bộ câu hỏi

phỏng vấn

Ngày đăng: 11/11/2016, 19:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trung tâm hỗ trợ sáng kiến và phát triển cộng đồng, Sổ tay hỏi đáp về bảo hiểm Y tế. 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hỏi đáp về bảohiểm Y tế
2. Lê Mạnh Hùng, Nghiên cứu một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến thu chi quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, giai đoạn 2002-2006. 2007: Đại học Dược Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến thu chi quỹkhám chữa bệnh bảo hiểm y tế, giai đoạn 2002-2006
3. Sở Y tế Quảng Trị, Thúc đẩy tiến trình mở rộng bao phủ bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân. 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thúc đẩy tiến trình mở rộng bao phủ bảo hiểm y tế, tiếntới bảo hiểm y tế toàn dân
4. Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế 2015. 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế 2015
6. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị, Báo cáo kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 6 tháng đầu năm 2014. 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thựchiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 6 tháng đầunăm 2014
7. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1167/QĐ-TTg về việc điều chỉnh giao chỉ tiêu BHYT giai đoạn 2016-2020. 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1167/QĐ-TTg về việc điều chỉnh giaochỉ tiêu BHYT giai đoạn 2016-2020
8. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Luật Bảo hiểm Y tế - 25/2008/QH12. 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo hiểm Y tế -25/2008/QH12
9. WHO, Distribution of health payments and catastrophic expenditures. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Distribution of health payments and catastrophic expenditures
10. Quốc hội, Luật Bảo hiểm y tế, số 25/2008/QH12. 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo hiểm y tế, số 25/2008/QH12
11. Charles Normand and Axel Weber, Social Health Insurance, International Labour Office, Second edition. 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Health Insurance, InternationalLabour Office, Second edition
12. Bùi Thị Thu Hằng, Bảo hiểm y tế tự nguyện trong luật bảo hiểm y tế Việt Nam. 2014, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm y tế tự nguyện trong luật bảo hiểm y tế ViệtNam
13. Adam Wagstaff, Social health insurance vs.Tax-financed health system edeven from the OECD, Policy Rerearch Working Paper, World Bank. 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social health insurance vs.Tax-financed health systemedeven from the OECD, Policy Rerearch Working Paper, World Bank
14. Bộ Y tế, Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế giai đoạn 2012-2015 và 2020. 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế giai đoạn 2012-2015và 2020
15. Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Viện nghiên cứu lập pháp - Trung tâm thông tin khoa học, Bảo hiểm y tế toàn dân – Thực trạng và kiến nghị, Hà Nội.2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm y tế toàn dân – Thực trạng và kiến nghị, Hà Nội
16. World Health Organization, Achieving universal health coverage:developing the health financing system, in Technical briefs for policy makers. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Achieving universal health coverage:"developing the health financing system, in Technical briefs for policymakers
17. WHO, The World Health Report 2010 - Health system financing: the path to universal coverage. 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The World Health Report 2010 - Health system financing: the path touniversal coverage
18. Trung tâm thông tin Khoa học Viện nghiên cứu lập pháp, BHYT toàn dân thực trạng và khuyến nghị. 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BHYT toàn dânthực trạng và khuyến nghị
19. Vũ Ngọc Huyền and Nguyễn Văn Song, Thực trạng tham gia BHYT của nông đân tỉnh Thái Bình. Tạp chí Khoa học và Phát triển, 2014. 6: p. 853- 861 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tham gia BHYT củanông đân tỉnh Thái Bình
20. Bộ Y tế, Báo cáo kết quả đoàn khảo sát tài chính y tế tại Đức và Thụy Sỹ, số 578/BCBYT. 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả đoàn khảo sát tài chính y tế tại Đức và Thụy Sỹ, số578/BCBYT
21. Trần Thúy Hà, Nhận thức và yếu tố liên quan đến mua và sử dụng thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện của người dân xã Trung Hòa, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. 2006, Đại học Y tế Công Cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức và yếu tố liên quan đến mua và sử dụng thẻ bảohiểm y tế tự nguyện của người dân xã Trung Hòa, huyện Chương Mỹ, tỉnhHà Tây

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Khái niệm không gian 3 chiều của bao phủ BHYT toàn dân - Thực trang tham gia bảo hiểm Y tế của người dân tại tỉnh Quảng Trị năm 2015 - Nghiên cứu tại 4 xã
Hình 1.1. Khái niệm không gian 3 chiều của bao phủ BHYT toàn dân (Trang 12)
Bảng 1. 2. Hoạt động BHYT tại Việt Nam qua các năm Năm - Thực trang tham gia bảo hiểm Y tế của người dân tại tỉnh Quảng Trị năm 2015 - Nghiên cứu tại 4 xã
Bảng 1. 2. Hoạt động BHYT tại Việt Nam qua các năm Năm (Trang 16)
Bảng 1. 5. Tỷ lệ HGĐ có số chi tiêu cho CSSK &gt; 25% tổng chi ngoài lương thực - Thực trang tham gia bảo hiểm Y tế của người dân tại tỉnh Quảng Trị năm 2015 - Nghiên cứu tại 4 xã
Bảng 1. 5. Tỷ lệ HGĐ có số chi tiêu cho CSSK &gt; 25% tổng chi ngoài lương thực (Trang 24)
Bảng 2. 1. Các biến số trong nghiên cứu - Thực trang tham gia bảo hiểm Y tế của người dân tại tỉnh Quảng Trị năm 2015 - Nghiên cứu tại 4 xã
Bảng 2. 1. Các biến số trong nghiên cứu (Trang 27)
Bảng 3. 1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu tại Quảng Trị năm 2016 - Thực trang tham gia bảo hiểm Y tế của người dân tại tỉnh Quảng Trị năm 2015 - Nghiên cứu tại 4 xã
Bảng 3. 1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu tại Quảng Trị năm 2016 (Trang 33)
Bảng 3. 3. Tỉ lệ hộ gia đình theo điều kiện kinh tế tại 4 xã Quảng Trị năm 2016 - Thực trang tham gia bảo hiểm Y tế của người dân tại tỉnh Quảng Trị năm 2015 - Nghiên cứu tại 4 xã
Bảng 3. 3. Tỉ lệ hộ gia đình theo điều kiện kinh tế tại 4 xã Quảng Trị năm 2016 (Trang 34)
Bảng 3. 4. Phân bố BHYT tại 4 xã thuộc tỉnh Quảng Trị - Thực trang tham gia bảo hiểm Y tế của người dân tại tỉnh Quảng Trị năm 2015 - Nghiên cứu tại 4 xã
Bảng 3. 4. Phân bố BHYT tại 4 xã thuộc tỉnh Quảng Trị (Trang 35)
Bảng 3. 5. Tỷ lệ người dân của 4 xã thuộc tỉnh Quảng Trị có hiểu biết về quyền - Thực trang tham gia bảo hiểm Y tế của người dân tại tỉnh Quảng Trị năm 2015 - Nghiên cứu tại 4 xã
Bảng 3. 5. Tỷ lệ người dân của 4 xã thuộc tỉnh Quảng Trị có hiểu biết về quyền (Trang 35)
Bảng 3. 9. Tỷ lệ người dân của 4 xã thuộc tỉnh Quảng Trị có hiểu biết về trách - Thực trang tham gia bảo hiểm Y tế của người dân tại tỉnh Quảng Trị năm 2015 - Nghiên cứu tại 4 xã
Bảng 3. 9. Tỷ lệ người dân của 4 xã thuộc tỉnh Quảng Trị có hiểu biết về trách (Trang 38)
Bảng 3. 11. Đánh giá của người dân tại 4 xã thuộc tỉnh Quảng Trị về thẻ BHYT - Thực trang tham gia bảo hiểm Y tế của người dân tại tỉnh Quảng Trị năm 2015 - Nghiên cứu tại 4 xã
Bảng 3. 11. Đánh giá của người dân tại 4 xã thuộc tỉnh Quảng Trị về thẻ BHYT (Trang 40)
Bảng 3. 14. Mức chi tiêu cho CSSK của người dân tại 4 xã thuộc - Thực trang tham gia bảo hiểm Y tế của người dân tại tỉnh Quảng Trị năm 2015 - Nghiên cứu tại 4 xã
Bảng 3. 14. Mức chi tiêu cho CSSK của người dân tại 4 xã thuộc (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w