1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận long biên thành phố hà nội

125 450 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, việc thực hiện các dự án phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa thời gian qua cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề như: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, lao đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 60 31 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN MINH YẾN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, bản Luận văn “Giải quyết việc làm cho lao động bị

trình nghiên cứu độc lập, do chính tôi hoàn thành Các tài liệu tham khảo và trích dẫn được sử dụng trong Luận văn này đều nêu rõ xuất xứ tác giả và được ghi trong Danh mục các tài liệu tham khảo

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Học viên

Nguyễn Thị Thu Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN i

DANH MỤC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN ii

MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 4

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4

1.1.1 Các nghiên cứu chủ yếu 4

1.1.2 Những kết quả nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu 10

1.2 Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho các hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp… 11

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 11

1.2.2 Tác động của thu hồi đất nông nghiệp đến việc làm của người lao động bị thu hồi đất ……… 16

1.2.3 Tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 20

1.2.3 Nội dung và tiêu chí đánh giá kết quả giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 22

1.2.4 Các hoạt động giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp… 26

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 29

1.3 Cơ sở thực tiễn giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 34

Trang 5

1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 34

1.3.2 Bài học rút ra cho quận Long Biên 37

CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Cơ sở phương pháp luận: 38

2.2 Các phương pháp cụ thể 39

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu, số liệu 39

2.2.2 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học 41

2.2.3 Phương pháp thống kê mô tả 41

2.2.5 Phương pháp so sánh 43

2.2.6 Phương pháp kết hợp logic với lịch sử 43

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở QUẬN LONG BIÊN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI 45

3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình thu hồi đất nông nghiệp ở quận Long Biên -Thành phố Hà Nội 45

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Long Biên 45

3.1.2 Tình hình thu hồi đất nông nghiệp 53

3.1.2.4 Tình hình thu hồi đất của các hộ điều tra 60

3.2 Ảnh hưởng của thu hồi đất nông nghiệp tới việc làm và đặc điểm của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở quận Long Biên 61

3.3 Các hoạt động giải quyết việc cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Long Biên 71

3.3.1 Hoạt động giải quyết việc làm thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề 71

3.3.2 Hoạt động giải quyết việc làm thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm và cơ sở dạy nghề… 74

3.3.3 Hoạt động giải quyết việc làm thông qua phát triển làng nghề truyền thống và các doanh nghiệp 77

3.3.4 Hoạt động giải quyết việc làm thông qua xuất khẩu lao động 79

Trang 6

3.3.5 Hoạt động giải quyết việc làm thông qua các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội 81

3.3.6 Hoạt động giải quyết việc làm thông qua thị trường sức lao động 82

3.4 Đánh giá chung về giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Long Biên 84

3.3.1 Những kết quả chủ yếu 84

3.3.2 Những hạn chế, và nguyên nhân 86

3.3.2.2 Nguyên nhân chủ yếu của những bất cập 87

CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở QUẬN LONG BIÊN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI 91

4.1 Bối cảnh mới và ảnh hưởng của nó đến giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Long Biên 91

4.1.1 Thuận lợi 91

4.1.2 Khó khăn 92

4.2 Định hướng về giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở quận Long Biên 92

4.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở quận Long Biên 96

4.3.1 Các giải pháp về cơ chế, chính sách và công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện 96

4.3.2 Giải pháp về công tác đào tạo, chuyển đổi nghề cho nông dân bị thu hồi đất 103

4.3.3 Giải pháp nhằm nâng cao tính chủ động của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trong giải quyết việc làm và sử dụng nguồn kinh phí bồi thường một cách hiệu quả.104 4.3.2 Các giải pháp về tổ chức và quản lý 104

4.3.4 Một số giải pháp đặc thù khác 107

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 1 114

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Bảng 3.1: Tình hình dân số và lao động quận Long Biên 48

Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế quận Long Biên (2011 - 2015) 51

Bảng 3.3 Diện tích, cơ cấu các loại đất quận Long Biên qua các năm 2011, 2013, 2015 54

Bảng 3.4 Diện tích, tỷ trọng đất nông nghiệp quận Long Biên qua các năm 2011, 2013, 2015 55

Bảng 3.5 Tổng hợp diện tích đất bị thu hồi qua các năm 2011, 2013, 2015 quận

Long Biên 57

Bảng 3.6 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp ở 3 phường (2011-2015) 59

Bảng 3.7 Kết quả điều tra các chỉ tiêu về thu hồi đất nông nghiệp 60

Bảng 3.8: Cơ cấu việc làm theo ngành của các hộ điều tra 62

Bảng 3.9: Tình trạng việc làm trước và sau khi thu hồi đất của người lao động 65

Bảng 3.10 Tình hình sử dụng tiền bồi thường 68

Bảng 3.11 Bình quân thu nhập/hộ/năm của các nhóm hộ trước và sau khi thu hồi đất 69

Bảng 3.12: Kết quả đào tạo nghề giai đoạn 2011-2015 của quận Long Biên 76

Bảng 3.13: Số lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đi xuất khẩu lao động 80

Bảng 3.14 Kết quả lao động bị thu hồi đất tìm được việc làm tại các phiên giao dịch việc làm của quận Long Biên giai đoạn 2011-2015 84

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN

Biểu đồ 3.1: Giá trị thu nhập các ngành kinh tế quận giai đoạn 2011 - 2015 52Biểu đồ 3.2: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế quận Long Biên giai đoạn 2011- 2015 53Biểu đồ 3.3 Diện tích đất nông nghiệp trước và sau khi thu hồi đất tại địa bàn điều tra 59

Trang 9

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa với mục tiêu chuyển nền kinh tế chủ yếu dựa trên nông nghi ệp sang nền kinh tế dựa trên công nghiệp Hệ quả tất yếu của quá trình đó là hình thành các khu công nghiê ̣p và kèm theo đó là quá trình đô th ị hóa được hình thành và phát triển, tạo ra sự thay đổi lớn

về kinh tế - xã hội

Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước tất yếu sẽ dẫn đến quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng một bộ phận diện tích đất nông nghiệp sang phục vụ quá trình phát triển đô thị và các khu kinh tế, khu công nghiệp Vì vậy, có hàng chục vạn hộ gia đình nông nghiệp, nông thôn phải hy sinh những quyền lợi cơ bản của mình là nhường đất - tư liệu sản xuất quan trọng nhất của người nông dân cho các dự án để tái định cư ở những nơi ở mới, dẫn đến sẽ có hàng triệu lao động nông nghiệp buộc phải chuyển đổi nghề do bị mất đất sản xuất Điều đó có tác động đến toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội của đối tượng dân cư phải nhường đất để đến các khu tái định cư Nhưng tác động lớn nhất là người nông dân rơi vào trạng thái bị động và thiếu các điều kiện đảm bảo cuộc sống khi họ bị mất việc làm và buộc phải chuyển đổi nghề từ sản xuất nông nghiệp sang các ngành nghề khác Bên cạnh đó, việc thực hiện các dự án phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa thời gian qua cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề như: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, lao động nông nghiệp mất việc làm truyền thống và khó chuyển đổi nghề nghiệp, cách thức đền bù, giải phóng mặt bằng, ô nhiễm môi trường… Trong đó, vấn đề giải quyết việc làm để ổn định đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp nổi lên như một hiện tượng vừa mang tính khách quan của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, vừa mang tính đặc thù của một nước nông nghiệp như nước ta

Với thực trạng thu hồi đất nông nghiệp hiện nay của cả nước, cũng như ở nhiều tỉnh, thành phố không có quỹ đất dự phòng, trong khi số nhân khẩu ở nông thông ngày một gia tăng đã dẫn đến tình trạng bức xúc về giải quyết việc làm ở

Trang 10

những khu vực này, nhất là những người nông dân ở độ tuổi lao động bị thu hồi đất Thực tiễn cho thấy có một số nông dân bị thu hồi đất rơi vào cảnh “ba không”: không đất, không nghề nghiệp, không nhà cửa Từ thực tế đó, việc nghiên cứu tìm

ra giải pháp để giải quyết vấn đề việc làm cho các hộ nông dân bị thu hồi đất là điều cần thiết

Quận Long Biên đươ ̣c thành l ập theo Nghị định 132/2003/NĐ-CP ngày

6/11/2003 của Chính phủ “Về viê ̣c thành lập Quận Long Biên và quận Hoàng Mai ”

Từ khi thành lập đến nay, quận đã có thay đổi cơ bản về đô thị, đồng nghĩa với đó là diê ̣n tích đất nông nghiê ̣p bi ̣ thu hồi chuyển sang phát triển cơ sở ha ̣ tầng, xây dựng các khu đô thi ̣ và các công trình phúc lợi xã hô ̣i Long Biên hiện nay được đánh giá là một quận có tốc độ đô thị hóa nhanh Cũng giống như nhiều vùng đô thị hóa khác, nông dân quận Long Biên cũng bị mất đất và rơi vào tình cảnh không có việc làm, cuộc sống của bản thân họ và gia đình họ trở nên khó khăn Chính vì vậy, việc giải quyết việc làm cho lao động ở các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp ở Long Biên là một bài toán không

đơn giản Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài: “Giải quyết việc làm cho lao động

bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Long Biên - thành phố Hà Nội” làm đề

tài luận văn thạc sỹ, chuyên ngành kinh tế chính trị

Đề tài đƣợc thực hiện nhằm giải đáp cho câu hỏi nghiên cứu: Giải pháp

nào được đặt ra nhằm giải quyết việc làm ổn định cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở Quận Long Biên?

1.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.2.1 Mục đích nghiên cứu:

Đánh giá tình hì nh thu hồi đất nông nghiệp và giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho các hộ dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Long Biên

1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

Trang 11

- Đánh giá thực tra ̣ng vấn đề giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Long Biên – thành phố Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hi ệu quả giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

1.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở quận Long Biên - Thành phố Hà Nội

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi về không gian : Đề tài nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho lao

động bị thu hồi đất nông nghiệp ở quận Long Biên, trong đó nghiên cứu và khảo sát

chủ yếu ở các phường: gồm phường Phúc Lợi, Việt Hưng, Giang Biên

Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2011- 2015

1.4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

04 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở quận Long Biên - thành phố Hà Nội

Chương 4: Định hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở quận Long Biên - thành phố Hà Nội

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN

VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1 Các nghiên cứu chủ yếu

Vấn đề việc làm nói chung, việc làm của người có đất bị thu hồi nói riêng, là một vấn đề rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng rất nhạy cảm và tác động sâu rộng đến thành công của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa nên là chủ đề nhận được sự quan tâm rộng rãi của các nhà khoa học, các nhà quản lý kinh tế Khi xem xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả chia các nghiên cứu thành các nhóm nội dung thu dần cấp độ mà các nghiên cứu

đề cập đến Dưới đây là những nhóm nội dung nghiên cứu liên quan đến đề tài:

- Nhóm tài liệu nghiên cứu liên quan đến vấn đề việc làm nói chung:

+ Lê Thi (1991) nghiên cứu “Vấn đề việc làm, tăng thu nhập, nâng cao địa vị

người phụ nữ nông thôn hiện nay” [31] Đây là những nghiên cứu có tính cơ bản và

hệ thống đầu tiên về vấn đề việc làm Trong nghiên cứu này tác giả đã chỉ ra tính bức xúc của vấn đề giải quyết việc làm ở khu vực nông thôn và vấn đề việc làm phát huy vai trò của người phụ nữ ở khu vực này

+ Đề tài cấp Nhà nước KX 04.04 về "Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần" [6] Đây là một công trình lớn trong Chương trình KX 04 nằm

trong hệ thống 10 chương trình khoa học công nghệ được Nhà nước triển khai nghiên cứu giai đoạn 1990-1995 Kết quả nghiên cứu của đề tài này đã đóng góp một số luận cứ, cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước ta trong việc hình thành các chủ trương, chính sách về giải quyết vấn đề việc làm thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

+ Ngân hàng thế giới (2011), “Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch

Trang 13

đất đai tự nguyện ở Việt Nam: Phương pháp tiếp cận, định giá đất và giải quyết khiếu nại của dân” [19] Đây là kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của Ngân hàng

thế giới tại Việt Nam với chủ đề “Xã hội và các xung đột đất đai” nhằm hỗ trợ Bộ Tài nguyên và Môi trường cải thiện chính sách và thực tiễn về thu hồi và chuyển dịch đất đai để đạt được sự tăng trưởng bền vững trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng hiện nay Nội dung của tác phẩm bao gồm ba báo cáo: Đề xuất về hoàn thiện chính sách Nhà nước thu hồi đất và cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam; Nghiên cứu về cơ chế xác định giá đất phục vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Việt Nam; Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam

+ Nguyễn Duy Phương (2013),"Quan điểm và giải pháp giải quyết việc làm

ở nước ta hiện nay” [21] Tác giả phân tích bốn nguyên nhân dẫn đến tình trạng

thiếu việc làm ở nước ta, trong đó có nguyên nhân do việc đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở tất cả các thành phố lớn và các vùng phụ cận Tác giả cho rằng, việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động đã trở thành một chính sách xã hội quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Để thực hiện thành công mục tiêu giải quyết việc làm giai đoạn 2011-2020, theo tác giả cần quán triệt và thực hiện đồng bộ bốn quan điểm và giải pháp sau: Một là, giải quyết việc làm phải thực hiện một nguyên tắc cơ bản là đảm bảo công bằng xã hội; Hai là, cần cụ thể hóa các qui định tại điều

12, 13 và 14 Bộ luật Lao động năm 2012; Ba là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách và tái cơ cấu nền kinh tế; Bốn là, tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

+ Trần Ngọc Diễn (2013), “Chất lượng việc làm ở Việt Nam: Thách thức và

giải pháp” [7] Trên cơ sở những nghiên cứu ban đầu của Chương trình xếp hạng

Quốc gia về Việc làm (BestViet), tác giả nhận thấy một số thực trạng đáng lo ngại trong vấn đề việc làm và môi trường làm việc tại các doanh nghiệp như: Chất lượng việc làm đáng lo hơn tình trạng thất nghiệp? Nhu cầu của người lao động đang thay đổi? Người lao động tập trung kỳ vọng vào các lợi ích ngắn hạn? Tác giả đề xuất năm

Trang 14

giải pháp cải thiện chất lượng việc làm trong doanh nghiệp là: xây dựng môi trường làm việc an toàn, ổn định và thân thiện; khai thác và phát huy hiệu quả nguồn lực lao động; doanh nghiệp cần chú trọng tới gây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng; không ngừng nâng cao trình độ tay nghề và ý thức của người lao động; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người lao động, nhà đầu tư và Nhà nước

- Nhóm tài liệu liên quan đến việc làm cho người lao động bị thu hồi đất:

+ Lê Du Phong (Chủ biên), “Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất

bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia” [20] Nội dung cuốn sách

nêu một số vấn đề lý luận, thực trạng về thu nhập, đời sống, việc làm của người dân

có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh

tế - xã, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia trong thời gian qua ở nước ta, đồng thời cho thấy những khó khăn, tồn tại Qua đó, tác giả đưa ra những quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia

trong thời gian tới

+ Nguyễn Thị Thơm - Phí Thị Hằng (Đồng chủ biên), “Giải quyết việc làm

cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa” [34] Từ nghiên cứu thực

trạng một số tỉnh trọng điểm đồng bằng sông Hồng mà Hải Dương là tiêu biểu, các tác giả đã bàn sâu về quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp mọc lên khắp nơi đã làm cho đất đai sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp Người nông dân mất đất, mất tư liệu sản xuất đồng nghĩa với mất hoặc thiếu việc làm Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp lúc này là vấn

đề bức thiết đặt ra; từ đó các tác giả đưa ra phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở Hải Dương đến năm

2010 và những năm tiếp theo

+ Nguyễn Hữu Dũng (2004), “Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong

quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn” [8] Tác giả nêu lên

Trang 15

thực trạng về lao động và việc làm ở nông thôn trong quá trình đô thị hóa và đưa ra các giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề này

+ Nguyễn Hữu Dũng (2005), “Đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá với việc

đảm bảo điều kiện sống và làm việc của người lao động” [9] Ở bài viết này, tác giả cho

rằng công nghiệp hóa kéo theo quá trình đô thị hóa và có tác động hai mặt: một mặt, làm cho bộ mặt của các tỉnh, thành phố thay đổi theo hướng hiện đại; mặt khác, làm cho một số lao động bị mất việc làm sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp và tác giả đưa ra các hướng giải quyết cho vấn đề nêu ra

+ Nguyễn Hữu Dũng (2008), “Phát triển khu công nghiệp với vấn đề lao động

việc làm” [10] Tác giả cho rằng, việc phát triển các khu công nghiệp là một kênh giải

quyết việc làm một cách hữu hiệu nhất đối với lao động nông thôn, đặc biệt là lao động

ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất Bài viết cũng cho rằng, để lao động nông thôn, trong đó có lao động ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất có thể tiếp cận hoặc làm việc được ở các khu công nghiệp cần phải có hàng loạt các chính sách tác động, nhất là tạo điều kiện để phát triển thị trường sức lao động Muốn vậy, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần được đặt lên hàng đầu Nếu không chuyển đổi được nghề thì lao động ở các vùng bị mất đất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ luôn phải bị đứng ngoài quá trình ấy Và do đó, đời sống và thu nhập của người lao động nông thôn sẽ không thể cải thiện

+ Hà Thị Hằng (2008), “Vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân sau khi thu

hồi đất ở nước ta hiện nay” [14] Tác giả đã đề cập khái quát tình trạng thu hồi đất

của nông dân ở nước ta, phân tích sự ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến việc làm, thu nhập của nông dân từ đó đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm cho đối tượng này trong thời gian tới

+ Nguyễn Tiệp (2008), “Việc làm cho người lao động trong quá trình chuyển

đổi mục đích sử dụng đất” [33] Tác giả đã giới thiệu cho người đọc một số nét

trong nghiên cứu về những khó khăn trong giải quyết việc làm của người dân vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, và tác giả cũng cho rằng, những khó khăn đó rất khó tìm ra giải pháp giải quyết thoả đáng trong thời gian tới, vì theo tính toán của

Trang 16

tác giả, trong vòng 5 năm tới sẽ có khoảng 12 triệu lao động thiếu việc làm Tác giả cũng đã phân tích 5 khó khăn có tính khái quát trong giải quyết việc làm đối với dân vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, và cho rằng, những khó khăn trong giải quyết việc làm ở nhóm đối tượng này là do việc thu hồi đất nông nghiệp chưa có sự gắn kết với quy hoạch, kế hoạch, chính sách và biện pháp chuyển đổi nghề, tạo việc làm mới, tăng thu nhập cho người lao động; việc tổ chức triển khai còn thiếu công khai, dân chủ, minh bạch, thiếu thông tin, tuyên truyền để người lao động chủ động học nghề, chuyển nghề và tự tạo việc làm Tồn tại này là căn nguyên xảy ra những phức tạp trong đời sống, gây hậu quả nặng nề và mất lòng tin của một bộ phận nhân dân vào chủ trương lớn, đúng đắn của Đảng và Nhà nước, dẫn đến những khiếu kiện, có nguy cơ mất ổn định xã hội

+ Lê Văn Lợi (2013), “Những vấn đề xã hội nảy sinh từ việc thu hồi đất nông

nghiệp cho phát triển đô thị, khu công nghiệp và giải pháp khắc phục” [15] Tác giả

phân tích thực tế cho thấy, quá trình thu thu hồi đất nông nghiệp cho phát triển khu đô thị, khu công nghiệp đã làm nảy sinh một số vấn đề xã hội như: Nông dân mất tư liệu sản xuất, cuộc sống bấp bênh; tình trạng dư thừa lao động, thiếu việc làm; tình trạng tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến đền bù, giải phóng mặt bằng kéo dài; tình trạng

“hẫng hụt” về văn hóa, lối sống của một bộ phận dân cư khi phải trở thành thị dân một cách “bất đắc dĩ”; tệ nạn xã hội gia tăng; ô nhiễm môi trường sống Từ đó tác giả đề xuất có những đổi mới căn bản về thể chế quản lý đất đai, nhất là quy trình, cách thức thu hồi, phân chia lợi ích và kèm theo đó là thực hiện đồng bộ các giải pháp về an sinh

xã hội, đảm bảo cuộc sống của nhân dân

- Nhóm nghiên cứu về vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất

ở một số địa phương

+ Đề tài khoa học cấp Bộ (2010), “Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi

đất ở ngoại thành Hà Nội” Đề tài tìm hiểu thực trạng thu hồi đất và giải quyết việc

làm cho người dân bị thu hồi đất ở ngoại thành Hà Nội, phát hiện những nguyên nhân, mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình thu hồi đất và giải quyết việc làm cho nông dân, trên cơ sở đó đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết

Trang 17

việc làm cho người dân bị thu hồi đất

+ Đề tài khoa học cấp Bộ (2010), “Việc làm và thu nhập của nông dân vùng

Đông Nam bộ dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa” [16] Đề

tài phân tích, đánh giá những tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tới phát triển kinh tế - xã hội nói chung và tới việc làm, thu nhập của người dân nông thôn vùng Đông Nam bộ nói riêng Đánh giá đúng thực trạng về việc làm và thu nhập của người dân nông thôn vùng Đông Nam bộ trong quá trình công nghiệp hóa,

đô thị hóa, khó khăn và những vấn đề còn tồn tại, phân tích nguyên nhân của những vấn đề đó; làm rõ vai trò của nhà nước, các chủ thể tạo việc làm và người lao động trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của vùng Đông Nam bộ Phân tích tác động của một số chính sách liên quan đến tạo việc làm cho nông dân Đề xuất phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm và tăng thu nhập nhằm hạn chế những khó khăn, nâng cao đời sống kinh tế của người dân nông thôn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ở vùng này

+ Nguyễn Văn Nhường (2010), "Chính sách an sinh xã hội đối với người

nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các cụm công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)” [18] Tác giả đi sâu vào phân tích những nội dung lý luận về chính sách an

sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, đồng thời đánh giá thực trạng đời sống người dân bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp tại Bắc Ninh Qua việc chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân bằng việc sử dụng mô hình SWOT, tác giả đề xuất các giải pháp xây dựng và hoàn thiện chính sách về an sinh xã hội đối với người nông dân bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp

Ngoài ra, còn nhiều công trình khoa học khác đã được công bố liên quan đến

đề tài như: “Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá

trình công nghiệp hóa” của tác giả Đặng Kim Sơn; “Vấn đề việc làm của nông dân hiện nay - bài toán không dễ giải” của tác giả Phạm Thị Tuý; “Việc làm cho hộ nông dân thiếu đất sản xuất- vấn đề và giải pháp” của tác giả Bùi Ngọc Thanh,

Trang 18

“Phát triển khu công nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp” của tác giả Nguyễn Sinh Cúc Những công trình này đã phân tích

ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tới việc làm và thu nhập của người nông dân; bước đầu đề xuất một số giải pháp cho vấn đề này

1.1.2 Những kết quả nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu

Những công trình nghiên cứu trên thể hiện luận điểm, luận chứng của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học và các cơ quan quản lý nhà nước về biến động đất đai, xu hướng chuyển đổi cơ cấu lao động, xu hướng phát triển đô thị, công nghiệp trong thời gian qua Một số nghiên cứu có đi sâu phân tích về mức sống, việc làm, thu nhập, lao động của nông dân ở một số vùng, địa phương

Nhìn chung, các công trình trên đã phần nào phản ánh được vấn đề việc làm

và giải quyết việc làm, trong đó có lao động nông nghiệp ở nước ta hiện nay, đó là vấn đề không chỉ riêng ở một địa phương hay khu vực nào, mà đang diễn ra ở tất cả mọi miền đất nước trong tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa Qua đó cho thấy,

để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển như Đảng ta đã đề ra là cả một quá trình chông gai, đòi hỏi sự đồng tâm, thống nhất của toàn xã hội mới có thể thực hiện được, trong

đó, Nhà nước là người “nhạc trưởng” với vai trò quản lý và điều hành, cần có những cơ chế, chính sách huy động xã hội tham gia một cách tích cực, có vị trí quan trọng nhất

Đối với các công trình trong nước trên bình diện chung của quốc gia, việc nghiên cứu về vấn đề lao động, việc làm được các tác giả đề cập trong các tác phẩm,

đề tài khoa học các cấp, luận án tiến sĩ nêu lên những quan niệm cơ bản, định hướng, kinh nghiệm phát triển việc làm và giải quyết việc làm cho các đối tượng khác nhau Những quan niệm, định hướng, kinh nghiệm đó đã giúp cho tác giả có nhiều cơ sở khoa học cũng như thực tiễn khi triển khai nghiên cứu vấn đề việc làm cho nông dân

bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở quận Long Biên (thành phố Hà Nội) được thuận lợi hơn

Tuy nhiên, những công trình trong nước đề cập đến những vấn đề có tính

Trang 19

hiện trạng chung, nhằm giới thiệu một số kết quả nghiên cứu ở các góc độ nhất định của việc thực hiện chính sách về lao động, việc làm trên một số mặt, trên bình diện chung của cả nước hoặc một vài địa phương nhất định; chưa phân tích sâu những căn nguyên của tình hình biến động việc làm và áp lực tạo việc làm cho đối tượng là nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa

Các nghiên cứu chưa đưa ra quan niệm chung nhất về việc làm cho nông dân

bị thu hồi đất, tạo việc làm cho họ; đặc biệt chưa chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và phương thức tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất

Đối với các nghiên cứu đánh giá về chính sách, phần lớn các nghiên cứu nghiêng về góc độ quản lý kinh tế và cung cấp các thông tin về thu hồi đất, trong khi

đó mảng nghiên cứu, phân tích trực diện về chính sách cho nông dân bị thu hồi đất lại khá hiếm, đặc biệt vấn đề đào tạo, chuyển đổi ngành nghề - mảng then chốt để tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất hiện nay hầu như chưa có những đầu tư phân tích một cách thỏa đáng

1.2 Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho các hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm về việc làm

Tại hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)

đã đưa ra khái niệm: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật”

Theo quan niệm này thì người có việc làm là những người lao động ở tất cả các khu vực công và tư nhân, cá thể, hộ gia đình đem lại nguồn thu nhập nuôi sống bản thân, gia đình và xã hội Do đó, khái niệm này khá hoàn chỉnh, phù hợp trong nền kinh tế hiện đại và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Vì vậy, khái niệm này được các quốc gia thừa nhận và đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới

Trang 20

Quan niệm của “Đại từ điển kinh tế thị trường”: “Việc làm là hành vi của nhân

viên, có năng lực lao động, thông qua hình thức nhất định kết hợp với tư liệu sản xuất,

để được thù lao hoặc thu nhập kinh doanh” [28] Với quan niệm này, có rất nhiều hoạt động của người lao động sẽ không được xem là việc làm Ví dụ như những hoạt động bảo đảm sự ổn định phát triển của xã hội, hỗ trợ cho những người thân tham gia trực tiếp sản xuất, kinh doanh, để có thu nhập ổn định không được tính đến Chính những hoạt động đó đã tạo nên sự ổn định về các điều kiện cần thiết cho các hoạt động sản xuất trực tiếp diễn ra suôn sẻ

Theo PGS.PTS Phạm Đức Thành, PGS Mai Quốc Chánh, “việc làm là phạm trù dùng để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất và những điều kiện cần thiết sử dụng sức lao động đó” [30] Quan điểm này có mặt tích cực là khái quát được bản chất của việc làm thừa nhận mọi hoạt động có ích đều là việc làm và chỉ ra được cách thức tạo việc làm Tuy nhiên, quan điểm này dễ làm người

ta lẫn lộn giữa việc làm hợp pháp và không hợp pháp, nhất là trong bối cảnh nước ta hiện nay đang xuất hiện rất nhiều hoạt động có ích cho cá nhân hay một nhóm người nào đó nhưng gây nguy hại cho xã hội, không được xã hội thừa nhận

Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về việc làm, song đa số các tác giả đều thống nhất quan điểm mà Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012: Luật số 10/2012/QH13 ở

Khoản 1, Điều 9, Chương II, Bộ luật Lao động (sửa đổi): “Việc làm là hoạt động lao

động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [27] Như vậy, việc làm là lao

động của con người nhằm tạo ra thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân và gia đình không

bị pháp luật ngăn cấm, bao gồm:

- Những người làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật (gọi là việc làm được trả công)

- Những người làm các công việc tự làm hoặc các công việc gia đình để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho các công việc đó (gọi là việc làm không được trả công)

Việc làm là khái niệm mang tính chất động Vì vậy, người ta chia việc làm

Trang 21

thành những phạm trù xã hội - nghề nghiệp khác nhau như: Việc làm chính thức: Là công việc chính mang lại thu nhập chính (đối với những việc làm được trả công) và những thu nhập về của cải vật chất cho bản thân và gia đình (đối với những việc làm không được trả công); Việc làm không chính thức: Là những công việc làm thêm ngoài công việc chính Chẳng hạn, đối với người nông dân, việc làm chính của

họ là sản xuất nông nghiệp trong mùa vụ, còn việc làm không chính thức là những việc làm thêm trong lúc nông nhàn; Việc làm bền vững: Là việc làm mà nó tạo ra các cơ hội cho người lao động được làm việc một cách có hiệu quả, có thu nhập công bằng, bảo đảm an toàn tại nơi làm việc, tạo điều kiện để cá nhân phát triển và khuyến khích hòa nhập xã hội, cho phép mọi người được tự do bày tỏ những mối quan tâm của mình, được tự do tổ chức và tham gia vào các quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của họ và bảo đảm cho tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng và được đối xử bình đẳng

Việc làm của lao động nông thôn là những hoạt động lao động trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế của một bộ phận lao động sinh sống ở nông thôn để mang lại thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm

Việc làm ở nông thôn gắn liền với môi trường, điều kiện sinh sống, làm việc của người lao động nông thôn và có thể phân thành hai loại sau:

- Việc làm thuần nông: là những hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi dựa trên cơ sở kế thừa kỹ năng, kinh nghiệm sản xuất được truyền qua các thế hệ Loại việc làm này thường thiếu sự ổn định và có mức thu nhập thấp, bấp bênh

- Việc làm phi nông nghiệp: Đây là việc làm trong các ngành nghề, lĩnh vực ngoài sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn (như công nghiệp, dịch vụ, quản lý) Đây là những việc làm đòi hỏi nguồn lao động được đào tạo, rèn luyện để có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp tương ứng với yêu cầu công việc

Từ những phân tích các quan niệm về vấn đề việc làm xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế hiện nay, có thể hiểu việc làm là hoạt động lao động của con người, là dạng hoạt động kinh tế - xã hội, đó là sự kết hợp giữa

Trang 22

sức lao động với tư liệu sản xuất theo những điều kiện phù hợp nhất định, nhằm tạo

ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng lợi ích con người (cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội) Hoạt động lao động đó không bị pháp luật ngăn cấm

Như vậy, hoạt động được xem là việc làm phải đáp ứng các điều kiện sau đây: Thứ nhất, là hoạt động lao động của con người Đây là hoạt động có mục đích của con người, con người dùng sức cơ bắp và thần kinh tác động vào đối tượng lao động thông qua công cụ lao động, cải biến nó phù hợp với nhu cầu của chính mình

Thứ hai, để có việc làm đòi hỏi phải có tư liệu sản xuất và sức lao động Với ý nghĩa đó, để người lao động có việc làm đòi hỏi phải đầu tư phát triển sản xuất, phải tạo ra một số lượng tư liệu sản xuất có khả năng đáp ứng yêu cầu của người lao động Đồng thời, cần thường xuyên nâng cao chất lượng, số lượng sức lao động để có thể

sử dụng hiệu quả tư liệu sản xuất có được

Thứ ba, để có việc làm trình độ và năng lực của người lao động phải phù hợp với tư liệu sản xuất Nói cách khác, để sức lao động có thể kết hợp được với tư liệu sản xuất, thì người lao động phải có một trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp nhằm sử dụng tư liệu sản xuất đó

Thứ tư, việc làm là kết quả của sự kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất phải tạo ra một loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhất định nào đó Sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đó phù hợp với lợi ích của con người

Thứ năm, việc làm là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động không

bị luật pháp ngăn cấm Điều kiện này phản ánh tính pháp lý của việc làm cho phép người lao động độc lập, tự chủ lựa chọn việc làm cho mình trong khuôn khổ pháp luật quy định Người lao động được tự do hành nghề, liên doanh, liên kết, thuê mướn lao động trong khuôn khổ pháp luật và sự hướng dẫn, tạo môi trường của Nhà nước để có thể tự tạo việc làm cho mình

1.2.1.2 Khái niệm về giải quyết việc làm

Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản than, gia đình, cộng đồng và xã hội

Như vậy, giải quyết việc làm là nhằm khai thác triệt để tiền năng của một

Trang 23

con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả Chính vì vậy, giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình Trong đó có quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản than và gia đình góp phần xây dựng quê hương đất nước Giải quyết việc làm có thể hiểu ở một số khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất Số lượng và chất lượng

tư liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư, tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản xuất đó

Thứ hai, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động Số lượng lao động phụ thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi và sự di chuyển của lao động, chất lượng lao động phụ thuộc vào sự phát triển của giáo dục đào tạo,y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng…

Thứ ba, thực hiện các giải pháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu quả cao, các giải pháp về quản lý thị trường, kỹ thuật… nhằm nâng cao hiệu quả của việc làm

Trên cơ sở những phân tích trên, có thể hiểu giải quyết việc làm theo nghĩa rộng là tổng thể những mục tiêu, quan điểm, cơ chế, chính sách, biện pháp kinh tế -

xã hội của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động có việc làm Theo nghĩa hẹp, giải quyết việc làm là các biện pháp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm, trong đó có nông dân bị thu hồi đất, thiếu hoặc không còn đất sản xuất, nhằm tạo ra chỗ làm việc cho người lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp

1.2.1.3 Khái niệm về Nhà nước thu hồi đất nông nghiê ̣p

Theo khoản 5 điều 4 Luật Đất đai 2003 quy định: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật đất đai hiện hành”

Trang 24

Mục đích thu hồi đất: Đảm bảo cho mọi diện tích đất đai được sử dụng hợp pháp đúng mục đích, đạt hiệu quả cao, khắc phục trình trạng tuỳ tiện trong quản lý sử dụng đất đai Đáp ứng nhu cầu sử dụng đất, phục vụ lợi ích quốc gia

1.2.1.4 Quan niệm về giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

Dựa trên cơ sở lý luận về việc làm, giải quyết việc làm, thu hồi đất nông nghiệp gắn liền với tình hình thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng như quận Long Biên, có thể hiểu rằng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp là hoạt động lao động của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất theo những điều kiện phù hợp nhất định, nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng lợi ích của bản thân người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, của cộng đồng và của xã hội Hoạt động lao động đó không bị luật pháp Việt Nam ngăn cấm

Như vậy, hoạt động được xem là giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp phải đáp ứng các điều kiện sau đây: Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp cần phải đầu tư phát triển sản xuất, tạo ra một số lượng tư liệu sản xuất có khả năng đáp ứng yêu cầu của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, cần quân tâm đào tạo, chuyển đổi nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp nhằm nâng cao chất lượng, số lượng sức lao động để sử dụng hiệu quả tư liệu sản xuất có được; để sức lao động có thể kết hợp được với tư liệu sản xuất, cần phải có sự phù hợp giữa trình độ tư liệu sản xuất và năng lực lao động, nên người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp cần phải có trình

độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp; kết quả của hoạt động lao động của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp là tạo ra một loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhất định nào đó phù hợp với lợi ích của bản thân, cộng đồng, xã hội; những hoạt động lao động của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp phải không bị luật pháp ngăn cấm

1.2.2 Tác động của thu hồi đất nông nghiệp đến việc làm của người lao động bị thu hồi đất

Trang 25

- Tăng nguồn vốn cho người lao động (tiền được bồi thường): Khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiê ̣p để thực hiện công nghiệp hóa và đô thị hóa thì phương thức bồi thường được thực hiện nhiều nhất là bồi thường bằng tiền Người lao động có thể dùng khoản tiền này để đầu tư phát triển sản xuất tạo nguồn thu nhập, đầu tư học nghề, xây dựng nhà cửa… Cùng với việc bồi thường thiệt hại, việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cũng được thực hiện bằng tiền

- Phát triển cơ sở hạ tầng và điều kiện tiếp cận dịch vụ việc làm đối với người lao động Cùng với quá trình đô thị hóa là sự phát triển mạng lưới giao thông, cầu cống, bến cảng, chợ, siêu thị, mạng lưới thông tin, viễn thông, điện năng…., tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi và hiệu quả hơn trong các hoạt động sản xuất, trao đổi hàng hóa, cải thiện điều kiện giao lưu với bên ngoài Bên cạnh đó, tốc độ chuyển đổi mục đích

sử dụng đất sang công nghiệp hóa, đô thị hóa càng cao thì tốc độ tăng trưởng việc làm và tốc độ hội tụ dân số, lao động ở đô thị có quy mô càng lớn Sự gia tăng về cả hai phía cung và cầu lao động cùng với môi trường kinh tế năng động chính là những điều kiện

cơ bản để phát triển mạnh mẽ các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm giáo dục, đào tạo nghề, dịch vụ thông tin thị trường sức lao động, Do đó, người lao động có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận các dịch vụ việc làm, thiết lập, mở rộng các mối quan hệ làm ăn

và thực hiện các giao dịch trên thị trường sức lao động

Trang 26

- Thu hồi đất để phục vụ công nghiệp hóa, đô thị hóa còn thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là sự phát triển công nghiệp chế biến và đa dạng hóa các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp Từ đó, thu hút một bộ phận lao động nông nhàn, lao động dư dôi từ nông nghiệp (do không còn đất nông nghiệp để canh tác hoặc chuyển mục đích sử dụng đất) vào làm việc

và tăng thời gian lao động ở khu vực nông thôn Do vậy, tạo sức ép chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa góp phần tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang công nghiệp, thương mại và dịch vụ, do đó cơ cấu lao động, việc làm của người lao động cũng có

sự thay đổi mạnh mẽ Đó là do xuất phát từ sự gia tăng, hội tụ các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp ở đô thị khi mà ở đó những lợi thế về các nguồn lực dồi dào ở đô thị ngày càng được tận dụng khai thác tối đa như: Chi phí giao dịch thấp, giao thông vận tải thuận lợi, cơ sở hạ tầng hiện đại, nguồn vốn đầu tư, thông tin, tiến bộ khoa học - kỹ thuật, Đồng thời, sự mở rộng không gian đô thị, cải tạo, nâng cấp cơ sở

hạ tầng kỹ thuật, xây dựng các khu thương mại, dịch vụ tập trung, sự thay thế lao động thủ công bằng cơ khí, tự động hóa ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề cũng là những nhân tố trực tiếp làm thay đổi cơ cấu lao động, việc làm của người lao động

-Trình độ người lao động ngày càng được nâng cao Do xu hướng giảm lao động

có trình độ chuyên môn thấp và tốc độ gia tăng dân số nên một bộ phận người lao động, nhất là nông dân trong độ tuổi lao động khi chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, buộc phải tự trang bị cho mình kiến thức, trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định Vì vậy, thu hồi đất cho công nghiệp hóa, đô thị hóa đã tự động hướng một bộ phận lao động tham gia vào các chương trình giáo dục, đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp, làm chuyển biến nhận thức của người dân trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình, từ đó giúp cho những người lao động có điều kiện thuận lợi hơn về thời gian, tiền bạc, công sức, để ưu tiên đầu tư cho giáo dục, đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, vừa làm giảm

áp lực về nhu cầu phải giải quyết việc làm hiện tại ở đô thị, vừa nâng cao khả năng tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm việc làm cho bản thân và con em họ

Trang 27

- Góp phần hiện đại hóa đời sống cư dân nông thôn và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa trên cơ sở lựa chọn, sàng lọc những giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa vùng miền Quá trình thu hồi đất để công nghiệp hóa, đô thị hóa tạo điều kiện cải biến cư dân nông thôn từ những người nông dân với nền sản xuất lúa nước phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên trở thành những cư dân thành thị có tác phong công nghiệp, nếp sống văn minh và có đời sống văn hóa cao hơn Dân cư từ các vùng, miền di cư vào các đô thị, đồng thời mang theo những giá trị truyền thống, bản sắc

và tinh hoa văn hóa riêng có của vùng, miền, do đó góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa chung của đô thị Trải qua quá trình lựa chọn, sàng lọc những giá trị văn hóa đã làm đa dạng thêm văn hóa đô thị

1.2.3.2 Tác động tiêu cực

Bên cạnh những tác động tích cực đã nêu trên, quá trình thu hồi đất để công nghiệp hóa, đô thị hóa cũng làm nảy sinh những tác động tiêu cực đối với đời sống của người dân bị thu hồi đất, có thể kể đến một số tiêu cực sau:

- Trong ngắn hạn, giảm việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp, tăng

tỷ lệ thất nghiệp, đặc biệt là bộ phận người lao động trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất nông nghiệp.Thu hồi đất nông nghiệp để phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu đô thị và các công trình công cộng đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp, do đó làm giảm việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp Đồng thời, thu nhập giảm cũng làm cho điều kiện sống của họ gặp nhiều khó khăn hơn Bên cạnh đó, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ phục vụ sản xuất nông nghiệp sang phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ, đô thị sẽ dẫn đến một bộ phận không nhỏ những người lao động thuộc diện thu hồi đất sản xuất (đất sản xuất nông nghiệp và mặt bằng sản xuất, kinh doanh các ngành nghề phi nông nghiệp) bị mất việc làm hoặc buộc phải chuyển đổi việc làm Trong khi đó, đại đa

số người lao động trong bộ phận này có trình độ học vấn thấp, không có tay nghề, không có vốn để tự tổ chức việc làm nên sẽ hạn chế trong khả năng tự tạo việc làm, tiếp cận các dịch vụ việc làm hội nhập cuộc sống đô thị, từ đó làm tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng

Trang 28

- Gia tăng áp lực giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội đối với chính quyền địa phương Mức độ công nghiệp hóa, đô thị hóa càng cao, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp càng lớn, tỷ lệ lao động mất việc làm ở nông thôn càng cao, sự chênh lệch về phát triển giữa nông thôn và thành thị càng lớn thì các luồng nhập cư nông thôn - đô thị diễn ra ngày càng mạnh mẽ Đây là hiện tượng khách quan của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, nó có vai trò rất to lớn trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho sự phát triển của các đô thị Tuy nhiên, các luồng nhập cư tự do

từ các vùng nông thôn chỉ tập trung chủ yếu vào một số rất ít những đô thị lớn không những làm gia tăng sức ép về vấn đề nhà ở, cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường mà còn làm gia tăng sức ép đối với chính quyền địa phương trong công tác quản lý xã hội, nhất là việc đảm bảo an ninh trật tự xã hội, đảm bảo an sinh xã hội cho các bộ phận dân cư, trong đó có đối tượng là nông dân bị thu hồi đất

1.2.3 Tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động

bị thu hồi đất nông nghiệp

Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa là vấn đề cần thiết phải được Đảng, Nhà nước, các địa phương và chủ thể sử dụng đất thu hồi nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, từ đó có sự quan tâm đúng mức và phải coi đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương Tầm quan trọng của vấn đề này thể hiện ở những lý do sau:

- Giải quyết việc làm cho các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp giúp ổn định cuộc sống cho họ Sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp, các hộ nông dân phải thay đổi nơi cư trú, từ chỗ sống gắn với ruộng vườn đến sống ở các khu nhà phân lô hoặc diện tích ruộng vườn nhỏ sẽ làm xáo trộn cuộc sống vốn có trước đây và ảnh hưởng rất lớn đến các công việc làm thêm của họ Khi bị thu hồi đất sản xuất làm cho một bộ phận lao động nông nghiệp mất việc làm truyền thống, thất nghiệp hoặc buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp nhưng rất khó khăn, bởi đa số họ đều có trình độ học vấn thấp, không có tay nghề, thiếu vốn để tổ chức việc làm Hơn nữa, đối với họ, việc tìm kiếm một nghề

Trang 29

để ổn định cuộc sống là không đơn giản, vì thiếu những điều kiện cơ bản như vốn, mặt bằng sản xuất, công nghệ Do đó, Đảng, Nhà nước và chủ thể sử dụng đất thu hồi cần thiết phải quan tâm tạo việc làm cho họ để ổn định cuộc sống, tránh tình trạng thu hồi đất mà không có các chính sách hỗ trợ, hoặc quy hoạch treo, vì vậy phải quan tâm giải quyết việc làm cho họ, nhất là giai đoạn đầu

- Giải quyết việc làm cho các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp Một trong những thiếu sót lớn nhất của công tác thu hồi đất là các chính sách xã hội bền vững sau thu hồi đất Thực tế cho thấy, sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp một bộ phận nông dân, nhất là lao động lớn tuổi và lao động nữ bị thất nghiệp, khó chuyển đổi được nghề nghiệp do trình độ học vấn, trình độ chuyên môn

kỹ thuật thấp, sức khỏe yếu, khó thích nghi được các công việc nặng nhọc như đạp xích lô, xe thồ, vận chuyển cát sạn, thợ hồ Do đó, dẫn đến thu nhập bình quân của một số hộ sau thu hồi đất giảm sút, đời sống của họ gặp nhiều khó khăn, trong khi

đó họ phải đối mặt với các khoản chi phí ngày càng cao như:học phí cho con cái, chi phí khám chữa bệnh, vệ sinh môi trường, điện, nước Do đó, đòi hỏi chính quyền địa phương - nơi có đất nông nghiệp bị thu hồi phải tìm mọi biện pháp để tạo việc làm hoặc tư vấn tạo việc làm nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lao động này Mặt khác, bản thân người nông dân trong độ tuổi lao động phải tích cực tự chuyển đổi việc làm không ỷ lại hay trông chờ vào sự hỗ trợ của chính quyền

- Giải quyết việc làm cho các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người nông dân bị thu hồi đất, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở nước ta diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế đã chuyển sang cơ chế thị trường, có sự phân cực về mức sống giữa các nhóm cư dân đô thị và nhóm nhập cư Theo đó, những người biết nắm lấy cơ hội, có vốn, có kiến thức càng ngày càng giàu lên, ngược lại những người nghèo, trong đó đa số là người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, không có trình độ, vốn,… đã nghèo lại càng nghèo hơn, khả năng tiếp cận các nguồn lực do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mang lại cũng kém hơn Do đó, nó làm nới rộng khoảng cách giàu nghèo, gây bất bình đẳng xã hội Chính vì vậy, giải quyết tốt

Trang 30

vấn đề việc làm trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa không chỉ tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người dân, mà còn góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

- Giải quyết việc làm cho các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp làm giảm các tệ nạn xã hội Tệ nạn xã hội đang trở thành vấn đề rất nghiêm trọng mà một trong những nguyên nhân chủ yếu nhất là do chưa giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động dẫn đến “nhàn cư vi bất thiện” Qua kết quả điều tra và nghiên cứu, nhiều nhà khoa học và quản lý xã hội đã đi đến kết luận rằng: Số người thất nghiệp đóng góp vào các tệ nạn xã hội chiếm một tỷ lệ đáng kể, bao gồm, ma tuý, mại dâm, trộm cắp, đâm thuê, chém mướn Bởi lẽ, đối với người lao động, mất việc làm là mất nguồn thu nhập, mất kế sinh nhai, con người sẽ mất đi phương cách sống chủ yếu nhất để thể hiện và khẳng định mình, họ dễ rơi vào tình trạng khốn khó, túng quẫn, khủng hoảng về tinh thần, thiếu niềm tin vào cuộc sống, mặc cảm, tự ti vì nghèo hèn, dễ bị tổn thương, thậm chí bất mãn về chính trị, gây nên các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật làm đảo lộn nếp sống lành mạnh và ảnh hưởng xấu đến thuần phong, mỹ tục, gây bất ổn xã hội Chính vì vậy, đối với bộ phận này một khi những nỗ lực tìm kiếm việc làm chính đáng mà pháp luật không cấm không thực hiện được thì những việc làm phi pháp, tệ nạn xã hội là chỗ cho một bộ phận người thất nghiệp bấu víu để tồn tại và xoa dịu sự tổn thương về tinh thần

1.2.3 Nội dung và tiêu chí đánh giá kết quả giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

1.2.3.1 Nội dung giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra và kết hợp các yếu tố tư liệu sản xuất, sức lao động và các điều kiện kinh tế - xã hội khác để đảm bảo cho hoạt động lao động diễn ra và duy trì hoạt động đó Giải quyết việc làm liên quan đến nhiều chủ thể, bao gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp là quá trình mà người lao động

tự do tìm kiếm một công việc phù hợp, và người sử dụng lao động tìm kiếm được

Trang 31

những người lao động thoả mãn được những yêu cầu của mình về cả mặt số lượng

và chất lượng, cùng với đó là quá trình Nhà nước tạo ra môi trường thuận lợi để người người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có thể thực hiện quá trình lao động của họ Do vậy, nội dung của tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất gồm:

- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tổng thể về việc thu hồi đất nông nghiệp và kế hoạch giải quyết việc làm cho lao động sau khi họ bị thu hồi đất nông nghiệp Nhà nước là cơ quan chịu trách nhiệm trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, vấn đề đó bao gồm các bước như sau: Trước hết, Nhà nước dựa trên quy hoạch tổng thể về kế hoạch sử dụng đất do Chính phủ ban hành để thực hiện việc thu hồi như: Tổng diện tích đất thu hồi, vị trí đất thu hồi…; sau đó, Nhà nước tiến hành điều tra, đánh giá xã hội ban đầu để nắm được chính xác đặc điểm cộng đồng dân chuyển cư, nguồn lao động của cộng đồng người sẽ bị ảnh hưởng bởi dự án; thống kê, phân tích thực trạng cơ cấu và chất lượng nguồn lao động của nhóm dân cư đó theo tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, đặc điểm gia đình và mức sống; đánh giá tổng quát những ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến việc làm, thu nhập, đời sống của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

- Xây dựng môi trường pháp lý, các điều kiện kinh tế - xã hội cần thiết nhằm phát triển thị trường sức lao động Trên cơ sở đánh giá những tác động của thu hồi đất đến việc làm của nông dân, Nhà nước xây dựng các văn bản pháp quy để bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp theo hướng bảo đảm

ổn định việc làm và thu nhập hợp pháp cho bản thân người lao động bị mất đất nông nghiệp và gia đình của họ Cùng với đó, nhà nước cũng xây dựng các điều kiện kinh tế

- xã hội cần thiết để mở rộng và phát triển các trung tâm dịch vụ việc làm, cơ sở dữ liệu

về tìm kiếm việc làm, hệ thống thông tin việc làm để người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có cơ hội tiếp cận và tìm kiếm việc làm mới

- Có chính sách khuyến khích, phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là những ngành nghề sử dụng nhiều lao động để thu hút lao động nông nghiệp sau khi họ mất đất, từ đó tạo ra nhu cầu về việc làm và tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

Trang 32

- Xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp để người lao động mất đất nông nghiệp có cơ hội tìm được việc làm Nguyên nhân của thất nghiệp đối với những người lao động bị mất đất nông nghiệp

là do họ không có trình độ, chuyên môn nghề nghiệp Chính vì vậy, Nhà nước cần xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp cho người nông dân theo hướng phù hợp với khả năng của nông dân, phù hợp với nhu cầu của thị trường sức lao động nhằm giúp người nông dân sau khi được đào tạo nghề tìm kiếm được việc làm

- Chính quyền địa phương tăng cường phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp - chủ đầu tư sử dụng đất thu hồi trong việc đào tạo và bố trí việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp vào làm việc trong các doanh nghiệp này Xây dựng cơ chế ràng buộc và nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp sử dụng đất thu hồi của người nông dân trong việc giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất

- Chính quyền địa phương, các cấp, ban ngành chức năng thực hiện tuyên truyền, vận động, giúp đỡ người lao động bị mất đất nông nghiệp chủ động tìm kiếm, lựa chọn nghề nghiệp và việc làm mới phù hợp với bản thân thông qua các chính sách trợ giúp của Nhà nước và các doanh nghiệp Bản thân người nông dân có

cơ hội tìm việc làm và duy trì việc làm ở các dự án sử dụng đất nông nghiệp thu hồi hoặc tìm được các công việc khác do sự phát triển kinh tế - xã hội do hiệu ứng của

dự án đó mang lại Để làm được điều đó phải xác định được trách nhiệm của từng chủ thể có liên quan đến thu hồi đất nông nghiệp trong giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, đó là: Người nông dân, người sử dụng lao động, và Nhà nước

Ngoài ra, các tổ chức chính trị xã hội cũng có vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp như: tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước về đất đai đến với người lao động bị mất đất nông nghiệp; Làm cho nông dân nhận thức đúng về việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ lợi ích phát triển kinh tế - xã hội; Góp phần tích cực

Trang 33

trong việc hướng dẫn người lao động bị mất đất nông nghiệp trong chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm mới, tăng thu nhập cho người lao động

1.2.3.2 Tiêu chí đánh giá kết quả giải quyết việc làm cho người lao động

bị thu hồi đất nông nghiệp

Căn cứ vào nội dung giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, có thể đưa ra một số tiêu chí sau để đánh giá kết quả của việc giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp:

Một là, tỷ trọng số người lao động sau khi bị thu hồi đất tìm được việc làm trong tổng số lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Tiêu chí này phản ánh hiệu quả của các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, của doanh nghiệp và khả năng thích nghi của chính bản thân người lao động bị mất đất nông nghiệp

Hai là, tỷ trọng số người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp được hỗ trợ, đào tạo lại nghề, chuyển đổi nghề nghiệp và tỷ trọng những người được đào tạo phù hợp với nhu cầu của thị trường sức lao động trong tổng số người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Tiêu chí này phản ánh hiệu quả công tác hỗ trợ, đào tạo lại nghề, chuyển đổi ngành nghề cho nông dân bị thu hồi đất

Ba là, tỷ trọng những người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp không kiếm được việc làm ổn định, đời sống bấp bênh, gặp nhiều khó khăn trong tổng số lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Tiêu chí đánh giá này phản ánh kết quả của công tác giải quyết việc làm cho nông dân, nếu tỷ trọng những người nông dân khi thu hồi đất không kiếm được việc làm ổn định, đời sống bấp bênh, gặp nhiều khó khăn càng lớn thì chứng tỏ các giải pháp của Nhà nước, địa phương và doanh nghiệp là chưa hiệu quả và không gắn với thực tế của địa phương đó

Bốn là, tỷ trọng số người lao động sau khi thu hồi đất nông nghiệp được Nhà nước hỗ trợ xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm trong tổng số nông dân bị thu hồi đất Tiêu chí này phản ánh hiệu quả hoạt động xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất

Năm là, mức độ phối hợp giữa chính quyền địa phương với chủ đầu tư các

dự án trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, đào tạo lại nghề cho

Trang 34

người nông dân bị thu hồi đất để có thể thu hút họ vào làm việc trong các dự án đầu

tư Tiêu chí đánh giá này phản ánh hiệu quả sự phối hợp hoạt động giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp, chủ đầu tư các dự án trong đào tạo, đào tạo lại nghề cho nông dân bị thu hồi đất để giải quyết việc làm cho họ

Sáu là, việc thực hiện các chính sách của trung ương và địa phương về giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Tiêu chí này cho thấy hiệu quả của việc thực hiện các chính sách về giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, nó thể hiện tính minh bạch, hiệu quả của các chính sách giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

1.2.4 Các hoạt động giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

1.2.4.1 Giải quyết việc làm thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia

Các chương trình mục tiêu quốc gia là chính sách của Nhà nước ban hành nhằm hỗ trợ người lao động tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo Nội dung các chương trình được xây dựng trên cơ sở gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương trong từng giai đoạn, phù hợp với từng vùng, miền, địa phương và từng nhóm đối tượng lao động cụ thể Ngày 31/8/2012, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số 1201/QĐ – TTg phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012 – 2015 [2], trong đó có 3 dự án liên quan trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người lao động là: Đào tạo nghề cho người lao động; Vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm; Hỗ trợ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Trong số các mục tiêu cụ thể của chương trình có mục tiêu: hỗ trợ đào tạo nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho lao động thuộc hộ bị thu hồi đất nông nghiệp đi làm việc ở nước ngoài… Với các chính sách điều tiết vĩ

mô của Chính phủ thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề đã góp phần tạo việc làm cho người lao động, trong đó có một phần lớn là lao động nông thôn và người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

Trang 35

1.2.4.2 Giải quyết việc làm thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm

và cơ sở dạy nghề

Một trong những hoạt động giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp là phát triển hệ thống cơ sở dạy nghề tại các địa phương Thông qua các chương trình đào tạo của các trung tâm, cơ sở dạy nghề sẽ tạo điều kiện cho người lao động được học các nghề phù hợp và nâng cao tay nghề, mở ra nhiều cơ hội tìm và tạo việc làm Ở nước ta, bộ luật lao động (sửa đổi năm 2012), luật việc làm và luật dạy nghề là căn cứ pháp lý quan trọng cho việc hình thành và phát triển

hệ thống dạy nghề, giới thiệu việc làm trong cả nước Các cơ sở dạy nghề ngoài việc đào tạo tập trung dài hạn và đào tạo từ đầu còn hướng vào đào tạo lại để nâng cao, cập nhật trình độ cho người lao động phù hợp với yêu cầu và tính chất công việc Một bộ phận người lao động sau khi học nghề đã có việc làm mới ở các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, được chuyển nghề, có việc làm ngay tại địa phương và trong khu công nghiệp, thực hiện ly nông, bất ly hương Một bộ phận lao động nông thôn đã thành lập doanh nghiệp, tổ hợp tác, tạo việc làm cho bản thân

và các lao động khác Tuy nhiên, công tác dạy nghề cho lao động nông thôn vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

1.2.4.3 Giải quyết việc làm thông qua phát triển làng nghề truyền thống

và các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Đây là một trong những hoạt động giải quyết việc làm rất hiệu quả Làng nghề là môi trường thuận lợi, tạo cơ hội cho người lao động dễ tìm được việc làm tăng thu nhập Hiện nay, cả nước có khoảng 2.790 làng nghề truyền thống, giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, phương thức này đã, đang và sẽ được duy trì, ngày càng có xu hướng phát triển tốt Cùng với làng nghề, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đóng vai trò quan trọng, tạo thêm việc làm và thu nhập cho lao động Phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ góp phần vào phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ, mà còn góp phần tích cực trong tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động, giảm sức ép về lao động, việc làm và các vấn đề xã hội

Trang 36

khác Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ [3], quy định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là doanh nghiệp vừa Các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp, tỷ lệ là 95% Vì thế, đóng góp của doanh nghiệp nhỏ và vừa vào tổng sản lượng và tạo việc làm cho nền kinh tế là rất đáng kể

1.2.4.4 Giải quyết việc làm thông qua xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động là xuất khẩu sức lao động của con người, do người lao động

sử dụng sức lao động của mình bán cho chủ sử dụng lao động nước ngoài, sống và làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động đã ký kết Nên quan hệ mua bán sức lao động trong xuất khẩu lao động là quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài, đặc biệt phức tạp bởi

sự khác nhau về văn hóa, phong tục tập quán, luật pháp cũng như những điều ước quốc

tế của cả nước nhập khẩu lao động và nước xuất khẩu lao động Hiện nay, xuất khẩu lao động thường được tiến hành theo các hình thức: thông qua các doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; các doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; đưa tu nghiệp sinh, thực tập sinh đi thực tập nâng cao tay nghề ở nước ngoài; theo hợp đồng cá nhân lao động trực tiếp ký kết với chủ sử dụng lao động nước ngoài Xuất khẩu hàng hóa sức lao động là một chủ trương có tính chiến lược, quan trọng của Đảng và Nhà nước, phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và yêu cầu tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Thông qua xuất khẩu lao động, việc làm cho người lao động được giải quyết, nhất là lao động dôi dư từ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa Đây là một hoạt động hiệu quả tạo việc làm cho lao động trong không gian “thế giới phẳng” hiện nay Tuy nhiên, xuất khẩu lao động cũng có những hạn chế cần khắc phục như cần tiến hành thanh tra, giám sát chặt chẽ công tác quản lý lao động, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao động, có chiến lược nghiên cứu thị trường

và cần đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu…

Trang 37

1.2.4.5 Giải quyết việc làm thông qua các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội

Trong những năm gần đây, nhiều tổ chức đoàn thể giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo và giải quyết việc làm, đã có nhiều giải pháp tích cực giúp người lao động, trong đó có lao động bị thu hồi đất nông nghiệp giải quyết việc làm Các tổ chức đoàn thể, chính trị - xã hội như Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân… thông qua việc thực hiện các mô hình, dự án phát triển sản xuất, chuyển dịch

cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, vay vốn hỗ trợ sản xuất, vay vốn xuất khẩu lao động, dạy nghề, đã góp phần không nhỏ trong việc giải quyết việc làm cho người lao động Ở Hà Nội, cũng như quận Long Biên đã có nhiều kế hoạch cụ thể, khai thác từ các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm; lồng ghép với các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để tạo việc làm trong đó có đối tượng là người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Theo đó, các tổ chức đoàn thể, chính trị - xã hội đã thành lập hàng chục trung tâm và cơ sở dạy nghề, giới thiệu việc làm đào tạo nghề cho hàng triệu lượt phụ nữ, thanh niên, nông dân; tư vấn nghề nghiệp, tư vấn việc làm cho các hội viên giúp họ có việc làm hoặc tự tạo việc làm ổn định

1.2.4.6 Tự giải quyết việc làm thông qua thị trường sức lao động

Đối với lao động bị thu hồi đất nông nghiệp thì sự phát triển thị trường sức lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc tự tạo việc làm cho họ Nó giúp cho người lao động biết được các thông tin về nhu cầu tuyển dụng lao động, tư vấn về học nghề, dạy nghề, số lượng và chất lượng việc làm vì vậy, sẽ có nhiều cơ hội để tìm kiếm việc làm chuyển đổi nghề nghiệp, tự giải quyết việc làm Thực tế ở những địa phương có thị trường sức lao động phát triển như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra nhiều cơ hội cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tìm kiếm được những việc làm tốt hơn, phù hợp với trình độ, năng lực

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

1.2.5.1 Vốn đầu tư và sự phát triển của khoa học - công nghệ

Trang 38

Vốn đầu tư, quy mô vốn đầu tư là cơ sở tạo lập, nâng cao quy mô, trình độ tư liệu sản xuất Cấu tạo hữu cơ (c/v) của vốn đầu tư lại quyết định quy mô, cơ cấu việc làm theo hướng: nếu cấu tạo hữu cơ không thay đổi thì giữa vốn đầu tư và quy mô việc làm tạo ra sẽ có quan hệ tỷ lệ thuận ; nếu c/v tăng theo hướng tăng cùng sự phát triển của khoa học - công nghệ thì quy mô việc làm giản đơn giảm, nhưng quy mô việc làm phức tạp (việc làm đòi hỏi được đào tạo, có chuyên môn kỹ thuật) sẽ tăng Hơn nữa, sự phát triển của khoa học - công nghệ là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển sẽ làm xuất hiện nhiều ngành nghề, lĩnh vực kinh tế mới và do vậy sẽ tạo thêm nhiều việc làm mới

Việc tăng hay giảm vốn đầu tư vào phát triển các ngành sử dụng khoa học- công nghệ cao, trung bình hay thấp sẽ tác động đến việc giải quyết việc làm cho người lao động Nếu tăng vốn đầu tư vào phát triển các ngành sử dụng khoa học - công nghệ thấp thì cơ hội có việc làm cho nông dân sau thu hồi đất sẽ tăng lên; nếu tăng vốn đầu tư phát triển các ngành sử dụng khoa học - công nghệ cao thì cơ hội có việc làm cho nông dân sau thu hồi đất gần như không có, nếu xét trong thời gian ngắn hạn Chính vì vậy,

để có việc làm với thu nhập cao hơn, lao động nông thôn cần được đào tạo nâng cao trình độ văn hóa nói chung và trình độ nghề nghiệp nói riêng

Mặt khác, về cơ bản các hộ nông dân đều thiếu vốn sản xuất,do đó sẽ hạn chế họ trong việc tự tạo ra việc làm cho bản thân Vì vậy, cần phải giúp đỡ họ trong huy động mọi nguồn vốn vào sản xuất, đồng thời cần hướng dẫn họ nâng cao khả năng quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh và nguồn tiền đền bù, giải tỏa, tái định cư

1.2.5.2 Trình độ của người lao động

Việc nâng cao năng suất lao động, hiện đại hoá công nghệ sản xuất, tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu của nền kinh tế, của doanh nghiệp luôn gắn liền với việc nâng cao chất lượng lao động Nếu chất lượng lao động tốt thì khả năng tạo việc làm cho người lao động sẽ thuận lợi; ngược lại, chất lượng lao động thấp sẽ gây khó khăn cho người lao động trong tìm kiếm việc làm Người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp với xuất phát điểm thấp về trình độ học vấn, trình độ chuyên

Trang 39

môn kỹ thuật đã tạo ra sự không phù hợp giữa cung - cầu lao động Thậm chí, với những tác phong thiếu chuyên nghiệp, tâm lý tiểu nông cũng ảnh hưởng đến cơ hội việc làm của họ Vì vậy, công tác dạy nghề, chuyển đổi nghề cho nông dân cần phải được quan tâm đúng mức Các chương trình dạy nghề cho nông dân sau thu hồi đất phải phù hợp với lứa tuổi, khả năng, giới tính và nhất là phải phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa Có như vậy mới tạo ra được nhiều việc làm phù hợp cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

1.2.5.3 Nhân tố về chủ trương, chính sách phát triển của Nhà nước

Chủ trương, chính sách phát triển của Nhà nước là nhân tố có sự tác động không nhỏ tới giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất Cụ thể là:

Đối với các chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế như: Chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, chính sách phát triển khu vực kinh tế phi chính thức, chính sách khôi phục và phát triển làng nghề, chính sách xuất khẩu lao động… Theo đó, những chính sách này rất phù hợp để giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề thấp, có độ tuổi cao khó tìm kiếm việc làm ở các doanh nghiệp công nghiệp, dịch vụ hoặc lao động lao động không có tay nghề, lao động nông thôn nhập cư vào đô thị và nông dân sau thu hồi đất cần những việc làm tạm thời Đồng thời, những chính sách này còn góp phần làm giảm áp lực về nhu cầu làm việc ở khu vực kinh tế chính thức Chính sách đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cũng là hướng đi có hiệu quả để tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động

Đối với các chủ trương, chính sách phát triển xã hội như: Chính sách tiền lương, tiền công, chính sách quản lý di dân… Với việc quy định mức lương tối thiểu cao ở khu vực đô thị sẽ tạo động lực khuyến khích nâng cao năng suất lao động, gia tăng sản lượng, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều việc làm mới ở cả khu vực kinh tế chính thức và khu vực kinh tế không chính thức Đối với chính sách quản lý di dân, cần phải xoá bỏ sự phân biệt đối xử trong các chính sách

xã hội ở đô thị, nhất là chính sách lao động - việc làm

Đối với các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân,

Trang 40

nông thôn có ảnh hưởng rất lớn tới giải quyết việc làm và thu nhập của lao động nông thôn, đặc biệt là các chính sách phát triển nông nghiệp, ngành sản xuất chính của khu vực nông thôn Sự phát triển của ngành này chịu sự tác động rất lớn từ các điều kiện tự nhiên: thiên tai, dịch bệnh Thêm vào đó, thị trường nông sản luôn có nhiều biến động, rủi ro lớn Vì vậy, các chính sách đất đai như chính sách hạn điền trong nông nghiệp, qui hoạch sử dụng đất nông nghiệp, các chính sách hỗ trợ tiêu thụ nông sản, hỗ trợ phát triển công nghiệp chế biến nông sản, phát triển các làng nghề, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực nông thôn có ảnh hưởng rất lớn đến việc làm, thu nhập của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

1.2.5.4 Nhân tố về yêu cầu phát triển của địa phương

Yêu cầu phát triển của địa phương cũng là một trong những nhân tố có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến giải quyết việc làm nói chung, giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nói riêng Những ảnh hưởng đó có thể nhìn nhận trên các khía cạnh sau: Về tiềm lực kinh tế của địa phương, thể hiện rõ nét ở cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tính hiệu quả và đồng bộ của cơ chế quản lý, tốc độ và tính ổn định của tăng trưởng kinh tế, khả năng kiểm soát tốt các yếu tố rủi ro và lạm phát Tiềm lực kinh tế của địa phương càng lớn, sức sản xuất của địa phương trên các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ càng cao, càng tăng thêm cơ hội việc làm cho người lao động;

Về vị trí địa lý, địa phương có vị trí địa lý thuận lợi, có hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông thông suốt, sẽ tạo điều kiện để phát huy các nguồn lực nội tại cũng như thu hút các nguồn lực từ bên ngoài để thúc đẩy phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ đó góp phần tạo việc làm cho người lao động không chỉ trong nội tại địa phương đó mà còn có khả năng đưa lao động sang các địa phương lân cận để tìm

kiếm việc làm; Về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, chiến lược

này thường được cụ thể hóa bằng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, quy hoạch càng có tính khả thi, thì các dự án đầu tư càng có điều kiện thực hiện thuận lợi và có hiệu quả kinh tế cao, do đó mà công tác giải quyết việc làm

giữa các chủ thể tham gia cũng trở nên thuận lợi và nhanh hơn

Ngày đăng: 11/11/2016, 16:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà Văn Cơ, 2007. Nghiên cứu thực trạng việc làm và thu nhập của những hộ gia đình bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở Thị trấn Trâu Quỳ - Huyện Gia Lâm - Hà Nội. Luận văn tốt nghiệp Đại học, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng việc làm và thu nhập của những hộ gia đình bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở Thị trấn Trâu Quỳ - Huyện Gia Lâm - Hà Nội
2. Chính phủ, 2012. Quyết định số 1201/QĐ – TTg phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012 – 2015. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1201/QĐ – TTg phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012 – 2015
3. Chính phủ, 2009. Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009. Hà Nội 4. Chính phủ, 2006. Chỉ thị 11/2006/CT-TTG về xây dựng kế hoạch hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm và vay vốn giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009". Hà Nội 4. Chính phủ, 2006. "Chỉ thị 11/2006/CT-TTG về xây dựng kế hoạch hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm và vay vốn giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
5. Chính phủ, 2009. Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”
6. Chương trình KX 04, 1995. Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Đề tài cấp Nhà nước KX 04.04, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
7. Trần Ngọc Diễn, 2013. Chất lượng việc làm ở Việt Nam: Thách thức và giải pháp, Tạp chí Lao động và Xã hội, (467) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng việc làm ở Việt Nam: Thách thức và giải pháp
8. Nguyễn Hữu Dũng, 2004. Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn. Tạp chí Lao động và Xã hội, (246) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn". Tạp chí Lao động và Xã hội
9. Nguyễn Hữu Dũng, 2005. Đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá với việc đảm bảo điều kiện sống và làm việc của người lao động. Tạp chí Lýluận Chính trị, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá với việc đảm bảo điều kiện sống và làm việc của người lao động." Tạp chí Lý luận Chính trị
10. Nguyễn Hữu Dũng, 2008. Phát triển khu công nghiệp với vấn đề lao động việc làm. Tạp chí Cộng sản, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khu công nghiệp với vấn đề lao động việc làm
11. Trần Đình Đằng, Đinh Văn Đán; 1996. Kinh tế hộ gia đình. Hà Nội: NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ gia đình
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
13. Nguyễn Hương Giang, 2008. Những thay đổi về viê ̣c làm và thu nhập của các hộ nông dân trong quá trình đô thị hóa ở quận Long Biên – Thành phố Hà Nội.Đại học Nông Nghiệp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thay đổi về viê ̣c làm và thu nhập của các hộ nông dân trong quá trình đô thị hóa ở quận Long Biên – Thành phố Hà Nội
14. Hà Thị Hằng, 2008. Vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất ở nước ta hiện nay. Tạp chí Khoa học Chính trị, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất ở nước ta hiện nay
15. Lê Văn Lợi, 2013. Những vấn đề xã hội nảy sinh từ việc thu hồi đất nông nghiệp cho phát triển đô thị, khu công nghiệp và giải pháp khắc phục. Tạp chí Khoa học Chính trị, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề xã hội nảy sinh từ việc thu hồi đất nông nghiệp cho phát triển đô thị, khu công nghiệp và giải pháp khắc phục
16. Hoàng Thị Ngọc Loan, 2010. Việc làm và thu nhập của nông dân vùng Đông Nam bộ dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Đề tài khoa học cấp Bộ, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực II. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm và thu nhập của nông dân vùng Đông Nam bộ dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị
17. Trần Thị Minh Ngọc, 2010. Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến 2010. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến 2010
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
18. Nguyễn Văn Nhường , 2010. Chính sách an sinh xã hội với người nông dân sau khi thu hồi đất để ph át triển các khu công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh). Luận văn Tiến sỹ kinh tế, Đại học Nông Nghiệp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách an sinh xã hội với người nông dân sau khi thu hồi đất để ph át triển các khu công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)
20. Lê Du Phong, 2007. Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
21. Nguyễn Duy Phương, 2013. Quan điểm và giải pháp giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay. Tạp chí Lao động và Xã hội, (464 + 465) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm và giải pháp giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay
26. Phòng Thống kê quận Long Biên. Báo cáo công tác thống kê trên địa bàn quận Long Biên năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác thống kê trên địa bàn quận Long Biên năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015
27. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013. Luật Việc làm. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Việc làm
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1:   Tình hình dân số và lao động quận Long Biên - Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận long biên   thành phố hà nội
Bảng 3.1 Tình hình dân số và lao động quận Long Biên (Trang 56)
Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế quận Long Biên (2011 - 2015) - Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận long biên   thành phố hà nội
Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế quận Long Biên (2011 - 2015) (Trang 59)
Bảng 3.3. Diện tích, cơ cấu các loại đất quận Long Biên - Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận long biên   thành phố hà nội
Bảng 3.3. Diện tích, cơ cấu các loại đất quận Long Biên (Trang 62)
Bảng 3.4. Diện tích, tỷ trọng đất nông nghiệp quận Long Biên qua các năm - Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận long biên   thành phố hà nội
Bảng 3.4. Diện tích, tỷ trọng đất nông nghiệp quận Long Biên qua các năm (Trang 63)
Bảng 3.5. Tổng hợp diện tích đất bị thu hồi qua các năm 2011, 2013, 2015 - Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận long biên   thành phố hà nội
Bảng 3.5. Tổng hợp diện tích đất bị thu hồi qua các năm 2011, 2013, 2015 (Trang 65)
Bảng 3.7. Kết quả điều tra các chỉ tiêu về thu hồi đất nông nghiệp - Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận long biên   thành phố hà nội
Bảng 3.7. Kết quả điều tra các chỉ tiêu về thu hồi đất nông nghiệp (Trang 68)
Bảng 3.9: Tình trạng việc làm trước và sau khi thu hồi đất của người lao động - Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận long biên   thành phố hà nội
Bảng 3.9 Tình trạng việc làm trước và sau khi thu hồi đất của người lao động (Trang 73)
Bảng 3.11. Bình quân thu nhập/hộ/năm của các nhóm hộ - Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận long biên   thành phố hà nội
Bảng 3.11. Bình quân thu nhập/hộ/năm của các nhóm hộ (Trang 77)
Bảng 3.12: Kết quả đào tạo nghề giai đoạn 2011-2015 - Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận long biên   thành phố hà nội
Bảng 3.12 Kết quả đào tạo nghề giai đoạn 2011-2015 (Trang 84)
Bảng 3.13: Số lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đi xuất khẩu lao động - Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận long biên   thành phố hà nội
Bảng 3.13 Số lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đi xuất khẩu lao động (Trang 88)
Bảng 3.14. Kết quả lao động bị thu hồi đất tìm đƣợc việc làm tại các   phiên giao dịch việc làm của quận Long Biên giai đoạn 2011-2015 - Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận long biên   thành phố hà nội
Bảng 3.14. Kết quả lao động bị thu hồi đất tìm đƣợc việc làm tại các phiên giao dịch việc làm của quận Long Biên giai đoạn 2011-2015 (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w