Về vấn đề giao quyền tự chủ tài chính, được chủ động bố trí kinh phí để thực hiện nhiệm vụ, được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân sách nhà nước cấp đối với đơn vị sự nghiệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN THỊ MÙI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài „„Đổi mới cơ chế, chính
sách tài chính tại Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội‟‟ là kết quả của quá
trình học tập và nghiên cứu của bản thân
Các số liệu, tài liệu sử dụng trong luận văn đƣợc thu thập và trích dẫn từ các nguồn tin cậy, bảo đảm tính chính xác, rõ ràng; việc xử lý, phân tích và đánh giá các số liệu đƣợc thực hiện một cách trung thực, khách quan
Trang 4Cuối cùng, tôi muốn dành lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo, và các anh chị em đồng nghiệp đang làm việc tại Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Hà Nội cùng gia đình và bạn bè đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ÁP DỤNG CHO NHÀ XUẤT BẢN 4 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.2 Lý luận về cơ chế, chính sách tài chính áp dụng cho xuất bản 6
1.2.1 Vài nét về Nhà xuất bản 6
1.2.2 Cơ chế, chính sách tài chính áp dụng cho nhà xuất bản 8
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN 31
2.1 Cách tiếp cận và định hướng nghiên cứu 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 31
2.2.1 Phương pháp thu thập và phân loại tư liệu 31
2.2.2 Phương pháp thống kê mô tả 32
2.2.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu 33
2.2.4 Phương pháp phân tích - tổng hợp 34
Chương 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TẠI NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 36
3.1 Vài nét về ĐHQGHN và NXB ĐHQGHN 36
3.1.1 Vài nét về ĐHQGHN 36
3.1.2 Sự ra đời, quá trình phát triển và kết quả hoạt động của NXB ĐHQGHN39 3.2 Thực trạng cơ chế, chính sách tài chính tại Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội 41
3.2.1 Vài nét về ngành xuất bản của Việt Nam những năm qua 41
Trang 63.2.2 Thực trạng cơ chế, chính sách thu tài chính 50
3.2.3 Thực trạng cơ chế, chính sách chi tài chính 56
3.2.4 Vấn đề thực hiện quyền tự chủ tài chính của NXB ĐHQGHN 60
3.3 Đánh giá cơ chế, chính sách tài chính tại NXB ĐHQGHN 66
3.3.1 Những kết quả đạt được 66
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 68
Chương 4: GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TẠI NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 70
4.1 Định hướng phát triển của NXB ĐHQGHN 70
4.1.1 Định hướng phát triển của ĐHQGHN đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 70 4.1.2 Định hướng phát triển của NXB ĐHQGHN 70
4.2 Giải pháp đổi mới cơ chế, chính sách tài chính tại NXB ĐHQGHN 71
4.2.1 Nhóm giải pháp đối với NXB ĐHQGHN 71
4.2.2 Nhóm giải pháp đối với cơ quan chủ quản (ĐHQGHN) 75
4.2.3 Nhóm giải pháp đối với cơ quan quản lý Nhà nước 76
4.3 Một số kiến nghị 78
4.3.1 Đối với cơ quan quản lý Nhà nước 78
4.3.2 Đối với ĐHQGHN 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 8ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Tổ chức loại hình các Nhà xuất bản giai đoạn
2 Bảng 3.2 Tổng hợp nguồn kinh phí, cơ cấu nguồn kinh phí
ngân sách Nhà nước cấp giai đoạn 2013 - 2015 51
3 Bảng 3.3 Tổng hợp nguồn thu, cơ cấu nguồn thu từ hoạt
động sản xuất dịch vụ giai đoạn 2013 – 2015 52
4 Bảng 3.4 Tổng hợp nguồn tài chính, cơ cấu tài chính giai
5 Bảng 3.5 Tổng hợp nguồn thu, nguồn thu thực từ hoạt
động sản xuất dịch vụ giai đoạn 2013 – 2015 56
6 Bảng 3.6 Cân đối thu chi thường xuyên từ nguồn ngân sách
Nhà nước cấp giai đoạn 2013 – 2015 57
Trang 9iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ tài chính từ các hoạt động của NXB
4 Biểu đồ 3.4 Nguồn thu, cơ cấu nguồn thu từ hoạt động sản
xuất dịch vụ giai đoạn 2013 – 2015 53
5 Biểu đồ 3.5 Nguồn tài chính và cơ cấu nguồn tài chính
6 Biểu đồ 3.6 Thực hiện chi thường xuyên từ nguồn kinh
phí tự chủ giai đoạn 2013 – 2015 59
Trang 101
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xuất bản là một hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng nhằm giới thiệu và phổ biến tri thức thuộc các lĩnh vực đời sống xã hội, giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp Đó là kết quả lao động sáng tạo của con người, do con người
và vì con người Hoạt động xuất bản bao gồm 3 khâu: xuất bản – in ấn – phát hành Thông qua việc sản xuất, phổ biến những xuất bản phẩm đến độc giả, xuất bản không phải là một hoạt động đơn thuần kinh doanh, mà là hoạt động kinh doanh đặc thù Ngày nay, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, hoạt động xuất bản ngày càng trở nên đa dạng và phong phú
Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là một cơ sở đào tạo đại học, sau đại học, giữ vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, bao gồm các trường đại học thành viên, trung tâm, viện nghiên cứu và nhiều đơn
vị khác Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội (NXB ĐHQGHN) là một trong 29 đơn vị trực thuộc ĐHQGHN, có chức năng tổ chức xuất bản giáo trình, sách chuyên khảo, tham khảo, sách phổ thông và các tài liệu có chất lượng cao khác phục vụ nhiệm vụ học tập, giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu
Ra đời năm 1995 trong giai đoạn đất nước còn nhiều khó khăn, thách thức, NXB ĐHQGHN đã nỗ lực hết mình, từng bước xây dựng và phát triển
để trở thành một trong những cơ sở uy tín hàng đầu trong nghành xuất bản ở Việt Nam Hàng năm Nhà xuất bản có thêm nhiều ấn phẩm chất lượng mang nguồn tri thức dồi dào, luôn nỗ lực để giữ vững tôn chỉ, mục đích, phục vụ nhiệm vụ chính trị của ĐHQGHN Tuy nhiên, vẫn còn đó rất nhiều bất cập và hạn chế, thách thức do cơ chế hoạt động, một số chính sách chưa được điều chỉnh kịp thời để phù hợp với thực tế ngành xuất bản, những chính sách của
Trang 112 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ chế, chính sách tài chính đang được áp dụng tại Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, và trên cơ sở đánh giá thực trạng, thấy được những bất cập và hạn chế của cơ chế, chính sách tài chính tại NXB Từ đó đề xuất những giải pháp đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính, có
cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn, để thúc đẩy sự phát triển của hoạt động xuất bản tại NXB ĐHQGHN
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là cơ chế, chính sách tài chính
áp dụng tại Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về cơ chế, chính sách tài chính tại
Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, tìm hiểu thực trạng của việc vận dụng các chính sách vào quản lí tài chính tại Đơn vị
Thời gian nghiên cứu là NXB ĐHQGHN từ khi thành lập đến nay (1995 - 2015) tương ứng với 3 giai đoạn khác nhau, trong đó chủ yếu tập trung vào giai đoạn thứ 3 (2013 - 2015)
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và phân loại tư liệu
- Phương pháp thống kê mô tả
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
Trang 125 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn này trước hết chỉ ra được những hạn chế và bất cập của cơ chế, chính sách tài chính tại NXB ĐHQGHN dựa trên việc nghiên cứu và đánh giá một cách tổng thể thực trạng vận hành của các cơ chế, chính sách này thông qua những số liệu thu thập được trong nhiều năm
Đề xuất một số giải pháp cụ thể, có cơ sở khoa học và thực tiễn, để hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính, nhằm thúc đẩy hiệu quả của hoạt động xuất bản tại NXB ĐHQGHN và có thể đóng góp vào mục tiêu chung xây dựng một Nhà xuất bản chuyên ngành uy tín hàng đầu có chức năng xuất bản giáo trình đại học, sách chuyên khảo, tham khảo chất lượng cao
Kết quả của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý liên quan đến hoạt động xuất bản, cơ quan chủ quản và những sinh viên, học viên cao học quan tâm đến chủ đề này
6 Kết cấu luận văn
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, Danh mục tham khảo, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và lý luận về cơ chế, chính sách tài chính áp dụng cho nhà xuất bản
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Chương 3: Thực trạng cơ chế, chính sách tài chính tại Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Chương 4: Giải pháp đổi mới cơ chế, chính sách tài chính tại Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Trang 134
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ÁP DỤNG CHO NHÀ XUẤT BẢN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề cơ chế, chính sách tài chính tại các tổ chức và doanh nghiệp ở Việt Nam Trong những nghiên cứu này, nhìn chung các tác giả đều đi vào khảo sát thực trạng và chỉ ra những bất cập, hạn chế của cơ chế, chính sách tài chính tại một đơn vị cụ thể
Từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính trong các đơn vị đó Sau đây, tác giả tóm tắt một số kết quả nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến lĩnh vực cơ chế, chính sách tài chính
Cơ chế tài chính tại ĐHQGHN được nghiên cứu tương đối toàn diện
trong cuốn sách “Đổi mới cơ chế tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong
định hướng chung đổi mới cơ chế tài chính giáo dục Đại học Công lập của Việt Nam” (Phạm Xuân Hoan, 2015) Tác giả cuốn sách đã khái quát được
những vấn đề chung, trình bày bức tranh toàn cảnh về thực trạng cơ chế tài chính trong hệ thống các trường đại học công lập tại Việt Nam Bên cạnh đó, công trình đã chỉ ra những ưu - nhược điểm nội tại trong cơ chế tài chính và tác động của nó vào hoạt động chung của ĐHQGHN Trên cơ sở đó, tác giả
đã đưa ra những giải pháp phù hợp với tình hình của đơn vị
Luận văn Thạc sĩ ngành Tài chính - Ngân hàng, trường Đại học Kinh
Tế Thành phố Hồ Chí Minh “Đổi mới cơ chế tài chính Tập đoàn Điện lực
Việt Nam”, được thực hiện bởi tác giả Hứa Thị Phước Trang (2007) Luận
văn đã nghiên cứu một cách có hệ thống về cơ chế, chính sách tài chính trong ngành điện lực Việt Nam với đặc điểm của một mô hình kinh doanh đặc thù Tác giả đi sâu phân tích thực trạng của cơ chế tài chính được áp dụng tại Tập
Trang 145
đoàn, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và đưa ra những giải pháp có tính thực tiễn đối với ngành điện lực Việt Nam
“Quản lý tài chính ở Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật”, luận
văn Thạc sĩ - trường Đại học Kinh Tế của tác giả Lưu Thị Bình (2014) Đây là một trong số ít các nghiên cứu chuyên sâu liên quan tới công tác tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực xuất bản Tác giả đã làm rõ các vấn
đề lý luận và khảo sát chi tiết thực trạng quản lý tài chính tại NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật Qua đó đã nêu rõ những hạn chế và bất cập, làm cơ sở đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại đơn vị
Bài viết đăng trên Tạp chí Tài chính của Nguyễn Danh Nguyên và
Nguyễn Đạt Minh (2014) với tiêu đề “Thách thức trong quản lý tài chính tại
các Nhà xuất bản” đã đánh giá tổng quan thực trạng hoạt động các nhà xuất
bản hiện nay, đặc biệt là những nhà xuất bản thuộc trong hệ thống các trường đại học tại Việt Nam Tác giả đã chỉ ra những khó khăn về nhu cầu vốn của các nhà xuất bản và đề xuất đổi mới cơ chế quản lý tài chính, giúp phát huy tối đa những đóng góp của các nhà xuất bản cho nhà trường và xã hội
Trên thế giới, hoạt động xuất bản đã hình thành từ rất lâu và được quản
lý một cách chặt chẽ và hiệu quả Các cơ chế, chính sách tài chính đã được nghiên cứu và áp dụng vào thực tế một cách phù hợp Trong khi các quy định pháp luật, cơ chế, chính sách tài chính nói chung ở Việt Nam, đặc biệt là ngành xuất bản, vẫn đang từng bước được sửa đổi và hoàn thiện Điều này dẫn đến việc áp dụng các nghiên cứu trên thế giới vào điều kiện thực tế tại Việt Nam là rất khó khăn và chưa phù hợp Vì vậy, trong khuôn khổ của luận văn, tác giả xin phép không đề cập và tìm hiểu sâu về hoạt động xuất bản cũng như các cơ chế, chính sách tài chính trên thế giới
Như đã đề cập và khảo sát ở trên, có nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế, chính sách tài chính tại các tổ chức và doanh nghiệp ở Việt Nam Tuy
Trang 156
nhiên, có rất ít các nghiên cứu chuyên sâu liên quan tới cơ chế, chính sách tài chính trong ngành xuất bản - một ngành kinh doanh đặc thù Đối với Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, đã có một vài nghiên cứu đề cập đến cơ chế, chính sách tài chính nhưng chỉ mới dừng lại ở các bài viết ngắn, tham luận, các báo cáo Nghành, báo cáo nội bộ, đánh giá tổng kết hay những cuộc họp giao ban của Ngành Vì vậy việc nghiên cứu toàn diện cơ chế, chính sách tài chính tại NXB ĐHQGHN là hết sức cần thiết Trên cơ sở đánh giá thực trạng, nghiên cứu này sẽ chỉ ra những bất cập và hạn chế của cơ chế, chính sách tài chính tại đơn vị, từ đó đề xuất những giải pháp đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính, có cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn, để thúc đẩy sự phát triển của hoạt động xuất bản tại NXB ĐHQGHN
1.2 Lý luận về cơ chế, chính sách tài chính áp dụng cho xuất bản
1.2.1 Vài nét về Nhà xuất bản
Hình thành và phát triển từ hàng trăm năm nay, xuất bản ra đời là do nhu cầu thông tin và truyền bá thông tin, đáp ứng những nhu cầu về văn hóa tinh thần, giá trị văn hóa, tư tưởng xã hội
Xuất bản, tiếng Anh Publish / Publisher / Publishing – nghề, người hay công ty xuất bản và phát hành sách, tạp chí, âm nhạc hoặc các ấn phẩm khác
Xuất bản là việc tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành bài mẫu để
in và phát hành hoặc để phát hành trực tiếp qua các phương tiện điện tử (Luật Xuất bản 2012)
Xuất bản được định nghĩa trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” là việc in ra
thành sách, báo, tranh ảnh để phát hành (Hoàng Phê, 2008)
Cuốn “Từ điển bách khoa Việt Nam” định nghĩa xuất bản là các hoạt
động thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, thông qua việc sản xuất, phổ biến các
ấn phẩm đến nhiều người (NXB Từ điển Bách Khoa, 2005) Xuất bản là hoạt động truyền bá, bản thân nó không bao gồm khâu sáng tạo ra tác phẩm Xuất
Trang 167
bản khai thác và truyền bá, phổ biến tác phẩm, là khâu nối tiếp, nâng cao giá trị văn hóa, nhân rộng và mang chúng đến với quảng đại quần chúng Xuất bản gồm ba khâu: biên tập, in, phát hành xuất bản phẩm
Xuất bản phẩm là tác phẩm, tài liệu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn học, nghệ thuật được xuất bản bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài
và còn được thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh trên các vật liệu, phương tiện
kỹ thuật khác nhau (theo Điều 4, Luật xuất bản)
Xuất bản phẩm là những tác phẩm chứa đựng các giá trị văn hóa tinh thần, tư tưởng của con người sáng tạo ra Vì vậy, giá trị cơ bản của xuất bản phẩm nằm ở giá trị văn hóa tinh thần mà nó truyền tải
Một là, xuất bản bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in, phát hành xuất
bản phẩm, là chiếc đòn bẩy mạnh mẽ của văn hóa, của việc giáo dục tinh thần, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Do đó về bản chất xuất bản là hoạt động truyền bá văn hóa Ngay từ đầu xuất bản là hoạt động phổ biến truyền bá xuất bản phẩm, cung cấp tri thức khoa học, các giá trị thẩm mĩ và mọi nhu cầu tinh thần khác của con người Vì vậy, xuất bản thời đại nào cũng mang tính giáo dục
Hai là, sản phẩm của hoạt động xuất bản là vật thể vật chất nhưng lại
chứa đựng những giá trị tinh thần Cho nên quá trình biên tập, chế bản, nhân bản, đều là những khâu vừa mang tính chất khoa học, vừa mang tính văn hóa rõ rệt Tính chất văn hóa còn được biểu hiện qua quá trình lưu thông, phân phối xuất bản phẩm Quá trình này mang tính chất hàng hóa nhưng là hàng hóa đặc biệt mang giá trị sử dụng thuộc văn hóa tinh thần chứ không phải là hàng hóa đơn thuần Chính điều này làm cho hoạt động xuất bản mang tính chất đặc thù
Trang 178
Ba là, xuất bản là hoạt động truyền thông nhưng cũng được lưu thông
trao đổi trên thị trường như các loại hàng hóa thông thường khác Quá trình xuất bản chịu sự ràng buộc của các chỉ tiêu, định mức chi phí kinh tế - kỹ thuật, doanh nghiệp sản xuất phải hạch toán để có lãi trong sản xuất xuất bản phẩm và để tái sản xuất Nhà xuất bản, người làm xuất bản cũng phải hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường và điều tiết của thị trường giá cả, của quy luật cạnh tranh; phải tính toán chi phí để có lợi nhuận Như vậy, xuất bản
có tính chất kinh tế Vì vậy, xuất bản vừa thực hiện sự liên quan đến tư tưởng
và truyền thông, lại vừa liên quan đến kinh doanh và lợi nhuận
Theo Luật Xuất bản, hiện nay các nhà xuất bản được tổ chức và hoạt động theo 2 loại hình: sự nghiệp và doanh nghiệp
Các nhà xuất bản đại học thuộc loại hình đơn vị sự nghiệp công lập, có
chủ quản là các trường đại học, có nhiệm vụ tổ chức biên soạn, in ấn và phát hành giáo trình, tài liệu tham khảo, chuyên khảo phục vụ đào tạo đại học, sau đại học và một phần sách phổ thông (đối với những nhà xuất bản đại học có khối phổ thông),… nhằm phục vụ công tác nghiên cứu của cán bộ giảng dạy, học sinh, sinh viên, học viên và các cán bộ làm công tác nghiên cứu; tài liệu bồi dưỡng, nâng cao trình độ và các tài liệu khác…
1.2.2 Cơ chế, chính sách tài chính áp dụng cho nhà xuất bản
1.2.2.1 Khái niệm
Có nhiều định nghĩa về cơ chế Theo cuốn “Từ điển Tiếng Việt” thì cơ
chế là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện (Viện Ngôn ngữ học, 2000)
Cơ chế tài chính là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc
và các công cụ, biện pháp thích hợp được sử dụng để huy động các nguồn lực tài chính, đảm bảo phát triển sự nghiệp phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội
- văn hóa,… hiện tại và trong tương lai
Trang 189
Từ điển cũng đưa ra khái niệm về “chính sách” như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa… ”
Chính sách tài chính theo nghĩa rộng là việc sử dụng thuế và chi tiêu
của chính phủ để điều khiển hoạt động kinh tế vĩ mô của một nước Tại một đơn vị cụ thể thì chính sách tài chính là việc sử dụng các nguồn thu và chi tiêu
để điều tiết hoạt động kinh tế của đơn vị đó
Như vậy, có thể hiểu cơ chế, chính sách tài chính cho xuất bản là những quy định của Nhà nước, quản lý trực tiếp của các lĩnh vực hoạt động liên quan xuất bản và thể hiện bằng những biện pháp, chính sách liên quan đến tài chính
để tác động tới xuất bản nhằm điều tiết, kiểm soát, định hướng sự phát triển cho ngành xuất bản (thông qua pháp luật, thông qua các công cụ,…)
1.2.2.2 Các văn bản có liên quan đến cơ chế, chính sách tài chính áp dụng cho nhà xuất bản
Ngày 26 tháng 5 năm 2011, Bộ Chính trị đã có Thông báo kết luận số 37-TB/TW về đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa ở một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công” (Ban chấp hành Trung ương, 2011) Trong văn bản trong thông báo này, Bộ Chính trị nhấn mạnh việc cần phải tiếp tục đẩy mạnh chủ trương đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện đến mục tiêu năm
2020 đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đời sống vật chất tinh thần của nhân đang được nâng lên rõ rệt
Ngày 16/01/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
10/2002/NĐ-CP về việc giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp hoạt động có thu do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định thành lập (Chính phủ,
Trang 1910
2002) Nghị định nêu rõ phân loại đơn vị sự nghiệp có thu thành đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ hoạt động chi phí thường xuyên và đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên Về vấn đề giao quyền tự chủ tài chính, được chủ động bố trí kinh phí để thực hiện nhiệm vụ, được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân sách nhà nước cấp đối với đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí theo định kì 3 năm và hàng năm được tăng thêm theo tỉ lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định Ngoài ra, Nghị định cũng quy định rõ về nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu, bao gồm: nguồn ngân sách nhà nước cấp, nguồn thu sự nghiệp của đơn vị và các nguồn khác theo quy định của pháp luật như vay nợ, viện trợ, quà biếu Nghị định đồng thời cũng nêu rõ những nội dung chi đối với các đơn vị sự nghiệp công gồm chi hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao; chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định; chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành và cấp cơ sở; chương trình mục tiêu quốc gia; chi thực hiện đơn đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát…); chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có vốn nước ngoài theo quy định, v.v
Ngày 25/04/2006, Chính phủ ban hàng Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập (Chính phủ, 2006) Nghị định
số 43/2006/NĐ-CP đã mở rộng nội dung về quyền tự chủ đối với các đơn vị
sự nghiệp, theo đó, các đơn vị sự nghiệp được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động
Trang 2011
Sau gần 10 năm thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP trên cơ sở tổng kết đánh giá kết quả đạt được cũng như những bất cập phát sinh, ngày 14/2/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP theo hướng quy định các vấn đề chung, làm căn cứ cho các bộ, cơ quan liên quan xây dựng các Nghị định riêng quy định đối với từng lĩnh vực cụ thể Nghị định 16/2015/NĐ-CP đã thể hiện rõ mục tiêu đổi mới toàn diện các đơn vị sự nghiệp công lập; đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị đồng bộ cả về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính Bộ TT&TT đã tổ chức triển khai Nghị định 16/2015/NĐ-CP về những cơ chế đặc thù trong lĩnh vực báo chí, xuất bản (Chính phủ, 2015) Theo đó, có 7 nhiệm vụ triển khai thực hiện gồm: Quy định lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền; Xác định danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước của ngành, Vận dụng, áp dụng cơ chế đã ban hành tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP cho khối báo chí, xuất bản; Đề xuất
cơ chế tự chủ tổ chức, biên chế và tài chính đặc thù cho các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực này; Phân loại cơ quan báo chí để phân định cơ chế tài chính; Phân loại đơn vị theo khả năng tự đảm bảo tài chính; Nội dung cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị báo chí, xuất bản; Quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước; Mối quan hệ giữa tự chủ về tổ chức bộ máy, biên chế với khả năng tự chủ về tài chính từng lĩnh vực…
Hệ thống đồng bộ các văn bản Luật đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành, được điều chỉnh bổ sung và ban hành đảm bảo môi trường hành lang pháp lý cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước và các quan hệ kinh tế với bên ngoài thời kỳ hội nhập quốc tế
Trang 2112
Một số điều quy định của luật Xuất bản 2012:
Về cơ chế, chính sách trong hoạt động, Đảng và Nhà nước có chiến
lược, quy hoạch phát triển mạng lưới nhà xuất bản, cơ sở in, cơ sở phát hành xuất bản phẩm, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, ưu đãi về thuế theo quy định của pháp luật cho hoạt động xuất bản Bên cạnh đó có những chính sách thu hút các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động xuất bản
Về trụ sở và trang thiết bị, các nhà xuất bản phải được bảo đảm về trụ
sở hoạt động Đây là yếu tố quan trọng và cần thiết để nhà xuất bản hoạt động
và phát triển Theo điều 7 Luật Xuất bản, Nhà nước hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng, hiện đại hóa cơ sở vật chất, ứng dụng, chuyển giao công nghệ - kỹ thuật tiên tiến cho nhà xuất bản Được nhà nước cấp kinh phí hoặc tự bỏ vốn, nhiều nhà xuất bản đã xây dựng nhà cửa khang trang, đổi mới trang thiết bị Một số NXB được cấp kinh phí xây dựng như Chính trị quốc gia – Sự thật, Quân đội Nhân dân, Nông Nghiệp, Một số NXB mới thành lập được cơ quan chủ quản đảm bảo tốt trụ sở hoạt động như NXB Bách Khoa, NXB Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Về chính sách tài trợ, đặt hàng, Nhà nước có chính sách đặt hàng để có
bản thảo và xuất bản phẩm, tài liệu phục vụ nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, thông tin đối ngoại, phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, Bên cạnh đó, với những tác phẩm có giá trị nhưng thời điểm xuất bản chưa thích hợp hoặc đối tượng sử dụng hạn chế, Nhà nước có chính sách mua bản thảo đó, và hỗ trợ mua bản quyền đối với tác phẩm trong nước và nước ngoài có giá trị phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
Nguồn vốn là một vấn đề khó khăn chung và rất bất cập của các nhà
xuất bản hiện nay Theo quy định tại điều 8 Luật xuất bản, cơ quan chủ quản
có trách nhiệm phải cấp vốn đầu tư ban đầu và đảm bảo các điều kiện cần
Trang 2213
thiết để nhà xuất bản hoạt động, thực hiện nhiệm vụ xuất bản theo tôn chỉ, mục đích của nhà xuất bản
1.2.2.3 Nội dung cơ chế, chính sách tài chính áp dụng cho nhà xuất bản
Như đã đề cập ở trên, theo Luật xuất bản các nhà xuất bản được tổ chức và hoạt động theo 2 loại hình: Doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện và đơn vị
sự nghiệp công lập Hiện nay, bản thân mỗi mô hình này lại có sự phân loại thành nhiều loại hình hoạt động khác nhau Cùng với qua nhiều giai đoạn, thực tế các nhà xuất bản có thêm những sự thay đổi mô hình hoạt động khác qua nhiều năm: như chuyển đổi sang mô hình Công ty mẹ - Công ty con, Ở đây, tác giả xin đề cập tập trung vào loại hình mà hiện nay có nhiều nhà xuất bản đang hoạt động và cũng là loại hình mà Đối tượng nghiên cứu của đề tài đang hoạt động: đó là loại hình Đơn vị sự nghiệp công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập
Phân loại đơn vị sự nghiệp
Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau:
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động)
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn
vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động)
Trang 2314
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động)
Các NXB hoạt động theo 2 loại hình ĐVSN đầu tiên: Đơn vị sự nghiệp
tự bảo đảm chi phí hoạt động và đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp theo quy định trên được ổn định trong thời gian 3 năm Sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp Trong thời gian ổn định phân loại, trường hợp đơn vị sự nghiệp có sự thay đổi chức năng, nhiệm vụ, tổ chức thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh, phân loại lại cho phù hợp
Mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị (tính theo
tỷ lệ %) được xác định theo công thức sau:
Mức đảm bảo chi phí hoạt
động thường xuyên của đơn vị
Tổng số nguồn thu sự nghiệp
= - Tổng số chi hoạt động thường xuyên
× 100%
Trong đó:
Tổng số thu sự nghiệp bao gồm:
+ Phần thu được để lại từ số thu phí, lệ phí cho đơn vị sử dụng theo quy định của Nhà nước
+ Phần thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị
Trang 2415
+ Chi hoạt động thường xuyên theo theo chức năng nhiệm vụ được cấp
có thẩm quyền giao, gồm: Tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, các khoản phải nộp theo lương, dịch vụ công cộng, chi phí chuyên môn,…
+ Chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí + Chi các hoạt động dịch vụ liên quan đến các hoạt động kinh doanh dịch vụ của đơn vị
● Cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Khái niệm
Cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là cơ chế theo đó các đơn vị sự nghiệp công được trao quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về các khoản thu, khoản chi của đơn vị mình nhưng không vượt quá mức khung do Nhà nước quy định (Trần Đức Cân, 2012)
Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị quản lý và cung cấp các dịch vụ công cho xã hội do Nhà nước thành lập và đặt dưới sự quản lý của Nhà nước, nên quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập mang những đặc điểm riêng, cụ thể:
Quyền đi đôi với trách nhiệm: Đơn vị sự nghiệp công được Nhà nước giao quyền quyết định các vấn đề tài chính trong đơn vị, song phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trước pháp luật, trước Nhà nước và trước yêu cầu của người thụ hưởng các dịch vụ do mình cung cấp
Quyền tự chủ tài chính luôn song hành với các quyền tự chủ trong các hoạt động khác của đơn vị Quyền tự chủ tài chính chỉ có thể triển khai thực hiện khi đơn vị sự nghiệp công lập được quyền tự chủ trong các hoạt động sự nghiệp một cách có hiệu quả, đơn vị sự nghiệp công phải có tự chủ về tài chính Như vậy giữa quyền tự chủ tài chính với quyền tự chủ các hoạt động
Trang 2516
khác trong đơn vị sự nghiệp công lập có mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau,
hỗ trợ nhau
Quyền tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công là quyền tự chủ
có giới hạn Các đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị do Nhà nước thành lập và quản lý, do đó mọi hoạt động trong đơn vị sự nghiệp công lập, kể cả hoạt động tài chính đều đặt dưới sự kiểm tra giám sát của Nhà nước, của các
cơ quan quản lý cấp trên, cho dù các hoạt động đó đã được trao quyền tự chủ
và tự chịu trách nhiệm Sự giới hạn của quyền tự chủ tài chính trong các đơn
vị công lập là một yêu cầu tất yếu, nó xuất phát từ lợi ích chính đáng trong việc hưởng thụ dịch vụ công của xã hội mà Nhà nước là người bảo hộ Nhà nước ban hành quy chế tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập, quy định phạm vi, mức độ tự chủ đối với một số hoạt động tài chính trong đơn vị
Nhà nước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp công lập trong tổ chức, sắp xếp, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội, tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động
Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động
sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ NSNN
Vai trò của cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Vai trò cụ thể của việc thực hiện giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập được thể hiện trên các mặt sau:
Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị đã giúp các đơn vị chủ động thu hút, khai thác, tạo lập nguồn vốn ngân sách và ngoài ngân sách thông qua
đa dạng hoá các hoạt động sự nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách
Trang 26Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị góp phần tăng cường trách nhiệm của đơn vị đối với nguồn kinh phí, công tác lập dự toán được chú trọng hơn và khả thi hơn Hầu hết các đơn vị được giao quyền tự chủ đã xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ và thực hiện công khai tài chính
Giao quyền tự chủ tài chính là cơ sở xác lập cơ chế bảo đảm và hỗ trợ thực hiện quyền tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập trong quá trình tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính trong đơn vị
Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị bảo đảm đầu tư của Nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp được đúng mục đích hơn, có trọng tâm trọng điểm, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tạo cơ sở pháp lý cho các đơn vị hoạt động theo đúng quy định của pháp luật, thể chế hoá việc trả lương, thu nhập tăng thêm một cách thích đáng, hợp pháp từ kết quả hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ và tiết kiệm chi tiêu, tăng cường công tác quản lý tài chính của các đơn vị từng bước đi vào nề nếp
Lợi ích của tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Việc trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp tạo ra sự chủ động sáng tạo cho họ, các đơn vị có thể linh hoạt trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí, đồng thời nâng cao tính tự chịu trách nhiệm khiến cho các
Trang 2718
đơn vị phải biết tiết kiệm, tránh lãng phí Nhờ tiết kiệm các nguồn thu được
sử dụng hợp lý, nâng cao thu nhập cho người lao động, trang thiết bị được đầu
tư trọng điểm, tạo điều kiện nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ, các đơn vị chủ động hơn trong công tác quản lý tài chính, chủ động trong đầu tư mua sắm và xây dựng cơ bản theo thời điểm và mục đích sử dụng kinh phí có hiệu quả, tự chủ trong việc sắp xếp tổ chức bộ máy và lao động trong từng đơn vị
Cơ chế tự chủ cho phép các đơn vị sự nghiệp được mở rộng hoạt động dịch vụ của mình, mở rộng các hình thức liên kết nhằm tăng nguồn thu cho đơn vị đồng thời đơn vị được sử dụng nguồn thu đó theo quy định Chính điều này đã kích thích các đơn vị tìm kiếm, thu hút nguồn kinh phí ngoài kinh phí NSNN, muốn vậy họ phải nâng cao chất lượng dịch vụ của mình
Hoạt động của các đơn vị trở nên năng động hơn theo hướng đa dạng hoá các loại hình hoạt động để tăng nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị Nếu trước kia các đơn vị chỉ trông chờ vào nguồn kinh phí từ NSNN cấp thì đến nay họ có thể huy động nguồn lực tài chính từ nhiều cách Như vậy chất lượng phục vụ của các đơn vị sự nghiệp nói chung và xuất bản nói riêng được nâng lên, đồng thời gánh nặng đối với ngân sách cũng được giảm bớt, Nhà nước chỉ phải tập trung cho những ngành trọng điểm mũi nhọn
Nội dung cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập Khái quát quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại các đơn vị sự
nghiệp công lập:
Thứ nhất, quyền tự chủ trong việc huy động vốn và vay vốn tín dụng
Đơn vị sự nghiệp công lập có hoạt động dịch vụ được quyền vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của các bộ, viên chức trong đơn
vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức các hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật
Trang 2819
Thứ hai, quyền tự chủ về quản lý và sử dụng tài sản
Đơn vị được thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý sử dụng tài sản Nhà nước theo quy định của pháp luật quản lý tài sản tại đơn vị sự nghiệp Đối với TSCĐ sử dụng vào hoạt động dịch vụ thực hiện khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho doanh nghiệp Nhà nước Số tiền trích khấu hao, thanh
lý tài sản thuộc nguồn vốn NSNN được để lại cho đơn vị sự nghiệp công lập
để bổ sung quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, số tiền trích khấu hao, tiền thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng vào trả nợ vay, nếu trả đủ nợ
mà còn thừa thì bổ sung quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Thứ ba, quyền tự chủ trong việc trả tiền lương, tiền công cho người lao
động trong đơn vị theo các quy định của pháp luật lao động
Thứ tư, quyền tự chủ trong việc phân phối và sử dụng kết quả hoạt
động tài chính trong năm
Trên đây là những nội dung cơ bản quyền tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập Tuỳ theo mức tự bảo đảm nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên trong các đơn vị công lập mà phạm vi, mức độ tự chủ tài chính có khác nhau trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công
lập tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động và đối với đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm một phần chi phí hoạt động
1/ Phạm vi và mức độ tự chủ về các khoản thu và mức thu:
- Được quyền thu phí, lệ phí nhưng phải thu đúng, thu đủ theo mức thu
và đối tượng thu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định Nếu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định khung mức thu thì đơn vị có quyền quy định mức thu cụ thể dựa trên nhu cầu chi tiêu phục vụ cho hoạt động của đơn
vị và khả năng đóng góp của xã hội, nhưng không được vượt quá khung thu
Trang 29- Được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đơn vị hoạt động liên doanh, liên kết dựa trên nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và
có tích luỹ
2/ Phạm vi mức độ tự chủ về sử dụng nguồn tài chính:
- Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính so với các khoản chi thường xuyên (chi cho hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp
có thẩm quyền giao; chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí,
lệ phí; cho các hoạt động dịch vụ; kể cả chi thực hiện nghĩa vụ đơn vị NSNN, trích khấu hao TSCĐ, chi trả vốn, trả lãi tiền vay theo quy định đơn vị pháp luật) Thủ trưởng đơn vị có quyền quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động sự nghiệp cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định và phải quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
- Căn cứ vào bản chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyền quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc
- Có quyền quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản theo quy định của pháp luật
3/ Phạm vi, mức độ tự chủ về sử dụng kết quả hoạt động tài chính năm:
Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định (nếu có), khoản chênh lệch thu lớn chi (thu, chi hoạt động thường xuyên và nhiệm vụ Nhà nước đặt hàng) thì đơn vị sự nghiệp
Trang 3021
được toàn quyền sử dụng Quyền sử dụng này được quy định theo mức độ tự bảo đảm kinh phí cho hoạt động thường xuyên, phần chênh lệch thu lớn hơn chi được phân phối theo trình tự như sau:
- Trích tối thiểu 25% phần chênh lệch thu lớn hơn chi để lập quỹ Phát triển hoạt động sự nghiệp
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động
- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi được quyền trích lập vào 2 quỹ tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm
Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm thì đơn vị được quyết định sử dụng như sau:
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động
- Trích lập các quỹ: Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp (không khống chế mức trích tối thiểu 25% phần chênh lệch), Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi được quyền trích lập vào 2 quỹ tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công
và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm
Dựa trên những quy định đó, Thủ trưởng đơn vị quyết định mức trả thu nhập tăng thêm và mức trích lập các quỹ theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn
vị
Quyền tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công do NSNN bảo đảm toàn
bộ kinh phí hoạt động
Về cơ bản, nội dung tự chủ tài chính trong các đơn vị này cũng tương
tự như đối với các đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm toàn bộ hoặc một phần kinh phí cho hoạt động thường xuyên, song mức độ tự chủ tài chính thấp hơn
Trang 3122
Thủ trưởng đơn vị quyết định mức chi không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, bởi vì nguồn kinh phí phục vụ cho hoạt động sự nghiệp ở đơn vị này hoàn toàn phụ thuộc vào NSNN cấp
Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định; phần kinh phí tiết kiệm chi, chênh lệch thu lớn hơn chi của hoạt động dịch vụ (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tự sau:
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động
- Chi khen thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị
- Chi phúc lợi, trợ cấp khó khăn, đột xuất cho người lao động
- Lập quỹ dự phòng ổn định thu thập cho người lao động (nếu thấy cần thiết) Các mức cụ thể đối với các khoản chi và mức trích lập quỹ dự phòng
ổn định thu nhập do Thủ trưởng đơn vị quyết định theo Quy chế chi tiêu nội
bộ của đơn vị
Nguyên tắc thực hiện quyền tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Phạm vi, mức độ tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP có sự khác nhau, tuỳ theo mức
độ tự bảo đảm nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên Tuy nhiên, khi các đơn vị sự nghiệp công lập được trao quyền tự chủ tài chính đều phải bảo đảm các nguyên tắc nhất định
Những nguyên tắc thực hiện quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:
- Hoàn thành nhiệm vụ được giao Đối với hoạt động sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ (gọi tắt là hoạt động dịch vụ) phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị
Trang 3223
- Thực hiện công khai, dân chủ theo đúng quy định của pháp luật
- Thực hiện quyền tự chủ phải gắn liền với tự chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên và trước pháp luật về những quyết định của mình; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
- Đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền, nghĩa vụ tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
Tóm lại, thực hiện tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập
là nhằm thực hiện việc quản lý tốt hơn mọi hoạt động trong đơn vị sự nghiệp công lập Việc giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị chính là cơ chế Nhà nước giao quyền tự chủ cao hơn trong quản lý lao động và quản lý tài chính cho các đơn vị
Các NXB hoạt động theo cơ chế tự chủ tài chính: được trao quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về các khoản thu, khoản chi của đơn vị… không vượt quá mức do nhà nước quy định
Một số đặc điểm của nội dung thu, các khoản chi tại các nhà xuất bản hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp công lập
Nguồn thu tài chính các nhà xuất bản hoạt động theo loại hình đơn vị
sự nghiệp công lập chủ yếu gồm các nguồn chính sau: Ngân sách Nhà nước cấp và Hoạt động sản xuất dịch vụ
* Nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước cấp, bao gồm:
- Kinh phí hoạt động thường xuyên (chi lương, chi thường xuyên)
- Kinh phí hoạt động không thường xuyên
* Nguồn thu từ hoạt động sản xuất dịch vụ, bao gồm:
- Kinh phí sách kế hoạch, nhiệm vụ,
- Thu hoạt động sách liên kết
- Thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh khác
Trang 3324
Chi tài chính
Nội dung chi của các nhà xuất bản hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp công lập gồm hai nội dung chi cơ bản đó là: các khoản chi được thực hiện quyền tự chủ và các khoản chi không được thực hiện quyền tự chủ:
* Các khoản chi thực hiện quyền tự chủ gồm:
- Chi hoạt động thường xuyên:
+ Chi thanh toán cho cá nhân
+ Chi nghiệp vụ chuyên môn
+ Các khoản chi khác
- Chi hoạt động không thường xuyên:
+ Chi thanh toán cho cá nhân
+ Chi nghiệp vụ chuyên môn
+ Các khoản chi khác
* Các khoản chi không thực hiện quyền tự chủ gồm:
- Chi mua sắm thiết bị từ nguồn kinh phí không thường xuyên
- Chi đầu tư xây dựng cơ bản
- Chi sự nghiệp khoa học công nghệ
- Chi thực hiện tinh giảm biên chế
- Chi hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ,
1.2.2.4 Quản lý tài chính của các nhà xuất bản đại học
Các NXB của các trường đại học là những NXB chuyên ngành, đặc thù
là phổ hẹp và kén chọn độc giả, không chạy theo lợi nhuận, chạy theo thị hiếu
mà thực hiện nhiệm vụ đặc thù, xuất bản những ấn phẩm có giá trị, nguồn tri thức cao
Hiện nay cả nước có tới 193 trường đại học, trong đó có khoảng 13 trường đại học là có nhà xuất bản Các NXB đại học đang hoạt động theo loại hình ĐVSN công lập theo như các quy định và nguyên tắc như ĐVSN ở phần trên
Trang 3425
Theo Cục xuất bản, hiện nay các nguồn thu của các NXB trong trường đại học chủ yếu đến từ các nguồn chính sau:
- Nguồn kinh phí từ trường chủ quản: Bao gồm kinh phí đầu tư cho cơ
sở vật chất được lãnh đạo nhà trường phê duyệt, kinh phí trả lương cho các bộ nhân viên ký hợp đồng với trường
- Nguồn thu thường xuyên: Bao gồm các nguồn thu từ hoạt động xuất
bản sách, phát hành sách; nguồn thu từ hoạt động liên kết xuất bản, phát hành sách và nguồn thu từ hoạt động dịch vụ in, phát hành
- Các khoản thu không thường xuyên khác: Hiệu trưởng sẽ quyết định
căn cứ vào đề xuất của Giám đốc – Tổng biên tập NXB trên nguyên tắc lấy thu bù chi, phát triển NXB và nhà trường
Căn cứ vào dự toán được phê duyệt, các NXB thực hiện các nội dung chi sau:
- Các khoản chi cho cá nhân: Gồm tiền lương, các khoản trích theo lương
cho hợp đồng lao động với NXB; tiền thuê công lao động và làm thêm giờ; tiền thưởng và tiền phúc lợi các ngày lễ Tết; phụ cấp cho cán bộ kiêm nhiệm;
- Chi cho đầu tư cơ sở vật chất: Gồm xây dựng, mua sắm và sửa chữa tài sản;
- Chi cho hoạt động chuyên môn: Gồm hoạt động xuất bản sách, phát hành
sách; dịch vụ chuyên môn; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ viên chức; tổ chức hội nghị, hội thảo chuyên môn, nghiên cứu khoa học, bảo hộ lao động, điện nước, điện thoại, internet,…
- Chi cho công tác phí;
- Các khoản chi cho văn phòng, chi thực hiện quảng cáo, giới thiệu sản phẩm;
- Chi cho hoạt động của các tổ chức, đoàn thể, văn nghệ, thể thao;
- Chi cho các nhiệm vụ đột xuất được cấp thẩm quyền giao;
Hàng năm, sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản phải nộp khác theo quy định, thì phần lợi nhuận sau thuế (nếu có) được giám đốc
Trang 3526
NXB điều hành phân phối cho các hoạt động: trích 25% cho quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của NXB, 25% nộp về phòng tài vụ trường chủ quản; 50% cho quỹ khen thưởng, phúc lợi và quỹ dự phòng ổn định thu nhập, quỹ quản lý điều hành NXB
1.2.2.5 Bài học kinh nghiệm về cơ chế, chính sách tài chính áp dụng cho một
số Nhà xuất bản của Việt Nam
Hiện nay, việc chuyển đổi các mô hình hoạt động để phù hợp với cơ chế đặc thù cũng như cơ chế hoạt động riêng của từng NXB cùng với việc xây dựng quy hoạch và chính sách của các NXB là vấn đề rất cấp bách, là điều kiện cần thiết để các NXB hoạt động một cách ổn định trong nền kinh tế thị trường Đặc thù của ngành xuất bản là các NXB hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, tôn chỉ, mục đích riêng của mỗi NXB; do đó, mỗi NXB sẽ hoạt động theo đặc thù riêng Để đảm bảo sự tồn tại, bắt buộc các NXB phải đảm bảo nguồn tài chính ổn định, cùng với đó là phải đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, tôn chỉ, mục đích và tính chất đặc thù của đơn vị mình Kết quả nghiên cứu tại 02 đơn vị gồm NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, NXB Khoa học xã hội cho thấy các NXB đã xây dựng quy hoạch và chính sách cho riêng mình, phù hợp với đặc thù của đơn vị cũng như phù hợp với định hướng phát triển của ngành xuất bản do Chính phủ phê duyệt Tuy nhiên, vẫn còn có những bất cập và hạn chế
● Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật
NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật là một trong những NXB có quy mô lớn nhất Việt Nam Từ năm 2007, NXB hoạt động theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập (Ngày 14/2/2015 được thay thế bằng
Trang 3627
Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập)
Khi chuyển sang cơ chế thị trường, hoạt động tài chính ở các cơ quan
tổ chức hành chính – sự nghiệp trong khu vực công nói chung và NXB Chính trị Quốc gia – sự thật nói riêng phải được đặt trên những nền tảng mới Những bất cập của cơ chế tài chính cũ áp dụng cho các tổ chức ngày càng bộc lộ, khiến cho quá trình đổi mới là không tránh khỏi Với lợi thế là một NXB hàng đầu có uy tín, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật đã có chính sách chú trọng công tác đặt hàng bản thảo với những nhà nghiên cứu khoa học hàng đầu để cho ra đời những ấn phẩm mang giá trị riêng Tăng cường liên doanh, liên kết với các đối tác có năng lực để mở rộng mạng lưới, đổi mới cơ chế chiết khấu, chế độ nhuận bút tác giả, đặc biệt chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cộng tác viên, đổi mới phương pháp biên soạn sách lý luận, chính trị, pháp luật
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật hoạt động theo loại hình ĐVSN công lập tự chủ tài chính theo đúng quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch hóa mọi hoạt động,
đã xây dựng và đưa vào vận hành một hệ thống tương đối đầy đủ và toàn diện với hơn 50 quy định, quy chế quản lý nội bộ Đồng thời có chính sách thu hút, tiếp nhận và thi tuyển công khai nhiều cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản, có năng lực và triển vọng đáp ứng yêu cầu phát triển trước mắt và lâu dài cho đơn vị Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ được tổ chức thực hiện một cách thường xuyên với nhiều hình thức phong phú Với đặc thù là NXB trực thuộc Ban Bí thư Trung ương và được nhà nước cấp 100% kinh phí hoạt động với nhiệm vụ tuyên truyền chủ trương đường lối, chính sách của Đảng nên công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch và có những chính sách về tài chính được tập trung chú ý và thực hiện đồng bộ, kịp thời Từng bước khắc phục những bất cập khi chuyển đổi mô hình theo cơ chế thị trường
Trang 3728
● Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Nhà xuất bản Khoa học Xã hội là ĐVSN công lập trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hoạt động theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với ĐVSN công lập đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên từ 3/2004 Tháng 12/2012, NXB Khoa học Xã hội đã chuyển sang thực hiện cơ chế tự chủ một phần theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP trong giai đoạn ổn định 3 năm (2012-2014) ((từ ngày 14/2/2015 được thay thế bằng Nghị định số 16/2015/ NĐ-CP) Khác với NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, NXB Khoa học Xã hội đã không có nhiều lợi thế của riêng mình, chủ đề xuất bản thường chỉ bó hẹp trong phạm vi các đề tài, công trình nghiên cứu về Khoa học Xã hội của các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam nên các ấn phẩm khó có khả năng phát hành trên thị trường Đứng trước yêu cầu mới của sự phát triển, đơn vị cũng đã xây dựng Chiến lược phát triển NXB Khoa học Xã hội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Tuy nhiên cho đến nay việc tổ chức thực hiện theo Chiến lược còn gặp nhiều bất cập, khó khăn do NXB thiếu kinh phí thực hiện Bên cạnh đó, năm 2013 – 2014 NXB Khoa học Xã hội đã tiến hành tổ chức lại hoạt động trên cơ sở sáp nhập NXB Từ điển bách khoa vào NXB Khoa học Xã hội, nên đã có thêm nhiều khó khăn hơn cho đơn
vị trong công tác tổ chức, định hướng phát triển, đặc biệt là tài chính khi phải trang trải để trả lương cho cán bộ lao động, cùng với đó là công tác đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ vẫn chưa được chú trọng Mặc dù đã có chính sách khuyến khích động viên toàn thể cán bộ đối với công tác tổ chức bản thảo song đơn vị không thể tự tổ chức được bản thảo nào Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do nhuận bút chi trả cho tác giả là thấp, trong khi sách của NXB Khoa học Xã
Trang 3829
hội có tính đặc thù, mang tính chuyên sâu cao, kén chọn độc giả nên tỉ suất lợi nhuận không cao Do vậy, bản thân đơn vị đã không có nguồn vốn đầu tư nên khó có thể trả nhuận bút ngoài mức quy định của Nhà nước Việc chuyển đổi
mô hình hoạt động sang cơ chế tự chủ tài chính một phần đã dần tháo gỡ khó khăn cho đơn vị, hoạt động xuất bản đã có những tiến triển tốt hơn, bước đầu sản xuất kinh doanh có lãi
Đánh giá chung
Như vậy, công tác đổi mới mô hình hoạt động, đổi mới cơ chế tự chủ tài chính và xây dựng các chính sách phát triển sự nghiệp xuất bản tại các NXB hoạt động theo mô hình ĐVSN công lập (đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động và sau đó đã chuyển đổi sang đảm bảo một phần chi phí hoạt động) về
cơ bản đã được thực hiện theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP (Nghị định 16/2015/NĐ-CP từ ngày 14/2/2015) và Quy định khác của pháp luật, đã góp phần tạo cơ sở hoạt động cho các NXB Qua thực tế cho thấy, nếu không có
sự hỗ trợ từ NSNN, các NXB khó có thể đảm bảo giữ được tính chính trị và đảm bảo được chức năng, nhiệm vụ được giao Cùng với đó là trao cho các NXB quyền tự chủ một phần kinh phí hoạt động đã giúp các NXB phát huy tốt hơn và hoạt động có hiệu quả Tuy nhiên, nhìn chung công tác quản lý hoạt động, đổi mới cơ chế, chính sách tài chính cho các NXB còn nhiều bất cập, vướng mắc, chưa phù hợp, việc xây dựng và quy hoạch chưa được đồng bộ,… đặc biệt là chưa có sự phân chia và cơ chế hoạt động riêng cho những loại hình NXB cụ thể (ví dụ loại hình NXB chuyên nghành, NXB hướng tới mục đích giải trí, …) Do đó chưa có sự đầu tư đúng mức cho các loại hình NXB cụ thể Vì vậy đòi hỏi các cơ quan quản lý Nhà nước phải có chính sách đầu tư mang tính đặc thù, xác định rõ tính chất của từng loại hình để có chính sách, định hướng phát triển phù hợp
Trang 3930
Chương 1 đã khảo sát tình hình nghiên cứu về cơ chế, chính sách tài chính nói chung của các tổ chức và doanh nghiệp ở Việt Nam, từ đó thấy được đòi hỏi cấp thiết của việc nghiên cứu cơ chế, chính sách tại NXB ĐHQGHN, vấn đề chưa được nghiên cứu nhiều và chuyên sâu Những lý luận về cơ chế chính sách
áp dụng cho nhà xuất bản cũng được đề cập một cách có hệ thống với mục đích làm cơ sở cho việc nghiên cứu của các chương tiếp theo
Trang 4031
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
2.1 Cách tiếp cận và định hướng nghiên cứu
Tác giả tiếp cận vấn đề bằng cách đi vào nghiên cứu cơ chế, chính sách tài chính Đối tượng tiếp cận: Nhà xuất bản, đặc biệt là NXB ĐHQGHN với tư cách là một nhà xuất bản chuyên ngành, xuất bản và công bố những ấn phẩm có chất lượng
và nguồn tri thức cao cho ĐHQGHN và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo khác
Tác giả vận dụng các phương pháp nghiên cứu vào quá trình thực hiện chủ đề nghiên cứu của mình Từ đó thấy được thực trạng chung của NXB hiện nay, đặc biệt tiếp cận góc độ là cơ chế, chính sách tài chính Để trả lời cho những câu hỏi: Vì sao phải xây dựng cơ chế, chính sách tài chính cho nhà xuất bản? Thực trạng cơ chế, chính sách tài chính áp dụng tại NXB ĐHQGHN, những thuận lợi và khó khăn? Các giải pháp cần có để đổi mới cơ chế, chính sách tài chính tại NXB ĐHQGHN? Từ thực trạng các cơ chế, chính sách tài chính áp dụng tại NXB ĐHQGHN, so sánh với tôn chỉ, mục đích hoạt động, của NXB, chỉ ra những tồn tại và hạn chế, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp phù hợp
Để thực hiện được những điều nêu trên, luận văn cần sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu Có nhiều phương pháp tiếp cận để nghiên cứu về đề tài này: Phương pháp thu thập số liệu, phương pháp mô tả, phương pháp điều tra, phỏng vấn, Tuy nhiên, để giải quyết những vấn đề khi tiếp cận một cách tốt nhất, tác giả đặc biệt chú trọng đến 4 phương pháp tiêu biểu, sát với thực tế đề tài
2.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
2.2.1 Phương pháp thu thập và phân loại tư liệu
Nguồn số liệu sử dụng trong luận văn chủ yếu là nguồn số liệu thực tế của NXB ĐHQGHN, Báo cáo Tài chính qua các năm, Báo cáo kết quả HĐKD; Các báo cáo và tài liệu từ Cục Xuất bản – In và Phát hành;