Ngành dệt may là một trong những ngành quan trọng và đóng góp một phần đáng kể vào nền kinh tế Việt Nam. Một thập kỉ qua đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc ngành dệt may đã được tỉ trọng tăng trưởng trung bình hằng năm hơn 10% trong giai đoạn này. Có thể nói rằng, chính phủ đóng vai trò quan trọng cho sự thành công này. Chính sách mới phát hành gần đây cũng đã đẩy mạnh nền kinh tế của tất cả lĩnh vực nói chung và ngành dệt may nói riêng. Hơn nữa, dù kinh tế toàn cầu đang trong giai đoạn khó khăn, xuất khẩu dệt may Việt Nam cũng đang phát triển và có xu hướng tăng trưởng thêm nữa. Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS), số lượng xuất khẩu đạt 11.7 tỉ năm 2010.Ngành dệt may Việt Nam chiếm 2.5% thị phần quốc tế. Hiện tại, ngành dệt may Việt Nam đã đạt tỉ trọng tăng trưởng trung bình khoảng 22% năm. Thêm vào đó, Việt Nam là nhà cung cấp lớn thứ 2 đến thị trường Mỹ, thứ 3 ở Nhật Bản, thứ 5 ở EU, những con số rất ấn tượng.
Trang 1THÁI BÌNH DƯƠNG VỚI NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAMTổng quan – Thực trạng – Cơ hội – Thách thức – Giải pháp
Trang 2M c l c ục lục ục lục
I Khái niệm và lịch sử hình thành TPP 3
1 Khái niệm 3
2 Lịch sử hình thành 3
II Đặc điểm nổi bật của TPP 4
III Các giải pháp và chính sách của TPP 5
IV Tác động của TPP đến nền kinh tế Việt Nam 8
V Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam 10
VI Ưu điểm của ngành dệt may Việt Nam 12
VII Nhược điểm của ngành dệt may Việt Nam 13
VIII Kế hoạch phát triển ngành dệt may Việt Nam 13
IX Cơ hội cho ngành dệt may Việt Nam 14
X Thách thức cho ngành dệt may Việt Nam 18
XI Các giải pháp và chính sách 20
1 Các chính sách và giải pháp thị trường 20
2 Các chính sách và giải pháp đầu tư 21
3 Các chính sách và giải pháp của ngành quản lý dệt may 22
4 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 23
5 Các giải pháp khoa học và công nghệ 26
6 Giải pháp cung cấp nguyên liệu thô 26
7 Các biện pháp bảo vệ môi trường 26
8 Giải pháp về tài chính 27
Trang 3I Khái niệm và lịch sử hình thành TPP.
1 Khái niệm.
- Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific
Strategic Economic Partnership Agreement - viết tắt TPP) là một hiệp định thỏa
thuận thương mại tự do được ký kết giữa 12 nước với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương
- Mục tiêu chính của TPP là giảm các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ
xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên
2 Lịch sử hình thành.
- Thỏa thuận ban đầu được các nước Brunei, Chile, New Zealand và Singapore ký
vào ngày 3 tháng 06, 2005 và có hiệu lực ngày 28 tháng 05, 2006 Hiệp định lấy
tên là Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPSEP hoặc
P4)
- Mục tiêu ban đầu của Hiệp định là giảm 90% các loại thuế xuất nhập khẩu giữa các
nước thành viên trước ngày 01 tháng 01, 2006 và cắt giảm bằng không tới năm 2015
- 12 thành viên của TPP bao gồm: Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New
Zealand, Canada, Peru, Singapore, Vietnam, Mỹ và Nhật Bản
Trang 4- Hàn Quốc, Colombia, Costa Rica, Indonesia, Đài Loan, Thái Lan, và nhiều nước
khác đang có ý định tham gia vào TPP
Bảng 1: Thành viên TPP và tình hình phát triển kinh tế 2011
Thành viên GDP
(Tỷ đô-la Mỹ)
Dân số (triệu)
GDP bình quân (PPP)
-II Đặc điểm nổi bật của TPP.
Với những yếu tố mang tính bước ngoặt lịch sử, Hiệp định TPP được nêu ra với 5 đặc điểm chính mang tính khá nổi bật
Trang 51 Tiếp cận thị trường một cách toàn diện: Hiệp định TPP cắt giảm thuế quan và
các hàng rào phi thuế về căn bản đối với tất cả thương mại hàng hóa và dịch vụ, điều chỉnh toàn bộ các lĩnh vực về thương mại trong đó có thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư nhằm tạo ra các cơ hội và lợi ích mới cho doanh nghiệp, người lao động và người tiêu dùng của các nước thành viên
2 Hiệp định khu vực toàn diện: Tạo thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và chuỗi
cung ứng cho các thành viên TPP, hỗ trợ thực hiện mục tiêu về tạo việc làm, nâng cao mức sống, cải thiện phúc lợi xã hội, tăng cường phát triển bền vững giữa các nước thành viên, tạo thuận lợi cho việc hội nhập qua biên giới cũng như mở cửa thị trường trong nước
3 Giải quyết các thách thức mới đối với thương mại: Hiệp định TPP thúc đẩy việc
đổi mới, năng suất và tính cạnh tranh thông qua việc giải quyết các vấn đề mới, trong đó bao gồm việc phát triển nền kinh tế số và vai trò ngày càng tăng của các doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế toàn cầu
4 Các vấn đề thương mại xuyên suốt: Hiệp định TPP bao gồm các yếu tố mới được
đưa ra để bảo đảm rằng, các nền kinh tế ở tất cả các cấp độ phát triển và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể hưởng lợi từ thương mại Các cam kết thúc đẩy giữa các nước thành viên thông qua việc tạo môi trường gắn kết và hiệu quả.Hiệp định cũng bao gồm những cam kết cụ thể về phát triển và nâng cao năng lực thương mại, để đảm bảo rằng tất cả các bên đều có thể đáp ứng được những cam kết trong Hiệp định, cũng như tận dụng được đầy đủ những lợi ích của Hiệp định
5 Nền tảng cho hội nhập khu vực: Hiệp định TPP được ra đời, để tạo ra nền tảng
cho việc hội nhập kinh tế khu vực và được xây dựng để bao hàm cả những nền kinh tế khác xuyên khu vực châu Á – Thái Bình Dương
III Các giải pháp và chính sách của TPP.
Trang 6TPP sẽ xoá bỏ thuế quan và giúp cho các sản phẩm của một nước thành viên có thể
dễ dàng xuất khẩu sang các nước TPP khác
Các hàng rào hạn chế khác (như: yêu cầu về giấy phép nhập khẩu) cũng sẽ được xóa bỏ
từ các nước ngoài TPP không được hưởng những ưu đãi dành riêng cho các nước thành viên TPP
TPP sẽ mang lại quyền tiếp cận tự do hơn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vưc dịch vụ (kể cả dịch vụ tài chính) để họ được đối xử tốt hơn hoặc bình đẳng tại sân chơi chung giữa các nước thành viên
TPP có thể sẽ có các điều khoản cho phép các nhà cung cấp dịch vụ được cung cấpdịch vụ mà không cần thành lập văn phòng ở mỗi nước TPP
TPP sẽ tự do hoá thị trường đầu tư các nước TPP, áp dụng các quy định không phân biệt đối xử và giảm hoặc xoá bỏ các rào cản đối với việc thành lập và thực hiện các khoản đầu tư ở các nước TPP
Ngoài ra, TPP sẽ giới hạn những quyền lợi của các công ty nhà nước trong lĩnh vực đầu tư Các nhà đầu tư nước ngoài còn có thể kiện chính phủ các nước thành viên ra tòa án đặc biệt của TPP
Yêu cầu tuân thủ đối với các quyền lao động cơ bản được công nhận bởi Tổ chức lao động quốc tế cũng như các điều kiện lao động có thể chấp nhận được
Trang 7 Môi trường.
TPP sẽ đưa ra các quy định mới điều chỉnh buôn bán động vật hoang dã; khai thác
gỗ bất hợp pháp và đánh bắt trái phép
Các nước thành viên sẽ cam kết không áp thuế hải quan, và phân biệt đối xử đối với các sản phẩm số (ví dụ: phần mềm, âm nhạc, video, sách điện tử)
TPP sẽ hỗ trợ một mạng Internet toàn cầu, duy nhất bao gồm đảm bảo thông suốt
dữ liệu qua biên giới, phù hợp với lợi ích chính đáng của các chính phủ trong việc bảo vệ quyền riêng tư
Ngoài ra, TPP sẽ có các điều khoản khuyến khích sự lựa chọn công nghệ và giải pháp thay thế mang tính cạnh tranh nhằm giải quyết vấn đề chi phí cao của việc chuyển vùng điện thoại quốc tế
TPP sẽ đảm bảo các doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo những tính toán
thương mại và cạnh tranh một cách bình đẳng mà không có sự ưu đãi quá mức nào
từ chính phủ, trong khi vẫn cho phép chính phủ được hỗ trợ và cho những doanh nghiệp nhà nước cung cấp dịch vụ công ở trong nước
Quyền sở hữu trí tuệ
TPP sẽ bảo vệ mạnh mẽ các bằng sáng chế,nhãn hiệu,vản quyền và bí mật thương mại, bao gồm cả các biện pháp tự vệ chống lấy trộm qua mạng các bí mật thương mại
TPP sẽ lập ra các cam kết về những thông lệ tốt trong xây dựng chính sách, và các cam kết ngăn cản tham nhũng và thiết lập những quy tắc ứng xử đê nâng cao các tiêu chuẩn đạo đức của công thức
Hải quân, thuận lợi thương mại và các quy tắc xuất xứ
TPP sẽ đảm bảo việc giải phóng hàng nhanh,thủ tục giải quyết nhanh cho các lô hàng chuyển phát nhanh,xác nhận trước,và các quy định hải quan minh bạch,dễ dự đoán;
Trang 8Ngoài ra, TPP sẽ đưa ra được một quy tắc xuất xứ chặt và thông dụng để đảm bảo chỉ dành những lợi ích của TPP cho các nước TPP.
TPP sẽ đưa ra được các cam kết tự do hóa các thị trường mua sắm chính phủ của các nước TPP
TPP sẽ thiết lập một cơ chế, tòa án đặc biệt giải quyết tranh chấp công bằng và minh bạch để áp dụng xuyên suốt hiệp định
Ngoài những vấn đề trên, TPP sẽ còn ảnh hưởng đến rất nhiều vấn đề, yếu tố khác
để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trên diện rộng của toàn bộ thành viên TPP Khi TPP chính thức có hiệu lực, các doanh nghiệp của tất cả các nước thành viên, bao gồm cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ có những cơ hội to lớn hơn bao giờ hết để tham gia vào nền thương mại toàn cầu
IV Tác động của TPP đến nền kinh tế Việt Nam.
Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) đã chỉ ra 6 tác động lớn nhất của TPP vào nền kinh tế Việt Nam:
Thứ nhất, nhập khẩu gia tăng, trong khi xuất khẩu có xu hướng giảm
Thứ hai, khi TPP được thực thi, các dòng thuế quan sẽ giảm dần về 0% khiến doanh thu về thuế giảm
Thứ ba, việc tham gia TPP không chỉ đòi hỏi các nước tham gia cắt giảm các hàng rào thuế quan mà còn đòi hỏi cắt giảm hàng rào phi thuế quan như chi phí vận chuyển, thủ tục chờ đợi nhập khẩu
Thứ tư, Việt Nam sẽ không còn khả năng duy trì lợi thế về lao động giá rẻ, trong khi nhu cầu về lao động có kỹ năng tăng lên Sự dịch chuyển tự do của lao động không chỉ trong nước, mà cả giữa các nước
Thứ năm, các nước sẽ có xu hướng áp dụng các hàng rào kỹ thuật thay thế, để bảo
vệ các ngành sản xuất nội địa của mình Trong bối cảnh chất lượng các sản phẩm của Việt Nam chưa cao, điều này sẽ hạn chế xuất khẩu
Trang 9 Thứ sáu, với những ưu đãi khi gia nhập TPP, các nước trong khối sẽ tăng cường đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.
Sau khi ký kết, TPP sẽ tác động thế nào tới kinh tế Việt Nam?
Tham gia Hiệp định TPP sẽ giúp Việt Nam có thêm điều kiện, tranh thủ hợp tác quốc tế
để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, triển khai chiến lược hội nhập quốc tế nói chung và chiến lược đối ngoại ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nói riêng, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Tham gia vào Hiệp định TPP, một cấu trúc quan trọng của khu vực, sẽ giúp Việt Nam nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội do quá trình tái cấu trúc cục diện quốc tế và khu vực cũng như xu thế hội nhập kinh tế khu vực đem lại
Theo Bộ trưởng, Hiệp định TPP sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam Đặc biệt, về mặt kinh tế, theo tính toán của các chuyên gia kinh tế độc lập, TPP sẽ giúp GDP của Việt Namtăng thêm 23,5 tỷ USD vào năm 2020 và 33,5 tỷ USD vào năm 2025 Xuất khẩu sẽ tăng thêm được 68 tỷ USD vào năm 2025 Đáng chú ý là việc các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Canada giảm thuế nhập khẩu về 0% sẽ giúp tạo ra “cú hích” lớn đối với hoạt động xuất khẩu cua nước ta Các ngành xuất khẩu quan trọng, như: dệt may, giày dép, thủy sản nhiều khả năng sẽ có bước phát triển vượt bậc về kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường này
Theo nghiên cứu của Viện Kinh tế Quốc tế Peterson (PIIE), sau khi TPP được ký kết, Việt Nam sẽ là nước có thu nhập và xuất khẩu tăng mạnh nhất trong 12 quốc gia TPP, vớilần lượt 13,6% và 31,7% Malaysia và Nhật Bản cũng sẽ được hưởng lợi Việt Nam sẽ là nước được hưởng lợi nhiều nhất về kinh tế trong số 12 nước tham gia TPP khi có được sựthay đổi GDP thực tế theo phần trăm cao nhất.Cụ thể GDP có thể tăng từ 1,03% đến 2,11%, tương đương với giá trị tuyệt đối là 1,4 tỷ USD đến 2,9 tỷ USD, chủ yếu là nhờ vào tăng đầu tư và tiêu dùng Còn thu nhập của người dân có thể tăng thêm 13% và kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng tới 37% vào năm 2025
Ngoài ra, Việt Nam sẽ tiếp cận được với các thị trường kinh tế mới rộng lớn, đồng thời nâng cao được sức cạnh tranh của hàng hóa và thị trường nội địa để thu hút thêm vốn và công nghệ của các nhà đầu tư ngoại, tăng khả năng xâm nhập vào các thị trường khó tính
Trang 10Theo báo cáo phân tích của Tập đoàn Dragon Capital là tập đoàn đầu tư tổng hợp tập trung chuyên biệt cho thị trường vốn Việt Nam, những ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam, như: dệt may, da giày và thủy sản sẽ làm những ngành được hưởng lợi rất lớn
từ TPP
Tham gia TPP sẽ giúp Việt Nam hội nhập sâu hơn vào thị trường tài chính thế giới Các luồng vốn đầu tư quốc tế vào Việt Nam cũng sẽ tăng mạnh, tạo thuận lợi cho hệ thống ngân hàng tăng cường thanh khoản và tiếp cận các nguồn vốn quốc tế với chi phí thấp hơn Tham gia TPP chắc chắn thúc đẩy đầu tư của các nước vào Việt Nam Tính đến nay, đầu tư trực tiếp của các nước TPP vào Việt Nam đạt hơn 100 tỷ USD vốn đăng ký của những dự án còn hiệu lực, chiếm gần 40% tổng lượng vốn FDI của Việt Nam Dòng vốn
từ nhiều nước thành viên TPP có trình độ phát triển cao có thể mang lại những lợi ích lan tỏa đáng kể về công nghệ và kỹ năng quản lý, hay các lĩnh vực dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn Mức tăng đầu tư sẽ giúp thúc đẩy sự hình thành vốn cố định và tạo cơ hội cho Việt Nam khai thác các lợi thế tiềm năng về nông nghiệp Các công ty dệt may nội địa và nước ngoài sẽ đẩy mạnh đầu tư tại Việt Nam để tận dụng cơ hội hưởng thuế xuất khẩu thấp vào TPP Như vậy, ngành dệt may Việt Nam không chỉ nhận ưu đãi từ thị trường Hoa Kỳ, mà còn đạt giá trị gia tăng lớn hơn trong chuỗi cung ứng Gia nhập TPP sẽ mở ra
cơ hội thu hút đầu tư, hợp tác với các nước nhằm hiện đại hóa sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất toàn cầu Thỏa thuận TPP sẽ giảm đáng kể thuế nhập khẩu áp dụng cho các hàng may mặc Việt Nam vào thị trường các quốcgia thành viên, qua đó gia tăng cạnh tranh với hàng hóa tương tự từ các nước khác trong khu vực Ngoài ra, TPP cũng quy định các hàng hóa Việt Nam phải sử dụng nguyên liệu
tự sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu từ các thành viên TPP Điều này thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ cũng như mở rộng quy mô sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam
V Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam.
Ngành dệt may là một trong những ngành quan trọng và đóng góp một phần đáng kể vào nền kinh tế Việt Nam Một thập kỉ qua đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc ngành dệt
Trang 11may đã được tỉ trọng tăng trưởng trung bình hằng năm hơn 10% trong giai đoạn này Có thể nói rằng, chính phủ đóng vai trò quan trọng cho sự thành công này Chính sách mới phát hành gần đây cũng đã đẩy mạnh nền kinh tế của tất cả lĩnh vực nói chung và ngành dệt may nói riêng Hơn nữa, dù kinh tế toàn cầu đang trong giai đoạn khó khăn, xuất khẩudệt may Việt Nam cũng đang phát triển và có xu hướng tăng trưởng thêm nữa
Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS), số lượng xuất khẩu đạt $11.7 tỉ năm 2010.Ngành dệt may Việt Nam chiếm 2.5% thị phần quốc tế Hiện tại, ngành dệt may Việt Nam đã đạt tỉ trọng tăng trưởng trung bình khoảng 22%/ năm Thêm vào đó, Việt Nam là nhà cung cấp lớn thứ 2 đến thị trường Mỹ, thứ 3 ở Nhật Bản, thứ 5 ở EU, những con số rất ấn tượng
Hình 1: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam theo giá trị năm 2010
Ngành dệt may Việt Nam sau hơn 20 năm liên tục phát triển với tỷ lệ tăng trưởng bình quân 15%/năm, đến nay đã vươn lên trở thành ngành kinh tế lớn của cả nước, và là nước xuất khẩu dệt may lớn thứ 5 trên thế giới
Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ chiếm 43%, thị trường Nhật chiếm 12% và 4% đối với các quốc gia còn lại trong khối TPP Như vậy 60% kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam nằm trong 12 quốc gia hiện đang tham gia đàm phán TPP Điều này khiến TPP trở thành mục tiêu rất quan trọng đối với Việt Nam nói chung và ngành dệt may nói riêng Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may cán mốc 20,36 tỷ đô la, tăng 18,1% so với năm
2012 và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Trang 12Trong những năm gần đây ngành công nghiệp dệt may đã có những bước tiến vượt bậc Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành khoảng 30%/năm, trong lĩnh vực xuất khẩu tốc
độ tăng trưởng bình quân 24,8%/năm và chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Tính đến nay cả nước có khoảng 822 doanh nghiệp dệt may, trong đó doanh nghiệpquốc doanh là 231 doanh nghiệp, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 370 doanh nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 221 doanh nghiệp
VI Ưu điểm của ngành dệt may Việt Nam.
Trước hết, trang thiết bị của ngành may mặc đã được đổi mới và hiện đại hoá đến 90% Các sản phẩm đã có chất lượng ngày một tốt hơn, và được nhiều thị trường khó tính như Hoa Kỳ, EU, và Nhật Bản chấp nhận
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dệt may đã xây dựng được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhiều nhà nhập khẩu, nhiều tập đoàn tiêu thụ lớn trên thế giới Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam cũng được bạn hàng đánh giá là có lợi thế về chi phí lao động, kỹ năng
và tay nghề may tốt
Cuối cùng, Việt Nam được đánh giá cao nhờ ổn định chính trị và an toàn về xã hội, có sứchấp dẫn đối với các thương nhân và các nhà đầu tư nước ngoài Bản thân việc Việt Nam tích cực tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới cũng mở rộng tiếp cận thị trường cho hàng xuất khẩu nói chung và hàng dệt may xuất khẩu nói riêng Đầu tư trực tiếp nướcngoài vào Việt Nam vẫn thể hiện được xu hướng tăng trong giai đoạn 2000-2007, mặc dù
có giảm mạnh trong năm 2008
Trang 13Hình 2: FDI vào ngành dệt may: số dự án và vốn đầu tư (triệu USD) trong 1988-2008
VII Nhược điểm của ngành dệt may Việt Nam.
Ngành dệt may vẫn còn những điểm yếu nhất định May xuất khẩu phần lớn theo phương thức gia công, công tác thiết kế mẫu, mốt chưa phát triển, tỷ lệ làm hàng theo phương thức FOB (Tự chủ nguyên liệu) thấp, hiệu quả sản xuất thấp
Trong khi đó, ngành dệt và công nghiệp phụ trợ còn yếu, phát triển chưa tương xứng với ngành may, không đủ nguồn nguyên phụ liệu đạt chất lượng xuất khẩu để cung cấp cho ngành may, do đó giá trị gia tăng không cao Như đã phân tích ở trên, tính theo giá so sánh, giá trị sản phẩm của ngành dệt luôn tăng chậm hơn so với giá trị sản phẩm của ngành may mặc, cho thấy sự phụ thuộc của ngành may mặc đối với nguyên phụ liệu nhập khẩu
Hơn nữa, hầu hết các doanh nghiệp dệt may là vừa và nhỏ, khả năng huy động vốn đầu
tư thấp, hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, trang thiết bị Chính quy mô nhỏ đã khiến các doanh nghiệp chưa đạt được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, và chỉ có thể cung ứng cho một thị trường nhất định Do đó, khi thị trường gặp vấn đề, các doanh nghiệp dệt may sẽ gặp khó khăn trong việc điều chỉnh phương thức thâm nhập thị trường và/hoặc chuyển đổisang thị trường khác Những khó khăn, ít nhất là ban đầu, trong việc chuyển đổi định
Trang 14hướng sang thị trường nội địa trong thời điểm các thị trường xuất khẩu chính như Hoa
Kỳ, EU đều gặp suy thoái kinh tế chính là những dẫn chứng tiêu biểu
Mặt khác, kỹ năng quản lý sản xuất và kỹ thuật còn kém, đào tạo chưa bài bản, năng suất thấp, mặt hàng còn phổ thông, chưa đa dạng Năng lực tiếp thị còn hạn chế, phần lớn các doanh nghiệp dệt may chưa xây dựng được thương hiệu của mình, chưa xây dựng được chiến lược dài hạn cho doanh nghiệp
VIII Kế hoạch phát triển ngành dệt may Việt Nam.
Ngày 11/04/2014, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 3218/QĐ-BCT phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp Dệt may Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Theo đó, mục tiêu tổng quát là xây dựng ngành công nghiệp Dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn, hướng về xuất khẩu và có khả năng đáp ứng nhu cầutiêu dùng trong nước ngày càng cao; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc vào nền kinh tế khu vực và thế giới; đảm bảo cho ngành Dệt may phát triển bền vững, hiệu quả trên cơ sở công nghệ hiện đại, hệ thống quản lý chất lượng, quản lý lao động, quản lý môi trường theo các chuẩn mực quốc tế; đến năm
2020, ngành Dệt may xây dựng được một số thương hiệu nổi tiếng
Cụ thể:
Giai đoạn 2013 đến 2015: tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành đạt 12% đến 13%/năm, trong đó ngành dệt tăng 11% đến 12%/năm, ngành may tăng 13% đến 14%/năm Tăng trưởng xuất khẩu đạt 10% đến 11%/năm Tăng trưởng thị trường nội địa đạt 9% đến 10%/năm;
Giai đoạn 2016 đến 2020: tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành đạt 12% đến 13%/năm, trong đó ngành dệt tăng 13% đến 14%/năm, ngành may tăng 12% đến 13%/năm Tăng trưởng xuất khẩu đạt 9% đến 10%/năm Tăng trưởng thị trường nội địa đạt 10% đến 12%/năm;