1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Thách thức về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam khi gia nhập TPP

13 565 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 43,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục lục: Chương I, Khái quát những qui định pháp luật và thực trạng về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam 1, Những vấn đề cơ bản về hệ thống luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam 1.1, Khái quát về sở

Trang 1

BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO VIỆT NAM

KHOA LUẬT QUỐC TẾ

TIỂU LUẬN MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ TÀI:

Những thách thức của Việt Nam về ở hữu trí tuệ khi gia nhập

Hiệp định thương mại tự do TPP

Người thực hiện:

Sinh viên: Đinh Quang Sơn

Mã số sinh viên: LQT40B-046-1317

Hà Nội, 19 tháng 12 năm 2015

Trang 2

Mục lục:

Chương I, Khái quát những qui định pháp luật và thực trạng về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

1, Những vấn đề cơ bản về hệ thống luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam

1.1, Khái quát về sở hữu trí tuệ là gì và bảo hộ sở hữu trí tuệ

1.2, Quá trính hình thành các qui định luật sở hữu trí tuệ và luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam

1.3, Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005

2, Những Công ước và Điều ước quốc tế về Sở hữu trí tuệ mà Việt Nam đã tham gia 2.1, Hiệp định thương mại Việt – Mỹ

2.2, Hiệp định TRIPS

3, Thực trạng hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay

3.1, Thành tựu đạt được

3.2, Tồn tại và hạn chế

CHƯƠNG II: Những khó khăn và thách thức mà Việt Nam sẽ gặp phải về vấn đề sở hữu trí tuệ khi Hiệp định TPP có hiệu lực

1, Những vấn đề cơ bản về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hiệp định TPP

2, Trong lĩnh vực nhãn hiệu

3, Trong lĩnh vực bằng sáng chế

3.1, Trong lĩnh vực dược phẩm, sản phẩm hóa nông

3.2, Độc quyền dữ liệu đối với các sản phẩm dược, sản phẩm hóa nông

4, Trong lĩnh vực bản quyền, quyền tác giả

CHƯƠNG III: Đề xuất các giải pháp, hướng đi của Việt Nam trong thực hiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ để phù hợp và phát triển trong môi trường thương mại tự do

1, Giải pháp về pháp luật liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam

2, Giải pháp về thực thi pháp luật liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

3, Giải pháp về khuyến khích phát triển sáng chế khoa học ở Việt Nam

Trang 3

Những thách thức của Việt Nam về ở hữu trí tuệ khi gia nhập Hiệp định

thương mại tự do TPP

Chương I, Khái quát những qui định pháp luật và thực trạng về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

1, Những vấn đề cơ bản về hệ thống luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam

1.1, Khái quát về sở hữu trí tuệ là gì và bảo hộ sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ được hiểu là việc sở hữu các tài sản trí tuệ – những kết quả bắt nguồn từ hoạt động tư duy, sáng tạo của con người Các tài sản trí tuệ là đối tượng của sở hữu trí tuệ ở đây là các tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, đời sống của con người Có thể kể ra đó là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học kỹ thuật ứng dụng cũng như các tên gọi, hình ảnh được sử dụng trong các hoạt động thương mại

Ta có thể phân loại tài sản trí tuệ thành các nhóm sau đây:

• Sở hữu công nghiệp: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp , nhãn hiệu dịch vụ, tên gọi xuất xứ, chỉ dẫn địa lý…

• Quyền tác giả: tác phẩm văn học, tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm khoa học, sản phẩm phần mềm công nghệ thông tin…

• Quyền đối với giống cây trồng

Bảo hộ sở hữu trí tuệ là hình thức nhằm đảm bảo cho người sáng tạo, phát minh

có thể khai thác được những giá trị kinh tế từ các sản phẩm sáng tạo của mình Bảo hộ sở hữu trí tuệ nhằm xác lập và bảo vệ quyền của các tổ chức hay cá nhân đối với tài sản trí tuệ của mình Các tổ chức hay cá nhân có thể đến cơ quan có thẩm quyền để thực hiện đăng kí bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với các tài sản trí tuệ của mình phù hợp với qui định Tuy nhiên, việc bảo hộ sở hữu trí tuệ luôn gắn liền với một thời hạn nhất định, khi hết thời hạn này, các tài sản trở thành tài sản chung của toàn nhân loại và tất cả mọi người đều có thể khai thác, sử dụng mà không cần xin phép hay trả phí cho người sáng tạo

1.2, Quá trính hình thành các qui định luật sở hữu trí tuệ và luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam

Trang 4

Một số cột mốc thời gian quan trọng trong sự phát triển của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam:

• Năm 1957, Miền nam Việt Nam ban hành Luật Thương hiệu và năm 1958 Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành “ Thể lệ về thương phẩm và thương hiệu ”

• Năm 1976 Việt Nam gia nhập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO Ngày 14/12/1982, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 197/HDBT về “ Điều lệ

về nhãn hiệu hàng hóa” Đây là văn bản chính thức đầu tiên nhắc đến bảo hộ độc quyền trong sở hữu công nghiệp

Sau đó, hàng loạt những pháp lệnh, nghị định… và các văn bản liên quan đến bảo

hộ sở hữu trí tuệ được ban hành Năm 2005, tại phiên họp Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ

8, Quốc hội đã thông qua Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 – Luật số 36/2009/QH12,

có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010

1.3, Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005

Dưới đây là khái quát về nội dung của Luật SHTT Việt Nam 2005 theo từng chương:

• Phần I (những qui định chung) qui định phạm vi, đối tượng áp dụng, đối tượng điều chỉnh, các khái niệm được sử dụng trong Luật SHTT, nguyên tắc áp dụng luật, căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với từng đối tượng

• Phần II (quyền tác giảvà quyền liên quan) qui định điều kiện bảo hộ, nội dung quyền và giới hạn quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, xác định các chủ thể của quan hệ về quyền tác giả, quyền liên quan; qui định về chuyển giao quyền tác giả, đăng ký quyền tác giả và tổ chức đại diện quyền tác giả

• Phần III (quyền sởhữu công nghiệp) qui định điều kiện bảo hộ, xác lập quyền sởhữu công nghiệp; xác định chủ sở hữu công nghiệp,nội dung và giới hạn của các quyền sở hữu công nghiệp; qui định việc chuyển nhượng quyền theo thoả thuận cũng như Li-xăng bắt buộc; và qui định về đại diện sở hữu công nghiệp

• Phần IV (giống cây trồng) qui định điều kiện bảo hộ, qui trình nộp đơn xác lập quyền đối với giống cây trồng, nội dung và giới hạn các quyền đối với giống cây trồng, chuyển giao giống cây trồng

• Phần V (bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ) gồm có các qui định chung về thực thi, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo thủ tục dân sự, hành chính, hình sự,

Trang 5

trong đó nhấn mạnh đến các biện pháp khẩn cẩp tạm thời cũng như cách thức xác định mức bồi thường thiệt hại

2, Những Công ước và Điều ước quốc tế về Sở hữu trí tuệ mà Việt Nam đã tham gia 2.1, Hiệp định thương mại Việt – Mỹ

Việt Nam là một thành viên của WTO, vì vậy việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề quan trọng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động thương mại và phát triển kinh tế Tính đến nay, Việt Nam đã tham gia và là thành viên của nhiều công ước quốc tế quan trọng về sở hữu trí tuệ

Hiệp định thương mại Việt – Mỹ ( BTA) được hai bên kí kết chính thức vào ngày 13/07/2000 và có hiệu lực từ 12/2001 qui định rõ về thương mại hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ và đầu tư Dựa trên cơ sở cam kết thực hiện và chấp hành các

CƯ Gionevo, Berne… và hiệp định TRIPS, Việt Nam đã chấp thuận bảo hộ 7 quyền sở hữu trí tuệ như: quyền tác giả và quyền liên quan, tín hiệu vệ tinh mang chương trình mã hóa, nhãn hiệu hàng, thiết kế bố trí ( topography ) mạch tích hợp, thông tin bí mật đó, kiểu dáng công nghiệp

2.2, Hiệp định TRIPS

Thoả ước TRIPS bao gồm các điều khoản về quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu, tên gọi xuất xứ hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, thiết kế mạch tích hợp Về bản chất, đó là một tập hợp các công ước mà từ trước đến nay WIPO vẫn đang giám sát, bao gồm Công ước Berne, Công ước Rome, Công ước Paris và Công ước Budapest về giống cây trồng (UPOV)

Cũng như các thoả ước khác về thương mại, Thoả ước TRIPS dựa trên hai nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc đối xử quốc gia và nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN)

Nguyên tắc đãi ngộ như công dân quy định các thành viên không được đối xửc ông dân của quốc gia thành viên khác kém thuận lợi hơn công dân của chính nước mình, trừmột số trường hợp ngoại lệ được cho phép

Nguyên tắc MFN quy định mọi thuận lợi, ưu đãi, miễn trừ dành cho công dân của một nước thành viên nào sẽ lập tức phải được giành cho công dân của tất cả các thành viên khác Tuy nhiên, nguyên tắc này không áp dụng trong trường hợp các nước thành viên có tham gia các thoả thuận đa phương (thí dụViệt Nam tham gia thoả ước thành lập khối mậu dịch tự do ASEAN - AFTA, hay Pháp tham gia Liên minh Châu Âu)

Trang 6

3, Thực trạng hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay

3.1, Thành tựu đạt được

Sau khi luật SHTT chính thức có hiệu lực ( 2006 ), công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể :

• Các chính sách, văn bản pháp luật về SHTT dần được hoàn thiện

• Công tác hướng dẫn thực hiện pháp luật về SHTT được tiến hành một cách thường xuyên, góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong thực hiện các qui định của pháp luật trong hoạt động thực tiễn sản xuất, kinh doanh, quản lý

• Tích cực hội nhập quốc tế trong lĩnh vực SHTT Xây dựng chính sách pháp luật đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế và mở rộng phạm vi hợp tác với các đối tác trong lĩnh vực SHTT như ASEAN, APEC, WTO…

• Phát triển cơ sở hạ tầng dữ liệu, công cụ tra cứu thông tin trong lĩnh vực SHTT

• Công tác thực thi pháp luật, đấu tranh chống xâm phạm quyền SHTT được đẩy mạnh bằng việc thanh kiểm tra, nâng cao mức xử phạt với hành vi xâm phạm quyền SHTT

• Bên cạnh đó, số lượng bằng sáng chế, giải pháp hữu ích đã có xu hướng tăng lên tuy nhiên còn chưa nhiều

3.2, Tồn tại và hạn chế

Bênh cạnh những thành tựu kê trên, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém Nguyên nhân có thể do SHTT còn chưa thực sự đi sâu vào đời sống nhân dân, luật pháp chưa hoàn thiện đầy đủ và gặp khó khăn từ nhiều phía

từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng và cả các cơ quan quản lý Nhà nước

• Thứ nhất về phía doanh nghiệp: Các doanh nghiệp còn thiếu hiểu biết hoặc cố tình không nhận thức được các qui định về SHTT, tâm lý đạt lợi nhuận nhanh chóng, ngăn hạn đã khiến tình trạng hàng nhái, thương hiệu nhái tràn lan trên thị trường Tâm lý e ngại tranh chấp, kiện cáo càng khiến tình trạng vi phạm quyền SHTT trở nên trầm trọng hơn Hơn nữa việc chú trọng nhân sự, phòng ban về SHTT cũng chưa được các doanh nghiệp coi trọng

• Thứ hai về phía người tiêu dùng: Tâm lý ham đồ rẻ, chưa tôn trọng pháp luật đã tạo điều kiện cho tình trạng vi phạm quyền SHTT ngày càng gia tăng, đặc biệt trong lĩnh vực phần mềm, sách in… Tâm lý e ngại tranh chấp, kiện cáo khiến cho việc phơi bày vi phạm khó khăn hơn ( một phần là do thủ tục hành chính, chi phí phiền phức… )

Trang 7

• Thứ 3 về phía cơ quan quản lý nhà nước: Hệ thống pháp luật còn chưa hoàn chỉnh, thời gian xây dựng và chỉnh sửa luật còn chậm, chồng chéo chưa rõ ràng giữa các bộ luật và các ngành Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước nhiều cấp, cồng kềnh, hoạt động không hiệu quả, tình trạng hối lộ và xin cho còn tồn tại nhiều khiến công cuộc đấu tranh chống vi phạm quyền SHTT khó khăn hơn Mức

độ phạt vi phạm, răn đe còn nhẹ chưa cứng rắn, hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu còn yếu và thiếu kết nối giữa các bộ phận, công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức về SHTT chưa được chú trọng

CHƯƠNG II: Những khó khăn và thách thức mà Việt Nam sẽ gặp phải về vấn đề sở hữu trí tuệ khi Hiệp định TPP có hiệu lực

1, Những vấn đề cơ bản về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hiệp định TPP

Chương SHTT trong Hiệp định TPP bao gồm các điều kiện về bằng sáng chế, thương hiệu, bản quyền, thiết kế công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, bí mật thương mại, các hình thức sở hữu trí tuệ khác và thực thi quyền SHTT cũng như các lĩnh vực mà các nước tham gia TPP đồng ý cam kết Hiệp định TPP sẽ là một cở sở tốt giúp các doanh nghiệp

dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm, đăng ký và bảo vệ quyền SHTT trong thị trường mới hội nhập năng động Nội dung của chương SHTT trong Hiệp định TPP có các vấn đề cơ bản như sau:

- Thiết lập những chuẩn mực điều kiện cho các bằng sáng chế dựa trên Hiệp định WTO về khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT ( TRIPS) và các thông lệ quốc tế phổ biến và tốt nhất

- Về thương hiệu: giúp bảo vệ những nhãn hiệu và đặc điểm hay biểu tượng đặc trưng khác mà doanh nghiệp hoặc các cá nhân sử dụng cho hàng hóa, sản phẩm của mình trên thị trường

- Về chỉ dẫn địa lý: đòi hỏi sự minh bạch và qui trình bảo hộ phù hợp khi bảo vệ những chỉ dẫn địa lý mới hoặc cả những chỉ dẫn địa lý được công nhận hoặc bảo

vệ thông qua các điều ước quốc tế

- Về bản quyền và quyền tác giả: SHTT trong TPP cam kết liên quan đến vấn đề bảo hộ đới với các tác phẩm và công trình như bài hát, phim, sách và phần mềm; bao gồm cả các điều khoản về các biện pháp bảo vệ công nghệ và thông tin quản

lý bản quyền

Trang 8

- Về dược phẩm: thúc đẩy sự phát triển của các loại thuốc cứu sinh mới và phổ biến các loại thuốc gốc ( genetic medicine ) và có tính đền thời gian từng thành viên cần để đáp ứng được các tiêu chuẩn này Và còn có những cam kết về bảo vệ các kết quả thử nghiệm và dữ liệu khác đã được đệ trình để xin cấp phép lưu hành ( sản phẩm dược và hóa chất nông nghiệp mới )

- Bên cạnh đó, các nước thành viên cũng đồng ý cung cấp các hệ thống chế tài mạnh mẽ: qui trình thủ tục dân sự, biện pháp tạm thời, biên pháp quản lý biên giới, thủ tục và chế tài hình sự đối với tội giả mạo thương hiệu, vi phạm bản quyền và các quyền liên quan SHTT trong TPP yêu cầu các nước thành viên cung cấp các công cụ hợp pháp để ngăn chặn việc lạm dụng các bí mật thương mại, xây dựng các thủ tục và chế tài hình sự với tội phạm trộm cắp bí mật thương mại

2, Trong lĩnh vực nhãn hiệu

Về cách nhận biết nhãn hiệu, qui định trong Hiệp định TPP và Luật SHTT Việt Nam

2005 có những khác biệt căn bản: theo luật qui định của luật SHTT Việt Nam thì nhãn hiệu là “ dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh kể cả hình

ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc”; theo Điều 18.18 (Hiệp định TPP) thì các quốc gia thành viên sẽ không được quy định nhãn hiệu bắt buộc phải “nhìn thấy được”, hoặc không được từ chối với lý do nhãn hiệu gồm âm thanh, cũng như sẽ ghi nhận việc đăng ký nhãn hiệu mùi

Vì thế các nhãn hiệu âm thanh, mùi, chuyển động… đều không đăng ký được tại Việt Nam Điều này đòi hỏi luật Việt Nam cần có những thay đổi để phù hợp với qui định này, nhưng cũng là một tín hiệu đáng mừng cho việc đa dạng hóa các loại nhãn hiệu cho các doanh nghiệp, cá nhân tại Việt Nam cho sản phẩm, dịch vụ của mình

Về nhãn hiệu nổi tiếng: trong Hiệp định TPP qui định về điều kiện để trở thành một nhãn hiệu nổi tiếng, theo khoản 1 Điều 18.22 “ Không Bên nào được áp đặt điều kiện để một nhãn hiệu được xác định là nổi tiếng là nó phải được đăng ký trong nước đó hay trong một nước nào khác, phải có trong một danh sách các nhãn hiệu nổi tiếng, hoặc được công nhận trước là một nhãn hiệu nổi tiếng ” và qui định về xử lý vấn đề sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng giống hệt, tương tự hay dễ gây nhầm lẫn Theo qui định của luật SHTT Việt Nam thì nhãn hiệu nổi tiếng là “ nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi ở Việt Nam”, và có 8 tiêu chí được dùng để đánh giá một nhãn hiệu nổi tiếng, quy định tại

Trang 9

Điều 75 Tính đến thời điểm hiện tại, Cục Sở hữu trí tuệ vẫn chưa công nhận bất kỳ nhãn hiệu nào là nhãn hiệu nổi tiếng cả, tất cả các nhãn hiệu hiện nay dưới con mắt của Cục đều được đối xử như nhau Vì vậy sẽ xảy ra những khó khăn xủa lý trong trường hợp việc doanh nghiệp sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng cho sản phẩm mà không liên quan gì tới sản phẩm mà nhãn hiệu nổi tiếng này đã đăng ký

Về đăng ký li-xăng nhãn hiệu, chương SHTT trong TPP quy định các bên không được phép quy định đăng ký li-xăng nhãn hiệu (trademark license) bắt buộc để thiết lập hiệu lực của li-xăng, hoặc để bên nhận li-xăng có thể thực thi nhãn hiệu này Nhưng theo Luật

Sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 148 Hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp

1 Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật này, hợp đồng chuyển nhượng quyền

sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.

2 Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật này, hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có hiệu lực theo thỏa thuận giữa các bên, nhưng chỉ có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp Điều này sẽ gây ra những khó khăn cho bên chuyển

nhượng, khi bên nhận chuyển nhượng muốn thực thi quyền liên quan đến các nhãn hiệu này thì phải tiến hành đăng ký, đăng ký xong mới được thực thi Việc đăng ký này phải diễn ra hàng tháng để đảm bảo danh mục nhãn hiệu được cập nhật đầy đủ Rõ ràng càng nhiều thì lại càng tốn thời gian, tốn tiền, gây ra những lãng phí không cần thiết cho xã hôi

3, Trong lĩnh vực bằng sáng chế

Theo qui định trong TPP, những thủ tục xem xét cấp bằng sáng chế đi theo hướng thuận lợi, nhanh chóng và dễ dàng hơn Điều này sẽ làm tăng cường lợi ích của người được cấp bằng sáng chế ( phần lớn thuộc các nước phát triển như Mỹ và gây thiệt hại cho số đông những nước còn lại )

3.1, Trong lĩnh vực dược phẩm, sản phẩm hóa nông

Trang 10

Các qui định về dược phẩm trong TPP nghiêng về ủng hộ các tập đoàn dược phẩm lớn của các nước phát triển Ví dụ khoản 2, Điều 18.48 qui định : “ Đối với một sản phẩm dược phẩm yêu cầu được cấp bằng sáng chế, mỗi Bên sẽ thông báo điều chỉnh thời hạn bằng sáng chế để bồi thường cho chủ sở hữu bằng sáng chế đối với cắt giảm bất hợp lý của thời hạn hiệu quả của bằng sáng chế do quá trình cấp giấy phép lưu hành ” nhằm kéo dài thời hạn bảo hộ dành cho chủ sở hữu sản phẩm

Hoặc việc bảo mật dữ liệu trong việc cấp thông tin lâm sàng cho dược phẩm cũng được gia tăng hơn với thời hạn có thể kéo dài tới 5 năm ( gia tăng thời hạn cho thuốc genetic) Điều này gây khó khăn cho các nước đang phát triển như Việt Nam trong việc tiếp cận các loại thuốc tiên tiến và tốt với giá thành phải chăng

3.2, Độc quyền dữ liệu đối với các sản phẩm dược, sản phẩm hóa nông

Điều 18.50 và 18.51 trong chương sở hữu trí tuệ của TPP qui định về độc quyền

dữ liệu đối với sản phẩm dược, hóa nông đã yêu cầu các bên không được dựa trên dữ liệu

về tính an toàn và hiệu quả của dược phẩm và các nông hóa phẩm tương tự đã được đăng

ký bảo hộ để cấp đăng ký lưu hành cho thuốc genetic Điều này sẽ làm gia tăng chi phí và gây tốn kém nhiều trong việc thực hiện lại tất cả các quá trình và tập hợp dữ liệu để chứng minh tính an toàn và hiệu quả của dược phẩm và hóa nông phẩm đó Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì đây là một công việc khó khăn và tốn kém, làm cản trở quá trình tiếp cận và sản xuất thuốc giá thành rẻ dựa trên thuốc gốc (genetic)

4, Trong lĩnh vực bản quyền, quyền tác giả

Về quyền tác giả và các quyền liên quan: Chương sở hữu trí tuệ của TPP qui định

về vấn đề bản quyền, quyền tác giả đã có những mở rộng nhất định về phạm vi và thời hạn bảo hộ đối với các tác phẩm… điều này có lợi cho những người sở hữu bản quyền, quyền tác giả ( tập trung vào các nước phát triển như Mỹ…) nhưng đem lại bất lợi cho các nước đang phát triển ( chủ yếu nhập khẩu tác phẩm ); dẫn đến những khó khăn trong tiếp cận tri thức, văn minh của nhân loại bởi chi phí và giá thành sản phẩm sẽ giảm chậm hơn

Theo qui định của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện tại về thời hạn bảo hộ quyền tác giả và các quyền liên quan ( phù hợp với tiêu chuẩn chung của TRIPS) cụ thể trong điều 27 luật Sở hữu trí tuệ 2005 về quyền nhân thân và quyền tài sản được bảo hộ:

Ngày đăng: 11/11/2016, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w