Quận Long Biên được thành lập từ năm 2004, trong 12 năm qua, công tác bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước luôn được lãnh đạo quận quan tâm, chỉ đạo; năng lực, nề nếp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN TIẾN LINH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CỦA QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN TIẾN LINH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CỦA QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN MẠNH HÙNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Hà Nội, ngày …… tháng…… năm 2016
Tác giả
Nguyễn Tiến Linh
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp tại Trường Đại học Kinh
tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả đã được các thầy cô giáo và cán bộ nhà trường giúp đỡ rất nhiệt tình Với những kiến thức đã được học tại trường và theo mong muốn nghiên cứu, cùng với tình hình thực tiễn đặt ra, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước của quận Long Biên, thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ của mình
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới nhà trường, các thầy cô giáo và đặc biệt là TS Nguyễn Mạnh Hùng, người hướng dẫn khoa học, đã giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Do giới hạn về kiến thức và thời gian nghiên cứu, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tác giả mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của thầy cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp
Tác giả xin trân trọng cảm ơn
Hà Nội, ngày …… tháng…… năm 2016
Tác giả
Nguyễn Tiến Linh
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CẤP QUẬN, HUYỆN 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1.Các công trình nghiên cứu của nước ngoài 4
1.1.2.Các công trình nghiên cứu trong nước 5
1.1.3 Những khoảng trống về mặt khoa học 6
1.2 Cơ sở lý luận , thực tiễn về nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước cấp quâ ̣n, huyê ̣n 6
1.2.1 Nhân lực quản lý nhà nước: khái niệm, phân loại, vai trò 6
1.2.2 Nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước cấp quận, huyê ̣n 11
1.2.3 Nội dung nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước cấp quận, huyê ̣n 13 1.2.4 Tiêu chí đánh giá nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước cấp quận, huyê ̣n 18
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước cấp quận, huyê ̣n 25
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong việc nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước và bài học rút ra cho quận Long Biên 29
1.3.1 Kinh nghiệm của Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh 29
1.3.2 Kinh nghiệm của quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng 30
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho quận Long Biên 31
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Cơ sở phương pháp luận 34
Trang 62.1.1 Chủ nghĩa duy vậy biện chứng 34
2.1.2 Chủ nghĩa duy vật lịch sử 34
2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 35
2.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu thứ cấp 35
2.2.2 Phương pháp thống kê 36
2.2.3 Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp 37
2.2.4 Phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử 38
2.2.5 Phương pháp so sánh 40
2.2.6 Các phương pháp khác 40
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 42
3.1 Khái quát về đội ngũ nhân lực quản lý nhà nước của quận Long Biên, thành phố Hà Nội 42
3.2 Phân tích thực trạng nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước của quận Long Biên, thành phố Hà Nội 44
3.2.1 Nâng cao về mặt thể lực 44
3.2.2 Nâng cao về mặt trí lực 46
3.2.3 Nâng cao về mặt tâm lực 53
3.3 Đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước của quận Long Biên thời gian qua 54
3.3.1 Những ưu điểm 54
3.3.2 Những hạn chế 55
3.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 56
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TIẾP TỤC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 60
4.1 Quan điểm nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước của quận Long Biên 60
Trang 74.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước của quận
Long Biên 62
4.2.1 Nhóm giải pháp về khảo sát, quy hoạch đội ngũ nhân lực quản lý nhà nước 62
4.2.2 Nhóm giải pháp về công tác đào tạo, bồi dưỡng: 63
4.2.3 Nhóm giải pháp về công tác sử dụng đội ngũ nhân lực quản lý nhà nước 69
4.2.4 Nhóm giải pháp về công tác tuyển dụng nhân lực quản lý nhà nước: 76
4.2.5 Nhóm giải pháp về việc đẩy mạnh công tác thi đua khen thưởng, nâng cao tinh thần đạo đức cách mạng, đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực trong đội ngũ nhân lực quản lý nhà nước 77
4.2.6 Nhóm giải pháp nghiên cứu cơ chế hỗ trợ nâng cao đời sống nhân lực quản lý nhà nước, nâng cao thể lực và ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp 79
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 8
i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trình độ lý luận chính trị đội ngũ nhân lực QLNN hành chính nhà nước cơ quan UBND quận Long Biên (2012-2015)
48
Trình độ quản lý nhà nước đội ngũ nhân lực QLNN hành chính nhà nước cơ quan UBND quận Long Biên năm 2015
49
Trình độ ngoại ngữ, tin học đội ngũ nhân lực QLNN hành chính nhà nước cơ quan UBND quận Long Biên (2012-2015)
Trang 10iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhân lực quản lý nhà nước là nguồn nhân lực quan trọng của bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương Nguồn nhân lực này quyết định việc hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính Hiệu lực của hệ thống chính trị nói chung và của bộ máy hành chính Nhà nước nói riêng, xét cho cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả của đội ngũ cán bộ, nhân lực QLNN Sự thành công hay thất bại của một quốc gia, một ngành, một lĩnh vực, một địa phương hay một vùng lãnh thổ có một phần quan trọng phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ, nhân lực QLNN trong bộ máy quản lý nhà nước Do vậy việc nghiên cứu đánh giá khoa học về đội ngũ nhân lực QLNN quản lý nhà nước và chất lượng đội ngũ nhân lực QLNN quản lý nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng, là cơ sở góp phần giúp cho Đảng và Nhà nước có chiến lược trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực QLNN đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển của đất nước
Quận Long Biên được thành lập từ năm 2004, trong 12 năm qua, công tác bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước luôn được lãnh đạo quận quan tâm, chỉ đạo; năng lực, nề nếp và tác phong làm việc của đội ngũ nhân lực quản lý nhà nước của quận có chuyển biến tốt, trình độ chuyên môn và lý luận chính trị được nâng lên đáng kể so với những ngày đầu mới thành lập Tuy nhiên, chất lượng nhân lực QLNN của quận Long Biên nhìn chung còn có điểm hạn chế, khuyết điểm như năng lực thực tiễn trong thực thi nhiệm vụ, kỹ năng nghiệp vụ còn hạn chế, thiếu tinh thần trách nhiệm với công việc, thiếu ý thức tự học tập nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ
Hiện nay, thành phố Hà Nội nói chung, quận Long Biên nói riêng đang ngày
với mong muốn xây dựng thủ đô Hà Nội trở thành “thành phố khởi nghiê ̣p” Vấn đề cải cách thủ tục hành chính , nâng cao chất lươ ̣ng đô ̣i ngũ cán bô ̣ , công chức, viên chức được lãnh đa ̣o , chính quyền thành phố và quận xác định là nhiệm vụ chính trị
Trang 122
trọng tâm Vì vậy, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn, phân tích thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực nhà nước của quận Long Biên trở thành một nhiệm vụ cấp thiết
Với ý nghĩa trên, tác giả chọn đề tài "Nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước của quận Long Biên, thành phố Hà Nội" làm luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Kinh tế chính trị của mình Việc nghiên cứu này có ý nghĩa cả về mặt lý luận
và thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước của quận trong thời gian tới
* Câu hỏi nghiên cứu
Cần phải làm gì và làm như thế nào để nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước của quận Long Biên, thành phố Hà Nội?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước (QLNN) cấp quâ ̣n, huyê ̣n, luận văn đánh giá thực trạng chất lượng và nâng cao chất lượng nhân lực QLNN của quận Long Biên và đưa ra một số giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng nhân lực QLNN quận trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng
- Đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng nhân lực QLNN cho phát triển
KT-XH của quận Long Biên thời gian vừa qua;
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp để nâng cao chất lượng nhân lực
QLNN của quận Long Biên trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu nâng cao chất lượng nhân lực QLNN của quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Trang 133
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: vấn đề nâng cao chất lượng của đội ngũ nhân lực
- Phạm vi về thời gian: nghiên cứu thực trạng nâng cao chất lượng nhân lực QLNN của quận Long Biên trong khoảng thời gian từ năm 2010- 2015 và đưa ra những giải pháp cho những năm tiếp theo
- Phạm vi về không gian: Nhân lực QLNN do UBND quận Long Biên quản lý
4 Những đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước
mô ̣t số đi ̣a phương và rút ra bài ho ̣c kinh nghiê ̣m cho quâ ̣n Long Biên
QLNN của quận Long Biên trong khoảng thời gian từ năm 2010 - 2015
- Đề xuất được một số quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực QLNN của quận trong thời gian tới
5 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 04 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước của quận
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng nâng cao chất lượng nhân lực QLNN của quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Chương 4: Một số quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực QLNN của quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Trang 144
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC CẤP QUẬN, HUYỆN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu của nước ngoài
Liên quan đến vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nhân lực quản
lý nhà nước có nhiều công trình nghiên cứu của các tổ chức, nhà khoa học nước ngoài luận bàn, tiêu biểu như:
Charles Greer (2001), "Strategic human resources management" (Chiến lược
quản lý nguồn nhân lực) phân tích sự tác động qua lại giữa nguồn nhân lực với các chiến dịch quản lý cũng như những định hướng về đầu tư phát triển nguồn nhân lực [39, tr41]
Arthur Sherman, George Bohlander và Scott Swell (1997) "Managing human resources" (Quản lý nguồn nhân lực) với phần tổng quan về quản lý và phát triển
nguồn nhân lực [38, tr102]
Cũng đề cập tới vấn đề nguồn nhân lực ở các nước châu Á, nhưng những ấn phẩm dưới đây lại quan tâm tới khía cạnh khác của vấn đề, đó là những vấn đề xã hội đặt ra đối với quá trình phát triển của các quốc gia đang phát triển, kém phát
triển tại châu Á Một số công trình nghiên cứu đáng chú ý như cuốn Human resource policy and economic development (Chính sách nguồn nhân lực và phát
triển kinh tế), xuất bản vào năm 1990 và tái bản năm 1991 của Ngân hàng Phát triển châu Á [36, tr23] , đề cập đến chính sách và xu hướng phát triển kinh tế, biến đổi cơ cấu lao động, nguồn nhân lực lao động ở các nước đang phát triển ở châu Á; cuốn
Human resources in development along the Asian-Pacific Rim, (Nguồn nhân lực
trong phát triển ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương) [37, tr76], nghiên cứu các chính sách kinh tế, sự thay đổi dân số, y tế, giáo dục, các nước châu Á cũng đã rút
ra những bài học về chính sách phát triển nguồn nhân lực qua khủng hoảng tài
Trang 155
chính, tiền tệ năm 1997 Một trong những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng là do chưa chú ý đúng mức đến phát huy nội lực trong phát triển, thiếu sự độc lập về trí tuệ và năng lực quản lý nguồn nhân lực và thị trường lao động tại chính đất nước mình
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Ở trong nước, trên địa bàn thành phố Hà Nội và quận Long Biên cũng có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học luận bàn một cách hệ thống vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nhân lực quản lý nhà nước, tiêu biểu như:
Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế- xã hội , đã làm rõ vai trò quan trọng của giáo dục - đào tạo trong
việc phát triển con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam để phục vụ hiệu quả việc phát triển con người [16, tr32]
Mai Quốc Chính (chủ biên) (1996), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã phân tích vai trò của
nguồn nhân lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất những giải pháp, chính sách chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước [6, tr98]
Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày có tính hệ thống một số vấn đề lý
luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố, sử dụng nguồn lực con người trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đồng thời, đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam [11, tr 54]
Nguyễn Minh Đường, Phan Văn Kha (đồng chủ biên) (2005), Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Cuốn sách đã hệ thống hóa
cơ sở lý luận và chỉ ra thực trạng của lực lượng lao động cũng như đào tạo nhân lực
Trang 166
có trình độ Từ đó đề ra các giải pháp nhằm phát triển nhân lực này để đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế [15, tr 67]
1.1.3 Những khoảng trống về mặt khoa học
Qua việc nghiên cứu các công trình trên, có thể nhận xét như sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu trên đã hệ thống hóa, phân tích khái quát vấn đề lý luận chung, một số công trình đã phân tích đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực QLNN
Thứ hai, các công trình nêu trên, ở mức độ khác nhau đã cung cấp một số tư liệu và kiến thức chung cho luận văn
Thứ ba, việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn chất lượng nguồn nhân lực QLNN mang tính đặc thù riêng của quận Long Biên chưa được tiếp cận, phân tích
và thực hiện một cách hệ thống, chuyên sâu
Luận văn góp phần bổ sung, luận giải thêm một số vấn đề lý luận, thực tiễn nhắm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực QLNN, đặc biệt sẽ hệ thống hóa và phân tích chuyên sâu về thực tiễn nguồn nhân lực QLNN quận Long Biên Vì vậy, đây là một công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lắp với các công trình đã công bố
1.2 Cơ sở lý luận, thực tiễn về nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước cấp quâ ̣n, huyê ̣n
1.2.1 Nhân lực quản lý nhà nước: khái niệm, phân loại, vai trò
1.2.1.1 Khái niệm chung về nhân lực
Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác Thứ hai, nguồn nhân lực được
Trang 177
hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con người Với tư cách là một NNL của quá trình phát triển, NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thể hiện trong chương trình cấp nhà nước KX - 07, NNL được hiểu là "số dân
và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực phẩm chất, thái độ, phong cách làm việc" Như vậy, NNL được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng:
Về số lượng: NNL phụ thuộc vào thời gian làm việc có thể có được của cá nhân và quy định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia Số lượng NNL đó vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT-XH, nếu số lượng không tương xứng với sự phát triển (thừa hoặc thiếu) thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình CNH, HĐH và phát triển kinh tế đất nước [8, tr 65]
Về chất lượng: NNL được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần thái độ, động cơ, ý thức lao động, văn hoá lao động công nghiệp, phẩm chất tốt đẹp của người công nhân đó
là yêu nước Trong ba mặt: thể lực, trí lực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển trí lực, là phương thức để chuyển tải khoa học kỹ thuật vào thực tiễn Ý thức tinh thần đạo đức tác phong là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu của NNL bởi có con người mới có thể nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học vào quá trình hoạt động sản xuất và cải biến xã hội
Từ những quan niệm của các tác giả nước ngoài và các tác giả trong nước, có thể hiểu NNL là tổng hợp những con người cụ thể có khả năng tham gia vào quá trình lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực; trí lực; nhân cách) và tính năng động xã hội của con người, nhóm người, tổ chức, địa phương, vùng, quốc gia Tính thống nhất đó thể hiện ở quá trình biến nguồn nhân lực con người thành vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển Nói cách khác, NNL bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia vào nền sản xuất xã hội theo luật lao động quy định
Trang 188
1.2.1.2 Khái niệm nhân lực quản lý nhà nước cấp quận, huyê ̣n
Quản lý nhà nước (QLNN) còn được gọi là quản lý HCNN là hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiện quyền lực nhà nước Đó chính là chức năng quan trọng nhất của bất kỳ nhà nước nào “Theo nghĩa rộng, QLNN là sự tổ chức và quản
lý sự vụ hữu quan của mọi tổ chức và đoàn thể xã hội, theo nghĩa hẹp là hoạt động quản lý HCNN do Chính phủ đại diện Nhà nước thực thi và bảo đảm bằng sức cưỡng chế của nhà nước” Trên thực tế, QLNN luôn kết hợp giữa sự quản lý theo lãnh thổ, quản lý theo lĩnh vực và quản lý theo ngành
Khái niệm về cán bộ, công chức đã được quy định tại Điều I Pháp lệnh cán
bộ, công chức (sửa đổi, bổ sung năm 2003) Vận dụng khái niệm này vào trường
Nhân lực quản lý nhà nước (nhân lực QLNN) cấp quận, huyê ̣n là những người hoạt động trong các cơ quan HCNN trong các quận , huyê ̣n đảm nhiệm chức năng quản
lý nhà nước Khái niệm này có hai điểm cần lưu ý
- Thứ nhất, đây là một bộ phận của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung
- Thứ hai, lĩnh vực công tác của nhóm công chức này là QLNN về kinh tế, về
1.2.1.3 Phân loại nhân lực quản lý nhà nước cấp quận, huyê ̣n
Thông thường việc phân loại nhân lực QLNN ở nước ta theo hệ thống chức nghiệp được thực hiện theo các tiêu chí như: vai trò vị trí, chuyên môn nghiệp vụ và trình độ đào tạo
Trong từng loại, lại có thể phân thành nhóm hay tiểu loại nhỏ hơn Chẳng hạn nhân lực QLNN phân theo các lĩnh vực: quản lý hành chính, quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội…Theo Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, tại Điều 4 của Nghị định này, đội ngũ công nhân lực QLNN được phân loại như sau:
1 Phân loại theo trình độ đào tạo:
Trang 199
a Công chức loại A là người được bổ nhiệm vào ngạch, yêu cầu trình độ đào
tạo chuyên môn giáo dục đại học và sau đại học;
b Công chức loại B là người được bổ nhiệm vào ngạch, yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục nghề nghiệp;
c Công chức loại C là người được bổ nhiệm vào ngạch, yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn dưới giáo dục nghề nghiệp
d Công chức loại D là những công chức có trình độ đào tạo chuyên môn ở dưới bậc sơ cấp
2 Phân loại theo ngạch công chức:
a Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên;
b Công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương;
c Công chức ngạch chuyên viên và tương đương;
d Công chức ngạch cán sự và tương đương;
đ Công chức ngạch nhân viên và tương đương
3 Phân loại theo vị trí công tác:
a Công chức lãnh đạo, chỉ huy;
b Công chức chuyên môn, nghiệp vụ
Ngoài ra, có thể phân loại công chức theo cấp hành chính và ngạch công chức, nhưng mỗi cấp cần xác định tỷ lệ cơ cấu ngạch công chức hợp lý so với yêu cầu công việc.(Bộ Nội vụ, 2004)
1.2.1.4 Vai trò của nhân lực quản lý nhà nước cấp quận, huyê ̣n
Hoạt động QLNN là hoạt động tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra và điều hành mọi hoạt động trong xã hội Đó chính là hoạt động điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người bằng quyền lực nhà nước Hiệu lực của bộ máy nhà nước nói chung và của hệ thống chính trị nói riêng, xét cho cùng, được quyết định bởi phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực của đội ngũ nhân lực QLNN
Thực tiễn cho thấy, đội ngũ nhân lực QLNN có vai trò sau:
- Nhân lực QLNN đóng vai trò chủ đạo trong công cuộc đổi mới và xây
Trang 2010
chính trị, có trình độ chuyên môn và năng lực, có tinh thần trách nhiệm cao, sẵn
vì, đội ngũ nhân lực QLNN chính là lực lượng nòng cốt, luôn đóng vai trò chủ đạo thực hiện các nhiệm vụ quan trọng của địa phương
- Nhân lực QLNN là lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị, có nhiệm vụ hoạch định các chính sách, đưa các chính sách và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trở thành thực tiễn và tiếp thu nguyện vọng của nhân dân, nắm bắt những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống để phản ảnh kịp thời với cấp trên Giúp cho Đảng và Nhà nước đề ra được những chủ trương, chính sách sát với thực tiễn
- Đội ngũ nhân lực QLNN là nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy HCNN, là một trong những nguồn nhân lực quan trọng trong việc thực hiện công cuộc CNH, HĐH của địa phương
hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức QLNN và kiểm tra Điều này thể hiện rõ ở việc quản lý kinh tế vĩ mô Bởi vì, toàn bộ nền kinh
tế quốc dân hoạt động trong môi trường, thể chế, định hướng nào đều là do nhân lực QLNN hoạch định và đội ngũ này là những người trực tiếp tạo môi trường, điều kiện về sử dụng công cụ kinh tế, thực lực kinh tế để tác động, quản lý, điều tiết nền
kinh tế thị trường
Thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của đội ngũ nhân lực QLNN càng trở nên quan trọng, bởi các lý do sau đây:
- Kinh tế - xã hội phát triển toàn diện khiến cạnh tranh trên thị trường thêm quyết liệt, đòi hỏi càng nhiều phương án, quyết định quản lý và sự lựa chọn phương
án tối ưu càng khó khăn, phức tạp hơn
- Sự tác động của các quá trình quản lý đối với thực tiễn trong điều kiện mới càng trở nên quan trọng Các quyết định quản lý sâu sắc, lâu dài, có thể đem lại hiệu quả lớn, nhưng cũng có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng Do đó, đối với nhân lực
Trang 2111
QLNN phải có trách nhiệm cao về chất lượng, về tính khoa học trong các quyết định quản lý
- Sự tăng nhanh khối lượng tri thức và độ phức tạp của cơ cấu tri thức, trong
đó có tri thức kinh tế và quản lý kinh tế hiện đại, đặc biệt sự xuất hiện của hệ thống thông tin mới, gồm cả thông tin quản lý đã và đang được mở rộng, đòi hỏi đội ngũ nhân lực QLNN phải có khả năng, trình độ để xử lý thông tin
- Hệ thống quản lý (gồm cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, bộ máy quản lý) phải đổi mới để phù hợp với cơ chế thị trường cũng đòi hỏi đội ngũ nhân lực QLNN phải đổi mới về kiến thức, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý và nâng cao trách nhiệm của mình
1.2.2 Nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước cấp quận, huyê ̣n
1.2.2.1 Khái niệm chất lượng nhân lực quản lý nhà nước cấp quận, huyê ̣n
Chất lượng nhân lực QLNN là chất lượng của tập hợp nhân lực QLNN trong
một tổ chức, địa phương mà trước hết cần được hiểu đó chính là chất lượng lao động và tinh thần phục vụ nhân dân vô điều kiện của đội ngũ nhân lực QLNN trong thực thi công vụ Đây là một loại lao động có tính chất đặc thù riêng, xuất phát từ vị trí, vai trò của chính đội ngũ lao động này (Đào Thanh Hài và Minh Tiến, 2015)
Vì vậy, chất lượng của đội ngũ nhân lực QLNN là một trạng thái nhất định của đội ngũ nhân lực QLNN, thể hiện mối quan hệ phối hợp, hợp tác giữa các yếu
tố, các thành viên cấu thành nên bản chất bên trong của đội ngũ nhân lực QLNN Chất lượng của đội ngũ nhân lực QLNN phụ thuộc vào chất lượng của từng nhân lực QLNN trong đội ngũ đó, mà chất lượng này thể hiện ở trình độ chuyên môn, sự hiểu biết về chính trị - xã hội, phẩm chất đạo đức, khả năng thích nghi với sự chuyển đổi của nền kinh tế mới vv Chất lượng của nhân lực QLNN được phản ánh thông qua hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn phản ánh trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý của đội ngũ nhân lực QLNN Chất lượng nhân lực QLNN còn bao hàm tình trạng sức khoẻ của đội ngũ nhân lực QLNN trong thực thi công vụ Do vậy, có thể định nghĩa chất lượng nhân lực QLNN như sau: Chất lượng nhân lực QLNN được phản ánh thông qua các tiêu chuẩn phản ánh trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại
Trang 2212
ngữ, tin học, các kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý, thái độ chính trị, đạo đức của người nhân lực QLNN Chất lượng của nhân lực QLNN còn bao hàm tình trạng sức khoẻ của người nhân lực QLNN, có đủ điều kiện sức khoẻ cho phép nhân lực QLNN thực thi nhiệm vụ công việc được giao
Chất lượng của đội ngũ nhân lực QLNN cao cho phép hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của bộ máy HCNN, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước và cũng
là điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công tác quản lý nhà nước
1.2.2.2 Khái niệm nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước cấp quâ ̣n, huyê ̣n
Nâng cao chất lượng nhân lực QLNN là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng nhân lực QLNN nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn phát triển Nâng cao chất lượng nhân lực QLNN là một
yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hoàn thiện bản thân trong mỗi người công chức Bên cạnh thể lực, trí lực thì chất lượng nguồn nhân lực còn phản ánh tác phong, thái độ, ý thức làm việc của nhân lực QLNN [24, tr 87]
Việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực QLNN sẽ góp phần làm tăng ý thức, trách nhiệm lao động, góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội Nâng cao chất lượng nhân lực QLNN có vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương Để phát triển nhanh, bền vững mỗi địa phương cần hết sức quan tâm đến chính sách phát huy tối đa năng lực của nhân lực QLNN thông qua nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực QLNN của mình như: đào tạo, đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe cả về vật chất, tinh thần, có chính sách đãi ngộ nhân tài hợp lý, rèn luyện tác phong công nghiệp, [23, tr 124]
Như vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực QLNN chính là việc hoàn thiện những điểm còn thiếu sót, chưa hợp lý trong số lượng, cơ cấu lao động của đội ngũ nhân lực QLNN, đồng thời cải thiện những mặt còn yếu kém trong năng lực, phẩm chất của đội ngũ nhân lực QLNN sao cho quy mô, tỷ trọng nhân lực QLNN vừa đủ, tận dụng tối đa năng suất lao động, không thừa, không thiếu và trình độ của
Trang 2313
nhân lực QLNN thì đáp ứng tốt yêu cầu của từng vị trí, kết hợp với đó là việc cải thiện môi trường làm việc, đảm bảo cho sức khỏe, tinh thần của nhân lực QLNN luôn được duy trì ở trạng thái tốt nhất, để họ có thể phục vụ hết mình vì công việc
Trong phạm vi của luận văn này, tác giả đề cập đến vấn đề chất lượng đội ngũ nhân lực QLNN chủ yếu dựa trên việc tiếp cận, nghiên cứu, đánh giá cơ cấu, số lượng và các tiêu chí phản ánh chất lượng về trí lực và tâm lực của đội ngũ nhân lực QLNN Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực QLNN ở địa phương cụ thể
Để nâng cao chất lượng của đội ngũ nhân lực QLNN cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa chất lượng và số lượng nhân lực QLNN Trong thực tế chúng ta cần phải chống hai khuynh hướng: Khuynh hướng thứ nhất là chạy theo số lượng, ít chú trọng đến chất lượng dẫn đến cán bộ nhiều về số lượng nhưng hoạt động không hiệu quả; Khuynh hướng thứ hai, cầu toàn về chất lượng nhưng không quan tâm đến
số lượng Đây là một nguyên nhân quan trọng làm cho tuổi đời bình quân của đội ngũ nhân lực QLNN ngày càng cao, thiếu tính kế thừa
1.2.2.3 Chủ thể nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nươ ́ c cấp quận, huyê ̣n
Để tiến hành các hoa ̣t đô ̣ng nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước phải nói đến chủ thể tiến hành hoạt động này Theo đó, lãnh đạo và chính quyền cấp quâ ̣n, huyê ̣n là chủ thể tiến hành các hoạt động này Đó là các hoa ̣t đô ̣ng : tuyển dụng; bố trí , sử du ̣ng ; đào ta ̣o , bồi dưỡng ; đãi ngô ̣; kiểm tra , giám sát… Trong khuôn khổ của luâ ̣n văn , tác giả cũng xem xét , phân tích, đánh giá các hoa ̣t đô ̣ng này có ảnh hưởng gì tới viê ̣c nâng cao chất lượng nhân lực Q LNN của quâ ̣n, huyê ̣n, coi đây là những nô ̣i dung và tiêu chí đánh giá khi xem xét quá trình nâng cao chất lươ ̣ng nhân lực QLNN cấp quâ ̣n, huyê ̣n
1.2.3 Nội dung nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước cấp quận, huyê ̣n
1.2.3.1 Nâng cao về mặt thể lực
Thể lực là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động Trí lực ngày
Trang 2414
càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, song, sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh Chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người Thể lực là cơ sở nền tảng
để phát tiển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào các hoạt động thực tiễn
Các tiêu chí cụ thể của thể lực là: có sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng quá trình sản xuất liên tục, kéo dài; có các thông số nhân chủng học đáp ứng được các
hệ thống thiết bị công nghệ được sản xuất phổ biến và trao đổi trên thị trường khu vực và thế giới; luôn tỉnh táo và sảng khoái tinh thần
Sức khoẻ là một tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng lao động Sức khỏe
là nền tảng quan trọng cho mọi hoạt động, tất cả người lao động trong tổ chức cho
dù ở chức vụ nào, đảm nhận công việc gì đều phải cần có sức khỏe tốt Sức khỏe ngày nay không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sự hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên Người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại năng suất lao động cao nhờ sự bền bỉ, dẻo dai Mọi người lao động, dù lao động cơ bắp hay lao động trí óc đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất Hơn nữa, cần phải có sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, niềm tin và ý chí, khả năng vận động của trí lực trong những điều kiện khác nhau hết sức khó khăn và khắc nghiệt
Trên thực tế, đánh giá sức khỏe thể chất của người lao động không chỉ dựa trên những tiêu chí đơn giản có thể cân đo được như chiều cao hay cân nặng mà còn dựa vào những tiêu chí phức tạp hơn như tình trạng nghỉ ốm, nghỉ thai sản, nghỉ làm
do tai nạn lao động hay tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp, của người lao động trong kỳ
Để lượng hóa được tiêu chí này trong công tác đánh giá chất lượng nhân lực QLNN,
có thể tiến hành phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và phân tích những biểu hiện của các chỉ tiêu đo lường sức khỏe thể chất trên
Trang 2515
Hiện nay, Bộ Y tế quy định ba trạng thái sức khoẻ của người lao động: loại
A là loại có thể lực tốt, loại B là trung bình, loại C là yếu Yêu cầu về sức khoẻ của người lao động không chỉ là tiêu chuẩn bắt buộc khi tuyển dụng mà còn là yêu cầu được duy trì trong cả cuộc đời sự nghiệp của người lao động Người lao động phải đảm bảo sức khoẻ mới có thể duy trì việc thực hiện công việc liên tục với áp lực cao Người lao động mà có thể lực, sức khỏe tốt thì sẽ đảm nhận công việc tốt, hoàn thành tốt mọi công việc, đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực tốt
Sự yếu kém về trí tuệ sẽ là lực cản nguy hại nhất dẫn đến sự thất bại trong hoạt động của con người
Trí lực là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người Gồm trình độ tổng hợp từ học vấn, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động Trí lực được thể hiện chủ yếu qua trí tuệ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Trí tuệ là yếu tố thiết yếu, quan trọng nhất của con người, của nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao như nhân lực QLNN Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ yêu cầu người lao động có học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm việc chủ động, sử dụng được các công cụ hiện đại Năng lực trí tuệ biểu hiện ở khả năng đáp ứng những thành tựu khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật công nghệ tiên tiến, sự nhạy bén, thích nghi nhanh và
Trang 2616
làm chủ được kỹ thuật công nghệ hiện đại Quá trình đẩy mạnh CNH- HĐH càng đi vào chiều sâu thì càng đòi hỏi trình độ chuyên môn hóa cao của nhân lực để đạt năng suất cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh lớn hơn nhiều lần
Trình độ học vấn là sự hiểu biết của người lao động về các vấn đề của kinh
tế, xã hội, là một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng đội ngũ cán bộ và
nó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế, xã hội, sự phát triển của tổ chức Một tổ chức có đội ngũ nhân lực QLNN có trình độ học vấn cao thì hoàn thành công việc đạt kết quả cao, khả năng tiếp thu khoa học công nghệ mới nhanh chóng Trình độ học vấn nhân lực QLNN cao phản ánh chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức đó cao [2, tr76]
Trình độ học vấn, với một nền tảng học vấn nhất định là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn nghiệp vụ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là điều kiện đảm bảo cho nhân lực QLNN hoạt động mang tính chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là điều kiện tiên quyết trong thực hiện các nhiệm vụ và tạo ra sản phẩm công việc Trình độ là mức độ về sự hiểu biết, về kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó thể hiện ở văn bằng chứng chỉ mà nhân lực QLNN nhận được thông qua quá trình học tập Tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn có sự khác nhau với từng ngành, từng ngạch nhân viên khác nhau Một tổ chức có đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, phù hợp với công việc thì phản ánh chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức đó cao
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân lực quản lý nhà nước còn được thể hiện thông qua việc quy hoạch nhân lực của cơ quan quản lý, đó là công tác dự báo, sắp xếp và cử đi học nâng cao trình độ cho nhân lực QLNN khi có những yêu cầu mới: sự thay đổi của công việc, việc quy hoạch vào các chức danh, các ngạch…, việc quy hoạch này phải vừa đảm bảo tính kế thừa, vừa đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa các nhóm đối tượng, có như vậy mới đảm bảo cho đội ngũ nhân lực QLNN không
bị thiếu hụt khi có những thay đổi trong tổ chức biên chế Để đánh giá trình độ của nhân lực QLNN ta thực hiện các phương pháp đo lường sau: Tham khảo tổng hợp
Trang 2717
tài liệu liên quan, phỏng vấn, kiểm tra, so sánh, tổng hợp, phân tích các chỉ tiêu phản ảnh trình độ của nhân lực QLNN
1.2.3.3 Nâng cao về mặt tâm lực
Ngày nay, trong quá trình CNH-ĐH đất nước, ngoài việc không ngừng nâng cao trí lực và thể lực, còn phải tính đến phẩm chất đạo đức, nhân cách con người, nói cách khác là nâng cao tâm lực của đội ngũ nhân lực QLNN Phát triển nhân cách, đạo đức đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt các chức năng xã hội, nâng cao năng lực sáng tạo của họ trong hoạt động thực tiễn xã hội Do vậy, phát triển đội ngũ lao động, ngoài việc quan tâm nâng cao mặt bằng và dân trí, nâng cao sức khoẻ cho mỗi con người, cho cộng đồng xã hội, thì cần coi trọng xây dựng đạo đức, nhân cách, lý tưởng cho con người
Tâm lực còn được gọi là phẩm chất tâm lý- xã hội, chính là tác phong, tinh thần và ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ ), có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc; có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý [1, tr 65]
Phẩm chất đạo đức người lao động gồm có phẩm chất đạo đức cá nhân và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp Những biểu hiện chính của phẩm chất đạo đức của con người trong công việc là:
- Luôn hướng thiện, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh;
- Lao động chăm chỉ, nhiệt tình, cẩn trọng;
- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung;
- Có trách nhiệm với bản thân, với công việc và với doanh nghiệp;
- Có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường
Các chỉ tiêu để đo lường chất lượng nhân lực QLNN qua yếu tố phẩm chất đạo đức mang tính định tính, rất khó có thể đánh giá chính xác Tuy nhiên, có thể
sử dụng phương pháp thống kê, điều tra và xác định các chỉ tiêu định hướng, các biểu hiện của người lao động, chẳng hạn như: vắng mặt không lý do; đi muộn về
Trang 28tế, xã hội; được bảo đảm thông qua thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó vai trò của ngành giáo dục và đào tạo là trọng tâm
1.2.4 Tiêu chí đánh giá nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước cấp quận, huyê ̣n
Như ̃ng tiêu chí trực tiếp:
* Tiêu chi ́ về mặt thể lực: sức khỏe ngày càng dẻo dai , giảm tỷ lệ mắc các loại bệnh tật, được thăm khám sức khỏe đi ̣nh kỳ
Thể lực là nhân tố rất quan tro ̣ng trong viê ̣c nâng cao chất lượng nhân lực QLNN cấp quâ ̣n , huyê ̣n Thể lực tốt , sung mãn , không mắc các loa ̣i bê ̣nh tâ ̣t và đươ ̣c thăm khám mô ̣t cách thường xuyên là điều kiê ̣n tiên quyết trong viê ̣c nâng cao chất lươ ̣ng nhân lực QLNN Bởi lẽ, sức khỏe là vốn quý nhất của con người , nếu không có sức khỏe thì dù có trí lực và tâm lực đến mấy cũng không thể phát huy đươ ̣c trong công viê ̣c và đời sống hàng ngày Ngày nay, do môi trường sống đang ngày càng bị ảnh hưởng nặng nề của vấn đề biến đổi khí hâ ̣u , ô nhiễm môi trường , các loại dịch bê ̣nh phát sinh ngày càng nhiều đã làm ảnh hưởng tới sức khỏe và tuổi thọ của con người Chính vì lý do đó , đánh giá viê ̣c nâng cao chất lượng nhân lực QLNN bắt buô ̣c phải có tiêu chí này
* Tiêu chi ́ về mặt trí lực
- Khả năng, năng lực tổ chức, quản lý của nhân lực quản lý nhà nước ngày càng được nâng cao
Năng lực là khả năng của một người để làm một việc gì đó, để xử lý một tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác định Nói cách khác năng lực là khả năng sử dụng các tài sản, tiềm lực của con người như
Trang 2919
kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác để đạt được các mục tiêu cụ thể trong các điều kiện xác định Thông thường người ta chỉ rằng năng lực gồm có các thành tố là kiến thức, kỹ năng và thái độ
Năng lực của nhân lực QLNN không phải là năng lực bất biến, được sử dụng trong mọi hoàn cảnh, môi trường Ở thời điểm hay môi trường này năng lực được thể hiện, phát huy tác dụng nhưng ở thời điểm khác thì cần phải có loại năng lực khác Mỗi thời kỳ, mỗi hoàn cảnh, môi trường khác nhau đặt ra yêu cầu về năng lực khác nhau Người có năng lực tổ chức trong kháng chiến không có nghĩa là có năng lực tổ chức trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa thị trường cũng không có nghĩa là người đó cũng có khả năng trở thành một giáo viên ngay được
Năng lực của cán bộ công chức luôn gắn liền với mục đích tổng thể với chiến lược phát triển của tổ chức và phải gắn với lĩnh vực điều kiện cụ thể Năng lực tổ chức quản lý bao gồm khả năng động viên và giải quyết các công việc, đó là khả năng tổ chức và phối hợp các hoạt động của các nhân viên của đồng nghiệp, khả năng làm việc với con người và đưa tổ chức tới mục tiêu, biết dự đoán, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều hành, phối hợp công việc và kiểm soát công việc Năng lực này đặc biệt cần thiết và quan trọng đối với nhân lực QLNN, vì vậy nó hay được xem xét khi đề bạt, bổ nhiệm
Tiêu chí để đánh giá một người có năng lực tổ chức quản lý có thể dựa vào những tiêu chuẩn mang tính định tính
+ Biết mình nhất là biết mình qua nhận xét của người khác
+ Biết người, nghĩa là biết nhìn nhận con người đúng với thực chất của họ và biết sử dụng họ
+ Có khả năng tiếp cận với những người khác Biết tập hợp những người khác nhau vào một tập thể theo nguyên tắc bổ sung nhau Biết giao việc cho người khác và kiểm tra việc thực hiện của họ
+ Tháo vát, sáng kiến biết cần phải làm gì và làm như thế nào trong mọi tình huống có những giải pháp sáng tạo
Trang 3020
+ Quyết đoán dám ra quyết định và dám chịu trách nhiệm
- Sự nâng lên về trình độ chuyên môn và kỹ năng công tác của nhân lực quản
lý nhà nước
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là điều kiện tiên quyết trong thực hiện các nhiệm vụ và tạo ra sản phẩm công việc Trình độ là mức độ về sự hiểu biết, về kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó thể hiện ở văn bằng chứng chỉ mà mỗi công chức nhận được thông qua quá trình học tập
Năng lực cũng là yếu tố rất quan trọng đối với đội ngũ nhân lực QLNN Chính năng lực quyết định hiệu quả công việc của đội ngũ nhân lực QLNN
Năng lực là tập hợp các đặc điểm phẩm chất tâm lý phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả Năng lực hình thành một phần dựa trên cơ sở tư chất tự nhiên của cá nhân, và một phần lớn dựa trên quá trình đào tạo, giáo dục và hoạt động thực tiễn, cũng như rèn luyện của cá nhân
Sự nâng lên về mặt năng lực của nhân lực QLNN thể hiện ở chỗ: kiến thức hiểu biết lĩnh vực chuyên ngành sâu rộng sau khi được đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, sự am hiểu và nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, thành thạo nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật xử lý thông tin để giải quyết các vấn đề đặt
ra trong quản lý nhà nước một cách khôn khéo, minh bạch, dứt khoát, hợp lòng dân
và không trái pháp luật, khả năng thu thập thông tin, chọn lọc thông tin, khả năng quyết định đúng đắn, kịp thời
Năng lực của người cán bộ quyết định sức mạnh để có thể hoàn thành công việc với mục đích cuối cùng là hiệu quả, được thể hiện ở các mặt như: trình độ văn
hóa, kiến thức quản lý nhà nước, trình độ chuyên môn nghiệp vụ
+ Trình độ văn hóa: hiểu biết được những vấn đề kinh tế - chính trị - văn hóa
- xã hội của đất nước, địa phương…
+ Trình độ quản lý hành chính nhà nước: năng lực quản lý tốt, tác phong nhanh nhạy, thích ứng tốt với sự thay đổi của công việc
+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Được hiểu là trình độ được đào tạo ở các
Trang 3121
lĩnh vực khác nhau theo cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học Đó là những kiến thức mà nhà trường trang bị cho người học theo các chuyên ngành nhất định được thể hiện qua hệ thống bằng cấp
* Tiêu chi ́ về mặt tâm lực
- Sự hoàn thiện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của nhân lực quản
lý nhà nước thông qua hoạt động nâng cao
Đây là tiêu chí rất quan trọng đối với đội ngũ nhân lực QLNN Nhân lực QLNN muốn xác lập được uy tín của mình trước nhân dân, trước hết đó phải là người
có phẩm chất đạo đức tốt Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang có sự chuyển biến nhanh chóng và xã hội đang nảy sinh nhiều vấn đề hết sức phức tạp, trong đó phải kể đến trình độ dân trí ngày một nâng cao, sự đòi hỏi của xã hội đối với đội ngũ nhân lực QLNN chuyên môn Thêm vào đó công tác quản lý xã hội cũng đòi hỏi nhân lực QLNN ở cơ sở phải tạo lập cho mình một uy tín đối với nhân dân
Sự hoàn thiện về phẩm chất chính trị đạo đức, lối sống của nhân lực QLNN được thể hiện thông qua những biểu hiện: Luôn luôn gương mẫu, có lối sống lành mạnh, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, không tham nhũng, vụ lợi cá nhân, sinh hoạt bê tha, có tinh thần chống tham nhũng, tận tụy phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân, quan hệ mật thiết với quần chúng nhân dân, sâu sát với công việc, không quan liêu cửa quyền, gây phiền hà cho dân, tác phong làm việc khoa học, dân chủ, nói đi đôi với làm, làm nhiều hơn nói Có tác phong làm việc khoa học, nghiêm túc; biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến của đồng nghiệp và những người xung quanh
Yêu cầu về phẩm chất, đạo đức, lối sống của đội ngũ nhân lực QLNN đòi hỏi phải cao hơn so với người khác bởi vì nhân lực QLNN là công bộc của dân Xét
về bản chất thì đây là tiêu chuẩn hàng đầu và xem như là đương nhiên phải có của nhân lực QLNN Nhân lực QLNN nếu thiếu phẩm chất đạo đức, thì dù có tài năng kiệt xuất cũng không thể là công bộc của dân được [4, tr25]
Phẩm chất chính trị của đội ngũ nhân lực QLNN được biểu hiện trước hết là
sự tin tưởng tuyệt đối đối với lý tưởng cách mạng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH Đó là con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, kiên quyết
Trang 3222
đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, không dao động trước những khó khăn thử thách Đồng thời phải có biện pháp để đường lối đó đi vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân địa phương
Nhân lực QLNN có phẩm chất chính trị tốt không chỉ bằng lời tuyên bố, hứa hẹn mà quan trọng hơn là việc nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kiên quyết chống lại mọi lệch lạc, biểu hiện sai trái trong đời sống xã hội đi trái ngược với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Phẩm chất chính trị của nhân lực QLNN còn biểu hiện thông qua việc họ có làm việc với tinh thần trách nhiệm, hiệu quả hay không; có tinh thần độc lập, sáng tạo, không thụ động, ỷ lại trong công tác hay không, có ý chí cầu tiến, ham học hỏi hay không, thái độ tận tụy phục vụ nhân dân,
tinh thần trách nhiệm đối với đời sống nhân dân tại địa phương
- Uy tín, khả năng giải quyết các mối quan hệ trong quá trình công tác của nhân lực quản lý nhà nước phải ngày càng được nâng lên
Uy tín là sự tín nhiệm và mến phục của mọi người Uy tín là sự phản ánh phẩm chất và năng lực của một cá nhân, do đó tất yếu nó phải do phẩm chất và năng lực quyết định Tức là nhân lực QLNN phải có chuyên môn giỏi, không có tì vết
về phẩm chất đạo đức, quan hệ gần gũi, hòa nhã với mọi người; luôn lo sự nghiệp chung nhưng vẫn không quên trách nhiệm, tình cảm của mình với người thân trong gia đình Nhân lực QLNN có uy tín thì những người dưới quyền không chỉ phục tùng mà quan trọng hơn là họ tự giác phục tùng với niềm tin mãnh liệt
Uy tín của nhân lực quản lý nhà nước được thể hiện thông qua những biểu hiện:
- Sự gương mẫu, gương mẫu đến mực thước về các mặt, trước hết là về mặt phẩm chất đạo đức, có lối sống trong sạch, tận tụy, khiêm tốn, “mình vì mọi người”; sự thấu cảm và chia sẻ [5, tr13]
- Có học thức cao, năng lực lãnh đạo và quản lý giỏi; tầm hiểu biết sâu rộng, bao gồm cả nhãn quan chính trị, trình độ nhận thức và vốn sống; sự đổi mới và khả năng thích nghi; khát vọng và hoài bão
- Có tinh thần trách nhiệm, có năng lực tổ chức, thể hiện ở chỗ hoàn thành
Trang 3323
xuất sắc chức vụ mà mình đảm trách
- Nắm vững kỹ năng lãnh đạo, ứng xử có văn hóa; có quan hệ đúng đắn, trước hết là với những người cùng cộng tác hoặc có quan hệ trực tiếp với mình; biết
tự kiểm soát, tự kiềm chế Tóm lại là hội đủ cả ba yếu tố: Tâm, Tầm, Tài
Uy tín là kết quả của sự phấn đấu rèn luyện gian khổ, bền bỉ của bản thân cán
bộ Đặc biệt với nhân lực QLNN cần phải giành lấy uy tín tuyệt đối trong tập thể bằng chính tài năng, đức độ, nghị lực, bằng ảnh hưởng tư tưởng và hành động thực tế của mình chứ không phải bằng danh hiệu và chức vụ hoặc bằng thủ đoạn và tiểu xảo Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản”
mà được họ yêu mến Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”
Uy tín không phải bao giờ cũng tỉ lệ thuận với chức vụ Chức vụ chỉ là điều kiện khách quan để củng cố và nâng cao uy tín, còn uy tín là cái quyết định sự tồn tại của chức vụ Nếu uy tín mất đi thì theo quy luật thông thường, chức vụ trước sau cũng sẽ mất theo Giữa chức vụ và uy tín có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Theo ý nghĩa nào đó, có thể hiểu mối quan hệ giữa chức vụ và uy tín như là mối quan hệ giữa hình thức và nội dung Chức vụ là hình thức, còn uy tín là nội dung
Có thể khẳng định - uy tín tất yếu phải do phẩm chất và năng lực của cá nhân cán bộ quyết định, thể hiện ở các yếu tố: Khả năng tổ chức và chuyên môn giỏi; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và kiên định trong công tác; có quan hệ bình đẳng, tính tập thể và phát huy được sức mạnh tổng hợp; gương mẫu đi đầu trong mọi công tác; gần gũi, dân chủ, cởi mở với mọi người; tính chiến đấu, tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, không tranh công, đổ lỗi
Người có uy tín còn là người biết lắng nghe, kể cả những lời nói trái; không
tự ái, sĩ diện, thành kiến Người có uy tín là người có bản lĩnh, dũng cảm, kiên cường, bảo vệ người ngay thẳng, trung thực, đấu tranh với những hành vi sai trái, những biểu hiện cơ hội, thực dụng, không nịnh ai và cũng không thích ai nịnh mình
Xây dựng cho được một uy tín cần thiết đã khó, nhưng phấn đấu để giữ vững
và không ngừng nâng cao uy tín lại càng khó Trong mỗi người đều có cái tốt, cái
Trang 3424
xấu Uy tín thật - cái tốt, uy tín giả - cái xấu Học cái tốt thì khó, vì như “người ta leo núi phải vất vả và khó nhọc mới lên đến đỉnh Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh chỉ trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu” Điều đó đòi hỏi người cán bộ phải có ý chí và nghị lực rất cao Người ở cương vị càng cao càng phải hết sức chăm lo giữ gìn uy tín, vì uy tín của họ không phải đơn thuần chỉ là uy tín cá nhân
mà còn liên quan đến uy tín chung của tập thể
* Như ̃ng tiêu chí gián tiếp:
- Chính sách của cấp ủy đảng, chính quyền trong việc nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước
Hoạt động nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước là công việc thường xuyên của cấp ủy đảng và chính quyền các cấp Sự quan tâm kịp thời, thường xuyên của cấp ủy đảng và chính quayền là nhân tố đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nhân lực QLNN
Sự quan tâm đó được thể hiện thông qua các mặt như: chính sách tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ của cấp ủy đảng và chính quyền các cấp phải phù hợp với từng đối tượng nhân lực QLNN, cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động nâng cao chất lượng nhân lực QLNN….trong đó chính sách đào tạo, bồi dưỡng là quan trọng nhất
- Chất lượng công việc ngày càng cao, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao
Chất lượng dịch vụ công là kết quả hoạt động, hiệu quả quản lý, phục vụ đạt được và được biểu hiện đối với xã hội thông qua sự hài lòng của người dân, niềm tin của người dân đối với Nhà nước, được xác định thông qua tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả [6, tr 17]
Chất lượng thực thi công vụ của nhân lực QLNN được thể hiện qua các yếu
tố như: năng lực thực thi công vụ của bản thân nhân lực QLNN; phụ thuộc vào kiến thức, kỹ năng và thái độ của họ đối với công việc, phụ thuộc vào tổ chức và môi trường của tổ chức Đó là sự phân công công việc, tính chất công việc, môi trường làm việc, điều kiện làm việc của nhân lực QLNN; sự động viên, khuyến khích của người lãnh đạo, quản lý, tạo động lực cho nhân lực QLNN từ chế độ, chính sách đãi
Trang 3525
ngộ và cơ hội thăng tiến phát triển đối với nhân lực QLNN
Như vậy, muốn nâng cao chất lượng dịch vụ công được cung cấp thì phải chú trọng cải thiện từ năng lực làm việc của nhân lực QLNN, đến môi trường làm việc của cơ quan hành chính cơ sở cũng như cách thức tổ chức công việc và chế độ, chính sách nhằm động viên, khuyến khích nhân lực QLNN hăng say, nhiệt tình làm việc đạt hiệu quả cao
Một đội ngũ nhân lực QLNN có chất lượng là đội ngũ có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có trình độ năng lực và có khả năng vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước một cách có hiệu quả nhất nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân tại địa phương góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
- Sự hài lòng của người dân trong quá trình giải quyết công việc
Một trong những tiêu chí đánh giá nâng cao chất lượng của nhân lực QLNN
đó là sự hài lòng của người dân trong quá trình giải quyết công việc, điều này thể hiện ở việc giải quyết công việc của đội ngũ nhân lực QLNN phải đảm bảo tính chặt chẽ về mặt pháp lý, tuy nhiên cũng phải “thấu tình, đạt lý”, tránh tình trạng lạm dụng chức vụ quyền hạn để gây sách nhiễu với nhân dân, cũng như tham nhũng của dân Khi người dân đến giải quyết công việc, nhân lực QLNN phải niềm nở, chủ động giải đáp những thắc mắc, khiếu nại tố cáo thuộc phạm vi giải quyết của mình, khi vượt quá khả năng của mình phải báo cáo với cấp trên có thẩm quyền, tránh để nhân dân tỏ thái độ bức xúc, không hài lòng khi đến giải quayết công việc… Tóm lại, việc nâng cao chất lượng của nhân lực QLNN không thể tách rời sự đánh giá của người dân, đặc biệt trong bối cảnh cải cách hành chính như hiện nay
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước cấp quận, huyê ̣n
Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ nhân lực QLNN bao gồm các nhân tố như:
- Hoàn cảnh và lịch sử ra đời của nhân lực QLNN, tình hình kinh tế - chính trị và xã hội của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử, trình độ văn hoá, sức khoẻ
Trang 3626
chung của dân cư, sự phát triển của nền giáo dục quốc dân, sự phát triển của sự nghiệp y tế trong việc chăm lo sức khoẻ cộng đồng, chất lượng của thị trường cung ứng lao động, sự phát triển của công nghệ thông tin, đường lối phát triển kinh tế, chính trị và quan điểm sử dụng đội ngũ nhân lực QLNN của Đảng, Nhà nước.v.v
- Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế cũng là một yếu tố khách quan Đó là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công
là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động cao Đó chính là quá trình lâu dài và là vấn đề có tính cấp thiết đối với những nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng
Mặt khác, một vấn đề quan trọng là hệ thống chính trị phải không ngừng được củng cố, trưởng thành và vững mạnh toàn diện, đủ sức lãnh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội
Để thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng ta đã xác định đây là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị nhà nước, trong đó có vai trò quan trọng của đội ngũ nhân lực QLNN Chính đội ngũ này là người tham mưu, thực hiện các chính sách của Nhà nước và chỉ đạo thực hiện từng mục tiêu của đường lối, chiến lược phát triển kinh tế
- Công tác tuyển dụng
Tuyển dụng nhân lực QLNN là khâu quan trọng quyết định tới chất lượng của đội ngũ nhân lực QLNN Nếu công tác tuyển dụng được thực hiện tốt thì sẽ tuyển được những người thực sự có năng lực, phẩm chất bổ sung cho lực lượng QLNN Ngược lại, nếu việc tuyển dụng không được quan tâm đúng mức thì sẽ không lựa chọn được những người đủ năng lực và phẩm chất bổ sung cho lực lượng này
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực QLNN nhằm trang bị kiến thức để nhân lực QLNN có đủ năng lực, tự tin thực hiện tốt nhiệm vụ được giao và đáp ứng được yêu
Trang 3727
cầu của công việc Không phải trong suốt thời gian công tác, nhân lực QLNN chỉ học một lần mà ngược lại, cần được đào tạo, bồi dưỡng bổ sung và cập nhật kiến thức một cách liên tục trước yêu cầu nhiệm vụ mới Đào tạo, bồi dưỡng không chỉ giới hạn ở đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, mà cần đặc biệt quan tâm tới đào tạo nâng cao kỹ năng, kỹ xảo thực hiện công việc và những kiến thức có liên quan đến công việc của nhân lực QLNN, góp phần tạo nên tính chuyên nghiệp của đội ngũ nhân lực QLNN trong thực thi nhiệm vụ
- Công tác sử dụng gắn với quy hoạch
Sử dụng đội ngũ nhân lực QLNN là một khâu rất quan trọng trong công tác quản lý cán bộ, công chức của Đảng và Nhà nước ta Trong những năm qua chúng
ta đã có nhiều tiến bộ trong việc sử dụng đội ngũ nhân lực QLNN Tuy nhiên, so với thực tiễn hiện nay, đây vẫn là khâu còn bộc lộ nhiều hạn chế Vì vậy, các cơ quan, đơn vị sử dụng nhân lực QLNN cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề này Đặc biệt là phải nắm bắt được các chủ trương mới, hiểu rõ và thực hiện đúng các quy định của Nhà nước, mặt khác, cần thấy rằng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, các chủ trương chính sách
và chế độ đối với nhân lực QLNN phải luôn được đổi mới, hoàn thiện Với đội ngũ nhân lực QLNN, vấn đề đổi mới và hoàn thiện chính sách, chế độ càng đặt ra thường xuyên và cấp bách bởi đây là đội ngũ gắn liền với từng bước đi của công cuộc đổi mới kinh tế, với yêu cầu phát triển đất nước trong quá trình CNH, HĐH và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta [7, tr61]
- Phân tích công việc trong các cơ quan hành chính nhà nước
Phân tích công việc là quá trình thu thập thông tin và phân tích đánh giá về công việc trong các cơ quan HCNN Kết quả phân tích công việc là xây dựng được bản mô tả công việc, bảng tiêu chuẩn chức danh nhân lực QLNN đối với từng loại công việc và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá việc thực hiện công việc của nhân lực QLNN Với vai trò như vậy, phân tích công việc là cơ sở cho việc tuyển dụng nhân lực QLNN và cũng là cơ sở cho việc đánh giá mức độ hoàn thành công việc của nhân lực QLNN, giúp cho việc hoạch định chính sách về đào tạo, nâng cao chất
Trang 38- Đánh giá thực hiện công việc của nhân lực quản lý nhà nước
Đánh giá thực hiện công việc của nhân lực QLNN đóng vai trò quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực nói chung và trong nâng cao chất lượng nhân lực QLNN nói riêng Đánh giá mức độ hoàn thành công việc không chỉ là cấp trên đánh giá cấp dưới mà còn là việc tự đánh giá mức độ hoàn thành công việc của từng nhân lực QLNN và sự đánh giá của cấp dưới đối với cấp trên Thông thường, việc đánh giá mức độ hoàn thành công việc được thực hiện 6 tháng một lần hoặc 1 năm một lần Đánh giá thực hiện công việc nhằm xác định kết quả làm việc cụ thể của từng
cá nhân trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao Đồng thời, xác định nhu cầu đào tạo và phát triển nhân lực QLNN, nội dung đào tạo và những vấn đề khác Phân tích
và đánh giá thực hiện công việc còn là cơ sở cho việc tuyển chọn, bố trí, sử dụng nhân lực QLNN Bên cạnh đó còn là cơ sở cho việc trả thù lao lao động, xếp hạng nhân lực QLNN và tạo động lực cho nhân lực QLNN phát triển [9, tr43]
- Tạo động lực cho đội ngũ nhân lực quản lý nhà nước
Tạo động lực cho nhân lực QLNN được hình thành trong quá trình làm việc
Để tạo động lực cho nhân lực QLNN trong thi hành công vụ, chúng ta cần thực hiện hiệu quả một số nội dung sau:
Bố trí công việc phù hợp với khả năng, trình độ của nhân lực QLNN Đây là việc làm rất quan trọng, bởi vì nhân lực QLNN có được bố trí đúng khả năng, trình
độ thì họ mới có điều kiện phát huy khả năng để hoàn thành nhiệm vụ được giao, để nhận được thù lao xứng đáng với công sức họ bỏ ra Từ đó, tạo nên sự thoải mái
Trang 39Đổi mới cơ bản chính sách đãi ngộ về vật chất đối với nhân lực QLNN Căn
cứ vào từng loại nhân lực QLNN, vào trình độ, số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác của mỗi người mà đảm bảo các chế độ tiền lương, phụ cấp, điều kiện và phương tiện làm việc, nhà ở, đối với nhân lực QLNN
- Sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với thái độ phục vụ của CBCC: Sự hài
lòng của người dân và tổ chức có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước Trong những năm qua, việc lấy ý kiến đánh giá hài lòng của người dân về chất lượng phục vụ và thái độ của CBCC đã tạo nên sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành vi của mỗi CBCC khi thực thi công
vụ Sự hài lòng của người dân có ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá CBCC hàng tháng, hàng năm, đặc biệt là đội ngũ CBCC được giao nhiệm vụ thực thi công vụ tại
bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính quận
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong việc nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước và bài học rút ra cho quận Long Biên
1.3.1 Kinh nghiệm của Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh luôn dẫn đầu cả nước về chính sách thu hút nhân tài, thu hút LLLĐ có trình độ cao phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Thực tế, ở Quận 1 do có chính sách hấp dẫn nên đã thu hút được đông đảo những người có trình độ cao, các chuyên gia, các nhà khoa học từ các địa phương khác trong Nam ngoài Bắc về phục vụ Nhưng dần dần các chính sách
đó đã giảm sự hấp dẫn do khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các địa phương khác cũng như các quận huyện khác đã có chính sách hấp dẫn hơn Nên đội
Trang 4030
ngũ này đã bị khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và các nơi khác thu hút Quận đã ban hành quy định về một số chính sách đối với người có trình độ cao, chuyên gia giỏi làm việc trên địa bàn quận như tuyển dụng, bố trí, sử dụng không phân biệt quốc tịch, tôn giáo, hộ khẩu; trả lương đúng với tài năng và trình độ, được ưu tiên
đề bạt vào những chức vụ quan trọng trong đơn vị doanh nghiệp từ cấp trưởng phòng, ban trở lên; người chưa có nhà ở được ưu tiên giải quyết mua nhà ở khu chung cư và có chính sách miễn, giảm; những người ở xa thành phố được bố trí nơi
ở không phải trả tiền thuê; bố trí phương tiện đi lại thuận tiên; được chọn trường cho con đi học; những người phải nuôi dưỡng cha mẹ già yếu được trợ cấp hàng tháng Với chính sách như trên Quận 1 đang thể hiện quyết tâm đẩy mạnh CNH, HĐH để trở thành một trong những quận mạnh về nhiều mặt, thu hút được đông đảo NNL chất lượng cao phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội cũng như nâng cao chất lượng nhân lực QLNN cho thành phố Hồ Chí Minh
1.3.2 Kinh nghiệm của quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Hơn 15 năm qua, quy mô nguồn nhân lực QLNN tại thành phố không ngừng phát triển, trong đó công tác thu hút nguồn nhân lực luôn được chú trọng Thành công của chính sách thu hút nhân tài của thành phố chính là kết quả của việc triển khai đề án hỗ trợ đào tạo bậc đại học tại các cơ sở giáo dục trong nước và ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước cũng như việc tiếp nhận, bố trí và thực hiện chính sách ưu đãi đối với những người tự nguyện đến làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc UBND thành phố Đà Nẵng
chính trị vững vàng , phẩm chất đa ̣o đức , trình độ năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế , xã hội của địa phương ; hô ̣i nhâ ̣p kinh tế quốc t ế, công nghiếp hóa – hiê ̣n đa ̣i hóa, đáp ứng yêu cầu chuyển di ̣ch cơ cấu kin h tế theo hướng “Thương ma ̣i
giáo dục; chương trình nâng cao chất lượng đào ta ̣o nghề , chương trình đào ta ̣o đô ̣i