Trong các quan hệ dân sự giữa các bên, để đảm bảo cho quá trình thực hiện nghĩa vụ giữa các bên cũng như bảo vệ quyền, lợi ích của các bên có liên quan thì các bên trong các giao dịch thường thỏa thuận với nhau để lựa chọn một biện pháp mang tính tác động và dự phòng nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên có quyền trong quan hệ dân sự đồng thời nhằm khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng do nghĩa vụ gây ra. Trong Bộ luật Dân sự ( BLDS) 2015, có quy định 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Bảo lưu quyền sở hữu là một biện pháp bảo đảm không phải là mới hoàn toàn, thực chất biện pháp này đã được quy định gián tiếp trong BLDS 2005 (hợp đồng mua trả chậm, trả dần). Nhưng đến khi Bộ luật Dân sự 2015 mới được Quốc hội thông qua, các nhà làm luật chính thức quy định Bảo lưu quyền sở hữu là một biện pháp bảo đảm cụ thể. Để hiểu rõ hơn về biện pháp này, em xin lựa chọn đề bài số 8: “Phân tích, đánh giá các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về biện pháp bảo lưu quyền sở hữu” làm bài tập học kỳ môn Pháp luật về Giao dịch bảo đảm.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong các quan hệ dân sự giữa các bên, để đảm bảo cho quá trình thực hiện nghĩa vụ giữa các bên cũng như bảo vệ quyền, lợi ích của các bên có liên quan thì các bên trong các giao dịch thường thỏa thuận với nhau để lựa chọn một biện pháp mang tính tác động và dự phòng nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên có quyền trong quan hệ dân sự đồng thời nhằm khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng do nghĩa vụ gây ra Trong Bộ luật Dân sự ( BLDS) 2015, có quy định 9 biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ, Bảo lưu quyền sở hữu là một biện pháp bảo đảm không phải là mới hoàn
toàn, thực chất biện pháp này đã được quy định gián tiếp trong BLDS 2005 (hợp đồng mua trả chậm, trả dần) Nhưng đến khi Bộ luật Dân sự 2015 mới được Quốc
hội thông qua, các nhà làm luật chính thức quy định Bảo lưu quyền sở hữu là một
biện pháp bảo đảm cụ thể Để hiểu rõ hơn về biện pháp này, em xin lựa chọn đề bài
số 8: “Phân tích, đánh giá các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về biện pháp
bảo lưu quyền sở hữu” làm bài tập học kỳ môn Pháp luật về Giao dịch bảo đảm.
NỘI DUNG
I./ Các quy định của Bộ Luật Dân sự 2015 về biện pháp bảo lưu quyền sở hữu
I.1/ Khái niệm
Bảo lưu quyền sở hữu lần đầu tiên được quy định như một biện pháp bảo
đảm tại khoản 6 Điều 292 BLDS 2015 và được quy định cụ thể tại tiểu mục 5 BLDS 2015 (từ Điều 331 đến Điều 334)
Khoản 1 Điều 331 BLDS 2015 quy định: “Trong hợp đồng mua bán, quyền
sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được
Trang 2thường không áp dụng các biện pháp bảo đảm mà dùng chính những tài sản đó để bảo đảm như vay tiền mua nhà và dùng chính ngôi nhà đó để thế chấp… Như vậy, việc quy định biện pháp bảo lưu quyền sở hữu nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của bên bán
Điều 461 BLDS 2005 quy định về hợp đồng mua trả chậm, trả dần và ví dụ thực tiễn phổ biến trên thị trường quyền sử dụng đất hiện nay, có rất nhiều hợp đồng được ký kết mà các bên thỏa thuận phương thức thanh toán nhiều lần, nhiều
kỳ Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu cho đến khi bên mua trả đủ tiền và thực hiện các nghĩa vụ khác trong hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
I.2/ Đặc điểm
Là một biện pháp bảo đảm, Bảo lưu quyền sở hữu mang những đặc điểm
chung của một biện pháp bảo đảm, đó là:
+ Đây là một giao dịch phụ (hợp đồng phụ) không tồn tại độc lập, mà nó luôn được xác lập đi kèm một hợp đồng chính (hợp đồng mua bán)
+ Mục đích của biện pháp này là nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của bên mua tài sản, cũng chính là bảo vệ quyền, lợi ích của bên bán trong hợp đồng mua bán tài sản
Ngoài những đặc điểm chung như trên, biện pháp Bảo lưu quyền sở hữu còn
mang những đặc điểm riêng sau đây:
+ Đối tượng của Bảo lưu quyền sở hữu là tài sản (động sản, bất động sản).
Khi nào mà quyền sở hữu đối với tài sản vẫn thuộc về bên bán thì họ vẫn có toàn quyền quyết định đối với tài sản Cái mà bên mua hướng đến cũng chính là quyền
sở hữu tài sản một cách hợp pháp
Trang 3Đúng như tên gọi của biện pháp, sau khi tài sản được giao cho người mua ( mua trả góp, mua trả chậm,trả dần…), cho đến khi người bán nhận đủ tiền thanh toán thì quyền sở hữu đối với tài sản vẫn thuộc về người bán Bên mua có quyền chiếm hữu, quyền đưa tài sản vào khai thác công dụng Quyền sở hữu chỉ được chuyển giao cho người mua sau khi thanh toán xong tiền
Tài sản trong các hợp đồng mua bán có áp dụng biện pháp bảo lưu quyền sở hữu thông thường là những tài sản có giá trị lớn và có đăng ký quyền sở hữu, như ô
tô, xe máy, nhà ở, quyền sử dụng đất…
+ Phương thức bảo lưu: Người bán có thể bảo lưu bằng cách giữ giấy tờ
đăng ký tài sản hoặc là không sang tên tài sản trên giấy tờ cho người mua
+ Hình thức bảo lưu: Bảo lưu quyền sở hữu phải được lập thành văn bản
riêng hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán
+ Ý nghĩa: Bảo lưu quyền sở hữu phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ
ba Tại nghị định 163/2006/NĐ-CP cũng đã có quy định về hiệu lực của các giao dịch bảo đảm Trường hợp hợp đồng mua bán có bảo lưu quyền sở hữu được đăng
ký tại cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày giao kết hợp đồng mua bán thì bên bán có bảo lưu quyền sở hữu có thứ tự ưu tiên thanh toán cao nhất khi xử lý tài sản bảo đảm (Khoản 2 Điều 13 Nghị định 163/2006/NĐ-CP) Sau khi thực hiện hợp đồng mua bán trả góp, trả chậm, trả dần, quyền sở hữu với tài sản vẫn thuộc về bên bán Bên mua có thể đem tài sản đó để tham gia vào các giao dịch khác, hoặc để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ khác Khi xử lý tài sản đó, thì bên bán tài sản đó vẫn được ưu tiên thanh toán cho đến khi chuyển giao quyền
sở hữu cho bên mua; Nếu bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì bên bán có quyền truy đòi tài sản và được quyền thanh toán theo quy định của
Trang 4I.3/ Quyền và nghĩa vụ của các bên
Đối với bên bán: Bên bán có quyền “đòi lại tài sản” được quy định tại Điều
332 BLDS 2015:
+ Bên bán có quyền đòi lại tài sản trong trường hợp bên mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán đủ số tiền theo thỏa thuận
+ Bên bán có quyền yêu cầu bên mua bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên mua làm mất mát, hư hỏng tài sản
Bên bán có nghĩa vụ hoàn trả cho bên mua số tiền bên mua đã thanh toán sau khi trừ giá trị hao mòn tài sản do sử dụng
Đối với bên mua: Quyền và nghĩa vụ của bên mua được quy định tại Điều
333 BLDS 2015:
+ Bên mua có quyền sử dụng tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu có hiệu lực
+ Bên mua có nghĩa vụ phải gánh chịu những rủi ro xảy ra với tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
I.4/ Chấm dứt bảo lưu quyền sở hữu
Bảo lưu quyền sở hữu chấm dứt trong các trường hợp quy định tại Điều 334
BLDS 2015, bao gồm:
+ Nghĩa vụ thanh toán cho bên bán được thực hiện xong;
+ Bên bán nhận lại tài sản bảo lưu quyền sở hữu;
+ Theo thỏa thuận của các bên;
Trang 5II./ Đánh giá các quy định của Bộ Luật Dân sự 2015 về biện pháp bảo lưu quyền sở hữu
Trong BLDS 2005, quy định về Bảo lưu quyền sở hữu mới chỉ được đề cập
đến như một trường hợp đặc biệt của hợp đồng mua bán hàng hóa, cụ thể tại Điều
461 về hợp đồng mua trả chậm, trả dần Như vậy, Bảo lưu quyền sở hữu chưa được
công nhận là một biện pháp bảo đảm chính thức trong luật
Khắc phục sự thiếu sót đó, cùng với tình hình thực tế trong xã hội ngày nay,
các nhà làm luật đã bổ sung thêm quy định về biện pháp Bảo lưu quyền sở hữu
trong BLDS 2015 Theo em, việc quy định rõ ràng như vậy là hợp lý Xét về góc
độ kinh tế, hợp đồng mua trả chậm, trả dần xem như là một phương thức khuyến khích bán hàng của nhiều doanh nghiệp Bên mua dù chưa có đủ tiền nhưng vẫn có thể có được loại hàng hóa mà mình mong muốn Thông thường, lãi suất trong trường hợp mua trả chậm,trả dần là lãi suất ưu đãi mang tính chất hỗ trợ cho bên mua tài sản trả chậm, trả dần
Tuy nhiên, biện pháp này vẫn còn có những vướng mắc trong việc áp dụng, đặc biệt là quy định về vấn đề quyền sở hữu Theo quy định của BLDS 2015, tài sản được chuyển giao cho bên mua nhưng quyền sở hữu vẫn thuộc về bên bán cho
đến khi bên mua thanh toán đủ tiền Có ý kiến cho rằng: “Việc công nhận điều
khoản bảo lưu quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán là một biện pháp bảo đảm chưa hợp lý bởi người mua chỉ đơn thuần có quyền chiếm hữu tài sản trong khi người bán vẫn có quyền sở hữu tuyệt đối đối với tài sản theo thỏa thuận của các bên : biện pháp bảo đảm phải phát sinh từ việc bên bảo đảm trao quyền đối với tài sản của mình cho bên nhận bảo đảm chứ không thể là việc bên chủ sở hữu tài sản bảo lưu quyền sở hữu của mình” 1 Vậy có nghĩa là, bên mua không có quyền đem
Trang 6tài sản đó bán, tặng cho, cho thuê hoặc đảm bảo cho các nghĩa vụ dân sự khác Như vậy có đảm bảo quyền cho bên mua hay không, khi mà bên mua cũng đã trả một phần tiền cho bên bán và thực tế cũng có nhiều trường hợp như vậy xảy ra và các bên không biết phải xử lý như thế nào? Nếu như, người mua đã bán tài sản cho người thứ ba khi có sự đồng ý của người bán, thì các bên phải có thỏa thuận rõ ràng về việc ai có nghĩa vụ thanh toán nốt số tiền còn lại cho người bán, người mua hay người thứ ba? Và người bán có quyền đòi nợ với ai? Chỉ khi thỏa thuận rõ ràng mới hạn chế tối đa việc xảy ra những tranh chấp
Trên thực tế, với những loại giao dịch dân sự có điều kiện, đối tượng của hợp đồng là những tài sản bắt buộc phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà theo tinh thần của luật 2015, người bán có quyền bảo lưu quyền sở hữu bằng cách không làm thủ tục đăng kí hoặc giữ lại giấy tờ đăng ký, như vậy sẽ gây
ra không ít khó khăn cho người mua trong quá trình sử dụng tài sản Ví dụ như với quy định người tham gia giao thông phải sử dụng các phương tiện chính chủ, pháp luật quy định đối với người điều khiển xe máy trong khi tham gia giao thông đều phải có giấy tờ đăng kí xe… nhưng do chưa trả hết tiền cho người bán nên người
bán đã giữ lại giấy tờ đăng kí xe của người mua Vậy khi họ mắc lỗi đi sai làn
đường, không lẽ lại mắc luôn lỗi không mang giấy đăng ký xe ? Hoặc sau khi các
bên trong hợp đồng mua bán đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho nhau nhưng lại không thể thực hiện được hợp đồng bởi lý do khách quan, bất khả kháng không xuất phát từ hai bên chủ thể của hợp đồng, dẫn đến hợp đồng không thực hiện được thì trường hợp này bên bán có được thực hiện quyền bảo lưu quyền sở hữu tài sản của mình hay không? Ví dụ: Hợp đồng mua bán nhà là một trong những giao dịch dân sự có điều kiện, pháp luật về nhà ở quy định hợp đồng chỉ có hiệu lực sau khi hai bên đã thực hiện thủ tục công chứng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Như vậy, trong trường hợp này, sau khi hai bên đã thực hiện đầy đủ
Trang 7nghĩa vụ của mình như thanh toán, chuyển giao tài sản, nộp thuế… nhưng sau đó lại có quyết định của cơ quan nhà nước về việc thu hồi tài sản để thực hiện dự án thì trong trường hợp này người bán có được bảo lưu quyền sở hữu tài sản của mình hay không? Còn quyền lợi của người mua có được đảm bảo không? Trường hợp
Bảo lưu quyền sở hữu được áp dụng đối với tài sản là vật trong các hợp đồng
mua trả chậm, trả dần Tuy nhiên, đối với các tài sản tiêu hao thì không thể bảo lưu quyền sở hữu được, vì khi sử dụng vật không còn nữa Khi tài sản đã tiêu hao mà bên mua không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì bên bán cũng không thể lấy lại tài sản đó và cũng không thể yêu cầu bên mua trả số tiền còn lại, hoặc phải chứng minh nghĩa vụ trả tiền của bên mua rất phức tạp Trường hợp này giải quyết như
thuận rõ ràng về việc người bán có quyền yêu cầu người mua trả tiền trong một thời hạn nhất định
Một điều nữa là theo BLDS 2015, khi có rủi ro xảy ra thì bên mua sẽ phải gánh chịu hậu quả đó, nhưng như vậy có công bằng không? Ví dụ, một người mua nhà trả góp, thực chất bên mua nợ bên bán một khoản tiền và bên bán vẫn đứng tên
là chủ sở hữu để đảm bảo nghã vụ trả đủ tiền của bên mua, bên mua được giao nhà
và sử dụng nhà Vấn đề đặt ra là trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng như mưa, bão làm căn nhà bị sập hoặc hỏa hoạn khiến căn nhà bị thiêu rụi… và theo quy định của luật thì bên mua phải gánh chịu rủi ro ngay cả khi thiệt hại gây
ra nhưng không phải lỗi của họ
2 Ls.Phạm Thanh Sơn, Trưởng Văn phòng Luật sư Nam Hà Nội, “Một số góp ý với dự thảo bộ luật dân sự (sửa
Trang 8Nhận xét: Bảo lưu quyền sở hữu là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự thông dụng được các nước trên thế giới ghi nhận và áp dụng rộng rãi, điển hình như Pháp, Đức, Nhật Bản … Nó có ý nghĩa rất lớn trong nền kinh tế hiện nay, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho các bên một cách tốt nhất Việt Nam cũng có những ghi nhận bước đầu về biện pháp bảo đảm này, việc ghi nhận ấy là hoàn toàn đúng đắn Tuy nhiên, cần phải đưa ra những quy định hợp lý, cụ thể hơn để khắc phục những bất cập từ thực tế, để hoàn chỉnh hơn hệ thống pháp luật
KẾT BÀI
Trên đây là toàn bộ bài làm của em Trong quá trình làm bài, không tránh khỏi những thiếu sót do kiến thức còn hạn chế, nên em rất mong nhận được sự góp
ý của thầy, cô để bài làm của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 9DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ luật dân sự 2015;
2 Bộ luật dân sự 2005;
3 Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;
4. http://hslaw.vn/gop-y-du-thao-bo-luat-dan-su-sua-doi /nhung-noi-dung-cua-phan-nghia-vu-va-hop-dong-con-bat-cap.html