1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)

104 361 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường trong các làng nghề là rất bức thiết, làm ảnh hưởng xấu đến chính sức khoẻ của người dân cả hộ làm nghề và hộ không làm nghề; người làm ng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHÙNG VĂN DIỆN

XÂY DỰNG CỤM SẢN XUẤT GẮN VỚI

CÔNG NGHỆ XỬ LÝ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐỂ

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ

(Nghiên cứu trường hợp làng nghề Gốm Chu Đậu,

huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương)

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHÙNG VĂN DIỆN

XÂY DỰNG CỤM SẢN XUẤT GẮN VỚI

CÔNG NGHỆ XỬ LÝ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐỂ

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ

(Nghiên cứu trường hợp làng nghề Gốm Chu Đậu,

huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương)

CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Mã số: 60 34 04 12

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Người hướng dẫn: TS Hoàng Văn Khanh

Hà Nội, năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau hai năm học tập chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, được sự giảng dạy nhiệt tình, trách nhiệm, tâm huyết của các Thầy, các Cô trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi đã gặt hái được nhiều điều bổ ích, giúp đỡ tôi trong thực tiễn công tác và trong cuộc sống Đặc biệt, trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Thầy giáo, Tiến sỹ Hoàng Văn Khanh, các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Khoa học Quản lý - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội và một số cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh Hải Dương và huyện Nam Sách Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới:

- Tiến sỹ Hoàng Văn Khanh - Nguyên Viện trưởng Viện Mỏ - Luyện kim, Bộ Công thương, người trực tiếp hướng dẫn tôi

- Thầy giáo, PGS, TS Vũ Cao Đàm, thầy giáo, PGS, TS Trần Văn Hải và các Thầy cô giáo Khoa Khoa học Quản lý - Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội

- Sở Công thương, Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ, Phòng Tài nguyên - Môi trường, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Công ty Cổ phần Gốm Chu Đậu, Uỷ ban nhân dân xã Thái Tân, xã Nam Hưng, xã Lương Điền - huyện Cẩm Giàng, đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong việc điều tra, khảo sát, thu thập tài liệu phục vụ cho việc viết luận văn tốt nghiệp;

- Các đồng nghiệp, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập Trong quá trình học tập và xây dựng luận văn tốt nghiệp, mặc dù bản thân tôi cũng đã rất cố gắng nhưng chắc chắn cũng không tránh khỏi thiếu sót, rất mong được sự quan tâm giúp đỡ của các Thầy, Cô giáo và đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

3.1 Mục tiêu chung 4

3.2 Mục tiêu cụ thể 4

4 Phạm vi nghiên cứu 5

4.1 Phạm vi không gian: Tỉnh Hải Dương 5

4.2 Phạm vi thời gian: Từ năm 2011 đến hết năm 2014 5

4.3 Giới hạn nội dung: 5

5 Mẫu khảo sát 5

6 Câu hỏi nghiên cứu 5

7 Giả thuyết nghiên cứu 5

8 Phương pháp nghiên cứu 6

9 Kết cấu của Luận văn 6

PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ, MÔI TRƯỜNG, CHÍNH SÁCH, ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 7

1.1 Cơ sở lý luận về làng nghề 7

1.1.1 Khái niệm làng nghề 7

1.1.2 Phân loại làng nghề 9

1.1.3 Các tiêu chí công nhận làng nghề 12

1.1.4 Vai trò của làng nghề 12

Trang 5

1.1.5 Phát triển làng nghề 17

1.2 Cơ sở lý luận về môi trường 26

1.2.1 Khái niệm môi trường 26

1.2.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường làng nghề 26

1.3 Cơ sở lý luận về chính sách 26

1.3.1 Khái niệm chính sách 26

1.3.2 Chính sách khoa học và công nghệ 29

1.3.3 Các loại tác động của chính sách 30

1.4 Cơ sở lý luận về công nghệ và đổi mới công nghệ 31

1.4.1 Khái niệm công nghệ 31

1.4.2 Khái niệm đổi mới công nghệ 34

Kết luận Chương 1: 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG NGHỆ XỬ LÝ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CÁC LÀNG NGHỀ TỈNH HẢI DƯƠNG 38

2.1 Thực trạng làng nghề tỉnh Hải Dương 38

2.1.1 Sự phát triển số lượng và phân bố các làng nghề trên địa bàn tỉnh 38

2.1.2 Về loại hình tổ chức sản xuất tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh 41

2.1.3 Công nghệ, thiết bị và vốn sản xuất kinh doanh trong các làng nghề 42

2.1.4 Đánh giá kết quả trong sản xuất, kinh doanh của làng nghề 46

2.1.5 Thực trạng lao động trong các làng nghề 48

2.1.6 Về đào tạo nghề trong các làng nghề 50

2.1.7 Thực trạng thu nhập theo nhóm ngành nghề chủ yếu 52

2.1.8 Thực trạng môi trường và công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường trong các làng nghề 54

2.1.9 Thực trạng hạ tầng làng nghề và thu hút đầu tư phát triển làng nghề 56

2.2 Tổng quan làng nghề Gốm Chu Đậu, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương 58

2.2.1 Lịch sử làng nghề 58

2.2.2 Quy mô làng nghề 59

2.2.3 Hiện trạng môi trường làng nghề 62

Kết luận chương 2: 65

Trang 6

CHƯƠNG 3 HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG CỤM SẢN XUẤT

GẮN VỚI CÔNG NGHỆ XỬ LÝ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 67

3.1 Định hướng, mục tiêu và quan điểm phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Hải Dương 67

3.1.1 Định hướng 67

3.1.2 Mục tiêu 67

3.1.3 Quan điểm phát triển làng nghề 68

3.1.4 Dự báo các yếu tố tác động đến phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh 69

3.1.5 Thực hiện các chính sách cho phát triển làng nghề 73

3.2 Mục tiêu của chính sách xây dựng cụm sản xuất gắn với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường 77

3.2.1 Quy hoạch chi tiết diện tích đất đai để xây dựng cụm sản xuất 78

3.2.2 Xây dựng Cụm sản xuất gắn với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường 80

3.2.3 Xử phạt vi phạm hành chính về môi trường 85

3.2.4 Định hướng đổi mới công nghệ trong cụm sản xuất 85

3.3 Đánh giá tác động của chính sách xây dựng cụm sản xuất gắn với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường 87

3.3.1 Đánh giá tác động dương tính 87

3.3.2 Đánh giá tác động âm tính 89

Kết luận chương 3: 90

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu Nguyên nghĩa

1 BVMT Bảo vệ môi trường

2 CN-TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

3 CNH-HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá

4 GTNT Giao thông nông thôn

5 HĐND Hội đồng nhân dân

6 UBND Uỷ ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Mức độ sử dụng công nghệ tại làng nghề tỉnh Hải Dương 42

Bảng 2.2: Quy mô đầu tư vốn tại làng nghề tỉnh Hải Dương 44

Bảng 2.3: Tổng hợp các chương trình, đề án, dự án ưu tiên đầu tư 45

Bảng 2.4: Giá trị sản xuất của các làng nghề trên địa bàn tỉnh Hải Dương 46

Bảng 2.5: Số lượng lao động các làng nghề trên địa bàn tỉnh 48

Bảng 2.6 Thống kê giao lưu văn hoá làng nghề tỉnh Hải Dương 52

Biểu 3.1 Dự toán kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng cụm sản xuất gắn với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường 83

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

Hình 1.1: Sơ đồ đánh giá mức độ ô nhiễm tại các làng nghề 10

Hình 1.2: Sơ đồ phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất 11

Hình 2.1: Biểu đồ số lượng các Làng nghề CN-TTCN trên địa bàn tỉnh 38

Hình 2.2: Biểu đồ phân bố làng nghề theo đơn vị hành chính cấp huyện 39

Hình 2.3: Tỷ trọng các làng nghề phân theo ngành nghề chủ yếu 40

Hình 2.4: Trình độ lao động tại các làng nghề tỉnh Hải Dương 51

(Nguồn: Số liệu tổng hợp của Sở Công Thương năm 2014) 51

Hình 2.5: Thu nhập của các làng nghề 53

Hình 2.6: Xử lý ô nhiễm môi trường tại làng nghề tỉnh Hải Dương 55

Hình 2.9 Phun sơn trong làng nghề gỗ mỹ nghệ 64

Hình 3.1: Bản đồ quy hoạch sử dụng đất xã Thái Tân, huyện Nam Sách 79

Hình 3.2: Bản đồ quy hoạch sử dụng đất xã Nam Hưng, huyện Nam Sách 80

Trang 10

Trước yêu cầu thời kỳ mới, việc phát triển làng nghề và ngành nghề nông thôn nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập ở nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và cũng là thực hiện mục tiêu

"ly nông bất ly hương" đang là vấn đề đặt ra trong chiến lược phát triển kinh tế - xã

hội của đất nước nói chung, của tỉnh Hải Dương nói riêng, góp phần đẩy nhanh tiến

độ thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường trong các làng nghề là rất bức

thiết, làm ảnh hưởng xấu đến chính sức khoẻ của người dân (cả hộ làm nghề và hộ

không làm nghề); người làm nghề không có đủ kinh phí đổi mới công nghệ giảm

thiểu ô nhiễm môi trường hoặc không đầu tư kinh phí để đổi mới công nghệ hoặc

không quan tâm đến vấn đề môi trường; các hộ sản xuất trong làng nghề "mạnh ai

nấy làm", nên ô nhiễm môi trường ngày một trầm trọng, làm ảnh hưởng đến nhiều

vấn đề xã hội của cư dân làng nghề

Do vậy, môi trường làng nghề bị ô nhiễm, mâu thuẫn giữa các hộ dân làm nghề và các hộ dân không làm nghề sẽ tăng lên, làm mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của người dân, như vậy phát triển sẽ không ổn định, không bền vững

Trang 11

2

Để giải quyết vấn đề này, đề tài "Xây dựng cụm sản xuất gắn với công nghệ xử lý

ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề" sẽ là cơ sở đề xuất chính sách

với các giải pháp nhằm phát triển bền vững làng nghề thông qua các giải pháp cụ thể

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Vấn đề phát triển làng nghề ở nông thôn và phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm; được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học, chính quyền các cấp quan tâm, các sách chuyên khảo, các bài báo trên các tạp chí chuyên ngành đề cập và đã đạt được những kết quả nhất định Sau đây là tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau:

Công trình "Phát triển làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc

Bộ” (2010), Luận án Tiến sĩ kinh tế của Bạch Thị Lan Anh đã hệ thống hóa những

vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững làng nghề truyền thống Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đồng thời đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp đồng bộ để giải quyết mâu thuẫn giữa sản xuất, hiệu quả xã hội, môi trường trong các làng nghề truyền thống đảm bảo sự phát triển bền vững tại các làng nghề vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Công trình "Một số chính sách chủ yếu phát triển bền vững làng nghề Việt

Nam" (2010), đề tài cấp Bộ do Thạc sĩ Đinh Xuân Nghiêm chủ nhiệm đã tập trung

phân tích sâu về một số chính sách hiện hành liên quan đến việc phát triển làng nghề, đồng thời đề xuất phương hướng hoàn thiện các chính sách nhằm phát triển làng nghề Việt Nam trong thời gian tới

Công trình "Đánh giá thực trạng và đề xuất các chính sách, giải pháp chủ yếu

phát triển bền vững làng nghề Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030"

(2011), đề tài cấp thành phố do Tiến sĩ Hoàng Hà chủ nhiệm đã đi sâu phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề Hà Nội và đề xuất một

số chính sách, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Ngoài ra còn nhiều đề tài, luận văn thạc sĩ có giá trị như:

Trang 12

3

Đề tài "Nhận diện những rào cản trong đổi mới công nghệ tại các làng nghề ở

tỉnh Nam Định" của Nguyễn Quỳnh Trang (2011)

Đề tài "Quản lý xung đột môi trường trong phát triển làng nghề bằng xây

dựng khu sản xuất tách biệt và lập quỹ phòng chống ô nhiễm môi trường" của Thân

Trung Dũng (2009)

Đề tài "Chính sách thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp sản

xuất gốm nhằm xây dựng cụm công nghiệp gốm tại thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai" của Lê Tuấn Anh (2014)

Luận văn thạc sĩ "Giải pháp xây dựng làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

theo hướng phát triển bền vững" của Nguyễn Hữu Loan (2007)

Đánh giá chung: Tất cả những công trình nêu trên đã tiến hành nghiên cứu

làng nghề tập trung ở các lĩnh vực chính sau:

+ Một là, nghiên cứu tổng quan về tình hình hoạt động của công nghiệp nông

thôn; thực trạng CNH-HĐH nông nghiệp và phát triển nông thôn;

+ Hai là, nghiên cứu về tình hình phát triển tiểu thủ công nghiệp và những vấn

đề môi trường tác động đến làng nghề;

+ Ba là, nghiên cứu về tình hình SXKD của làng nghề, làng nghề truyền thống

từ lao động, công nghệ, vốn, thị trường tiêu thụ sản phẩm… trong bối cảnh hội nhập quốc tế

+ Bốn là, đề xuất một số giải pháp để phát triển làng nghề

Các công trình nghiên cứu đã công bố của các tác giả về phát triển làng nghề chủ yếu ở tầm vĩ mô Ở đó có các giải pháp mang tính chung nhất Việc áp dụng vào các địa phương đơn vị lại rất cần quan tâm đến những nét đặc thù, chưa thật sự được đầy

đủ, cụ thể Ví dụ như đất đai để xây dựng ở đâu, nguồn vốn lấy ở đâu và tính khả thi trong thực hiện như thế nào còn chưa toàn diện,

Luận văn này kế thừa chọn lọc kết quả nghiên cứu, xây dựng của các đề tài nêu trên, đồng thời, tập trung nghiên cứu đối với các loại hình làng nghề nói chung trong tỉnh Hải Dương, làng nghề gốm Chu Đậu - huyện Nam Sách nói riêng Tập trung theo các vấn đề cần nghiên cứu chủ yếu như sau:

Trang 13

4

- Giải pháp đưa được hoạt động sản xuất của làng nghề ra khỏi địa bàn dân cư

- Phải quy hoạch và thực hiện được quy hoạch đất đai đã quy hoạch làm cơ sở xây dựng làng nghề

- Nhà nước không hỗ trợ cho làng nghề về đổi mới công nghệ mà dùng kinh phí đó với kinh phí hỗ trợ xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn để xây dựng cụm sản xuất gắn với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường, cho cư dân làng nghề vào sử dụng miễn phí

- Trên cơ sở người dân không phải đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường, kinh phí

đó chuyển sang để đổi mới công nghệ của chính cơ sở sản xuất của họ, nâng cao chất lượng, giá thành sản phẩm

- Xử phạt các hộ hoạt động trong làng nghề gây ô nhiễm môi trường

Có được các vấn đề nêu trên là tất yếu để làng nghề phát triển bền vững

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu chung

Đề xuất chính sách xây dựng cụm sản xuất gắn với công nghệ xử lý ô nhiễm

môi trường để phát triển bền vững làng nghề

3.2 Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tiêu chung của đề tài luận văn đặt ra mục tiêu cụ thể như sau:

- Hệ thống hoá các khái niệm có liên quan đến đề tài, bao gồm: Cụm sản xuất, công nghệ, đổi mới công nghệ, chính sách, chính sách khoa học và công nghệ, ô nhiễm môi trường, xử lý ô nhiễm môi trường, công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường, làng nghề, phát triển bền vững

- Phân tích, đánh giá hiện trạng các làng nghề và công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề tại tỉnh Hải Dương, khảo sát sâu hơn về làng nghề Gốm Chu Đậu của huyện Nam Sách và làng nghề gỗ mỹ nghệ Đông Giao, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

- Đề xuất chính sách xây dựng cụm sản xuất gắn với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường

Trang 14

5

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Phạm vi không gian: Tỉnh Hải Dương

4.2 Phạm vi thời gian: Từ năm 2011 đến hết năm 2014

4.3 Giới hạn nội dung: Nghiên cứu hoạt động của các làng nghề thuộc tỉnh

Hải Dương, trong đó, khảo sát, nghiên cứu thực tế làng nghề Gốm Chu Đậu, huyện Nam Sách và làng nghề gỗ mỹ nghệ Đông Giao, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

7 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo: Xây dựng cụm sản xuất tách biệt khu dân

cư gắn với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường là tất yếu để phát triển bền vững làng nghề

Giả thuyết nghiên cứu cụ thể:

- Quy hoạch chi tiết diện tích đất gần các làng nghề để xây dựng cơ sở hạ tầng

- Không dùng ngân sách nhà nước để làng nghề đổi mới công nghệ, dùng một phần ngân sách xây dựng đường giao thông nông thôn để xây dựng cơ sở hạ tầng

gắn với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường (đảm bảo có công trình nhà xưởng,

việc cấp, thoát nước, hệ thống điện, vệ sinh môi trường tại cụm sản xuất)

- Cho phép các hộ dân làng nghề sử dụng miễn phí hạ tầng kỹ thuật của cụm sản xuất đã đảm bảo các yếu tố nêu trên

- Phạt vi phạm hành chính và thu phí môi trường đối với các hộ sản xuất trong làng nghề mà gây ô nhiễm môi trường;

- Các hộ dân làng nghề không phải chi cho việc xây dựng hệ thống hạ tầng, hệ thống cấp, thoát nước, hệ thống điện, vệ sinh môi trường, từ đó giá thành sản phẩm sẽ giảm, tính cạnh tranh thị trường sẽ cao, lợi nhuận tăng lên; kinh phí để xử

Trang 15

8 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu và kế thừa các kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, các học viên trước trong vấn đề phát triển làng nghề;

- Khảo sát thực tế tại làng nghề gốm Chu Đậu, huyện Nam Sách và làng nghề mộc Đồng Giao, huyện Cẩm Giàng

- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu:

+ Thu thập tài liệu của UBND tỉnh Hải Dương, Sở Tài nguyên - Môi trường,

Sở Công thương, Phòng Tài nguyên - Môi trường, Phòng Kinh tế - Hạ tầng, ; + Phân tích tài liệu;

9 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn bao gồm 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách, đổi mới công nghệ, làng nghề và môi

trường;

- Chương 2 Thực trạng các làng nghề trong tỉnh Hải Dương, giai đoạn 2011 - 2014;

- Chương 3 Hình thành chính sách xây dựng cụm sản xuất gắn với công nghệ

xử lý ô nhiễm môi trường

Trang 16

7

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ, MÔI TRƯỜNG, CHÍNH SÁCH, ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ

1.1 Cơ sở lý luận về làng nghề

1.1.1 Khái niệm làng nghề

Theo PGS, TS Bùi Xuân Đính, "Làng là đơn vị tụ cư truyền thống của người

nông dân Việt, có địa vực riêng, cơ cấu tổ chức, cơ sở hạ tầng, các tục lệ thờ cúng riêng (về cheo cưới, tang ma, khao vọng), tâm lý tính cách riêng và cả "thổ ngữ" (tiếng làng) riêng, hoàn chỉnh và tương đối ổn định trong quá trình lịch sử" 1

Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, "Làng là một khối người quây quần

ở một nơi nhất định trong nông thôn Làng là một tế bào của xã hội của người Việt,

là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng Đó là một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất"

Trong quá trình đô thị hóa, khái niệm làng được hiểu một cách tương đối Một

số địa phương hiện nay không còn được gọi là làng mà thay vào đó là những tên gọi khác như phố, khối phố Tuy nhiên, dù tên gọi là có thay đổi nhưng bản chất của cộng đồng dân cư đó vẫn gắn với nông thôn thì vẫn được xem là làng

Các làng ở nước ta được chia làm 4 loại chính:

- Làng thuần nông hay còn gọi là làng nông nghiệp, là những làng nghề nông một cách thuần túy

- Làng buôn bán, là làng làm nghề nông có thêm nghề buôn bán của một số thương nhân chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp

- Làng nghề, là làng làm nghề nông nghiệp nhưng có thêm một số nghề thủ công

1 Theo PGS, TS Bùi Xuân Đính, "Bàn thêm về mối quan hệ giữa làng và xã qua qui mô cấp xã thời phong kiến", NXB Thế Giới, 1998, tr 97.

Trang 17

8

- Làng chài, là làng của các cư dân làm nghề chài lưới, đánh cá sống ở ven sông, ven biển

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia2: "Làng nghề là một đơn vị hành

chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc làm Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương"

Tác giả Nguyễn Văn Đại, Trần Văn Luận cho rằng "Làng nghề là những làng

đã từng có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm".3

Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ NN & PTNT hướng dẫn thực hiện một số nội dung Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành

nghề nông thôn: "Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng,

buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau"

Như vậy, tên gọi "Làng nghề" được xuất hiện khá nhiều trên các phương tiện

thông tin đại chúng cả địa phương và trung ương, và những tác giả nêu trên cũng có cách nhìn nhận khác nhau

Trong luận văn này, khái niệm làng nghề được hiểu theo Quyết định số

13/2009/QĐ-UBND ngày 13/5/2009 của UBND tỉnh Hải Dương ban hành Quy định về việc công nhận làng nghề Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) tỉnh Hải Dương,

Trang 18

9

Tại Điều 2, Chương 1, Giải thích từ ngữ nêu rõ: "Làng nghề công nghiệp - tiểu

thủ công nghiệp (gọi tắt là làng nghề) là làng (thôn, khu dân cư) có ngành nghề sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển ở các hộ gia đình trở thành nguồn thu nhập cao của người dân trong làng"

1.1.2 Phân loại làng nghề

Làng nghề xuất hiện từ rất lâu đời (từ thời nhà Lê, nhà Lý) Các sản phẩm của

làng nghề phục vụ cho đời sống hàng ngày, đời sống tâm linh, cho việc học tập, cho đời sống văn hóa

Trên cơ sở tiếp cận vấn đề môi trường, phân loại làng nghề theo các kiểu dạng sau là phù hợp hơn cả

- Theo lịch sử hình thành và phát triển các làng nghề, có:

Làng nghề truyền thống: Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn: "Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề

truyền thống được hình thành từ lâu đời"

Làng nghề mới: Là làng có ngành nghề phát triển trong những năm gần đây, chủ yếu do sự lan tỏa từ làng nghề truyền thống hoặc do sự du nhập trong quá trình hội nhập giữa các vùng và giữa các nước

Ngay các làng nghề truyền thống cũng có sự đan xen giữa nghề mới và nghề truyền thống

- Phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm

Để có căn cứ cho việc đánh giá mức độ ô nhiễm tại các làng nghề, chúng ta cần xem xét một số khía cạnh như: Điều kiện lao động, những tác động, sự phát triển các làng nghề song song với thay đổi nguyên vật liệu và chất thải đầu ra dẫn đến sự vượt quá sức tải dùng cho việc phân huỷ chất thải

Theo cách phân loại này ta có làng nghề ô nhiễm nặng, làng nghề ô nhiễm trung bình và làng nghề ô nhiễm nhẹ

Trang 19

10

Hình 1.1: Sơ đồ đánh giá mức độ ô nhiễm tại các làng nghề

- Phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm

Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, nguyên vật liệu

có thể chia hoạt động làng nghề nước ta ra thành 6 nhóm làng nghề chính:

+ Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: Phần

nhiều sử dụng lao động lúc nông nhàn, không yêu cầu trình độ cao, hình thức sản xuất thủ công và gần như ít thay đổi về quy trình sản xuất so với thời điểm khi hình

Ô nhiễm nặng

Ô nhiễm trung bình

Ô nhiễm nhẹ

Có chất thải nguy hại vượt quá quy định

Có ít nhất một thông

số môi trường đặc trưng cho làng nghề cao hơn 5 lần TCCP

Có ít nhất một thông

số môi trường đặc trưng cho làng nghề

từ 2 đến 5 lần TCCP

Có ít nhất một thông

số môi trường đặc trưng cho làng nghề nhỏ hơn 2 lần TCCP

Trang 20

11

thành nghề

+ Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da: Nhiều làng có từ lâu đời, các sản phẩm mang tính lịch sử, văn hoá, mang đậm nét địa phương Quy trình sản xuất không thay đổi nhiều, với nhiều lao động có tay nghề cao

+ Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: Hình thành từ hàng trăm năm nay, tập trung ở vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu cơ bản cho hoạt động xây dựng Lao động gần như thủ công hoàn toàn, quy trình công nghệ thô sơ,

tỷ lệ cơ khí hoá thấp, ít thay đổi

+ Làng nghề tái chế phế liệu: Chủ yếu là các làng nghề mới hình thành, số lượng ít, nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế Ngoài ra các làng nghề cơ khí chế tạo và đúc kim loại với nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, sắt thép phế liệu cũng được xếp vào loại hình làng nghề này

+ Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Bao gồm các làng nghề gốm, sành sứ, thuỷ tinh mỹ nghệ; chạm khắc đá, chạm mạ bạc vàng; sản xuất mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài, làm nón, dệt chiếu, thêu ren Quy trình sản xuất gần như không thay đổi, lao động thủ công, nhưng đòi hỏi tay nghề cao, chuyên môn hoá, tỉ mỉ và sáng tạo

+ Các nhóm ngành khác: Bao gồm các làng nghề chế tạo nông cụ thô sơ như

cày bừa, cuốc xẻng, liềm hái, đóng thuyền, làm quạt giấy, dây thừng, đan vó, đan lưới, làm lưỡi câu Lao động phần lớn là thủ công với số lượng và chất lượng ổn định

Hình 1.2: Sơ đồ phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất

39%

4

%20%

17%

%

Thủ công mỹ nghệ Tái chế phế liệu Chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ Dệt nhuộm, thuộc da Các nghề khác Vật liệu xây dựng, khai thác đá

Trang 21

12

1.1.3 Các tiêu chí công nhận làng nghề

Làng nghề được công nhận (theo Thông tư 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn) phải đạt 03 tiêu chí sau:

(1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn;

(2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm

đề nghị công nhận;

(3) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước

Cụ thể hoá Thông tư của Bộ Nông nghiệp và PTNT, UBND tỉnh Hải Dương ban hành Quy định để công nhận làng nghề gồm:

(1) Chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; các quy định của chính quyền địa phương, có hình thức tổ chức phù hợp; phát triển ngành nghề gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng làng văn hóa của địa phương, giữ gìn vệ sinh môi trường

(2) Số hộ gia đình hoặc lao động làm nghề CN - TTCN ở làng đạt từ 25% trở lên so với tổng số hộ hoặc lao động của làng;

(3) Doanh thu từ sản xuất CN - TTCN ở làng chiếm tỷ trọng từ 30% trở lên so với tổng doanh thu của làng trong năm;

(4) Thu nhập bình quân năm của một lao động ở làng nghề sản xuất CN - TTCN phải cao hơn thu nhập bình quân của lao động trong xã từ 10% trở lên;

(5) Hoạt động sản xuất kinh doanh phải đảm bảo vệ sinh môi trường chung, nhất là về hệ thống thoát nước, hệ thống xử lý rác thải và nước thải

Các tiêu chuẩn trên của làng đạt ổn định từ 3 năm trở lên sẽ được Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét công nhận làng nghề

1.1.4 Vai trò của làng nghề

- Làng nghề TTCN là cơ sở xuất phát quan trọng đầu tiên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế

Các làng nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển sẽ thúc đẩy phân công lao động

xã hội ở nông thôn theo hướng CNH, HĐH; thu hút lao động dôi dư từ nông nghiệp

Trang 22

13

Đây là yếu tố, điều kiện quan trọng để CNH, HĐH của toàn bộ nền kinh tế

Trong tình trạng nền kinh tế phát triển thấp, các làng nghề TTCN sử dụng nguồn tài nguyên, lao động dồi dào ở nông thôn, khai thác nguồn vốn tự có trong dân, mở rộng sản xuất ở những ngành, nghề, khu vực chưa hoặc không thể cơ khí hoá được Nhờ vậy, giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động và tích luỹ vốn cho CNH, HĐH

Sự phát triển của làng nghề TTCN ở nông thôn góp phần tạo những yếu tố ban đầu, hình thành đội ngũ những người thợ, nhà quản lý… tạo đà cho CNH, HĐH tại địa bàn nông thôn Bên cạnh đó, người thợ sẽ áp dụng mạnh mẽ các tiến bộ khoa học, công nghệ vào việc cải tạo nghề truyền thống Xây dựng một nền thủ công hiện đại năng động, có khả năng cung ứng sản phẩm mỹ nghệ cho những nhu cầu thị hiếu mới, kể cả xuất khẩu Việc xuất khẩu những sản phẩm thủ công mỹ nghệ, sẽ phát huy lợi thế so sánh nước ta với các nước nhập khẩu, truyền bá văn hoá truyền thống, góp phần quảng bá du lịch; thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế

- Phát triển làng nghề TTCN là sự bảo tồn và phát triển công nghiệp cổ truyền trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thực tế hiện nay, các ngành nghề TTCN truyền thống sẽ diễn ra ba chiều hướng: một số nghề cổ truyền bị triệt tiêu dần và biến mất; một số nghề khác tiếp tục tồn tại, phát triển thích ứng với hoàn cảnh mới; và sẽ có một số nghề mới hình thành Các làng nghề TTCN tiếp tục tồn tại và duy trì mối quan hệ mật thiết với sản xuất công nghiệp theo quy mô lớn theo ba hướng:

Một là, các làng nghề sẽ hoạt động dựa trên việc sử dụng nguyên liệu, các

dụng cụ và trang thiết bị từ các nhà máy công nghiệp lớn để tổ chức sản xuất Thể hiện sự phân tầng trong sản xuất công nghiệp

Hai là, các làng nghề TTCN cung ứng các công cụ sản xuất, hoàn tất sản

phẩm công nghiệp, làm dịch vụ cho công nghiệp tại các nhà máy lớn, vai trò như nhà thầu phụ trong sản xuất công nghiệp

Ba là, các làng nghề TTCN hoạt động song song với nhà máy công nghiệp

lớn Các nhà máy chỉ xử lý nguyên liệu đến một khâu nhất định, sau đó chuyển

Trang 23

14

phần gia công cho ngành nghề thủ công tại các làng nghề; hoặc nhà máy thoả mãn nhu cầu hàng loạt, còn thợ thủ công sẽ đáp ứng cho nhu cầu riêng biệt cho từng công đoạn tạo sản phẩm Đây là xu thế cần định hướng phát triển trong tương lai, chính là sự phân công lao động xã hội chuyên môn hóa cao, TTCN trở thành công nghiệp phụ trợ, vệ tinh cho công nghiệp hiện đại

Do vậy, làng nghề TTCN tồn tại và phát triển là một tất yếu khách quan của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thông quá quá trình tồn tại và hoạt động góp phần lưu giữ, bảo tồn công nghệ truyền thống của Việt Nam trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới và khu vực

- Làng nghề đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới

+ Tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn:

Việc phát triển ngành nghề, làng nghề là hướng chủ yếu để tạo việc làm cho lao động nông thôn Với số lao động chưa đủ việc làm trong thời gian nông nhàn

(còn đến 35% thời gian lao động của nông dân), số lao động không còn việc làm

khi ruộng đất đã chuyển đổi mục đích sử dụng (phát triển công nghiệp và đô thị),…

sức ép về việc làm cho lao động ở nông thôn là rất lớn Các làng nghề sẽ là nơi thu hút lao động làm việc thường xuyên, ngoài ra, còn tận dụng được số lao động trên

và dưới độ tuổi, kể cả các trẻ em khuyết tật vào những công đoạn thích hợp

Làng nghề phát triển kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác, dịch

vụ khác, qua đó tạo thêm việc làm, thêm thu nhập cho dân cư nhiều vùng nông thôn, như nghề mây tre đan đã kéo theo sự phát triển những vùng trồng cây làm nguyên liệu; ngành chế biến lương thực, thực phẩm đã thúc đẩy ngành trồng trọt, chăn nuôi phục vụ cho chế biến

Sản xuất, kinh doanh ngày càng tăng, các dịch vụ như tín dụng, ngân hàng, các dịch vụ khoa học kỹ thuật phục vụ nâng cao năng suất lao động, dịch vụ về đời sống, cũng có thêm điều kiện phát triển, làm phong phú cuộc sống ở nông thôn + Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông thôn:

Phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề chính là con đường chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng chuyển từ lao động nông nghiệp

Trang 24

15

năng suất thấp, thu nhập thấp sang lao động ngành nghề có năng suất và chất lượng cao với thu nhập cao hơn

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, là việc đưa kinh tế nông thôn phát triển

cả về chất lượng và số lượng Đó là làm thay đổi cơ cấu sản xuất, lao động, sản phẩm, thu nhập…trong nông nghiệp Làng nghề TTCN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vì các lý do sau đây:

Một là, sự phát triển của các làng nghề TTCN làm cho tỷ trọng công nghiệp,

tiểu thủ công nghiệp tăng dần trong GRDP Như vậy, có thể xoá bỏ tình trạng độc canh cây lúa hoặc kinh tế thuần nông ở từng địa phương; làm tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hoá cho tiêu dùng, xuất khẩu, tăng thu nhập cho các tầng lớp dân cư, góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn

Hai là, Làng nghề TTCN cung cấp sản phẩm cho khu vực nông thôn, nông

nghiệp, đồng thời tạo vốn, phát triển ngành nghề Thu nhập từ các ngành phi nông nghiệp trong dân cư tăng nhanh; từ đó kích thích nông dân đầu tư vốn vào mở xưởng để làm TTCN Khi khối lượng sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng nhanh, thị trường mở rộng thì kinh tế dịch vụ phát triển Khi đó, cơ cấu kinh tế ở nông thôn chuyển dịch theo hướng tích cực

- Góp phần tạo vốn, đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp

Các làng nghề TTCN tạo ra những điều kiện ban đầu về nhân lực, vốn, thị trường cho CNH, HĐH Do tính chất đặc trưng của sản xuất "tiểu, thủ công nghiệp"

là quy mô nhỏ, công cụ lao động thủ công; với mức đầu tư không lớn, nên dễ dàng huy động các khoản vốn nhỏ nhàn rỗi trong dân, của hộ gia đình, trong họ hàng, và

đi vay từ các tổ chức tín dụng

Trong các làng nghề TTCN truyền thống thường có sự truyền nghề với những quy định khắt khe Ông tổ nghề là người có công đầu đưa kỹ thuật mới, công nghệ tiên tiến hơn từ nơi khác về địa phương, làm chấn hưng, phát triển nghề

Qua hoạt động công xưởng, người thợ thủ công được rèn thói quen, kỷ luật và phương pháp làm việc công nghiệp Theo đó từng bước hình thành thị trường lao động có tổ chức, cung ứng đủ về số lượng và chất lượng nhân lực cho công nghiệp

Trang 25

16

Đồng thời xây dựng và rèn luyện một đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất, chủ các doanh nghiệp vừa và nhỏ Sự lớn mạnh của các làng nghề TTCN đồng nghĩa với việc dần hình thành tầng lớp doanh nhân phát triển đủ sức đảm đương việc quản lý

và điều hành những xí nghiệp công nghiệp ở khu vực nông thôn

- Phát triển du lịch và tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa

Phát triển du lịch làng nghề là phát triển loại hình du lịch văn hóa chất lượng cao

Du lịch làng nghề khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ do lao động làng nghề làm ra, như là một đối tượng tài nguyên du lịch phục vụ cho việc tìm hiểu văn hóa, tham quan, vui chơi, giải trí Khách du lịch có thể trực tiếp xem và tham gia vào một số công đoạn sản xuất sản phẩm đặc trưng của làng nghề Du khách được tiếp cận với nét văn hóa, phong tục tập quán, cốt cách của người thợ ở từng vùng quê

Du lịch làng nghề được quảng bá và thị trường các sản phẩm của làng nghề được mở rộng sẽ nâng cao thu nhập của cư dân làng nghề, mang lại lợi ích kinh tế không nhỏ cho làng nghề và cho địa phương có làng nghề

Du lịch làng nghề thường được gắn chặt với du lịch tâm linh, du lịch sinh thái

và du lịch ẩm thực góp phần thúc đẩy sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng các làng nghề

Bên cạnh đó, các sản phẩm làng nghề còn góp phần quan trọng vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu mỗi quốc gia, hoặc địa phương

- Phát huy các giá trị văn hóa dân tộc

Làng nghề thủ công truyền thống còn là nơi lưu giữ kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú; là nơi biểu hiện cụ thể, sinh động bản sắc văn hóa Việt Nam Từ nhiều năm nay, sản phẩm thủ công mỹ nghệ đã tô đẹp thêm đời sống văn hóa và góp phần vào đời sống tâm linh của mỗi gia đình người Việt, đồng thời giới thiệu tinh hoa văn hóa Việt Nam với bạn bè khắp năm châu Một số sản phẩm cụ thể của Hải Dương duy trì và phát huy nét văn hóa quý báu đó như: Sản phẩm gốm Chu Đậu (Nam Sách) ở thế kỷ XIV-XV, vàng bạc Châu Khê (Bình Giang), Giầy dép da Tam Lâm (Hoàng Diệu, Gia Lộc)

Trang 26

Trong luận văn này, làng nghề gốm được hiểu là làng nghề sản xuất sản

phẩm gốm với một tỷ lệ số hộ gia đình, số lao động làm nghề nhất định, đem lại thu nhập chính của người dân trong làng

1.1.5 Phát triển làng nghề

1.1.5.1 Khái niệm về phát triển

Theo Triết học duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù Triết học chỉ khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp lên cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật

Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật Phát triển có các tính chất: tính phổ biến; tính đa dạng, phong phú; tính kế thừa; tính khách quan và tính phức tạp

Dưới góc độ kinh tế: Theo giáo sư Bùi Đình Thanh, một nhà xã hội học có uy tín trong giới nghiên cứu xã hội học thế giới: hiện nay khái niệm về phát triển vẫn còn tiếp tục là vấn đề tranh luận giữa các nhà nghiên cứu khoa học và hoạch định chính sách trên thế giới; qua nghiên cứu, ông khái quát lại khái niệm về phát triển

như sau: "Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân

tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên

và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ"

1.1.5.2 Khái niệm phát triển làng nghề

Phát triển làng nghề có thể được hiểu là sự tăng lên về quy mô của các loại hình tham gia sản xuất làng nghề, về số lượng các cơ sở sản xuất, các hộ sản xuất

Trang 27

18

nghề, đồng thời là sự tăng lên về giá trị sản lượng, về thu nhập của người lao động cùng với sự tăng lên về doanh thu của các cơ sở, hộ sản xuất ngành nghề và giữ vững sự ổn định, bền vững

Hay phát triển làng nghề cũng được hiểu như sau: Phát triển làng nghề là quá trình phát triển sản xuất kinh doanh của làng nghề nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng

và ngày càng phát triển của thế hệ hiện tại, mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của thế hệ tương lai

1.1.5.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề

- Nhân tố thị trường

+ Về nhu cầu thị trường: Nhu cầu thị trường là nhân tố chủ yếu tác động đến

sự hình thành, tồn tại và phát triển làng nghề Bởi vì sản phẩm làng nghề là hàng hoá, do đó phải được thị trường chấp nhận thì mới tiêu thụ được Trước hết, nhu cầu thị trường làm xuất hiện nghề và từ đó dần dần hình thành nên làng nghề Đối với các làng nghề, nhu cầu thị trường thay đổi yêu cầu sản phẩm làng nghề thay đổi phù hợp Điều này buộc các làng nghề phải thay đổi chủng loại sản phẩm hoặc thay đổi mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường và phải nâng cao sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường Nhu cầu thị trường càng lớn, càng bền vững thì việc sản xuất của các làng nghề càng ổn định và bền vững Làng nghề nào thích ứng với sự biến động của thị trường thì tồn tại và phát triển Ngược lại làng nghề nào không đáp ứng được sự thay đổi của nhu cầu thị trường thì sẽ bị mai một dần, có làng bị mất đi

+ Thị trường công nghệ: Được hình thành tự phát trên cơ sở các thiết bị công

nghệ truyền thống, một số người lao động, hộ thủ công đã tách ra chuyên sửa chữa, cải tiến một số công đoạn cho hiệu quả hơn Hoặc một số hộ có số vốn dồi dào chuyển sang buôn bán máy móc, thiết bị trong phạm vi làng Vì vậy, nhìn chung thị trường công nghệ nhỏ hẹp, chắp vá chưa đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa làng nghề Hiện nay có thể nói chưa có nhiều tổ chức nghiên cứu, cơ quan có thẩm quyền vào cuộc để nghiên cứu, giúp làng nghề thực hiện chuyển giao, tiếp nhận công nghệ hiện đại

Trang 28

19

+ Thị trường lao động: Được hình thành theo thời vụ, cơ cấu lao động trong làng nghề được phân hóa như sau: Lực lượng cơ bản nhất ở tại địa phương bao gồm lao động địa phương chuyên nghiệp; lao động địa phương bán chuyên nghiệp là những người trong gia đình tham gia khi công việc cần kíp hoặc công việc của hộ rỗi rãi; lao động làm thuê ở địa phương khác đến làm việc với tư cách đi học việc, như các ngành chạm, khắc, thêu, ren Thực tế hiện nay tại một số làng nghề, lao động chuyên nghiệp là những người trong độ tuổi trung niên hoặc là người đã lập gia đình, còn đối với lao động trẻ thì quan niệm nghề truyền thống của cha ông chỉ

là tạm thời

- Nhân tố vốn

Muốn tiến hành sản xuất yếu tố đầu tiên cần có là vốn, vốn là yếu tố vật chất đầu tiên, quyết định quy mô sản xuất của các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng nghề Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh khốc liệt trên thị trường đòi hỏi các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề phải có lượng vốn lớn đầu tư công nghệ, đổi mới trang thiết bị ở một số công đoạn sản xuất phù hợp để thay thế lao động thủ công, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu

mở rộng thị trường

Vốn tồn tại dưới hai hình thức: Vốn tài chính và vốn hiện vật, trong đó vốn tài chính trong làng nghề là tiền; còn vốn hiện vật tồn tại dưới hình thức vật chất của quá trình sản xuất trong làng nghề như cơ sở vật chất của các hợp tác xã thủ công trước kia, máy móc, nguyên liệu và đặc biệt còn có nguồn vốn phi vật chất là kinh nghiệm bí quyết nghề nghiệp

Cơ cấu nguồn vốn tại các làng nghề bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Về thu hút vốn đầu tư nước ngoài có thể nói ở làng nghề là rất ít, còn nguồn vốn trong nước bao gồm: Vốn tự có của các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng nghề được tích lũy lại; nguồn vốn tín dụng phi chính thức vây giữa các

hộ với nhau; nguồn vốn tín dụng chính thức vay từ các ngân hàng thương mại Hiện nay có một số làng nghề còn được nhận một khoản vốn vay ưu đãi được

Trang 29

20

trích ra từ các chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo, vốn của các tổ chức xã hội, đoàn thể

- Nhân tố khoa học công nghệ

Ngày nay khoa học công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, được xác định là động lực của CNH-HĐH, khoa học công nghệ là yếu tố quyết định

về chất để tăng năng suất lao động, quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng của mỗi quốc gia Công nghệ tiên tiến phù hợp với tiềm năng nguồn lực, trình độ vận dụng, khả năng quản lý sẽ là động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế nhanh, bền vững, nguồn khoa học công nghệ được biểu hiện trên nhiều mặt:

+ Trình độ người lao động, đội ngũ các nhà nghiên cứu;

+ Cơ sở vật chất tiến bộ phục vụ nghiên cứu, triển khai sản xuất;

+ Khả năng tiếp thu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ;

Có thể nói tất cả các làng nghề đều chưa đáp ứng được ba tiêu chí trên Đặc thù nghề thủ công truyền thống đòi hỏi công nghệ tùy thuộc từng công đoạn làm sản phẩm mà áp dụng cho phù hợp để hạn chế ảnh hưởng môi trường, tăng năng suất Công nghệ hóa sản xuất, giảm bớt tính chất lao động nặng nhọc nhưng phải đảm bảo tính độc đáo, tinh xảo của sản phẩm truyền thống

- Nhân tố nguồn nguyên liệu

Cũng như bất kỳ quá trình sản xuất, khối lượng, chủng loại nguyên vật liệu và khoảng cách giữa nguồn cung cấp nguyên liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, giá thành, lợi nhuận của các doanh nghiệp Nguồn nguyên liệu chính tại địa phương trong nước, đây chính là lợi thế của làng nghề Thị trường nguyên liệu không chính thức, phương thức thanh toán do hai bên tự thỏa thuận, phụ thuộc thời

vụ do tư thương cung cấp nên giá cả lên xuống theo mùa Sử dụng nguyên liệu đa dạng hoặc thay thế sẽ là xu hướng cần được quan tâm để làng nghề phát triển bền vững

- Vị trí địa lý

Số liệu thống kê cho thấy nhiều làng nghề phát triển đều nằm ở vị trí thuận lợi

về giao thông hoặc gần nguồn nguyên liệu Những vị trí như vậy thuận tiện trong

Trang 30

21

chuyên chở nguyên vật liệu, trao đổi và buôn bán sản phẩm, Đặc biệt là trước kia,

do điều kiện về giao thông chưa phát triển thì yếu tố “bến sông bãi chợ” luôn đóng vai trò chính trong việc vận chuyển, buôn bán của làng nghề

- Truyền thống làm nghề

Mỗi làng nghề truyền thống đều có những kinh nghiệm, kỹ thuật, thói quen nghề nghiệp, bí quyết riêng trong sản xuất, kinh doanh Những kinh nghiệm, kỹ thuật, thói quen nghề nghiệp, bí quyết này tạo nên nét độc đáo riêng của từng làng nghề và nằm trong tay các nghệ nhân, thợ giỏi, được truyền từ đời này sang đời khác để lưu giữ và phát triển nghề truyền thống tại địa phương Những yếu tố truyền thống giúp cho làng nghề giữ được những bí mật nghề nghiệp, làm cho sản phẩm của làng nghề có tính độc đáo, mang đặc trưng riêng của từng làng nghề Trên đây là một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển các làng nghề, các nhân tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong đó có những nhân tố có mặt tác động tích cực và có mặt tác động tiêu cực

1.1.5.4 Các tiêu chí đánh giá phát triển làng nghề

- Tiêu chí đánh giá phát triển làng nghề về kinh tế

Việc phát triển làng nghề đồng nghĩa với tăng năng suất lao động, gia tăng giá trị sản lượng, thu hút lao động vào ngành nghề phi nông nghiệp, nâng cao thu nhập, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thay đổi mô hình sản xuất tiêu dùng, thông qua:

+ Tăng năng suất lao động nhằm giảm chi phí, hạ giá giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm làng nghề Năng suất lao động phụ thuộc vào các yếu tố sau: + Thực hiện tốt công tác dạy nghề, truyền nghề trong làng nghề đảm bảo cho người lao động theo nghề có khả năng duy trì, bảo tồn các kỹ xảo truyền thống, tích lũy được kinh nghiệm, ngày càng thành thục, khéo léo

+ Có khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến vào một số công đoạn sản xuất nhưng vẫn đảm bảo sự tinh xảo, độc đáo của nghề truyền thống; gia tăng hàm lượng chất xám trong sản phẩm; tiết kiệm tiêu hao năng lượng, giảm bớt mức độ nặng

Trang 31

22

nhọc cho người lao động; nâng cao hiệu suất sử dụng tư liệu sản xuất; giảm bớt sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên trong quá trình sản xuất

+ Các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng nghề được trang bị các kiến thức

về xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm; tổ chức quản lý sản xuất khoa học và hiệu quả

Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn theo hướng CNH-HĐH Điều này thể hiện qua:

+ Tăng tỷ trọng công nghiệp - TTCN, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp; chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn; tạo ra một nền kinh tế đa dạng ở nông thôn

+ Gia tăng giá trị sản lượng, làm tăng giá trị sản phẩm hàng hóa, đóng góp đáng kể cho kinh tế địa phương

+ Góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển; kích thích sự ra đời và phát triển các ngành nghề liên quan mật thiết với nó như dịch vụ, thương mại, vận tải, thông tin liên lạc.v.v

+ Từng bước hình thành phố chợ sầm uất, các trung tâm giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hóa, dần dần tạo lập cụm dân cư với lối sống đô thị ngày một rõ nét, tiến đến đô thị hóa trở thành các thị tứ, thị trấn

- Tiêu chí đánh giá phát triển làng nghề về xã hội

Sự phát triển làng nghề sẽ tạo thêm việc làm, thu nhập ổn định cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng quỹ phúc lợi, nâng cao trình độ dân trí, xây dựng nông thôn mới, bảo tồn văn hóa vùng miền ở làng nghề, thông qua:

+ Tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động vào các ngành nghề phi nông nghiệp, nhất là lao động nông nhàn, tăng thêm thu nhập cho lao động nông thôn Giải quyết việc làm không chỉ trong làng nghề mà còn thu hút lao động các vùng lân cận, từ đó tạo ra động lực phát triển KT-XH địa phương

+ Tận dụng và thu hút nhiều loại lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi, hạn chế di cư từ vùng này sang vùng khác

Trang 32

23

+ Các làng nghề phát triển tạo ra nguồn tích lũy lớn và ổn định cho ngân sách

địa phương, từ đó đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn (hệ thống điện,

trường học, cấp thoát nước, ); tăng sức mua của người dân và thu hẹp khoảng cách

thành thị - nông thôn

+ Nâng cao học vấn của người dân, thể hiện trình độ dân trí văn minh cao hơn; góp phần xóa đói giảm nghèo; giải quyết tốt các vấn đề xã hội như văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe của người dân trong làng nghề, giảm tệ nạn xã hội…

+ Phát triển làng nghề gắn liền với bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc vì nó là sự kết tinh của lao động vật chất và lao động tinh thần, được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo của người thợ thủ công Giữ gìn và phát huy được tính đa dạng

và bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các hoạt động lễ hội hay hương ước của làng nghề

- Tiêu chí đánh giá phát triển làng nghề về môi trường

Tiêu chí đánh giá phát triển làng nghề về môi trường phải đảm bảo giảm thiểu tác hại ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất kinh doanh gây ra; có kế hoạch, quy hoạch khai thác, sử dụng tiết kiệm nguồn nguyên liệu; phòng ngừa, hạn chế các bệnh nghề nghiệp; thông qua:

+ Bảo vệ môi trường sống không bị ô nhiễm, hạn chế các bệnh nghề nghiệp + Gắn liền tái tạo tài nguyên, có ý thức nâng cao chất lượng môi trường sinh thái làng nghề

+ Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có kế hoạch, quy hoạch vùng nguyên liệu cho làng nghề Hoặc làng nghề phải nghiên cứu, hướng tới sử dụng nguyên liệu nhân tạo, đa dạng hóa, thay thế nguồn nguyên liệu

1.1.5.5 Khái niệm phát triển bền vững

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Phát triển bền vững là một khái niệm

mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù

Trang 33

24

kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó

Theo Tổ chức ngân hàng phát triển Châu Á (ADB): "Phát triển bền vững là

một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai"

Tác giả Bùi Đình Thanh, đăng trên Tạp chí Xã hội học (2003) với tiêu đề "Xã

hội học Việt Nam trước ngưỡng của thế kỷ XXI" tác giả cũng chỉ ra 7 nội dung cơ

bản về phát triển bền vững: Kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị, tinh thần, trí tuệ, văn hoá, vai trò phụ nữ và chỉ báo quốc tế

Trong luận văn này, Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được nhu

cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế

hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường

Phát triển bền vững làng nghề là phát triển của làng nghề đảm bảo hiệu quả

kinh tế, xã hội và không ô nhiễm môi trường Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường

1.1.5.6 Khái niệm cụm sản xuất

Theo định nghĩa của bách khoa toàn thư điện tử Wikipedia: Cụm có nghĩa là

một nhóm nhỏ, một tập hợp những vật cùng loại, có liên quan đến nhau Thuật ngữ

Cụm, còn được gọi là Cụm doanh nghiệp (business cluster), cụm cạnh tranh

(competitive cluster) lần đầu tiên được Michael Porter đưa ra trong cuốn The

Competitive Advantage of Nations (Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia) vào năm

1990 Michael Porter quan tâm đến cụm công nghiệp như là một hệ thống các ngành công nghiệp có liên quan đến nhau thông qua các mối quan hệ: người mua - người cung cấp và người cung cấp - người mua, hoặc thông qua công nghệ chung, những kênh mua hoặc phân phối chung, hoặc những khối thị trường lao động chung

Trang 34

25

Nhìn chung, nhiều tác giả đều mô phỏng về mô hình Cụm như sau:

Thứ nhất, về phạm vi địa lý và tầm quan trọng của sự gần gũi về không gian,

cụm một chỉnh thể kinh tế - xã hội nằm trên một khu vực địa lý, trong đó có một cộng đồng dân cư và các tổ chức kinh tế có sự liên kết với nhau về sản xuất, kinh doanh công nghiệp Do đặc thù của từng cụm mà mỗi cụm có những đòi hỏi về địa

lý khác nhau, tuỳ thuộc vào loại hình ngành nghề công nghiệp mà nó phát triển Do

đó, nơi có thể xây dựng các cụm là nơi:

- Đủ các nguồn lực và năng lực và đạt được ngưỡng yêu cầu nào đó,

- Có vị trí lợi thế cho hoạt động của một ngành kinh tế đã định,

- Có lợi thế cạnh tranh bền vững mang tính quyết định so với các khu vực khác, hay thậm chí là so với thế giới trong lĩnh vực đó

Thứ hai, các mối quan hệ tương tác và mối quan hệ chức năng giữa các hãng

và các ngành công nghiệp đã tạo ra các Cụm Cụm thể hiện sự tập trung về địa lý

của các ngành có liên quan theo hai mặt: liên quan theo chiều dọc - quan hệ phân phối, giữa những nhà sản xuất, và các nhà cung ứng, các dịch vụ; và liên quan theo chiều ngang - quan hệ trong cùng một ngành, dựa trên một điểm tương đồng nào đó dẫn đến việc có thể sử dụng chung một hệ thống cơ sở hạ tầng như có thể cùng chia

sẻ thị trường chung cho các sản phẩm cuối cùng, sử dụng cùng công nghệ hoặc kỹ thuật lao động, hoặc đòi hỏi những nguồn tài nguyên thiên nhiên giống nhau

Thứ ba, cộng đồng dân cư và các tổ chức kinh tế trong Cụm hướng mọi hoạt

động trong sự liên kết của mình để giành lợi thế cạnh tranh, nhằm đạt hiệu quả kinh

tế cao trong sản xuất kinh doanh Các tác nhân cơ bản thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các cụm bao gồm chuyển giao công nghệ, chuyển giao tri thức, sự phát triển của lực lượng lao động có tay nghề trong các ngành công nghiệp có liên quan, những lợi thế của công nghiệp tập trung, và hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội

Cụm sản xuất được hiểu trong luận văn như sau: Là khu sản xuất tách biệt

với khu sinh sống của dân cư làng nghề Đây là khu riêng biệt, được xây dựng để cho các hoạt động sản xuất của làng nghề

Trang 35

26

Cụm sản xuất gắn với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường theo Luận văn này gồm khu sản xuất tách biệt với kết cấu hạ tầng có công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường và được tập trung các hộ dân sản xuất làng nghề có thể liên quan đến nhau hoặc hoạt động sản xuất độc lập

1.2 Cơ sở lý luận về môi trường

1.2.1 Khái niệm môi trường

Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động

đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật

Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù

hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng tiêu cực đến con người và sinh vật

Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất

lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường

Xử lý ô nhiễm môi trường là việc loại bỏ các chất gây ô nhiễm trong môi

trường để môi trường đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật không gây ảnh hưởng tiêu cực đến con người và sinh vật

Công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường là sử dụng các phương pháp, giải pháp

kỹ thuật, công cụ để xử lý ô nhiễm môi trường

1.2.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường làng nghề

Ô nhiễm môi trường làng nghề là sự biến đổi của các thành phần môi trường

do hoạt động sản xuất làng nghề không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường

và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng tiêu cực đến con người và sinh vật

1.3 Cơ sở lý luận về chính sách

1.3.1 Khái niệm chính sách

Trong mục này, Luận văn sử dụng tuyển tập tài liệu của PGS, TS Vũ Cao Đàm, có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó có: Tiếp cận chính trị học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận

Trang 36

Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đổi xử của chủ thể quyền lực

hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phân biệt đối xử

đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó

Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm

được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra

Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời khắc

phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội)

Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một đòn ứng

phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thể quyền lực

hoặc chủ thể quản lý

Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa: Chính

sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc

chủ thể quản lỷ đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một sổ nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hưởng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội"

"Hệ thống xã hội" ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát, đó có thể là một

quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường,

Trang 37

Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các đạo luật,

pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức,

Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã

hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào

đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách

Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào

một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội Chẳng hạn, mục tiêu kinh doanh của

doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,

Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:

Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó trong một

cuộc chơi Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn thắng trong

cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng, không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau

Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất đồng

bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới Như vậy, quá trình làm chính sách thực chất là tạo ra những

Trang 38

29

bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này tới những bất đồng bộ khác

Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối ổn định, có nghĩa là không còn phát triển

Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những biến đổi xã

hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra Khái niệm "Mục tiêu biến đổi

xã hội" ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung lập, có thể là một biến

đổi "tốt đẹp" theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là "tồi tệ" theo một nghĩa nào đó 4

Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách, không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ có thể một vài cách tiếp cận trong đó

Định nghĩa của tác giả Luận văn: Từ những phân tích trên đây, Luận văn sử

dụng định nghĩa Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ

thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một sổ nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của

họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một

hệ thống xã hội

1.3.2 Chính sách khoa học và công nghệ

Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc (UNESCO):

"Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực hiện để nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN với mục tiêu đạt được mục đích quốc gia" Như vậy, theo định nghĩa này thì chính sách KH&CN trước hết là

tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN

Theo thông lệ chung chính sách KH&CN là những phương châm, điều lệ, qui định Đó là những nguyên tắc và qui tắc do một Nhà nước, một ngành, một cơ sở trong một thời kỳ nhất định và với một mục tiêu chiến lược nhất định, đặt ra nhằm

4

Vũ Cao Đàm (2012), Khoa học chính sách, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 39

30

phát triển KH&CN

Định nghĩa của tác giả Luận văn: Trên cơ sở chính sách mà Vũ Cao Đàm đã

định nghĩa, Luận văn đưa ra định nghĩa về chính sách KH & CN như sau:

Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chỉnh sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan quyền lực nhà nước hoặc cơ quan hành chỉnh nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về

KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Quốc hội và HĐND các cấp

Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Chính phủ và UBND các cấp

Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh:

Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp về KH&CN

Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các

đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt động KH&CN

Chính sách KH&CN phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và

nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN

Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói

trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế - xã hội nói

chung

1.3.3 Các loại tác động của chính sách

- Tác động dương tính của chính sách: Tác động dương tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách Tác động dương tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt tới

Tuy nhiên, sau khi thực hiện một chính sách, không phải khi nào cũng có tác động dương tính, mà còn có tác động âm tính Tác động âm tính xuất hiện là một yếu tố khách quan, vấn đề là chủ thể chính sách cần nhận diện đúng các tác động

Trang 40

31

này để không ngừng hoàn thiện chính sách

- Tác động âm tính của chính sách: Tác động âm tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại với mục tiêu của chính sách

- Tác động ngoại biên của chính sách: Tác động ngoại biên của chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự kiến của cơ quan ban hành và

cơ quan thực hiện chính sách

Trong tác động ngoại biên, có thể xuất hiện tác động ngoại biên dương tính và tác động ngoại biên âm tính Tác động ngoại biên dương tính, là loại tác động ngoại biên góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách

Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm thiểu hiệu quả của chính sách

1.4 Cơ sở lý luận về công nghệ và đổi mới công nghệ

1.4.1 Khái niệm công nghệ

Công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành và phát triển xã hội loài

người Từ "công nghệ" có gốc Hy Lạp, nó được ghép bởi tekhne có nghĩa là kỹ năng và logos có nghĩa là sự nghiên cứu Thuật ngữ technology trong tiếng Anh có

nghĩa là khoa học về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật Trong tiếng Việt, công nghệ thường được hiểu là quá trình tiến hành một công đoạn sản xuất, là thiết bị để thực hiện một công việc, do đó công nghệ thường mang nghĩa tính từ của thuật ngữ như: quy trình công nghệ, thiết bị công nghệ, dây chuyền công nghệ

Công nghệ là sản phẩm do con người tạo ra sử dụng làm công cụ để sản xuất

ra của cải vật chất Do sự phong phú của công nghệ trong thực tế nên có rất nhiều khái niệm về công nghệ

Theo quan điểm của UNIDO: "Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công

nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lí nó một cách có hệ thống

và phương pháp"

Theo quan điểm của ESCAP: "Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy

trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Công nghệ bao gồm kiến

Ngày đăng: 11/11/2016, 11:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ đánh giá mức độ ô nhiễm tại các làng nghề - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Hình 1.1 Sơ đồ đánh giá mức độ ô nhiễm tại các làng nghề (Trang 19)
Hình 1.2: Sơ đồ phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Hình 1.2 Sơ đồ phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất (Trang 20)
Hình 2.1: Biểu đồ số lƣợng các Làng nghề CN-TTCN trên địa bàn tỉnh - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Hình 2.1 Biểu đồ số lƣợng các Làng nghề CN-TTCN trên địa bàn tỉnh (Trang 47)
Hình 2.2: Biểu đồ phân bố làng nghề theo đơn vị hành chính cấp huyện - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Hình 2.2 Biểu đồ phân bố làng nghề theo đơn vị hành chính cấp huyện (Trang 48)
Hình 2.3: Tỷ trọng các làng nghề phân theo ngành nghề chủ yếu - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Hình 2.3 Tỷ trọng các làng nghề phân theo ngành nghề chủ yếu (Trang 49)
Bảng 2.2: Quy mô đầu tư vốn tại làng nghề tỉnh Hải Dương - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Bảng 2.2 Quy mô đầu tư vốn tại làng nghề tỉnh Hải Dương (Trang 53)
Bảng 2.4: Giá trị sản xuất của các làng nghề trên địa bàn tỉnh Hải Dương - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Bảng 2.4 Giá trị sản xuất của các làng nghề trên địa bàn tỉnh Hải Dương (Trang 55)
Hình 2.4: Trình độ lao động tại các làng nghề tỉnh Hải Dương - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Hình 2.4 Trình độ lao động tại các làng nghề tỉnh Hải Dương (Trang 60)
Bảng 2.6. Thống kê giao lưu văn hoá làng nghề tỉnh Hải Dương - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Bảng 2.6. Thống kê giao lưu văn hoá làng nghề tỉnh Hải Dương (Trang 61)
Hình 2.5: Thu nhập của các làng nghề - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Hình 2.5 Thu nhập của các làng nghề (Trang 62)
Hình 2.6: Xử lý ô nhiễm môi trường tại làng nghề tỉnh Hải Dương - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Hình 2.6 Xử lý ô nhiễm môi trường tại làng nghề tỉnh Hải Dương (Trang 64)
Hình 2.8. Quy trình sản xuất gốm - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Hình 2.8. Quy trình sản xuất gốm (Trang 70)
Hình 2.9. Phun sơn trong làng nghề gỗ mỹ nghệ - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Hình 2.9. Phun sơn trong làng nghề gỗ mỹ nghệ (Trang 73)
Hình 3.1:  Bản đồ quy hoạch sử dụng đất xã Thái Tân, huyện Nam Sách - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Hình 3.1 Bản đồ quy hoạch sử dụng đất xã Thái Tân, huyện Nam Sách (Trang 88)
Hình 3.2: Bản đồ quy hoạch sử dụng đất xã Nam Hƣng, huyện Nam Sách - Xây dựng cụm sản xuất gắn liền với công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững làng nghề (nghiên cứu trường hợp làng nghề gốm chu đậu, huyện nam sách, tỉnh hải dương)
Hình 3.2 Bản đồ quy hoạch sử dụng đất xã Nam Hƣng, huyện Nam Sách (Trang 89)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w