1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác xã hội trong việc phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở trẻ em lao động sớm (khảo sát trên địa bàn quận ba đình và hoàn kiếm, thành phố hà nội)

100 722 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu với đề tài “Công tác xã hội trong việc phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở trẻ em lao động sớm khảo sát trên địa bàn quận Ba Đìn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN MINH PHƯƠNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC PHÕNG NGỪA NGUY CƠ BỊ LẠM DỤNG TÌNH DỤC Ở TRẺ EM LAO ĐỘNG SỚM (KHẢO SÁT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN

BA ĐÌNH VÀ HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Bá Thịnh

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN MINH PHƯƠNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC PHÕNG NGỪA NGUY CƠ BỊ LẠM DỤNG TÌNH DỤC Ở TRẺ EM LAO ĐỘNG SỚM (KHẢO SÁT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN

BA ĐÌNH VÀ HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

Chuyên ngành : Công tác xã hội

Mã số : 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Bá Thịnh

Hà Nội – 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Công tác

xã hội, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, ủng hộ từ phía thầy cô, gia đình, bạn bè Qua đây, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến những người đã giúp tôi hoàn thành được luận văn này

Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Khoa Xã hội học, chuyên ngành Công tác xã hội của Trường Đại học KHXH&NV đã tạo điều kiện về cơ sở pháp lí, về văn bản, giấy tờ

có liên quan để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Hoàng Bá Thịnh đã trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện và chỉ dạy tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo của trường Đại học KHXH&NV - những bậc thầy, cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt hai năm học tập tại trường - những người đã truyền cho tôi những kiến thức quý báu giúp tôi có được nền tảng để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp

Tôi xin cảm ơn cô Nguyễn Thị Thu Hà - Trưởng ban Công tác xã hội-Quỹ

Da cam, Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và các anh, chị đồng nghiệp tại Cơ quan đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc thực hiện luận văn tốt nghiệp

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Gia đình tôi đã khích lệ và

hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn lớp CHCTXH 2013 đã mang đến cho tôi hai năm học tập Cao học CTXH với những tình bạn thật đáng nhớ

Hà Nội, tháng 6 năm 2016

Sinh viên

Nguyễn Minh Phương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu với đề tài “Công tác xã hội trong việc phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở trẻ em lao động sớm (khảo sát trên địa bàn quận Ba Đình và Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội)” do PGS.TS

Hoàng Bá Thịnh hướng dẫn này là của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong

luận văn này là trung thực và nguồn trích dẫn rõ ràng

Sinh viên

Nguyễn Minh Phương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 16

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 17

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 17

6 Phạm vi nghiên cứu 18

7 Câu hỏi nghiên cứu 18

8 Giả thuyết nghiên cứu 18

9 Phương pháp nghiên cứu 18

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 21

1.1 Các khái niệm liên quan được sử dụng trong đề tài: 21

1.1.1 Khái niệm Trẻ em lao động sớm hay Lao động trẻ em: 21

1.1.2 Khái niệm Công tác xã hội 23

1.1.3 Khái niệm Lạm dụng tình dục 24

1.1.4 Khái niệm nguy cơ 26

1.2 Một số lý thuyết Công tác xã hội được áp dụng trong nghiên cứu: 27

1.2.1 Lý thuyết về Sai lệch xã hội: 27

1.2.2 Lý thuyết phân tâm học 28

1.2.3 Lý thuyết can thiệp khủng hoảng 29

1.2.4 Liệu pháp tư duy 32

1.2.5 Thuyết hệ thống 33

1.3 Cơ sở thực tiễn 35

Tiểu kết 37

CHƯƠNG II: VẤN ĐỀ TRẺ EM LAO ĐỘNG SỚM Ở HÀ NỘI VÀ NGUY CƠ BỊ LẠM DỤNG TÌNH DỤC CỦA NHÓM TRẺ EM LAO ĐỘNG SỚM 38

2.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 38

2.2 Vài đặc điểm của mẫu khảo sát 40

Trang 6

2.3 Vấn đề lao động trẻ em 42

2.3.1 Thực trạng trẻ em lao động sớm ở Việt Nam hiện nay 42

2.3.2 Nguyên nhân của lao động trẻ em 49

2.3.2.1 Các nguyên nhân khách quan từ phía gia đình và xã hội 49

2.3.2.2 Các nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía trẻ em lao động sớm 53

2.3.3 Hậu quả của lao động trẻ em 55

2.4 Nguy cơ bị lạm dụng tình dục của nhóm trẻ em lao động sớm 56

2.4.1 Nhóm các nguy cơ khách quan 57

2.4.2 Nhóm các nguy cơ chủ quan xuất phát từ phía trẻ em lao động sớm 62

2.5 Trẻ em lao động sớm và hậu quả của nạn lạm dụng tình dục 66

Tiểu kết 67

CHƯƠNG III: THỰC HÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC PHÕNG NGỪA NGUY CƠ BỊ LẠM DỤNG TÌNH DỤC CHO TRẺ EM LAO ĐỘNG SỚM VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 68

3.1 Thực hành Công tác xã hội với trường hợp Trẻ em lao động sớm bị lạm dụng tình dục 69

3.1.1 Giới thiệu trường hợp khách hàng 69

3.1.2 Tiếp cận và bước đầu xác định vấn đề của khách hàng 71

3.1.3 Đánh giá trường hợp của khách hàng 74

3.1.4 Can thiệp 79

3.1.5 Lượng giá 84

3.1.6 Kết luận 84

3.2 Đề xuất các giải pháp có sự can thiệp của Công tác xã hội nhằm giúp đỡ Trẻ em lao động sớm ngăn ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục 85

3.2.1 Các giải pháp truyền thông nâng cao trình độ nhận thức của xã hội, của cộng đồng và trẻ em trong việc phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở Trẻ em lao động sớm 86

3.2.2 Đề xuất các giải pháp về mô hình hoạt động có sự can thiệp của Công tác xã hội nhằm giúp đỡ nhóm Trẻ em lao động sớm phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục 87

Trang 7

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89

1 Kết luận 89

2 Khuyến nghị 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Mô hình trị liệu can thiệp khủng hoảng của Naomi Golan 30

Bảng 2.1: Đặc điểm khách thể nghiên cứu 40

Bảng 2.2: Thời gian làm việc của trẻ lao động sớm 44

Bảng 2.3: Thu nhập của trẻ em lao động sớm tại Hà Nội năm 1998 46

Bảng 2.4: Thu nhập của trẻ em lao động sớm tại Hà Nội năm 2010 46

Bảng 2.5: Thái độ của chủ sử dụng lao động đối với TE LĐS 47

Bảng 2.6: Các kênh thông tin TE LĐS sử dụng tìm hiểu về vấn đề giới tính 63

Bảng 2.7: Phản ứng của TE LĐS khi có những dấu hiệu bị LDTD 64

Bảng 3.1 Quá trình nhập cuộc với khách hàng 72

Bảng 3.2: Bảng phân tích tác động của các yếu tố nội – ngoại lực 76

tới trường hợp của em B 76

Bảng 3.3.Can thiệp trực tiếp với trường hợp TE LĐS bị LDTD 80

Trang 9

BV, CS& GD TE Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

LĐ – TB&XH Lao động, thương binh và xã hội

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự sống mà tạo hóa ban cho con người thật quý giá và thiêng liêng, ai cũng khát vọng được yêu thương, che chở từ nhiều phía, đặc biệt là trẻ em- lứa tuổi “như búp trên cành” càng cần có sự chăm sóc và quan tâm đặc biệt chu đáo của toàn xã hội Một trong nhưng khẩu hiệu hành động của một số quốc gia có nền kinh tế, chính trị xã hội phát triển tốt đẹp là “Hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em” Thế nhưng, vì một lý do nào đó, có những đứa trẻ ngày ngày phải thức khuya dậy sớm, làm những công việc cực nhọc của người lớn, chỉ đổi lại cuộc sống mưu sinh

Các em được gọi chung bằng cái tên: “Trẻ em lao động sớm” Số liệu nghiên cứu

của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong những năm gần đây cho biết có khoảng hơn 370 triệu trẻ em lao động sớm trên khắp thế giới, và 3/4 trong số đó đang sống

ở châu Á Hiện tượng trẻ em lao động sớm là một vấn nạn toàn cầu, nó đi ngược lại hoàn toàn với những nỗ lực chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em của bất cứ một quốc gia, một dân tộc nào Trẻ em lao động sớm ngoài việc đánh đổi tuổi thơ với những nhọc nhằn mưu sinh còn rất dễ trở thành nạn nhân của sự bóc lột, sự lạm dụng tàn tệ, mà lạm dụng tình dục chỉ là một trong rất nhiều những hình thức đó Trong số hơn 370 triệu trẻ em lao động sớm hiện nay, không ít trẻ đã từng hoặc đang bị lạm dụng tình dục.[32]

Hiện tượng trẻ em lao động sớm mà đặc biệt là trẻ em lao động sớm bị lạm dụng tình dục đang diễn tiến ngày một nghiêm trọng hơn và thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại

Ngày nay, Việt Nam đã phát triển vượt bậc trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Thành phố Hà Nội cũng không nằm ngoài sự phát triển đó, Hà Nội đã và đang khẳng định vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp xây dựng

và phát triển đất nước giàu mạnh hơn Thế nhưng, lại có một thực tế đáng buồn khác, ở Hà Nội ngày nay, không khó để bắt gặp hình ảnh của những đứa trẻ tham gia lao động kiếm sống từ rất sớm Theo nguồn số liệu thống kê của Sở LĐTBXH

Hà Nội từ năm 2008, có 314 trẻ em lao động sớm (bao gồm: 229 nữ, 85 nam) ở 9/14 quận, huyện của thành phố [25] Các em (chủ yếu là từ 6 - dưới 16 tuổi) tham

Trang 11

gia những công việc như: Giúp việc gia đình, phụ việc trong các cơ sở kinh doanh nhà hàng, tham gia sản suất, đánh giày, nhặt phế liệu, bán hàng rong Số liệu này đến nay, với tình hình kinh tế phát triển như Hà Nội hiện tại chắc chắn đã tăng cao lên rất nhiều

Những đứa trẻ này đang ngày ngày phải đối mặt với nguy cơ bị lạm dụng tình dục Điều đó đã đặt ra một câu hỏi nhức nhối cho các nhà nghiên cứu, quản lý

và làm công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đó là làm sao để có thể giúp trẻ em lao động sớm phòng ngừa nguy cơ này ngay từ đầu? Đây cũng gợi ra nhiều hướng nghiên cứu liên ngành cần được giải đáp trên bình diện khoa học, cả về lý luận và thực tiễn

Công tác xã hội ngày càng được nhiều người biết đến như một khoa học, một nghề mang tính chuyên nghiệp cao ở nhiều quốc gia trên thế giới, và đặc biệt là ở Việt Nam Bằng việc thiết lập mối quan hệ gần gũi, mặt đối mặt giữa Nhân viên Công tác xã hội với (nhóm) khách hàng, CTXH chú trọng đến công tác phòng ngừa, vận dụng năng lực của khách hàng cũng như các nguồn tài nguyên của cộng đồng nhằm giúp khách hàng phát huy nội lực để có thể tự giải quyết những vấn đề đang gặp phải

Với nhóm đối tượng là trẻ em lao động sớm, CTXH hướng tới việc giúp đỡ các em phòng ngừa các nguy cơ bị lạm dụng, bị bóc lột cả về thể chất lẫn tinh thần

mà trong đó có nguy cơ bị lạm dụng tình dục

Chính vì tính chất thời sự mà chủ đề nghiên cứu đã nêu, đề tài luận văn

“Công tác xã hội trong việc phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở trẻ lao

động sớm” (Khảo sát trên địa bàn 2 quận Ba Đình và Hoàn Kiếm, thành phố Hà

Nội) được tiến hành với mục tiêu nghiên cứu thực trạng trẻ em lao động sớm trên

địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay; từ đó phân tích những yếu tố nguy cơ dẫn đến tình trạng trẻ em lao động sớm dễ bị lạm dụng tình dục và đề xuất các giải pháp, các

mô hình có sự can thiệp của CTXH nhằm giúp đỡ các em phòng ngừa nguy cơ này

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Việc lựa chọn một chủ đề nghiên cứu còn khá mới mẻ làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn tốt nghiệp đã khiến cho việc tìm kiếm các nguồn tài liệu đề cập trực

Trang 12

tiếp tới vấn đề phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở trẻ lao động sớm là vô cùng khó khăn Tuy nhiên trên cơ sở tổng hợp các nguồn tài liệu và dựa vào mục đích nghiên cứu đã đề ra, người viết xin đưa ra một số nghiên cứu đã tiến hành có liên quan đến đề tài nghiên cứu trong Luận văn như sau:

2.1 Nghiên cứu về Lao động trẻ em – Trẻ lao động sớm:

Lao động trẻ em luôn được xem là một hiện tượng xã hội đặc biệt, có lịch sử tồn tại lâu đời trong xã hội loài người Tuy nhiên, có thể nói rằng vấn đề lao động Trẻ em chỉ thực sự được quan tâm một cách xác đáng từ những năm giữa thế kỷ XX

Trong bộ tác phẩm “ Tư bản ” - 1976 nổi tiếng của mình, Karl Marx đã

dành hẳn 5 chương (từ chương VIII đến chương XIII của tập I) để phân tích hiện tượng Lao động trẻ em Theo tác giả Nguyễn Văn Chính thì quan điểm của Karl Marx về vấn đề Lao động trẻ em có hai khía cạnh đáng chú ý đó là: (1) vị trí của Lao động trẻ em đối với quá trình tái sản xuất sức lao động trong thị trường lao động tư bản chủ nghĩa; và (2) sự lạm dụng, bóc lột sức lao động của trẻ em Karl Marx cho rằng nguyên nhân khiến trẻ em lao động sớm không phải do bản thân trẻ quyết định mà chính là do sự phát triển ngày càng lớn mạnh của hệ thống tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên có thể thấy rằng, khi nghiên cứu vấn đề này, Karl Marx mới chỉ dừng lại ở khía cạnh tiếp cận của kinh tế học đơn thuần mà chưa xem xét đầy đủ nguyên nhân sâu xa của vấn đề Lao động trẻ em gắn liền với một phức hợp các yếu

tố liên quan như: dân số học, xã hội học, tâm lý học, …

Hai chuyên gia của tổ chức Lao động quốc tế ILO, A Fyfe và M Jankanish

trong cuốn sách “Trade Unions and Child Labour” – 1997 đã cho chúng ta có được

một cái nhìn khái quát về hiện tượng Lao động trẻ em hiện nay trên thế giới Theo

A Fyfe và M Jankanish thì Trẻ em lao động sớm hoàn toàn khác với Trẻ em lao động vài giờ để kiếm thêm tiền tiêu vặt Trẻ lao động sớm là một trong những nguồn thu nhập chính của gia đình Các em phải làm việc nhiều giờ trong ngày dưới những điều kiện nguy hiểm, gây tổn hại nghiêm trọng tới sức khỏe, tinh thần và thể chất của chính các em Trẻ lao động sớm luôn phải đối mặt với hàng loạt các nguy

cơ, trong đó phải kể đến nguy cơ bị lạm dụng, bị bóc lột cả về thể chất lẫn tình dục Góp phần giải quyết triệt để vấn đề Lao động trẻ em, các tác giả đã đưa ra vai trò

Trang 13

của tổ chức Công Đoàn, coi đó là cầu nối giữa chính quyền và xã hội nhằm chung tay giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất Thông qua các ví dụ cụ thể về mô hình hoạt động của các Công Đoàn khác nhau ở một vài nước như: Mỹ, Brazil, Bangladesk, Tanzania…, các chuyên gia đã đề xuất một khung lý thuyết mô tả 10 hoạt động trọng tâm cần có của bất cứ một Công Đoàn nào như: điều tra tình hình,

mở rộng các chính sách hỗ trợ, nâng cao nhận thức cho cộng đồng và bản thân trẻ lao động sớm… nhằm phát huy vai trò tham gia của Công Đoàn trong hoạt động ngăn chặn, đẩy lùi hiện tượng Lao động trẻ em đang ngày một trở nên nhức nhối như hiện nay

Ở Việt Nam, trong khoảng gần hai mươi năm trở lại đây đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề Trẻ em lao động sớm hay Lao động trẻ em Tuy nhiên các nghiên cứu này còn hạn chế về mặt quy mô cũng như nội dung còn

có sự phân tán

Đáng chú ý nhất phải kể đến công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Ngọc

Bình Trong cuốn “Vấn đề Lao động trẻ em” – 1997, tác giả đã khái quát toàn cảnh

bức tranh Lao động trẻ em bằng việc đưa ra các số liệu thống kê thực tế trong nước

cũng như trên thế giới Theo ông, “lao động trẻ em là một vấn đề rộng lớn và phức

tạp” Ở nước ta, vấn đề này chịu tác động và ảnh hưởng trực tiếp từ các yếu tố

nguyên nhân như: quan niệm và truyền thống của cư dân nông nghiệp; từ sự tăng trưởng kinh tế và sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội hiện nay Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bên cạnh những thay đổi tích cực cho diện mạo của đất nước vẫn có một bộ phận không nhỏ trẻ em, dưới tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường phải tham gia lao động kiếm sống từ rất sớm, bằng nhiều nghề khác nhau Thông qua việc chỉ ra một số loại hình lao động trẻ em cơ bản, tác giả cho rằng hầu hết các em đều phải sống cuộc sống vô cùng thiếu thốn, các em thất học và mù chữ là phổ biến; trẻ lao động sớm cũng rất dễ trở thành mục tiêu của sự lạm dụng Chính vì vậy phải chấm dứt vấn đề lao động bóc lột và độc hại đối với trẻ em

Cuốn “Về khả năng tái hòa nhập với gia đình của trẻ em lang thang và trẻ

em lao động” do tác giả Đỗ Ngọc Hà và bà Barbara Franklin thực hiện đã miêu tả

Trang 14

chi tiết công trình nghiên cứu về trẻ em lang thang và trẻ em lao động mà Viện Nghiên cứu Thanh niên phối hợp với tổ chức Radda Barnen triển khai năm 1999 Mục tiêu chính của nghiên cứu đó là: thu thập thông tin về các chuẩn mực, quan niệm, thái độ của trẻ em và gia đình chúng, các yếu tố tác động đến sự ra đi của trẻ lao động kiếm sống; từ đó, nghiên cứu cũng đề xuất các khuyến nghị chung nhằm

hỗ trợ, giúp đỡ các em trở về hòa nhập với gia đình Nghiên cứu đặc biệt làm rõ các yếu tố tác động tới quyết định ra đi tìm việc kiếm sống của trẻ, trong đó đáng kể nhất vẫn là nguyên nhân nghèo đói Không chỉ vậy, cuộc sống lao động cực khổ còn khiến các em có những trải nghiệm không mấy dễ chịu Hầu hết các em đều rất sợ

bị bắt cóc và bị lạm dụng tình dục, nhất là bị lừa bán Thông qua các câu chuyện được trích dẫn trực tiếp, nghiên cứu đã cho chúng ta một cái nhìn chân thực về Trẻ em lao động kiếm sống

Tác giả Bùi Ngọc Thanh – nguyên phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội

của Quốc hội đã có bài phát biểu “Về vấn đề lao động trẻ em” tại Hội thảo các đại

biểu Quốc hội về Quyền trẻ em, tháng 4-1998 Ảnh hưởng của nền kinh tế thị

trường, của áp lực về dân số và nguồn lao động, của sự sùng bái và ngộ nhận về sức mạnh đồng tiền, của những biến cố gia đình…, đã khiến rất nhiều em nhỏ ở độ tuổi

10 – 14 phải làm việc với tư cách là một lao động kiếm sống cho mình và cho gia đình Theo ý kiến của tác giả Bùi Ngọc Thanh thì có ba nhóm giải pháp cần thiết để giải quyết vấn đề Lao động trẻ em một cách căn bản và hiệu quả, đó là: (1)gia đình

và xã hội phải cùng có trách nhiệm với trẻ; (2)cần có luật pháp, chính sách đặc biệt

ưu tiên nhằm giúp đỡ nhóm trẻ này; và (3)tuyên truyền, vận động chăm sóc, bảo vệ

và giáo dục cho trẻ lao động kiếm sống

Trong bài viết “Lao động của trẻ em trong nền kinh tế quá độ ở Việt Nam”,

không đi sâu vào thu thập số liệu, phân tích thực trạng lao động trẻ em, nhưng tác giả Nguyễn Văn Chính đưa đến cho chúng ta một khung lý thuyết khá đầy đủ để nghiên cứu, phân tích hiện tượng này, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế quá độ nước ta hiện nay Tác giả đã chỉ ra một số lý luận thường được áp dụng vào nghiên cứu vấn đề lao động trẻ em trên thế giới như: dựa trên cách tiếp cận dân số học về lao động trẻ em hay học thuyết tân kinh tế cổ điển, học thuyết kinh tế hộ gia đình, lý

Trang 15

thuyết cấu trúc xã hội…Đi sâu phân tích sự biến đổi cấu trúc nền kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời kì quá độ từ bao cấp sang kinh tế thị trường để thấy được những tác động tiềm tàng đối với vấn đề Lao động trẻ em, tác giả đã rút ra một kết

luận quan trọng: “…chúng ta không thể chỉ tiếp cận và phân tích lao động trẻ em

như là một hiện tượng kinh tế thuần túy mà còn đòi hỏi phải hiểu được những ý nghĩa của việc làm của chúng từ những ràng buộc của các nền tảng đạo đức, văn hóa và xã hội”

Cùng đề cập tới một khía cạnh của vấn đề Lao động trẻ em, tác giả Chu

Mạnh Hùng với bài viết: “Vấn đề trẻ em gái giúp việc gia đình tại các thành phố

lớn” đã nêu bật một trong những nguyên nhân cơ bản của hiện tượng trẻ em gái ở

nông thôn nghỉ học từ rất sớm và đi làm thuê cho các gia đình ở thành phố hiện nay chính là do sự phát triển không đồng đều về tất cả các mặt kinh tế - văn hóa – xã hội giữa các vùng khác nhau trong cả nước Trẻ em gái giúp việc thường xuất thân từ những gia đình, những vùng quê còn khó khăn Các em chấp thuận làm thuê để đổi lại thu nhập nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình Mặt hạn chế của bài viết đó là tác giả chỉ mới nêu lên hiện tượng chứ chưa đề cập tới những hậu quả mà các em gái có thể gặp phải là gì Liệu các em có nguy cơ trở thành nạn nhân của sự lạm dụng hay không vẫn còn là điều bị bỏ ngỏ

Tác giả Nguyễn Đức Chiện và tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy trong bài

viết: “Trẻ em tham gia lao động ở gia đình nông dân hiện nay” – 2005 trên báo

Khoa học về Phụ nữ, thông qua việc khảo sát sự chênh lệch về kinh tế - văn hóa - xã hội ở ba xã nông thôn là xã An Hưng – Hải Phòng, Mỹ Hòa – Cao Lãnh – Đồng Tháp và Gio Châu – Đông Hà – Quảng Trị đã rút ra kết luận về sự khác biệt mức độ tham gia lao động của trẻ em ở mỗi cộng đồng này Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ở đâu mức sống của người dân còn thấp, điều kiện cơ sở hạ tầng còn thấp kém, trình

độ học vấn của người dân chưa cao… thì ở đó, tình trạng trẻ em phải bỏ học giữa chừng để tham gia lao động càng phổ biến hơn

Tác giả bài viết “Trẻ em lao động sớm – Tương lai về đâu?” - 04/06/2004, được đăng tải trên trang web tintuc.xalo.vn đã bày tỏ mối quan tâm, lo ngại cho

tương lai của những đứa trẻ phải lao động kiếm sống từ khi còn quá nhỏ Theo tác

Trang 16

giả, “trong điều kiện đi làm thuê, các em không được bảo đảm công việc lao động

phù hợp với lứa tuổi, điều kiện lao động độc hại hoặc thời gian lao động kéo dài”

và “…vì phải làm việc xa nhà, các em dễ bị lôi kéo vào tệ nạn xã hội, dễ bị lợi

dụng, lừa gạt vào hoạt động mại dâm hoặc bị mua bán qua biên giới” Một nghiên

cứu mà Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em đã tiến hành tại 3 địa phương: Hà Nội, Thái Nguyên và Hà Nam cho biết hầu hết trẻ em lao động sớm đều cho rằng chúng

đã đóng góp được khoảng từ 10% - 50% vào thu nhập của gia đình Nghèo đói là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng các gia đình buộc con cái mình ra thành phố kiếm sống mà không cần biết chúng phải đối mặt với những nguy hiểm gì Cũng theo tác giả, ở Việt Nam hiện nay, vấn đề Trẻ em lao động sớm còn tồn tại nhiều ý kiến trái chiều Có nhiều người cho rằng, nếu để trẻ em lao động vừa sức và phù hợp với lứa tuổi thì có thể coi đây là một hoạt động lành mạnh nhằm giáo dục trẻ Qua bài viết, tác giả đề nghị cần phải nghiên cứu một cách sâu sắc vấn đề Trẻ em

lao động sớm Làm sao “…để lao động trẻ em đáp ứng được quyền và lợi ích của

bản thân trẻ, không gây tổn thương tới sự phát triển toàn diện của nhân cách của trẻ…” ??? là một câu hỏi cần sự quan tâm của toàn xã hội

Tác giả Trần Thị Thanh Hương trong bài viết “Lao động trẻ em - Không

phải ngẫu nhiên”, được đăng tải trên trang web vdcs.socbay.com đã khẳng định ở

Việt Nam hiện nay, lao động trẻ em đang trở thành một vấn nạn nặng nề, khi mà khủng hoảng kinh tế ngày càng đè lên vai các em gánh nặng mưu sinh Hầu hết trẻ

em lao động sớm đều phải bỏ học giữa chừng Thiếu hiểu biết, thiếu kỹ năng sống… nên các em dễ bị lạm dụng tình dục và phải đối mặt với nguy cơ mắc AIDS cao hơn Tác giả cũng đưa ra một vài ví dụ về nỗ lực nhằm đẩy lùi tình trạng Lao động trẻ em trên thế giới trong gần một thế kỷ qua Các nỗ lực này đều tập trung vào những vấn đề như: cải thiện điều kiện làm việc, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em lao động sớm, dạy nghề, dạy kỹ năng sống…và quan trọng nhất đó là giữ các em ở lại trường học Chỉ có như vậy chúng ta mới bảo vệ được các em

Cuốn “Trẻ em làm thuê giúp việc gia đình ở Hà Nội” do Tổ chức Cứu trợ trẻ

em của Thụy Điển (Save the Children Sweden) cộng tác với Khoa Tâm lý học (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội) thực

Trang 17

hiện năm 2000 Đối tượng nghiên cứu tập trung vào nhóm trẻ giúp việc gia đình tại

Hà Nội, nhằm tìm hiểu nguyên nhân, đặc điểm và ảnh hưởng của lao động tới sự phát triển cá nhân của trẻ cũng như mô tả mối quan hệ xã hội của trẻ tại nơi làm việc Nghiên cứu này được tiến hành bằng sự kết hợp sử dụng các phương pháp định lượng (dùng bảng hỏi), định tính (phỏng vấn sâu 20 trường hợp, trong đó có 05 trường hợp phỏng vấn gia chủ và 15 trường hợp trẻ em) và phân tích tư liệu Qua đó

đã đưa đến cho chúng ta góc nhìn cơ bản về tình trạng của trẻ em làm thuê giúp việc các gia đình trên địa bàn Hà Nội cùng các đặc điểm về gia đình, lứa tuổi, trình độ học vấn và chỉ ra một số đặc điểm về phẩm chất tâm lý của trẻ em giúp việc Từ đó, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra được những khía cạnh về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, quyền học tâp của trẻ em giúp việc làm căn cứ đưa ra một số giải pháp kiến nghị đối với việc nâng cao nhận thức về quyền trẻ em

Nhìn chung, các nghiên cứu về Lao động trẻ em/ Trẻ em lao động sớm mới chỉ đề cập nhiều tới thực trạng tình hình Lao động trẻ em; đi sâu phân tích ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố kinh tế tới vấn đề này và đề xuất những giải pháp chung góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự tiếp diễn – có thể là trầm trọng hơn - của tình trạng trẻ em lao động sớm như hiện nay Hầu như chưa có tác giả và nghiên cứu chuyên biệt nào tiến hành đề tài phân tích những nguy cơ mà trẻ em lao động sớm có thể gặp phải và đặc biệt là nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở Trẻ lao động sớm cũng như hậu quả mà các em phải đối mặt lại càng hiếm Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể có được cái nhìn nhanh nhạy về vấn đề luận văn quan tâm từ những tin tức, vụ việc về lạm dụng tình dục ở trẻ em lao động sớm qua các bài viết, tin nhanh trên báo chí

2.2 Nghiên cứu về lạm dụng tình dục ở trẻ em

Tác giả Grandy Ron’’O, chuyên gia của tổ chức ECPAT – một tổ chức hoạt động vì mục tiêu chống nạn lạm dụng tình dục ở trẻ em vào những năm 1990

tại Thái Lan, đã viết trong cuốn sách “Lạm dụng tình dục ở Trẻ em – nỗi phẫn uất

của cộng đồng/ The rape of innocent”: có một cái gì đó rất nghiêm trọng đang xảy

ra trong xã hội châu Á Và điều nghiêm trọng ấy chính là nạn lạm dụng tình dục trẻ

em Cuốn sách của Grandy Ron’’O là bức tranh miêu tả sắc nét thực tế đáng sợ mà tất cả chúng ta buộc phải thừa nhận, hàng nghìn trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái trên

Trang 18

khắp châu Á đang trở thành nạn nhân của vấn nạn Lạm dụng tình dục Hầu hết các câu chuyện mà Grandy Ron’’O phơi bày trong cuốn sách của mình đều là những câu chuyện chân thật về những đứa bé nghèo, bị lừa, bị bán vào các ổ mại dâm Từ Mianma cho tới Thái Lan, từ Ấn Độ sang đến Pakistan, Bangladesh, từ Philipin cho đến Trung Quốc, Hồng Kông, Ma cao… trong bất kỳ một nhà chứa nào, chúng ta cũng có thể bắt gặp hình ảnh của những đứa trẻ đang bị ép phải bán thân, phải trở

thành gái mại dâm trong những “sex tour”, phải trở thành đồ chơi trong những cuộc

vui xác thịt của người lớn… Cái kết chung cho những đứa trẻ bị lạm dụng tình dục nếu không phải là HIV/ AIDS thì cũng là sự tàn phế suốt đời về tâm lý, tinh thần Trẻ em bị lạm dụng tình dục hầu như không có cơ hội để trở về với cuộc sống bình thường như bao trẻ em khác Thông qua cuốn sách, Grandy Ron’’O còn gửi tới chúng ta một thông điệp đáng trân trọng: hãy cứu lấy những đứa trẻ này vì trẻ em là tất cả của chúng ta

Trong bài viết “Lạm dụng, ngược đãi trẻ em – một vấn đề xã hội cần quan

tâm”, tác giả Nguyễn Hồng Thái nhận định: quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam

trong thời gian qua, cùng với lối sống cơ chế thị trường đã tác động tiêu cực tới tình trạng lạm dụng, ngược đãi trẻ em Trong các hình thức lạm dụng, ngược đãi trẻ em bài viết trình bày thì lạm dụng tình dục trẻ em được tác giả đặc biệt chú ý bởi theo ý kiến của tác giả, vấn đề này chưa nhận được sự quan tâm thích đáng từ xã hội Bên cạnh đó, khái niệm lạm dụng tình dục trẻ em ở Việt Nam dường như vẫn còn hạn chế trong các trường hợp hãm hiếp, trong khi khái niệm này rất rộng mở Tác giả cũng bày tỏ sự lo ngại của mình khi mà các đường dây dụ dỗ trẻ em hành nghề mại

dâm, phục vụ các “sex tour” đang ngày một gia tăng

“Những hậu quả về tâm lý đối với nạn nhân của tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ

em và giải pháp khắc phục” - 2005, một nghiên cứu của tác giả Dương Tuyết Miên

– giảng viên khoa Luật hình sự, trường Đại học Luật Hà Nội được đăng tải trên Đặc san về Bình đẳng giới, tạp chí Luật học Trong bài viết, tác giả đã đi sâu phân tích những tổn hại về mặt tinh thần mà nạn nhân của tội hiếp dâm gặp phải Ngoài sự đau đớn về mặt thể xác, nguy cơ bị lây nhiễm các bệnh tình dục, HIV – AIDS, có thai ngoài ý muốn…, nạn nhân của tội hiếm dâm còn bị chấn thương nghiêm trọng

Trang 19

về tinh thần mà shock chỉ là 1 trong số ít các biểu hiện Tác giả cũng trích dẫn kết quả nghiên cứu của Patricia A.Resick, sau khi bị hiếp dâm có tới 96% nạn nhân rơi vào trạng thái hoảng sợ, lo lắng và hay giật mình; 92% rơi vào trạng thái sợ hãi, có những rối loạn tâm lý, có vấn đề trong điều chỉnh hành vi về mặt xã hội Theo tác giả thì ở Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu nào về trạng thái tâm lý của nạn nhân tội hiếp dâm được tiến hành Tuy nhiên những hậu quả là không thể phủ nhận; đặc biệt đối với những bé gái bị chính người thân trong gia đình (bố đẻ, bố dượng, chú, ông ngoại…) hãm hiếp

Tác giả Hồng Khánh trong bài viết “Hơn 1.000 trẻ ở Hà Nội có nguy cơ bị

xâm hại tình dục”- 2007 trên trang web vietbao.vn đã thống kê số trẻ em có nguy cơ

bị lạm dụng tình dục trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay Theo tác giả hơn 1000 trẻ có nguy cơ này hầu hết là thuộc nhóm trẻ mồ côi, trẻ em lang thang, trẻ lao động sớm làm thuê tại các gia đình, cơ sở, dịch vụ… Bài viết cũng đã trích lời Chi cục

phó cục Phòng chống tệ nạn xã hội Hà Nội, ông Nguyễn Thu Gia cho hay: “Tất cả

phường xã của Hà Nội đều có thể có trẻ em nguy cơ bị xâm hại tình dục Hiện tượng ông chủ xâm hại tình dục đối với người giúp việc không phải là hiếm” Bài

viết là lời cảnh tỉnh về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của các bộ, ban, ngành các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

Với đề tài: “Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng chiến lược bảo vệ,

chăm sóc và giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục ở nước ta thời kỳ 2000 - 2010”,

các chuyên gia của Cục phòng chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và

xã hội đã đưa ra những nhận định, đánh giá, và quan điểm của mình về cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn trong nước để từ đó xây dựng một chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục thời kỳ 2000 – 2010 Bằng cách phác họa vắn tắt thực trạng tình hình trẻ em bị xâm hại tình dục ở nước ta hiện nay cũng như thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục, các chuyên gia đã đề xuất một chiến lược tổng hợp với mục tiêu tổng quát:

“Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cơ quan, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể xã hội, trong mỗi gia đình và toàn

Trang 20

xã hội để ngăn ngừa, giảm dần và tiến tới giảm thiểu tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục…”

Tóm lại, dễ dàng nhận thấy còn có sự thiếu hụt những nghiên cứu khoa học

về mảng đề tài nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở Trẻ em lao động sớm Mỗi một nghiên cứu, một bài báo đều chỉ đề cập đến một vài khía cạnh của vấn đề lạm dụng tình dục ở trẻ em nói chung chứ chƣa đi sâu phân tích nguy cơ này ở từng nhóm đối tƣợng trẻ em, nhất là Trẻ em lao động sớm Cùng với tính chất quan trọng của nó, chúng ta thực sự cần quan tâm nghiên cứu lĩnh vực này

Tuy không có tham vọng đem đến những kiến thức mới nhƣng luận văn mong muốn sẽ góp phần đƣa ra cái nhìn đầy đủ về nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở nhóm Trẻ

em lao động sớm hiện nay cũng nhƣ đề xuất các giải pháp/ mô hình có sự can thiệp Công tác xã hội nhằm phòng ngừa nguy cơ này đối với nhóm Trẻ lao động sớm

Chính vì vậy, đề tài “Công tác xã hội trong việc phòng ngừa nguy cơ bị lạm

dụng tình dục ở trẻ lao động sớm” đƣợc tiến hành khảo sát trên địa bàn 2 quận Ba

Đình và Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

Trang 21

Khơi dậy trong mỗi người ý thức về chăm sóc và bảo vệ trẻ em, cho trẻ em được phát triển trong môi trường an toàn nhất Trang bị những kiến thức cơ bản nhất cho các bậc làm cha làm mẹ, những người lớn về nhu cầu phát triển và nhu cầu cần được bảo vệ của trẻ thơ

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng Trẻ em lao động sớm trên địa bàn thành phố Hà Nội

nói chung, đặc biệt là trên địa bàn hai quận Ba Đình và Hoàn Kiếm nói riêng Qua

đó tìm hiểu các yếu tố, nguy cơ đến tình trạng bị lạm dụng tình dục ở Trẻ em lao động sớm và đề xuất giải pháp có sự can thiệp của công tác xã hội nhằm phòng

ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục mà nhóm trẻ này có thể gặp phải

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thao tác hóa một số khái niệm công cụ: công tác xã hội, trẻ em lao động sớm/ lao động trẻ em, nguy cơ, lạm dụng tình dục, trẻ em lao động sớm bị lạm dụng tình dục

Khảo sát thực trạng Trẻ em lao động sớm trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay và nguy cơ bị lạm dụng tình dục của nhóm Trẻ em lao động sớm

Phân tích vai trò, nhiệm vụ của Công tác xã hội trong việc giúp đỡ nhóm Trẻ

em lao động sớm phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục

Nghiên cứu và đề xuất những khuyến nghị, những giải pháp nhằm phát huy hiệu quả sự can thiệp của Công tác xã hội nhằm giúp đỡ nhóm Trẻ em lao động sớm phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác xã hội trong việc phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở trẻ

em lao động sớm

5.2 Khách thể nghiên cứu

Nhóm trẻ em lao động sớm trên địa bàn quận: Hoàn Kiếm và Ba Đình, thành phố Hà Nội

Trang 22

Nhóm trẻ em lao động sớm được lựa chọn trong mẫu nghiên cứu bao gồm: (1) trẻ em làm giúp việc trong các hộ gia đình; (2) trẻ em làm thuê tại các nhà hàng, quán ăn và (3) trẻ em làm việc trong các cơ sở sản xuất tư nhân nhỏ lẻ

6 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian: tháng 01/ 2015 – tháng 06/ 2015

Không gian: 2 quận Ba Đình và Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

7 Câu hỏi nghiên cứu

Tình hình Trẻ em lao động sớm trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay đến

từ những địa phương nào?

Trẻ em lao động sớm có nguy cơ bị lạm dụng tình dục không và mức độ các

em phải đối mặt với nguy cơ bị lạm dụng tình dục như thế nào?

Nhân viên CTXH có vai trò như thế nào trong việc giúp đỡ trẻ em lao động sớm phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục?

8 Giả thuyết nghiên cứu

Hầu hết trẻ em lao động kiếm sống hiện nay trên địa bàn thành phố Hà Nội

mà đặc biệt là ở quận Ba Đình và Hoàn Kiếm đều xuất thân từ những vùng quê nghèo, thiếu thốn về cơ sở hạ tầng, kinh tế chưa phát triển…

Sự hạn chế về nhận thức, hiểu biết của trẻ em lao động sớm về nguy cơ bị lạm dụng tình dục; do môi trường làm việc tiềm ẩn nhiều rủi ro hay cuộc sống thiếu

sự quan tâm từ gia đình cũng như cộng đồng… là những nguyên nhân cơ bản khiến trẻ em lao động sớm luôn phải đối mặt với nguy cơ bị lạm dụng tình dục Do đó các

em luôn phải đối mặt với nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở nhiều mức độ khác nhau

Trong bối cảnh xã hội hiện nay, cùng thực trạng và nguy cơ bị lạm dụng tình dục của TELĐS thì sự tham gia của NV CTXH có thể sẽ đóng vai trò tích cực và hiệu quả trong việc giúp đỡ trẻ em lao động sớm phòng ngừa nguy cơ này

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Cơ sở phương pháp luận:

Vận dụng một số lý thuyết và mô hình can thiệp Công tác xã hội như: Lý thuyết

về sai lệch xã hội, Lý thuyết can thiệp khủng hoảng, Thuyết phâm tâm học, Thuyết hệ thống, và Liệu pháp tư duy…

Trang 23

9.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

9.2.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu:

Thu thập và xử lý các tư liệu sẵn có, các số liệu, các kết quả nghiên cứu về vấn đề trẻ em lao động sớm và trẻ em bị lạm dụng tình dục đã được nghiệm thu, công bố trên sách, báo, tạp chí khoa học trong nước và quốc tế

Tham khảo và sử dụng một số số liệu báo cáo thống kê, khảo sát của các cơ quan nhà nước quản lý về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Tham khảo và sử dụng một số tư liệu sẵn có thuộc về chuyên ngành Công tác

xã hội

9.2.2 Phương pháp khảo sát thực tiễn:

9.2.2.1 Phỏng vấn sâu

Với mục đích thu thập thông tin cho đề tài, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu

15 trẻ lao động sớm, gồm: 04 trẻ nam và 11 trẻ nữ thuộc 3 nhóm: (1) trẻ em làm giúp việc trong các hộ gia đình; (2) trẻ em làm thuê tại các nhà hàng, quán ăn và (3) trẻ em làm việc trong các cơ sở sản xuất tư nhân nhỏ lẻ

Phỏng vấn sâu là phương pháp điều tra khảo sát thực tiễn đòi hỏi ở người nghiên cứu một sự nhạy bén, khéo léo và chính xác cao trong quá trình nhận biết, thu thập và

xử lý thông tin Nội dung Phỏng vấn sâu vì vậy cũng đa dạng và gợi mở hơn so với các phương pháp điều tra khảo sát định lượng; đặc biệt đối với một vấn đề còn khá mới mẻ

Trang 24

trong quá trình lao động, làm việc, quan sát được sơ bộ tình trạng lao động thực tế của các em tại nơi làm việc…

9.2.3.4 Phương pháp can thiệp trực tiếp Công tác xã hội với cá nhân:

Với trường hợp trẻ em lao động sớm là nạn nhân của nạn lạm dụng tình dục, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp can thiệp trực tiếp Công tác xã hội với cá nhân như một tiến trình cốt lõi trong việc trị liệu những thương tổn về mặt tâm lý (nếu có) ở trẻ

Bên cạnh đó, do đặc tính nhạy cảm và tế nhị của vấn đề mà luận văn quan tâm, phương pháp can thiệp cá nhân tỏ rõ sự hiệu quả hơn so với những phương pháp CTXH khác

Trang 25

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Các khái niệm liên quan được sử dụng trong đề tài

1.1.1 Khái niệm Trẻ em lao động sớm hay Lao động trẻ em

Xét trên góc độ luật pháp quốc tế (Công ước về quyền trẻ em), Công ước số

138 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và luật pháp của quốc gia (Hiến pháp, Bộ luật Lao động và Luật Dân sự) thì ở Việt Nam có thể đưa ra sử dụng các khái niệm (thuật ngữ) sau: [28]

Trẻ em làm việc: là hiện tượng trẻ em dành một số thời gian để làm các công

việc giúp đỡ gia đình, kết hợp trong giáo dục để nâng cao hiểu biết về lao động, rèn luyện ý chí tự lực, làm quen với lao động Những công việc các em làm phù hợp với sức khỏe của các em, không ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của thể lực, trí lực, nhân cách và đặc biệt không cản trở đến việc học tập, vui chơi, giải trí của các em

Nó có nhiều mặt tích cực giúp cho trẻ em xác định được trách nhiệm khi đến tuổi trưởng thành

Lao động trẻ em: là chỉ những em dưới tuổi lao động đang sử dụng hầu hết

thời gian, mà đáng lẽ dành cho học tập, để làm những công việc không hợp với sức mình nhằm tạo ra thu nhập mưu sinh cho bản thân và hỗ trợ cho gia đình Đó là những trẻ em làm thuê trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, trong khu vực không chính thức; trẻ em lang thang kiếm sống ở các đô thị; trẻ em làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và các công việc ảnh hưởng đến nhân cách của các em Các công việc đã cướp đi cơ hội phát triển cơ thể, giáo dục và các nhu cầu trẻ thơ khác của các em

Như vậy, khái niệm Lao động trẻ em hay Trẻ em lao động sớm được tiếp cận đồng thời từ hai khía cạnh cơ bản, đó là: độ tuổi và tính chất công việc mà trẻ tham gia

Xét trên khía cạnh tính chất công việc mà trẻ tham gia, khái niệm Trẻ em lao

động sớm (Child labour) hoàn toàn khác với khái niệm Trẻ em tham gia làm việc

(Child work) Thuật ngữ Trẻ em tham gia làm việc được sử dụng khi trẻ em tham

gia một cách tự nguyện để giúp đỡ gia đình Những công việc này phù hợp với lứa

Trang 26

tuổi, khả năng cũng như tình trạng thể chất, trí tuệ của trẻ Bên cạnh đó nó còn góp phần vào sự phát triển lành mạnh của trẻ

Theo Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Trẻ em lao động sớm là trẻ

em phải đi làm những công việc toàn thời gian ở độ tuổi quá sớm; những công việc này cản trở học hành; hạ thấp nhân phẩm, lòng tự trọng và gây ra sự căng thẳng thái quá về mặt thể chất, xã hội hay tâm lý cho các em Các em bị bóc lột tàn tệ về sức lao động hay thậm chí cả về mặt tình dục

Ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về Trẻ em lao động sớm Mọi tranh luận phần lớn xoay xung quanh khía cạnh độ tuổi của trẻ

Bộ Luật Lao động của Việt Nam quy định rõ:

Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi Nơi có sử dụng người lao động chưa thành niên phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi thanh tra viên lao động yêu cầu

Nghiêm cấm lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên

(Điều 119 – Bộ Luật Lao động Việt Nam)

Cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc

do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định

Đối với nghành nghề và công việc được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, học nghề, tập nghề thì việc nhận và sử dụng những trẻ em này phải có sự đồng

ý và theo dõi của cha mẹ hoặc người đỡ đầu

(Điều 120 – Bộ Luật Lao động Việt Nam)

Căn cứ theo độ tuổi lao động được quy định trong Bộ Luật Lao động Việt Nam, người lao động phải là người từ 15 tuổi trở lên Người lao động chưa đủ 18 tuổi được gọi là lao động chưa thành niên

Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em:

Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi

(Điều 1 – Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Trẻ em)

Qua các ý kiến trên chúng ta nhận thấy chưa có một quan niệm thống nhất về

độ tuổi quy định thế nào được gọi là Trẻ em lao động sớm

Trang 27

Trong phạm vi đề tài này, Trẻ em lao động sớm được giới hạn trong độ tuổi dưới 16 tuổi Theo đó, khái niệm Trẻ em lao động sớm ở Việt Nam có thể được

hiểu là thuật ngữ chỉ tình trạng trẻ em - những người dưới 16 tuổi - phải trực tiếp

hoặc gián tiếp tham gia làm những công việc nặng nhọc, độc hại hay nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ; hoặc phải làm việc quá nhiều hay ở độ tuổi quá nhỏ, khiến các em không có thời gian cần thiết để học tập và vui chơi

Có nhiều cách để phân loại Trẻ em lao động sớm Tuy nhiên cũng cần khẳng định rằng những cách phân loại này chỉ mang tính chất tương đối

Phân loại theo khu vực địa lý (tức là phân Trẻ em lao động sớm theo khu vực nông thôn và khu vực thành thị, theo các vùng kinh tế)

Phân loại theo các ngành kinh tế chủ yếu: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ Phân loại theo hình thức làm việc: lao động trong kinh tế hộ gia đình, lao động làm thuê trong các hộ gia đình và trong các doanh nghiệp

Phân loại theo thời gian lao động: phản ánh mức độ phải lao động quá giờ của trẻ theo từng nhóm tuổi cụ thể (6 - 10), (11- 14), (15 - 17)

Phân loại theo góc độ bất đồng hoặc không có bất đồng về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, cộng đồng, gia đình trẻ và người sử dụng lao động

Luận văn sử dụng cách phân loại theo tiêu chí hình thức làm việc của Trẻ em lao động sớm Đó là có thể chia trẻ em lao động sớm thành 3 nhóm: nhóm trẻ làm giúp việc trong các hộ gia đình, nhóm trẻ lao động làm thuê trong kinh tế hộ gia đình (nhà hàng, quán ăn, quán nước,…) và nhóm trẻ lao động làm thuê trong các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất tư nhân nhỏ lẻ

1.1.2 Khái niệm Công tác xã hội

Theo Hiệp hội quốc gia nhân viên Công tác xã hội Mỹ (NASW): "Công tác

xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”

Theo quan điểm của Liên đoàn Công tác xã hội quốc tế (IFSW) thì: "Nghề

Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ

Trang 28

của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề"

Có thể thấy, dù được định nghĩa theo cách nào thì Công tác xã hội cũng bao hàm các nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, CTXH là một ngành khoa học cơ bản, vận dụng các lý thuyết khoa học nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội và thúc đẩy sự thay đổi nhằm hướng tới sự bình đẳng và tiến bộ xã hội

Bên cạnh đó, CTXH còn là một dịch vụ được chuyên môn hóa, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến con người nhằm thỏa mãn các nhu cầu căn bản, nâng cao việc thực hiện chức năng xã hội của con người [34]

Công tác xã hội với Trẻ em lao động sớm là một trong những chuyên ngành sâu của CTXH Đối tượng làm việc của NV CTXH ở đây là Trẻ em lao động sớm

Điều 34: Các quốc gia thành viên cam kết bảo vệ trẻ em chống mọi hình thức bóc lột cũng như lạm dụng tình dục Vì mục đích này, các quốc gia thành viên

sẽ đặc biệt thực hiện mọi biện pháp thích hợp của từng nước, của hai bên và nhiều bên để ngăn ngừa.:

Trang 29

a) Việc xúi giục hay ép buộc trẻ em tham gia bất kỳ hành vi tình dục bất hợp pháp nào;

b) Việc sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong mãi dâm hay các hành vi tình dục bất hợp pháp khác;

c) Việc sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong cuộc biểu diễn hay tài liệu có tính chất khiên dâm.[9]

Như vậy, mặc dù trong pháp luật Việt Nam không có cụm từ “lạm dụng tình dục” nhưng trong Công ước về quyền trẻ em mà Việt Nam phê chuẩn cụm từ

“sexual abuse” được dịch là xâm phạm về tình dục (điều 19) và lạm dụng tình dục

(điều 34) [35]

Có thể hiểu Lạm dụng tình dục trẻ em là hành vi của bố, mẹ, người giám hộ,

hoặc người khác có/ không có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và bảo

vệ trẻ em, lợi dụng vị thế của mình nhằm lôi kéo, dụ dỗ hay cưỡng ép trẻ tham gia vào những hoạt động tình dục nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình

Theo Bách Khoa toàn thư mở Wikipedia: Hành vi lạm dụng tình dục là quá trình trong đó một người lợi dụng vị thế của mình nhằm dụ dỗ hay cưỡng ép người khác tham gia vào hoạt động tình dục Hành vi lạm dụng tình dục có thể thay đổi từ việc sờ mó bộ phận sinh dục, thủ dâm, tiếp xúc miệng-bộ phận sinh dục, giao hợp bằng ngón tay và cao hơn là giao hợp qua đường sinh dục hoặc hậu môn Lạm dụng tình dục không chỉ giới hạn vào các tiếp xúc cơ thể mà còn bao gồm cả nhưng hành

vi không tiếp xúc như khoe bộ phận sinh dục, rình xem trộm hoặc sử dụng hình ảnh khiêu dâm người khác

Cho đến hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất hoàn toàn về lạm dụng tình dục ở trẻ em Tuy nhiên đặc trưng chính yếu của hành vi lạm dụng tình dục trẻ em là quá trình trong đó một người trưởng thành lợi dụng vị thế của mình nhằm dụ dỗ hay cưỡng ép trẻ em tham gia vào hoạt động tình dục Hành vi lạm

xúc miệng-bộ phận sinh dục, giao hợp bằng ngón tay và cao hơn là giao hợp qua đường sinh dục hoặc hậu môn Lạm dụng tình dục ở trẻ em không chỉ giới hạn vào

Trang 30

các tiếp xúc cơ thể mà còn bao gồm cả nhưng hành vi không tiếp xúc như khoe bộ phận sinh dục cho trẻ thấy, rình xem trộm hoặc sử dụng hình ảnh khiêu dâm trẻ em.

Hành vi lạm dụng tình dục trẻ em được thực hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau, không chỉ đơn thuần là giao hợp bằng đường sinh dục mà còn bao gồm các hình thức như: vuốt ve, sử dụng lời nói gợi dục – dâm ngôn, sờ mó bộ phận sinh dục của trẻ, quan hệ bằng miệng, bằng hậu môn, cho trẻ xem các ấn phẩm kích dục (băng, đĩa, sách báo…)…

Lạm dụng tình dục để lại hậu quả nghiêm trọng đối với sự phát triển cả về thể chất cũng như tinh thần của trẻ em sau này Những thương tổn trên thân thể có thể dễ dàng nhận thấy như: trẻ gặp khó khăn trong việc ngồi hoặc đi lại, trẻ bị đau rát khi đi tiểu, đồ lót bị rách, dính máu, trẻ bị tổn thương vùng âm đạo và hậu môn, trẻ mang thai… Bên cạnh đó, trẻ em bị lạm dụng tình dục còn có thể xuất hiện những rối loạn về hành vi và tâm thần như: trẻ có thể biểu hiện sự lo lắng và sợ hãi bất thường trước người khác giới, có những hành động mang tính tình dục không phù hợp trong giao tiếp và xử sự với người khác, trẻ trở nên tự ti, khép kín hơn …

Trẻ em lao động sớm là một trong những nhóm trẻ có nguy cơ bị lạm dụng tình dục cao

1.1.4 Khái niệm nguy cơ

Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì nguy cơ được hiểu là “cái có thể phát sinh tai họa – những điều rủi ro, không may, gây ra sự đau

khổ, mất mát lớn – trong thời gian gần nhất”

Trong đề tài này, lạm dụng tình dục được xem là nguy cơ mà trẻ em lao động sớm dễ gặp phải và cũng là nguy cơ để lại hậu quả nghiêm trọng nhất đối với sự phát triển toàn diện và cuộc sống của các em

Góp phần hoàn thành tốt sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em mà Đảng, Chính phủ và Nhà nước đã đề ra trong Chỉ thị 55/CT-TW ngày 28/06/2001

của Bộ chính trị: “…Để đảm bảo cho thế hệ trẻ Việt Nam được phát triển toàn

diện, giữ vững và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu được những tinh hoa của thế giới, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, chủ

Trang 31

động phòng ngừa, khắc phục những tác động tiêu cực mới đối với trẻ em trong bối cảnh hiện nay…”, toàn xã hội nói chung mà đặc biệt là chúng ta, những NV CTXH

nói riêng, có trách nhiệm bảo vệ trẻ em, trong đó có Trẻ em lao động sớm trước nguy cơ bị lạm dụng tình dục đang ngày càng báo động như hiện nay

1.2 Một số lý thuyết Công tác xã hội được áp dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết về Sai lệch xã hội

Lý thuyết về Sai lệch xã hội là một trong những lý thuyết xã hội học tiếp cận

xã hội từ việc mô tả, giải thích sự làm sai lệch trong hành vi của cá nhân, nhóm hay một thiết chế xã hội nào đó; được sử dụng khá phổ biến trong những nghiên cứu xã hội học ở cả cấp độ vi mô cũng như cấp độ vĩ mô

Theo lý thuyết này, sự làm sai lệch (deviance) được hiểu là những hành vi vi

phạm các chuẩn mực, các nguyên tắc hành động hay những kỳ vọng của một cá nhân, một nhóm hay cả xã hội Sự làm sai lệch là một ý niệm phức tạp, nó có thể có hại hoặc không có hại, có thể được xã hội chấp nhận và cũng có thể bị phản đối quyết liệt.[13]

Émile Durkheim và Robert Meton là hai nhà xã hội học nổi tiếng, những người đã nỗ lực đưa lý thuyết về sự làm sai lệch xã hội trở thành một trong các lý thuyết “nóng” của xã hội học đương thời

É Durkheim đã đưa ra khái niệm: “anomie” (rối loạn, vô tổ chức, sự bệnh

hoạn) để chỉ sự mất phương hướng mà con người cảm thấy trong xã hội khi mà sự kiểm soát xã hội đối với hành vi cá nhân trở nên không hiệu quả Theo quan điểm

mà Durkheim trình bày trong 2 cuốn sách nổi tiếng: De la diviston du travail social (Về sự phân công lao động xã hội, 1893) và Suicide (Tự tử, 1897) thì tình trạng

“anomie” sẽ thay đổi theo từng bối cảnh xã hội, ở từng giai đoạn lịch sử, từng nền văn hóa Xã hội nào để cho sự độc lập, sự ham muốn của cá nhân lấn át những chuẩn mực chung của xã hội thì tình trạng “anomie” ở đó sẽ trầm trọng hơn những

xã hội khác

R Meton đã vận dụng khái niệm “anomie” của Durkheim trong các nghiên cứu của mình và rút ra kết luận: bất cứ một xã hội nào cũng có những giá trị được hầu hết các thành viên chấp nhận và chia sẻ; những giá trị ấy được xem như những

Trang 32

mục tiêu cần phải đạt được trong cuộc sống của mỗi cá nhân Để giúp cá nhân đạt được các mục tiêu ấy, xã hội đưa ra những phương tiện được quy định bởi các chuẩn mực xã hội Tuy nhiên một số cá nhân không chấp nhận sử dụng những phương tiện này Mâu thuẫn giữa mục tiêu, khát vọng được chấp nhận về mặt văn hóa và các phương tiện không quy chuẩn nhằm thực hiện những mục tiêu, khát vọng đó của các cá nhân là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng “anomie”

R Meton cũng chỉ ra rằng có 5 loại hình cơ bản mà con người sử dụng để thích nghi với cơ cấu về mục tiêu, các kỳ vọng văn hóa và những phương tiện mà

xã hội đề ra đó là: (1) Thích nghi tuân thủ, (2) Thích nghi canh tân, (3) Thích nghi thói nệ nghi thức, (4) Thích nghi rút lui và (5) Thích nghi nổi loạn

Lý thuyết về sự làm sai lệch/ Sai lệch xã hội chủ yếu được vận dụng trong luận văn để phân tích sự lệch chuẩn, sự phạm pháp của hành vi lạm dụng tình dục đối với Trẻ em lao động sớm

1.2.2 Lý thuyết phân tâm học

Phân tâm học là một trong những học thuyết vĩ đại của Tâm lý học phát triển Sự hình thành và phát triển của học thuyết này gắn liền với tên tuổi của thiên tài Sigmund Freud và các nhà tâm lý học hậu Freud nổi tiếng khác như: Anna Freud, Heiz Hartmann và Erikson

Học thuyết Phân tâm học quan tâm đến việc hành vi xuất phát từ những động thái (tức là những suy nghĩ, tình cảm của con người) như thế nào và tương tác ra sao trong ý thức con người Tuy nhiên các luận điểm của lí thuyết này cũng đã có nhiều thay đổi Nếu như Freud chỉ quan tâm đến các yếu tố tâm lý làm xuất hiện hành vi

và giải thích hành vi một cách đơn giản, thì các nhà phân tâm học sau này còn quan tâm đến cách thức mà ý trí thúc đẩy hành vi Đồng thời họ cũng cho rằng cả ý thức

và hành vi đều chịu ảnh hưởng bởi môi trường xã hội mà con người sinh sống Đó

là một cách nhìn nhiều chiều và mang tính biện chứng hơn

Thuyết Phân tâm học bao gồm 3 phần: Lý thuyết về sự phát triển của con người, Lý thuyết về cấu trúc nhân cách, Lý thuyết về tâm lý học nhân cách lệch chuẩn và cách điều trị Hai hạt nhân chính, cơ sở cho sự hình thành của thuyết là tư

tưởng “Quyết định luận tâm lý” và “Cái vô thức” “Quyết định luận tâm lý” cho

Trang 33

rằng hành vi xuất phát từ các quá trình tư duy của con người chứ không phải tự

nhiên mà có được Còn “Cái vô thức” nhấn mạnh tới sự tồn tại của những hoạt

động tư duy hay những tinh thần tiềm ẩn mà con người ta còn chưa biết tới

Trong Phân tâm học cổ điển, Lý thuyết về tâm lý học nhân cách lệch chuẩn

và cách điều trị đòi hỏi các nhà trị liệu phải biến mình thành những “màn hình

trống” để bệnh nhân/ thân chủ có thể phóng chiếu lên đó những suy nghĩ, ảo tưởng,

những tâm tư tình cảm bị dồn nén của mình Đây được gọi là sự chuyển dịch tình cảm xuôi Thông qua sự chuyển dịch này, bệnh nhân/ thân chủ có cơ hội bộc lộ những ý nghĩ trong tiềm thức của mình Khi ấy, những cảm xúc bị dồn nén, các mối quan hệ và những trải nghiệm trong quá khứ sẽ không còn gây ra trục trặc trong các hành vi hiện tại nữa Freud cho rằng cá nhân xuất hiện những hành vi không mong muốn trong hiện tại là do những xung đột bị dồn nén trong quá khứ và đôi khi nó được thể hiện ra ngoài dưới nhiều góc độ khác nhau Việc khám phá ra nguyên nhân cốt lõi của những hành vi đó là một điều cần thiết

Song song với quá trình chuyển dịch tình cảm xuôi, nhà trị liệu thực hiện một quá trình chuyển dịch tình cảm ngược: đưa những quan điểm, suy nghĩ tích cực của mình cho thân chủ đó để giúp họ thay đổi nhận thức và hành vi Hầu hết các kỹ thuật phân tâm học truyền thống đều quan tâm đến việc giúp thân chủ thấu hiểu những cảm giác bị dồn nén của họ

Vận dụng Lý thuyết về tâm lý học nhân cách lệch chuẩn và cách điều trị của Phân tâm học trong đề tài, ta thấy: bị lạm dụng tình dục là một trải nghiệm đau đớn

và vô cùng khắc nghiệt đối với Trẻ em lao động sớm Về cơ bản, hầu hết trẻ đều chọn phương án im lặng và giữ trải nghiệm đó cùng những xúc cảm dồn nén trong

lòng Chính vì vậy, NV CTXH phải trở thành một “màn hình trống” để giúp trẻ có

thể bộc lộ những suy nghĩ và tình cảm của mình Trong quá trình điều trị, chuyển dịch tình cảm là một kỹ thuật quan trọng và thiết yếu

1.2.3 Lý thuyết can thiệp khủng hoảng

Đại biểu cho lý thuyết này là Naomi Golan Trong tác phẩm nổi tiếng

“Treatment in Crisis Situations” xuất bản tháng 5 năm 1978, Naomi Golan đã trình

Trang 34

bày những nội dung cơ bản của Lý thuyết can thiệp khủng hoảng đồng thời đưa ra nhận định và đánh giá sắc bén của mình

Lý thuyết can thiệp khủng hoảng cho rằng bất kỳ một cá nhân, nhóm hay tổ chức xã hội nào cũng có những khủng hoảng nhất định nảy sinh từ những giai đoạn, những sự kiện mang tính bước ngoặt trong quá trình tồn tại của cá nhân, nhóm hay

tổ chức (như lập gia đình, có con, bị thôi việc, mất mát người thân, …) Các sự kiện mạo hiểm mang tính bước ngoặt này tác động tới sự cân bằng của mỗi một cá nhân, nhóm, tổ chức và gây ra trạng thái thương tổn được thể hiện bằng sự căng thẳng và

áp lực của họ phải gánh chịu

Naomi Golan cũng chỉ ra rằng, nhiệm vụ cốt lõi của NV CTXH là trợ giúp thân chủ tìm ra giải pháp hiệu quả nhất để giải quyết thành công khủng hoảng trong thời gian ngắn là từ 6 – 8 tuần Điều đó giúp thân chủ nâng cao khả năng đương đầu với khủng hoảng trong tương lai bởi các chiến lược giải quyết vấn đề trong tương lai phụ thuộc chặt chẽ vào mức độ thành công có được khi tiến hành giải quyết các vấn

hiểu sự kiện gây khủng

hoảng đối với thân chủ

thông qua việc để thân chủ

tự do thể hiện các xúc cảm

của mình

A: Thu thập dữ liệu

- NV CTXH tiến hành thu thập các dữ liệu còn thiếu đồng thời kiểm tra tính chính xác của dữ liệu và lựa chọn sự kiện gây áp lực chính cho thân chủ

A: Đưa ra quyết định chấm dứt

- NV CTXH kiểm tra lại toàn bộ quá trình làm việc với thân chủ và nhắc nhở thân chủ, đưa ra đề xuất

về cách liên lạc và kết thúc

Trang 35

- Cùng với thân chủ tìm ra các nhiệm vụ thực tiễn và các nhiệm vụ tư tưởng

B: Tiến hành tổng kết

- NV CTXH tiến hành lượng giá toàn bộ tiến trình đã thực hiện

C: Thỏa thuận làm việc

- NV CTXH cùng với thân chủ tiến hành thảo luận về các vấn đề hiện tại cũng như các kế hoạch trong tương lai

- Giúp thân chủ cảm thấy

ổn về việc sẽ gặp các vấn

đề khác

Vận dụng lý thuyết này vào đề tài, ta thấy trẻ em lao động sớm đa phần lâm vào tình trạng khủng hoảng sau khi bị lạm dụng tình dục: Tâm lý suy sụp, các em không thể tự mình tìm ra cách giải quyết hiệu quả vấn đề trong một thời gian dài,

Trang 36

thậm chí là suốt cả cuộc đời Chính vì vậy, nhữnng nhiệm vụ trọng tâm đặt ra đối với NV CTXH khi làm việc với nhóm trẻ này đó là:

- Giúp trẻ em lao động sớm bị lạm dụng tình dục thể hiện được các xúc cảm đa dạng của mình như: thể hiện sự đau đớn, hoang mang, căm phẫn, la hét, gào khóc…

- Giúp trẻ có được một cách nhìn nhận chính xác và toàn diện hơn về sự kiện vừa trải qua

- Giúp trẻ phát triển các hành vi mới có khả năng đương đầu với khủng hoảng

và quản lý cuộc sống của mình

1.2.4 Liệu pháp tư duy

Các nhà triết gia Stoic ở thế kỉ IV trước Công nguyên [16] được xem là những người đặt nền móng đầu tiên cho sự hình thành của Liệu pháp tư duy thông qua việc thảo luận về ảnh hưởng của suy nghĩ đến cảm giác và hành động của con người Tuy nhiên cho đến tận năm 1979, Liệu pháp tư duy mới thực sự phát triển sau công trình nghiên cứu do Tiến sĩ Aron T Beck và đồng sự thực

hiện tại Mỹ, được công bố với tiêu đề: “Liệu pháp tư duy chữa chứng trầm

cảm”

Liệu pháp tư duy là một trong những kỹ năng đối phó thường được NV CTXH sử dụng để hỗ trợ khách hàng giải tỏa các vấn đề cũng như mối lo lắng của mình Giả định tiền đề để sử dụng Liệu pháp tư duy đó là tư duy của rất nhiều người bị méo mó Cách tư duy méo mó này ảnh hưởng đến cách mà người

ta nhìn nhận về các sự việc cũng như cảm giác và hành động của họ

Mục tiêu của liệu pháp tư duy là giúp khách hàng nhận biết được họ đang

có những méo mó tư duy nào và sau đó thay thế chúng bằng những suy nghĩ tiến

bộ và hợp lý hơn Liệu pháp này đặc biệt có hiệu quả với những khách hàng bị trầm cảm

Dưới góc độ của Liệu pháp tư duy, Trẻ em lao động sớm khi bị lạm dụng tình dục có thể tồn tại những suy nghĩ méo mó trong cách tư duy như sau:

(1) Cách nghĩ cực đoan: Trẻ nhìn nhận mọi việc theo 2 phạm trù trắng và

đen, hoặc là tất cả hoặc là không có gì Trẻ có xu hướng nhìn nhận bản thân như

là một sự thất bại sau khi bị lạm dụng hay hoàn toàn ghê tởm bản thân

Trang 37

(2) Quá cường điệu: Trẻ nhìn nhận việc mình bị lạm dụng tình dục như là một mô hình thảm bại không có hồi kết

(3) Sự sàng lọc của tư duy: Việc mình bị hay có nguy cơ bị lạm dụng tình dục khiến Trẻ bi quan về thực tế

(4) Đánh giá sai chất lượng các tích cực: Trẻ phủ nhận những trải nghiệm tích cực bằng cách cho rằng chúng không đáng kể, từ đó, trẻ duy trì một niềm tin tiêu cực mâu thuẫn với những trải nghiệm hàng ngày của trẻ

(5).Cách kết luận vội vàng: Trẻ đưa ra cách hiểu tiêu cực về nguy cơ bị lạm dụng tình dục mặc dù không có thực tế cụ thể nào làm cơ sở cho kết luận đó

(6) Cách phóng đại hay tối thiểu hóa: Trẻ nhìn nhận bản thân và mọi việc qua một “lăng kính ảo” mà trẻ tự đặt ra cho mình

(7) Lập luận dựa trên cảm tính: Trẻ cho rằng những cảm giác tiêu cực của trẻ phản ánh đúng thực tế

(8) Tự động viên: Trẻ cố gắng tự thúc đẩy bản thân với những điều nên

và không nên như thể trẻ phải bị đòn và trừng phạt trước khi trẻ được làm gì đó

(9) Đặt tên gọi hoặc gọi vấn đề một cách tiêu cực: Đây được coi là dạng thái quá của tình trạng quá cường điệu

(10) Cá nhân hóa: Trẻ cảm thấy bản thân là nguyên nhân của việc bị lạm dụng tình dục mà trên thực tế trẻ hoàn toàn không phải là người chịu trách nhiệm

Các quan điểm về hệ thống được áp dụng trong thực hành CTXH nói

riêng và CTXH nói chung có nguồn gốc từ “Lý thuyết các hệ thống chung –

General Systems Theory” của nhà sinh vật học nổi tiếng người Ý Ludwig von

Bertalanffy (1968) Lý thuyết này cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ

Trang 38

thống lớn hơn Do đó con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ các phân tử, những phân tử này lại được tạo dựng từ các nguyên tử nhỏ hơn

Tiếp sau Ludwig von Bertalanffy, các nhà khoa học khác như: Hanson (1995), Mancoske (1981), Siporin (1980) đã nghiên cứu và phát triển lý thuyết này Tuy nhiên, mọi nỗ lực đưa lí thuyết hệ thống vào áp dụng trong thực tiễn CTXH phải kể đến công đầu của các nhà khoa học như: Pincus và Minahan (1973), Germain và Gitterman (1980)

Pincus và Minahan đã chỉ ra nguyên tắc trong tiếp cận CTXH theo Lý thuyết hệ thống tổng quát đó là: con người phụ thuộc vào các hệ thống trong môi trường xã hội gần gũi họ để có được cuộc sống thỏa mãn Chính vì vậy, CTXH phải tập trung vào những hệ thống đó Theo đó có 3 loại hệ thống hỗ trợ con người là: (1) Các hệ thống thân tình hay tự nhiên (như: gia đình, bạn bè hay đồng nghiệp), (2) Các hệ thống chính quy (như: các nhóm cộng đồng hay tổ chức công đoàn) và (3) Các hệ thống xã hội (như: bệnh viện, trường học) Các

cá nhân có vấn đề không có khả năng sử dụng hệ thống trợ giúp vì nhiều nguyên nhân như: các hệ thống này không tồn tại trong cuộc sống của họ, họ không biết hoặc không mong muốn sử dụng các hệ thống như vậy, các chính sách của hệ thống không phù hợp với người sử dụng hay giữa các hệ thống có sự mâu thuẫn với nhau Mục tiêu của cách tiếp cận này là giúp cá nhân thực hiện được những nhiệm vụ cuộc sống của họ, xoá bỏ áp lực và đạt được những mục tiêu và các vị thế có giá trị được xem là quan trọng đối với cá nhân thông qua việc chỉ ra đâu là yếu tố gây ra các vấn đề trong mối quan hệ tương tác giữa cá nhân và môi trường của họ Nghĩa là, NV CTXH cần tìm ra đâu là nguyên nhân khiến trẻ lao động sớm không có khả năng sử dụng các hệ thống hỗ trợ trong môi trường sống của các em

Mô hình cuộc sống của Germain và Gitterman được áp dụng trong thực hành CTXH dựa trên quan điểm của lý thuyết hệ thống sinh thái Mô hình này tập trung phân tích khả năng thích nghi của con người trong sự trao đổi lẫn nhau với rất nhiều khía cạnh của môi trường mà họ đang sống Tức là con người thay đổi và bị thay đổi do môi trường như thế nào? Thực chất trong cuộc sống, mọi

Trang 39

vấn đề chúng ta gặp phải đều có thể tạo ra những áp lực, nhưng quan trọng là sự ảnh hưởng và tính chất của nó ra sao Không phải tình huống nào cũng hướng đến những áp lực thực tế Những áp lực chỉ xuất hiện trong những tình huống cá nhân không thích ứng được khi trao đổi với môi trường Cốt lõi của thuyết này nhấn mạnh đến tầm quan trọng về khả năng thích ứng, kiểm soát, nhận thức môi trường bên ngoài của mỗi cá nhân Để có thể hiểu được vấn đề mà thân chủ đang gặp phải, NV CTXH phải xâm nhập vào thế giới của họ Khi đó, sự thấu cảm là một kỹ năng cần thiết, đặc biệt đối với trường hợp khách hàng là trẻ lao động sớm

1.3 Cơ sở thực tiễn

Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 1,75 triệu trẻ em từ 5 đến 15 tuổi là lao động trẻ em, trong đó một phần ba trẻ em có thời gian làm việc trên 7 giờ một ngày hoặc trên 42 giờ một tuần, số thời gian làm việc kéo dài làm ảnh hưởng đến việc học tập của các em, nhiều trẻ em không được đi học [7] Số đông lao động trẻ em làm công việc giúp việc gia đình do tính chất công việc là thời gian làm việc kéo dài và thường xuyên nên không thể đến trường học; bộ phận trẻ em sống ở nông thôn, làm việc trong ngành nông nghiệp và phụ giúp gia đình không được trả lương Trong số đó có khoảng 30.000 trẻ em còn tham gia lao động trong những công việc nặng nhọc, độc hại như làm việc trong điều kiện lao động ngoài trời, đi lại nhiều dễ bị tai nạn, môi trường làm việc có hóa chất gây hại, làm việc trong hầm mỏ nên lao động trẻ em gặp những tổn thương làm ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất Độ tuổi tham gia lao động của trẻ em sớm thường bắt đầu từ 12 tuổi trở lên vì vậy việc tham gia lao động ảnh hưởng đến tình hình học tập có khoảng 55% trẻ em không đi học, tham gia lao động sớm cũng ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của trẻ em; lao động trẻ em tham gia vào nhiều lĩnh vực, địa điểm lao động đa dạng, trẻ em tham gia vào khoảng 120 lĩnh vực lao động những trẻ em bị bóc lột sức lao động chủ yếu làm việc trong các cơ sở sản xuất không phép, trái pháp luật dưới hình thức lao động giúp đỡ gia đình trong vai trò là con cháu, họ hàng; hoặc làm việc tại các bãi vàng, khai

Trang 40

thác than, làm việc tại các cơ sở may, lao động trẻ em còn tham gia làm việc trong dịch vụ nhà hàng

Lao động trẻ em tham gia vào các quan hệ lao động thường không được

ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản Người sử dụng lao động lợi dụng những điểm này để bóc lột sức lao động của trẻ em, đồng thời khi xảy ra tranh chấp cũng không có cơ sở pháp lý để xử lý người vi phạm và bảo vệ quyền của trẻ em Hợp đồng miệng là hình thức phổ biến trong các quan hệ lao động trong thực tế đối với trẻ em, cho nên không có ràng buộc về mặt pháp lý giữa người sử dụng lao động với lao động trẻ em vì vậy mọi vi phạm pháp luật về sử dụng lao động trẻ em khó phát hiện, không có cơ sở chứng minh trẻ em bị bóc lột sức lao động Điều này trái với quy định của Công ước quốc tế về quyền trẻ em, xâm phạm đến quyền phát triển và quyền bảo vệ của trẻ em Đồng thời trái với quy định tại điều

12 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức; vi phạm nghiêm trọng việc: lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng lao động trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với công việc có tính chất độc hại, làm những công việc trái với quy định khác của pháp luật về lao động

Nguyên nhân chủ yếu khiến trẻ em phải kiếm sống sớm là do các em sinh

ra trong những gia đình nghèo, có điều kiện kinh tế khó khăn Hoặc cũng do nhận thức chưa đầy đủ của các em, của gia đình và cộng đồng về Luật lao động, Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục sức khỏe trẻ em Một nguyên nhân nữa là do nhận thức sai lầm của các gia đình cho rằng cho trẻ đi lao động sớm thì sẽ sớm nên người, ngoài ra một số ít em thích tiêu xài nên đã đi làm sớm để thỏa mãn nhu cầu của các em

Bởi những nguyên nhân trên, trẻ em lao động sớm sẽ phải đối mặt với rất nhiều các nguy cơ, trong đó có: bóc lột sức lao động và lạm dụng tình dục Nguy

cơ này không chỉ gây ảnh hưởng không chỉ về thể chất mà còn tinh thần Nếu không được xã hội quan tâm và phát giác để có những can thiệp và giúp đỡ kịp thời sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống tương lai của đứa trẻ

Ngày đăng: 11/11/2016, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2000). Bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2000
3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (1999). Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: định hướng và phát triển. Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: định hướng và phát triển
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 1999
6. Bộ môn CTXH – Trường ĐH Thăng Long. “Giáo trình Nhập môn CTXH 2” - 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Nhập môn CTXH 2”
8. Vũ Ngọc Bình (1997). Vấn đề lao động trẻ em – The issue of child labour. Nxb Chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề lao động trẻ em – The issue of child labour
Tác giả: Vũ Ngọc Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 1997
10. Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Thị Hồng Thúy (2005). “Trẻ em tham gia lao động ở gia đình nông dân hiện nay”. Tạp chí nghiên cứu về Gia đình và giới. Số 2, tr. 45 – 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ em tham gia lao động ở gia đình nông dân hiện nay”. "Tạp chí nghiên cứu về Gia đình và giới
Tác giả: Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Thị Hồng Thúy
Năm: 2005
11. Nguyễn Văn Chính (2005). “Lao động của trẻ em trong nền kinh tế quá độ ở Việt Nam”. Tạp chí Xã hội học. Số 2, tr. 57 – 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động của trẻ em trong nền kinh tế quá độ ở Việt Nam”. "Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Văn Chính
Năm: 2005
12. TS. Nguyễn Hữu Dũng. “Nghiên cứu xây dựng chiến lƣợc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục nhóm trẻ em lao động sớm ở nước ta thời kỳ 2001-2010”. –Tr3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng chiến lƣợc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục nhóm trẻ em lao động sớm ở nước ta thời kỳ 2001-2010
13. ĐH Thăng Long. “Bài giảng Sai lệch xã hội – Kiểm soát xã hội”. Tr 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Sai lệch xã hội – Kiểm soát xã hội
15. GDP bình quân đầu người Việt Nam thua thế giới tới 8000 lần, An Ngọc, Trí thức trẻ, 12/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: GDP bình quân đầu người Việt Nam thua thế giới tới 8000 lần
16. Giáo trình Bộ môn CTXH - Đại học Thăng Long. “Bài giảng CTXH – Lý thuyết và thực hành CTXH trực tiếp”. Tr 173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bài giảng CTXH – Lý thuyết và thực hành CTXH trực tiếp
18. Đỗ Ngọc Hà, Babara Fraklin (1999). Về khả năng tái hòa nhập với gia đình của trẻ em lang thang và trẻ em lao động . Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khả năng tái hòa nhập với gia đình của trẻ em lang thang và trẻ em lao động
Tác giả: Đỗ Ngọc Hà, Babara Fraklin
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
19. Chu Mạnh Hùng (2005). Vấn đề trẻ em gái giúp việc gia đình tại các thành phố lớn”. Tạp chí Luật học. Số đặc san, tr. 20 – 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề trẻ em gái giúp việc gia đình tại các thành phố lớn”
Tác giả: Chu Mạnh Hùng
Năm: 2005
20. Trần Thị Thanh Hương (2009). “Lao động trẻ em – không phải ngẫu nhiên”. http://vdcnews.socbay.com/lao_dong_tre_em___khong_ngau_nhien-201326592-602794414-0. Ngày 29/ 12/ 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động trẻ em – không phải ngẫu nhiên
Tác giả: Trần Thị Thanh Hương
Năm: 2009
21. Trần Hằng. “Những đứa trẻ phải lao động sớm ở Hà Nội”. cand.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những đứa trẻ phải lao động sớm ở Hà Nội”
22. Hồng Khánh (2007). “Hơn 1.000 trẻ ở Hà Nội có nguy cơ bị xâm hại tình dục”. vietbao.vn. http://vietbao.vn/Xa-hoi/Hon-1000-tre-o-Ha-Noi-co-nguy-co-bi-xam-hai-tinh-duc/11039775/157/ . Ngày 25/ 11/ 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơn 1.000 trẻ ở Hà Nội có nguy cơ bị xâm hại tình dục”. "vietbao.vn
Tác giả: Hồng Khánh
Năm: 2007
23. Dương Tuyết Miên (2005). “Những hậu quả về tâm lý đối với nạn nhân của tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em và giải pháp khắc phục”. Tạp chí Luật học. Số đặc san, tr. 35 – 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hậu quả về tâm lý đối với nạn nhân của tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em và giải pháp khắc phục”. "Tạp chí Luật học
Tác giả: Dương Tuyết Miên
Năm: 2005
24. Patricia H.Miler (1983). Các lý thuyết về Tâm lý học phát triển. NXB Văn hóa - Thông tin. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết về Tâm lý học phát triển
Tác giả: Patricia H.Miler
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin. Hà Nội
Năm: 1983
25. Hoàng Mạnh. “Hà Nội: 314 trẻ em lao động sớm”. Laodong.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội: 314 trẻ em lao động sớm”
26. Lê Văn Phú, Nhập môn công tác xã hội, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn công tác xã hội
31. Tổ chức Lao động Quốc tế , “Báo cáo toàn cầu về Lao động trẻ”, 2013 32. Tổ chức lao động quốc tế. Tập bài giảng về lao động trẻ em. – Tr 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo toàn cầu về Lao động trẻ”", 2013 32. Tổ chức lao động quốc tế. "Tập bài giảng về lao động trẻ em

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Mô hình trị liệu can thiệp khủng hoảng của Naomi Golan [6]  Giai đoạn bắt đầu: - Công tác xã hội trong việc phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở trẻ em lao động sớm (khảo sát trên địa bàn quận ba đình và hoàn kiếm, thành phố hà nội)
Bảng 1.1 Mô hình trị liệu can thiệp khủng hoảng của Naomi Golan [6] Giai đoạn bắt đầu: (Trang 34)
Bảng 2.1: Đặc điểm khách thể nghiên cứu - Công tác xã hội trong việc phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở trẻ em lao động sớm (khảo sát trên địa bàn quận ba đình và hoàn kiếm, thành phố hà nội)
Bảng 2.1 Đặc điểm khách thể nghiên cứu (Trang 44)
Bảng 2.2: Thời gian làm việc của trẻ lao động sớm - Công tác xã hội trong việc phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở trẻ em lao động sớm (khảo sát trên địa bàn quận ba đình và hoàn kiếm, thành phố hà nội)
Bảng 2.2 Thời gian làm việc của trẻ lao động sớm (Trang 48)
Bảng 2.5: Thái độ của chủ sử dụng lao động đối với trẻ em lao động sớm - Công tác xã hội trong việc phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở trẻ em lao động sớm (khảo sát trên địa bàn quận ba đình và hoàn kiếm, thành phố hà nội)
Bảng 2.5 Thái độ của chủ sử dụng lao động đối với trẻ em lao động sớm (Trang 51)
Bảng 2.7: Phản ứng của trẻ em lao động sớm khi có - Công tác xã hội trong việc phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở trẻ em lao động sớm (khảo sát trên địa bàn quận ba đình và hoàn kiếm, thành phố hà nội)
Bảng 2.7 Phản ứng của trẻ em lao động sớm khi có (Trang 68)
Bảng 3.2: Bảng phân tích tác động của các yếu tố nội – ngoại lực - Công tác xã hội trong việc phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở trẻ em lao động sớm (khảo sát trên địa bàn quận ba đình và hoàn kiếm, thành phố hà nội)
Bảng 3.2 Bảng phân tích tác động của các yếu tố nội – ngoại lực (Trang 80)
Bảng 3.3.Can thiệp trực tiếp với trường hợp Trẻ em lao động sớm - Công tác xã hội trong việc phòng ngừa nguy cơ bị lạm dụng tình dục ở trẻ em lao động sớm (khảo sát trên địa bàn quận ba đình và hoàn kiếm, thành phố hà nội)
Bảng 3.3. Can thiệp trực tiếp với trường hợp Trẻ em lao động sớm (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm