Trong những năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong cải cách kinh tế, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trong đó không thể không đề cập đến các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HỮU TÂM
BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƯỜI NGHÈO THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP TẠI HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HỮU TÂM
BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƯỜI NGHÈO THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP TẠI HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60900101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Quỳnh Nam
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có thể đạt được kết quả nghiên cứu như ngày hôm nay, em xin chân
thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa xã hội học, các thầy cô giáo bộ môn
đã giảng dạy suốt 2 năm học trên giảng đường Đặc biệt, trong thời gian làm luận văn này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy PGS.TS Mai Quỳnh Nam đã dành nhiều thời gian, tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho em từ khi bắt đầu cho đến khi hoàn thành luận văn này
Qua đây, em cũng xin chân thành cảm ơn tới các cán bộ và nhân dân tại 2
xã Thanh Bình và Đông Sơn đã tạo mọi điều kiện để em được đi tìm hiểu thực tế cũng như việc cung cấp các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến các cán bộ nhân viên phòng Lao động thương binh và xã hội, Bảo hiểm xã hội huyện Chương Mỹ và bệnh viện Đa khoa huyện Chương Mỹ đã giúp đỡ, tạo điều kiện cung cấp các thông tin, số liệu phục vụ cho nghiên cứu này
Dù đã nỗ lực cố gắng và say mê tìm hiểu nghiên cứu nhưng do thời gian cũng như kiến thức, kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế, nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp và sự chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 12 năm 2014 Học viên thực hiện
Nguyễn Hữu Tâm
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… 4
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU……… 4
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ……… 5
MỞ ĐẦU……… 6
1 Lý do chọn đề tài……… 6
2 Vài nét về vấn đề nghiên cứu……… 8
2.1 Tình hình thực hiện bảo hiểm y tế tại một số quốc gia ở Châu Á……… 8
2.2 Một số nghiên cứu trong nước……… 10
3 Ý nghĩa của nghiên cứu……… 12
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu……… 13
5 Phạm vi nghiên cứu……… 13
6 Câu hỏi nghiên cứu……… 13
7 Mục đích nghiên cứu……… 14
8 Giả thuyết nghiên cứu……… 14
9 Phương pháp nghiên cứu……… 14
10 Kết cấu luận văn……… 16
NỘI DUNG……… 17
Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của nghiên cứu……… 17
1.1 Các khái niệm liên quan……… 17
1.1.1 Khái niệm sức khỏe……… 17
1.1.2 Khái niệm BHYT……… 17
1.1.3 Khái niệm nghèo……… 18
1.2 Bản chất của BHYT……… 21
Trang 51.3 Sự cần thiết của BHYT cho người nghèo……… 27
1.4 Vai trò và tầm quan trọng của BHYT……… 29
1.5 Đối tượng tham gia và phạm vi BHYT……… 32
1.5.1 Đối tượng BHYT……… 32
1.5.2 Đối tượng tham gia BHYT……… 33
1.5.3 Phương thức tham gia BHYT……… 34
1.6 Khái quát chung về đặc điểm huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội 35 1.6.1 Đặc điểm dân số, lao động……… 35
1.6.2 Nguồn thu nhập của các hộ trong huyện……… 36
1.6.3 Chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn huyện……… 36
Chương 2 Tình hình thực hiện Bảo hiểm y tế cho người nghèo tại huyện Chương Mỹ……… 38
2.1 Công tác tổ chức, triển khai rà soát xác định hộ nghèo……… 38
2.2 Tình hình cấp thẻ BHYT cho người nghèo……… 44
2.3 Tình hình sử dụng thẻ BHYT người nghèo trong việc khám chữa bệnh tại địa phương……… 46
2.4 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thẻ BHYT cho người nghèo tại huyện Chương Mỹ……… 52
2.4.1 Nguyên nhân về kinh tế……… 52
2.4.2 Khoảng cách địa lý đến cơ sở y tế……… 54
2.4.3 Thời gia chờ đợi quá lâu……… 55
2.4.4 Thủ tục rườm rà……… 56
2.4.5 Chất lượng và thái độ phục vụ còn hạn chế……… 57
2.4.6 Chất lượng thuốc không tốt……… 58
2.4.7 Bị phân biệt đối xử……… 59
2.4.8 Trình độ y bác sỹ……… 60
Trang 62.4.9 Thiếu trang thiết bị, trang thiết bị không hiện đại………… 61
2.5 Vai trò công tác xã hội trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng BHYT cho người nghèo ở huyện Chương Mỹ……… 62
2.5.1 Giáo dục nâng cao nhận thức về lợi ích BHYT cho người nghèo……… 62
2.5.2 Vai trò biện hộ……… 65
2.5.3 Vai trò kết nối các nguồn lực……… 65
2.5.4 Vai trò tư vấn hỗ trợ cho người nghèo……… 66
2.5.5 Đánh giá và vận động chính sách……… 67
Chương 3 Đề Xuất và khuyến nghị……… 69
3.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người nghèo về lợi ích BHYT trong KCB……… 70
3.2 Quy định mức viện phí và điều chỉnh viện phí phù hợp……… 72
3.3 Nâng cao chất lượng mạng lưới y tế……… 73
3.4 Đổi mới chính sách đi đối với tăng cường công tác quản lý tài chính y tế các cơ sở khám chữa bệnh……… 74
3.5 Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các cơ sở y tế trong việc khám chữa bệnh, đầu tư trang thiết bị y tế………… 75
3.6 Huy động tài chính từ xã hội……… 75
3.7 Đầu tư kinh phí để phát triển y tế cơ sở……… 77
3.8 Tăng cường công tác quản lý y tế……… 78
KẾT LUẬN……… 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 80
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1 Quy định chuẩn nghèo, cận nghèo của thành phố Hà
Nội giai đoạn 2011 – 2015
38
Bảng 2.2 Thống kê hộ nghèo các xã trên địa bàn huyện Chương
Mỹ năm 2014
39
Bảng 2.5 Chi phí điều trị bình quân theo tuyến điều trị và hình
thức điều trị
50
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Số thẻ BHYT được cấp phát qua các năm 2010 - 2014 44
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ người nghèo sử dụng thẻ BHYT phân bố theo
trình độ học vấn
48
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển nhanh và bền vững đang là mục tiêu quan trọng trong cải cách kinh tế - xã hội của đất nước ta Bên cạnh việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, công tác xóa đói giảm nghèo được Nhà nước coi là một bộ phận quan trọng của mục tiêu phát triển Trong những năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong cải cách kinh tế, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trong đó không thể không đề cập đến các chính sách chăm sóc sức khỏe cho một bộ phận không nhỏ người nghèo là một trong những định hướng
ưu tiên của Đảng và Nhà nước ta nhằm đảm bảo công bằng trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế Xác định được tầm quan trọng của công tác Chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhiều chính sách y tế quan trọng đã được ban hành, góp phần đảm bảo quyền lợi cho người dân trong chăm sóc sức khỏe, Khám chữa bệnh (KCB), trong đó có chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) dành cho đối tượng người nghèo. Đặc biệt, khi Luật BHYT có hiệu lực thi hành từ 01/7/2009, đã có vai trò quyết định kết quả thực hiện chính sách BHYT, đánh dấu bước phát triển mới trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân Một trong những điểm ưu việt của chính sách BHYT là việc quy định mức hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước
để mua thẻ BHYT cho các nhóm đối tượng chính sách xã hội trong đó đối tượng thuộc hộ nghèo được hỗ trợ 100% số tiền mua thẻ, đối tượng thuộc hộ gia đình cận nghèo được hỗ trợ tối thiểu 50% số tiền mua thẻ
Huyện Chương Mỹ với điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, mức sống người dân còn thấp so với mặt băng của Thủ đô Dù vậy Đảng bộ chính quyền nơi đây vẫn hết sức quan tâm đến việc chăm lo sức khỏe cho người dân mà thể hiện rõ nét nhất đó là việc xây dựng các chính sách, chương trình xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe cho người nghèo thông qua chính sách BHYT đã bao
Trang 10phủ hầu hết số người nghèo với nhiều chế độ hỗ trợ cả về tài chính, dinh dưỡng, chế độ KCB Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số những tồn tại làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng BHYT, chất lượng KCB BHYT cho người nghèo Công tác rà soát, xác định hộ nghèo còn nhiều bất cập, thiếu công bằng, dân chủ dẫn đến người nghèo không được hưởng thẻ BHYT, công tác triển khai cấp thẻ BHYT ở một số xã còn chậm chễ, còn để xảy ra tình trạng cấp thiếu thẻ, trùng thẻ hoặc cấp thẻ sai thông tin dẫn đến khi người dân đi KCB gặp nhiều khó khăn, Chất lượng KCB cho người nghèo còn ở mức thấp chưa đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng của người nghèo, Việc sử dụng thẻ BHYT của người nghèo bị chi phối bởi một số những rào cản cần khắc phục về cơ sở hạ tầng, máy móc trang thiết bị, thủ tục, thời gian, thái độ và trách nhiệm của cán bộ y tế, việc tiếp cận và sử dụng các dịch vu y tế còn nhiều khó khăn, nhận thức về quyền lợi khi tham gia BHYT của người nghèo còn hạn chế làm ảnh hưởng đến việc tiếp cận
và sử dụng các dịch vu y tế trong khi đó người nghèo lại có nhu cầu KCB cao,
sự bất bình đẳng trong KCB, chăm sóc y tế đối với người nghèo còn diễn ra khá phổ biến Xuất phát từ thực trạng khảo sát tại địa phương và từ những mong muốn, nguyện vọng của người nghèo trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng BHYT, tiếp cận và thụ hưởng các chính sách BHYT đem lại Chính vì vậy tôi đã
lựa chọn đề tài “ Bảo hiểm y tế cho người nghèo thực trạng và giải pháp tại
huyện Chương Mỹ, Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu của mình nhằm góp phần
nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng thẻ BHYT cho người nghèo và đóng góp một phần công sức nhỏ bé cùng với các cấp, ban ngành, đoàn thể, trong nỗ lực cải thiện chăm sóc sức khỏe cho người dân ở địa phương
Trang 112 Vài nét về vấn đề nghiên cứu
2.1 Tình hình thực hiện Bảo hiểm y tế tại một số quốc gia ở Châu Á
Trên thế giới, BHYT là một vấn đề không mới nhưng rất được các nhà khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu vì BHYT luôn mang ý nghĩa nhân đạo,
có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là mục tiêu hướng tới của tất cả các quốc gia khi thực hiện chính sách BHYT
Nhiều quốc gia khu vực châu Á đã thực hiện BHYT toàn dân từ vài năm đến vài chục năm nay với độ phủ 80-90% dân số như Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc Năm 1922, Nhật Bản là quốc gia châu Á đầu tiên ban hành Luật BHYT Việc thi hành bị trì hoãn cho tới năm 1927 vì đã xảy ra trận động đất Kanto khủng khiếp vào năm 1923 Tiếp đó, năm 1938 Nhật Bản ban hành Luật BHYT quốc gia, năm 1939 ban hành Luật BHYT cho người lao động, Luật BHYT cho ngư dân [33]
Đối tượng tham gia BHYT theo quy định của pháp luật Nhật Bản rất rộng, bao gồm những người làm công ăn lương, lao động tự do, nông dân và người không có nghề nghiệp Tuy nhiên, pháp luật BHYT có những quy định phù hợp dành riêng cho từng đối tượng BHYT cho người lao động được thực hiện theo nơi làm việc BHYT quốc gia được thực hiện theo vị trí địa lý
Nguồn quỹ BHYT được hình thành từ sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và tài trợ của Nhà nước Trách nhiệm đóng BHYT được thực hiện theo nguyên tắc mức phí đóng BHYT được chia đều, người lao động đóng 50%, chủ sử dụng lao động đóng 50% Luật BHYT Nhật Bản xác định riêng hai loại quỹ cho các đối tượng để có sự hỗ trợ cho những đối tượng yếu thế Quỹ BHYT quốc gia áp dụng cho lao động tự do, nông dân và người không
Trang 12có nghề nghiệp Nhà nước bảo trợ nhiều hơn cho loại quỹ này, vì đối tượng của quỹ thường có thu nhập thấp và không ổn định Quỹ BHYT của người làm công
ăn lương, đây là đối tượng có thu nhập thường xuyên và ổn định
Luật BHYT Nhật Bản quy định bệnh nhân BHYT phải thực hiện trách nhiệm cùng chi trả Quy định này nhằm tăng thêm chi phí cho quỹ BHYT, đồng thời hạn chế sự lạm dụng quỹ từ phía người thụ hưởng Mức cùng chi trả phụ thuộc vào đối tượng hoặc nhóm đối tượng Cụ thể: người lao động tự do trả 30%, công chức trả 20%, người lao động hưởng lương trả 10% chi phí khám chữa bệnh[33]
Ở Hàn Quốc, tháng 12 năm 1963 Luật BHYT có hiệu lực và bắt đầu thực thi tại Hàn Quốc Đến tháng 12 năm 1976 Luật BHYT đã được sửa đổi gần như hoàn toàn Sau khi Luật BHYT được sửa đổi và áp dụng năm 1976, đối tượng tham gia BHYT được mở rộng nhanh chóng Nếu như năm 1977 chỉ triển khai đến các công ty, hãng lớn có từ 500 công nhân trở lên, thì đến năm 1988 đã mở rộng đến các công ty nhỏ và bước đầu thí điểm đến những người lao động tự do, sau đó không ngừng mở rộng thêm các đối tượng Đến năm 1989, Hàn Quốc đã đạt độ bao phủ toàn dân với gần 100% người Hàn Quốc có BHYT[27]
Mức đóng BHYT của người dân Hàn Quốc tính theo thu nhập hoặc tài sản cố định Thông thường người lao động đóng 2-8% thu nhập; công chức đóng 4,2% thu nhập, Chính phủ cùng nộp 4,2% Còn đối với lao động tự do, mức đóng được tính theo mức xếp loại thu nhập hoặc tài sản cố định Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 30% mức phí nhằm mục đích đảm bảo chi phí quản lý[27]
Ở Thái Lan, từ năm 1975 đến năm 2001, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện BHYT cho nhóm người nghèo và nhóm người bị thiệt thòi Đến năm 1981, Chính phủ triển khai chương trình cấp thẻ cho người có thu nhập thấp (LIC) đến
Trang 13những người có thu nhập hàng tháng dưới 1.000 baht/tháng Năm 1983, chương trình LIC mở rộng đến những người già trên 60 tuổi Vào năm 1993, LIC được
mở rộng đến trẻ em dưới 12 tuổi và các lãnh đạo tôn giáo
2.2 Một số nghiên cứu trong nước
BHYT là một trong những hợp phần quan trọng cấu thành nên hệ thống
an sinh xã hội ở nước ta Xác định được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của BHYT trong chăm sóc sức khỏe nhân dân Vì thế việc nghiên cứu về chính sách BHYT luôn được nhà nước và các nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên góp phần xây dựng và ngày càng hoàn thiện chính sách BHYT Năm 1999 Phạm
Huy Dũng và cộng sự với nghiên Cứu “ Viện phí và người nghèo ở việt nam”
Tác giả đưa ra nhận định chất lượng chăm sóc y tế cho nghèo kém hơn so với chất lượng của các bệnh nhân trả tiền Tác giả đã tiến hành phân tích từ số liệu bệnh án của bác sỹ cho thấy số ngày nằm viện của những bệnh nhân được miễm phí dài hơn số ngày nằm viện của những bệnh nhân trả tiền chi phí khám chữa bệnh cho bệnh nhân này thấp nhất do đó những bệnh nhân này đã được chữa bệnh với số lượng thuốc ít hơn và rẻ hơn so với bệnh nhân trả tiền[22]
Tiếp sau đó là một số công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách Bảo hiểm y tế người nghèo như: “Chăm sóc sức khỏe cho người nghèo trong giai đoạn hiện nay “của Lê Quang Hoành và cộng sự năm 2000[26], “ Sự mất công bằng trong chăm sóc sức khỏe và trong sử dụng các dịch vụ y tế ở Ba Vì Hà Tây phạm Huy Dũng và cộng sự năm 2002[23], “ Tác động của Quỹ KCB cho người nghèo đối với hộ gia đình nghèo ở 2 tỉnh hải dương và Bắc Giang “ Đàm Viết Cương công bố năm 2005[19] Nội dung các nghiên cứu nhìn chung đều khẳng định tính ưu việt của BHYT, chỉ ra sự bất công bằng trong chăm sóc sức khỏe cũng như trong sử dụng các dịch vụ y tế, những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo
Trang 14Dưới góc nhìn về giới ở vùng nông thôn Việt Nam trong sẵn sàng chi trả BHYT tác giả Vương Lan Mai với nghiên cứu “Sự khác biệt về giới trong sẵn sàng chi trả cho mô hình BHYT dựa vào cộng đồng ở một vùng nông thôn Việt Nam”, năm 2005 Tác giả nhận định so với nam giới thì trình độ học vấn của nữ giới thấp hơn, trong BHYT cũng vậy dù ở bất kỳ loại BHYT nào thì tỷ lệ có BHYT cũng thấp hơn, tỷ lệ nữ giới là nông dân cao hơn, tỷ lệ thuộc hộ nghèo cũng cao hơn Nam giới sẵn sàng chi trả cao hơn nữ giới, người nghèo sẵn sàng chi trả thấp hơn người nghèo[37] Cũng trong năm 2005 tác giả Dương Huy Liệu và cộng sự đi sâu tìm “Các giải pháp tài chính cho người nghèo” Tác giả
đã phân tích, đánh giá thực trạng nghèo đói và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người nghèo tại Việt Nam Đánh giá kết quả và hạn chế của các giải pháp về tài chính y tế cho người nghèo đã được thực hiện tại Việt Nam Đề xuất giải pháp
có tính khả thi về cơ cấu cung cấp tài chính chăm sóc sức khỏe cho người nghèo[32]
Những năm sau đó tiếp tục có một số công trình nghiên cứu về chính sách BHYT dưới nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên đáng chú ý là năm 2007, tác giả Đàm Viết Cương với nghiên cứu “ Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho người nghèo tại năm tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên” Tác giả nhận định trạm y tế xã là cơ sở chủ yếu cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú cho người nghèo ở các tỉnh Y tế tư nhân có vai trò không đáng kể trong cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo
có tác động tích cực tới việc chăm sóc sức khỏe cho người nghèo trong nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế cũng như giảm gánh nặng tài chính cho những người nghèo Tác giả cũng đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng tới việc
sử dụng dịch vụ y tế của người nghèo như bệnh không nặng, khó khăn trong việc đi lại, chất lượng dịch vụ đặc biệt tại tuyến xã còn nhiều hạn chế, thiếu hiểu
Trang 15biết về chăm sóc sức khỏe là những rào cản chính ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế[20]
Ngoài ra còn một vài nghiên cứu khác đề cập đến BHYT Nhìn chung các nghiên cứu trên đều đã đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của BHYT Tuy nhiên về khía cạnh BHYT cho người nghèo đặc biệt tại một địa bàn ở một huyện của Hà Nội mà đời sống người dân còn thấp, chất lượng, hiệu quả sử dụng thẻ BHYT của người nghèo chưa cao trong khi đó nhu cầu KCB và chăm sóc sức khỏe của người nghèo rất lớn thì chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích, tìm hiểu Hơn nữa việc lồng ghép các vai trò, hoạt động công tác xã hội để nâng cao hiệu quả sử dụng BHYT cho người nghèo, giúp cho họ có điều kiện tiếp cận và
sử dung các dich vụ y tế, chăm sóc sức khỏe hiệu quả hơn cũng là những điểm mới của nghiên cứu này
3 Ý nghĩa của nghiên cứu
Trang 16Đối với bản thân nhà nghiên cứu: qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực tế nhà nghiên cứu có cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề BHYT cho người nghèo,có cơ hội đề xuất, áp dụng những giải pháp và phương pháp đã được học vào thực tiễn cuộc sống đồng thời giúp nhà nghiên cứu nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và có thêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên cứu tiếp theo và quá trình công tác của bản thân
4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả của việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo
Khách thể nghiên cứu: Người thuộc hộ nghèo, cán bộ phụ trách công tác giảm nghèo, cán bộ bảo hiểm xã hội ở xã, huyện, cán bộ y tế xã, huyện trên địa bàn huyện Chương Mỹ
5 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: xã Đông Sơn và xã Thanh Bình thuộc huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội Đây là hai xã đều có số lượng người nghèo chiếm tỷ lệ cao trong huyện, điều kiện kinh tế còn khó khăn kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao chiếm 78% thu nhập của người dân, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch
vụ chưa phát triển, trình độ dân trí còn chưa cao, hoạt động văn hoá, xã hội còn nhiều khó khăn
Thời gian: nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014
6 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng vấn đề sử dụng BHYT cho người nghèo ở huyện Chương Mỹ hiện nay như thế nào?
Trang 17Những nguyên nhân nào dẫn đến những hạn chế trong việc sử dụng thẻ BHYT cho người nghèo tại huyện Chương Mỹ ?
Nhận thức của người nghèo về lợi ích của thẻ BHYT trong chăm sóc sức khỏe ở huyện Chương Mỹ ra sao ?
Nhu cầu khám chữa bệnh của người nghèo bằng thẻ BHYT như thế nào ?
7 Mục đích nghiên cứu:
Là tìm hiểu rõ thực trạng và phân tích các nguyên nhân của những tồn tại trong công tác triển khai BHYT cho người nghèo, hiệu quả sử dụng BHYT cho người nghèo ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng BHYT cho người nghèo trong việc khám chữa bệnh tại điạ phương
8 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác tổ chức, triển khai rà soát BHYT cho người nghèo ở huyện Chương Mỹ còn nhiều bất cập
Hiệu quả sử dụng BHYT của người nghèo khi đi khám chữa bệnh ở huyện Chương Mỹ còn chưa cao
Nhận thức về tác dụng của thẻ BHYT trong chăm sóc sức khỏe của một
bộ phận không nhỏ người nghèo còn hạn chế
Nhu cầu khám chữa bệnh của người nghèo bằng BHYT là rất lớn
9 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và
Trang 18chủ nghĩa duy vật lịch sử, thông qua các nguyên tắc luận, khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử cụ thể và thực tiễn để nghiên cứu và tiếp cận chính sách Bảo hiểm y tế cho đối tượng người nghèo
Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu
Để có số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, nhà nghiên cứu đã tìm hiểu một số tài liệu như: các nghiên cứu về vấn đề BHYT toàn dân và BHYT cho người nghèo của một số tác giả, tài liệu trong và ngoài nước; một số luật, quyết định, nghị quyết, công văn liên quan đến BHYT và khám chữa bệnh; các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế xã hội, công tác tổ chức triển khai BHYT cho người nghèo, chi phí thanh toán khám chữa bệnh hàng năm của huyện và các xã, thị trấn; báo cáo tổng kết hoạt động hàng năm của các cơ quan, đoàn thể huyện Chương Mỹ… và các tài liệu liên quan khác
Phương pháp phỏng vấn bảng hỏi
Để điều tra mức độ nhận thức, nhu cầu về tác dụng, hiệu quả của BHYT đối với người nghèo tại huyện Chương Mỹ, nhà nghiên cứu tiến hành phỏng vấn theo bảng hỏi với quy trình như sau: Phỏng vấn dựa trên bảng hỏi đã được thiết
kế sẵn gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở Sau đó, tập hợp kết quả thu được,
xử lý tính theo tỷ lệ phần trăm
Kết quả được thực hiện trên mẫu đại diện cho các hộ gia đình nghèo Số lượng mẫu là 200 người nghèo tại 2 xã Đông Sơn và Thanh Bình, đây là hai xã đều có số lượng người nghèo chiếm tỷ lệ cao trong huyện , điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn Trong đó, mỗi xã đảm bảo cơ cấu đại diện bốn nhóm
độ tuổi khác nhau: dưới 16 tuổi, 16 - 35 tuổi, 36 - 50 tuổi, từ 50 tuổi trở lên
Phương pháp phỏng vấn sâu
Trang 19Nhà nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài đã tiến hành phỏng vấn
sâu cá nhân 07 người thuộc hộ nghèo, 01 lãnh đạo xã, 01 cán bộ làm công tác lao động thương binh xã hội và 01 cán bộ y tế xã, trong đó:
Các kết quả phỏng vấn sâu giúp cho người đọc hiểu rõ hơn, chi tiết hơn về thực trạng vấn đề sử dụng thẻ BHYT cho người nghèo và các vấn đề liên quan đến việc khám chữa bệnh của người nghèo
Phương Pháp quan sát
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, nhà nghiên cứu đã tiến hành quan sát nghe, nhìn trong quá trình đi phỏng vấn sâu thu thập những thông tin về các hiện tượng liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm đánh giá độ chính xác của thông tin thu được về thực trạng, thái độ, nhận thức của người nghèo trong vấn đề khám chữa bệnh của người nghèo thông qua BHYT tại địa phương
10 Kết cấu của luận văn
Luận văn này ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, khuyến nghị và Phụ lục, nội dung chính chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của nghiên cứu
Chương 2 Tình hình thực hiện Bảo hiểm y tế cho người nghèo tại huyện Chương Mỹ
Chương 3 Đề xuất và khuyến nghị
Trang 20NỘI DUNG Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của nghiên cứu
1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm sức khỏe
Theo Tổ chức y tế thế giới “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật”
1.1.2 Khái niệm BHYT
Khái niệm BHYT, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “là loại bảo hiểm
do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể
và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân"[35] Cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa nhận quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) với cách tiếp cận BHYT là một nội dung thuộc an sinh xã hội và là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế cho người tham gia khi gặp rủi
ro, ốm đau, bệnh tật
Theo Luật BHYT do Quốc hội ban hành ngày 14/11/2008, BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật Về cơ bản, đó là một cách dành dụm một khoản tiền trong số tiền thu nhập của mỗi cá nhân hay mỗi hộ gia đình để đóng vào quỹ do Nhà nước đứng ra quản lý, nhằm giúp mọi thành viên tham gia quỹ
có ngay một khoản tiền trả trước cho các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khi người tham gia không may ốm đau phải sử dụng các dịch vụ đó, mà
Trang 21không phải trực tiếp trả chi phí khám chữa bệnh Cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ thanh toán khoản chi phí này theo quy định của Luật BHYT
BHYT là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng, là cơ chế tài chính vững chắc giúp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân Chính sách BHYT của Việt Nam được bắt đầu thực hiện từ năm 1992 Trong suốt hơn 20 năm qua, BHYT đã khẳng định tính đúng đắn của một chính sách xã hội của Nhà nước, phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước BHYT còn góp phần đảm bảo sự công bằng trong khám chữa bệnh, người lao động, người sử dụng lao động và người dân nói chung ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về sự cần thiết của BHYT cũng như trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội [9] Đông đảo người lao động, người nghỉ hưu, mất sức, đối tượng chính sách xã hội và một bộ phận người nghèo yên tâm hơn khi ốm đau đã có chỗ dựa khá tin cậy là BHYT
1.1.3 Khái niệm nghèo
Nghèo đói là vấn đề mang tính lịch sử, nó luôn vận động và biến đổi theo thời gian và không gian nhất định Ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia, mỗi khu vực hay mỗi tổ chức đều có quan niệm khác nhau về vấn đề này Để đưa ra khái niệm nghèo đói một cách chính xác là vấn đề rất khó
Ở Việt Nam, đã có nhiều quan điểm đưa ra xung quanh vấn đề khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực đánh giá nghèo đói Tuy nhiên, có rất nhiều ý kiến tách riêng đói và nghèo, theo đó:
Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một
phần các nhu cầu tối thiểu, cơ bản của cuộc sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện
Ngoài khái niệm nghèo (nghèo đói) nói chung, ở Việt Nam còn có khái
niệm đói Theo Nguyễn Hữu Hải: “Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo
Trang 22có mức sống dưới mức tối thiểu, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thu nhập không đủ đảm bảo duy trì cuộc sống” [24; 25]
Một chuyên gia của tổ chức Lao động quốc tế (ILO), ông Abapiasen -
người được giải Noben năm 1998 thì cho rằng: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội
lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”
Theo quan niệm này, rõ ràng nghèo đói là những người đang phải đối mặt với cái ăn, cái mặc, cuộc sống thiếu thốn mọi thứ đối với bản thân, thì không thể
có điều kiện tham gia với cộng đồng trong việc phát triển chung
Tại hội nghị chống nghèo đói ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 tại Băng Cốc – Thái Lan đã đề cập đến nghèo
đói như sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng
thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu ấy được xã hội thừa nhận phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của địa phương” [49]
Theo cách nhìn nhận của Ngân hàng phát triển Châu Á, thì người nghèo
được tiếp cận theo 2 cách, đó là: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
“Nghèo đói tuyệt đối là việc không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống của con người” Nghèo đói tuyệt đối có xu hướng đề
cập đến những người thiếu ăn theo nghĩa đen
“Nghèo đói tương đối là tình trạng không có khả năng đạt tới mức sống tối thiểu tại một thời điểm nào đó”
Trang 23Theo nghiên cứu của ILO cho rằng: “nghèo đói không chỉ là thiếu thốn về
thu nhập mà thiếu sự tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục và các dịch vụ cơ bản khác”
Ở Việt Nam, trước đây quan niệm những người nghèo khổ là những người
bần cố nông, không có ruộng đất, đi làm thuê cuốc mướn, cấy rẽ
Ngày nay, xác định những người nghèo, hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập thấp không đảm bảo cuộc sống tối thiểu, những hộ gia đình thường xuyên thiếu ăn
Còn người dân thì quan niệm nghèo đói của họ rất đơn giản và thực tế Nếu có sự thiếu thốn gì đó thì họ có thể cho là nghèo Ví dụ: không có tiền cho con đi học, không có tiền mua sắn vật dụng…đều được họ cho là nghèo đói
Từ những cách tiếp cận trên, tác giả cho rằng dù được xuất phát từ những quan điểm, cách tiếp cận nào thì khái niệm nghèo đói cũng dùng để chỉ một người hay một nhóm người trong xã hội và đang phải sống trong cảnh thiếu thốn, không đảm bảo được cuộc sống hàng ngày với những nhu cầu tối thiểu cho
bản thân và không được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội thiết yếu Như vậy,
khái niệm nghèo đói là sự thiếu hụt có thể là một khái niệm phù hợp và bao quát nhất
Tóm lại, có thể đưa ra một khái niệm chung về nghèo đói như sau:
Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân
cư là thấp, không đảm bảo những nhu cầu tối thiểu của con người (ăn, mặc, ở, học tập, sức khoẻ, chăm sóc, đi lại,…) mà những nhu cầu này theo một tiêu chuẩn đã được xã hội thừa nhận [12]
Trang 241.2 Bản chất của BHYT
BHYT trước hết là một nội dung của BHXH - một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống bảo đảm xã hội hay còn gọi là hệ thống an sinh xã hội Cùng với các hệ thống cung cấp (hay còn gọi là chế độ ưu đãi xã hội, chế độ bao cấp) và hệ thống cứu trợ xã hội, hoạt động của BHYT nói riêng và hoạt động của BHXH nói chung, đã thực sự trở thành nền móng vững chắc cho sự bình ổn
xã hội Chính vì vai trò cực kỳ quan trọng của BHXH như vậy, cho nên ở mọi quốc gia trên thế giới, hoạt động của BHXH luôn do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện theo hệ thống pháp luật về BHXH Đó cũng là một cơ sở quan trọng
để phân biệt giữa BHXH về y tế và bảo hiểm tư nhân về y tế Trong các nước công nghiệp phát triển thì loại hình BHYT tư nhân cũng được phát triển và cùng tồn tại song song với BHXH về y tế Vì vậy, nói đến BHYT ở đây là chúng ta hiểu là đang đề cập đến BHXH về y tế hay nói cách khác là BHYT theo luật pháp.Thực ra BHXH ở nước ta hiện có các chế độ: Chế độ trợ cấp ốm đau, Chế
độ trợ cấp thai sản, Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, Chế độ hưu trí, Chế độ tử tuất thì cũng có thể hiểu BHYT là Chế độ khám chữa bệnh Khi lâm bệnh, người bệnh buộc phải đến các cơ sở y tế để được khám chữa bệnh (KCB) Cũng từ bệnh tật, nhất là những bệnh tật kinh niên, bệnh mãn tính hoặc bệnh hiểm nghèo đã dẫn đến các khoản chi phí KCB cực kỳ lớn Có những người bệnh phải được sử dụng các công nghệ kỹ thuật cao trong việc chẩn đoán
và chữa trị bệnh, phải sử dụng các loại thuốc đắt tiền và phải lưu trú dài ngày tại bệnh viện Những khoản chi phí này không phải ai cũng có thể tự lo liệu được Bệnh tật đã dồn con người vào những thảm cảnh đáng lo ngại Đối với những người bệnh do hoàn cảnh nghèo túng thì phải vay mượn để chữa trị bệnh tật và sau đó trả nợ và có nhiều người cũng không thể vay mượn để tiếp tục được chữa trị Những người có điều kiện kinh tế khá giả hơn hoặc cận nghèo thì sau những đợt bệnh tật cũng có thể bị đẩy vào tình cảnh nghèo khó Đồng thời, với bệnh tật
Trang 25cũng kéo theo sự mất mát về thu nhập do người bệnh không có sức khoẻ để làm việc Từ đó đã đe doạ đến cơ sở kinh tế và sự tồn tại trước hết của bản thân những người lao động, sau đó đến các thành viên, những người ăn theo trong gia đình người bệnh và sau đó ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội Do vậy, người ta phải cần đến BHYT BHYT sẽ đảm bảo chi trả toàn bộ hoặc từng phần (tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội của từng nước) những chi phí KCB "khổng lồ" nói trên, giúp cho người bệnh vượt qua cơn hoạn nạn về bệnh tật, sớm phục hồi sức khoẻ cũng như ổn định cuộc sống gia đình BHYT sẽ bảo đảm cho những người tham gia BHYT và các thành viên gia đình của họ những khả năng để đề phòng, ngăn ngừa bệnh tật; phát hiện sớm bệnh tật; chữa trị và khôi phục lại sức khoẻ sau bệnh tật Do các chế độ BHXH về khám chữa bệnh, chế độ thai sản và chế độ
ốm đau (chi trả tiền thay thế tiền lương trong những ngày ốm đau không làm việc được) đều có cùng phương thức hoạt động và các nguyên tắc cơ bản chung, cho nên tùy theo đặc điểm lịch sử, tập quán của từng nước mà BHYT có thể bao gồm cả chế độ khám chữa bệnh, chế độ thai sản và chế độ ốm đau hoặc được tách ra theo từng chế độ riêng biệt Điều đó liên quan đến phạm vi đối tượng tham gia BHXH, đến mức đóng góp và các chế độ được hưởng
Ở các nước công nghiệp phát triển người ta định nghĩa BHYT trước hết là một tổ chức cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, nó có nhiệm vụ gìn giữ sức khỏe, khôi phục lại sức khỏe hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của người tham gia BHYT Như vậy, trong hoạt động BHYT thì tính cộng đồng đoàn kết cùng chia xẻ rủi ro rất cao; nó là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe;
nó điều tiết mạnh mẽ giữa người khoẻ mạnh với người ốm yếu, giữa thanh niên với người già cả và giữa người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp Sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau trong BHYT là sự đảm bảo cho từng người dựa trên cơ sở của sự đoàn kết không điều kiện, của sự hợp tác cùng chung lòng, chung sức và gắn kết chặt chẽ với nhau Theo định nghĩa BHYT nêu trên, thì sự
Trang 26đoàn kết tương trợ vừa mang một ý nghĩa tự giác, vừa mang ý nghĩa cùng chịu trách nhiệm và vừa có sự thống nhất về quan điểm chung Người ta còn cho rằng: Đoàn kết tương trợ là nền tảng xã hội cho sự phát triển của mỗi chế độ xã hội loài người và nó mang lại một gương mặt nhân đạo mới cho chế độ xã hội
đó Tính nhân đạo của hoạt động đoàn kết tương trợ sẽ đánh dấu bước tiến bộ của thể chế xã hội Đây cũng chính là bản chất nhân văn của hoạt động BHYT
mà chúng ta thường đề cập đến Tuy nhiên đoàn kết tương trợ không chỉ là quyền được nhận mà còn phải là nghĩa vụ đóng góp Sự công bằng và bình đẳng của một chế độ xã hội được gắn bó với sự đoàn kết được thể hiện ở chỗ: ai muốn đạt được sự bền chặt về đoàn kết thì cần thực hiện nhiều hơn sự công bằng Điều
đó chỉ có thể được tạo ra thông qua sự điều chỉnh trong thực tế, vì "sự công bằng" là yếu tố động, nó chỉ đạt được tại một thời điểm, còn lại đều là sự không công bằng Đây là một trong những yếu tố tác động đến sự phát triển xã hội Do vậy, cần phải có sự tích cực điều chỉnh thực tế một cách thường xuyên nhằm đảm bảo mối quan hệ tương thích giữa nghĩa vụ và quyền lợi trong hoạt động của BHYT
Nếu nhìn trên tổng thể nền kinh tế quốc dân và xét về phương diện điều tiết kinh tế vĩ mô thì công cụ BHXH - trước hết phải kể đến BHYT là công cụ thứ hai trong quá trình phân phối lại (công cụ thứ nhất là thuế) góp phần bảo đảm sự bình đẳng và công bằng xã hội
Nếu nhìn trên tổng thể nền kinh tế quốc dân và xét về phương diện điều tiết kinh tế vĩ mô thì công cụ BHXH - trước hết phải kể đến BHYT là công cụ thứ hai trong quá trình phân phối lại (công cụ thứ nhất là thuế) góp phần bảo đảm sự bình đẳng và công bằng xã hội Hệ thống BHXH về y tế ngay từ khi hình thành đã không định hướng theo mức độ rủi ro mà định hướng theo nguyên tắc đáp ứng đặc biệt và không phải chi trả trực tiếp Điều đó được thể hiện rất rõ
Trang 27là: khi bị ốm đau thì người bệnh sẽ được chữa trị cho đến khi khoẻ mạnh trở lại bằng mọi phương pháp, kỹ thuật y tế hiện thời mà không căn cứ vào trước đó họ
đã đóng góp BHXH được bao nhiêu Nếu định hướng theo mức độ rủi ro thì khi
ốm đau họ sẽ được đền bù với mức là bao nhiêu căn cứ vào trước đó họ đã đóng góp theo mức nào như trong BHYT tư nhân hay còn gọi là bảo hiểm thương mại Chính định hướng này đã làm nền tảng cho các nguyên tắc cơ bản về BHYT, nó được tồn tại và phát triển đến ngày nay Đến nay, đặc trưng của hoạt động BHXH trong lĩnh vực y tế vẫn là sự định hướng theo nhu cầu sức khoẻ cần bảo vệ, đối tượng tham gia vẫn là đông đảo những người có quan hệ lao động, đối tượng này chiếm phần lớn trong BHYT Trong quá trình phát triển, BHYT luôn mở rộng phạm vi đối tượng tham gia theo nghĩa vụ (mang tính chất bắt buộc) và ban đầu là BHYT cho người lao động làm thuê (người có quan hệ lao động), rồi đến BHYT cho người lao động tự do, cho người lao động trong nông nghiệp cho đến khi BHYT toàn dân
Nếu nhìn nhận dưới giác độ kinh tế thì BHYT trước hết được hiểu là sự hợp nhất kinh tế của số lượng lớn những người trước cùng một loại hiểm nguy
do bệnh tật gây nên mà trong từng trường hợp cá biệt không thể tính toán trước
và lo liệu được Nhưng cái chung đó cần phải đáp ứng được bằng nguồn tài chính dự tính một cách thoả đáng thông qua hệ thống cân bằng rủi ro tương ứng
do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện Cụ thể như sau: Tổng chi phí cho khám chữa bệnh = Tổng số tiền đóng góp của những người tham gia BHYT Như vậy, cân đối về chi phí KCB được thực hiện cân bằng giữa một bên là tổng số chi phí KCB cho những người có nhu cầu và cần phải KCB và bên kia là tổng số đóng góp của tất cả những người tham gia BHYT bất kể họ có hoặc không có nhu cầu KCB (tức là cả những người đang khoẻ mạnh) Thời gian cân đối về thu - chi của BHYT thông thường là một năm Có những nước người ta tính toán cân đối
để dự trù kinh phí chi trả cho thời gian thêm là 1 tháng Việc cân đối thu chi còn
Trang 28có thể được bổ sung thêm tuỳ tình hình cụ thể của từng nước và từng năm cụ thể Trong tổng số chi còn phải tính thêm khoản chi phí cho bộ máy quản lý làm công tác BHYT Trong khoản thu có thể bao gồm cả các khoản thu từ đóng góp của ngân sách địa phương, của Trung ương và các khoản thu khác
Nguyên tắc cộng đồng chia xẻ rủi ro với ý tưởng nhân văn cao cả của nó
đã loại trừ mục tiêu lợi nhuận thương mại của cộng đồng những người tham gia BHYT Do vậy, hoạt động BHXH về y tế không có khoản thu lợi nhuận và đương nhiên cũng không vì mục đích lợi nhuận Vì vậy, tỷ lệ đóng góp chỉ được nâng lên theo đòi hỏi quyền lợi chung của quá trình thực hiện BHYT Tức là tỷ
lệ đóng góp BHYT chỉ được nâng lên theo nhu cầu chữa trị bệnh tật, nhu cầu nâng cao chất lượng KCB và ứng dụng những thành tựu khoa học tiến tiến vào công tác KCB của cả cộng đồng
Phương thức đoàn kết, tương trợ, chia xẻ rủi ro phải được thực hiện bằng
sự điều tiết nhằm cân bằng mang tính xã hội Việc lập ra quỹ BHYT và từng bước mở rộng phạm vi đối tượng tham gia mà từng bước mở rộng phạm vi cân bằng, chia xẻ rủi ro trong cộng đồng những người tham gia BHYT Về mặt kỹ thuật bảo hiểm thì nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia xẻ rủi ro chính là quá trình phân phối lại giữa những người khoẻ mạnh với người ốm đau, người trẻ với người già Vì vậy, đối tượng tham gia bảo hiểm phải không ngừng được mở rộng trong suốt quá trình phát triển và được định hướng cho nhiều nhóm đối tượng lao động khác nhau (ví dụ không phân biệt giữa người lao động có thu nhập cao với người có thu nhập thấp, giữa người đi làm việc với người thất nghiệp hoặc người đã nghỉ hưu, giữa gia đình có thu nhập cao, không con cái với gia đình đông con) mới có ý nghĩa trong việc điều tiết trong cộng đồng xã hội
Trang 29Nguyên tắc đoàn kết tương trợ cùng chia xẻ rủi ro chỉ được thực hiện một cách đầy đủ và hợp lý thông qua những giới hạn nhất định BHYT chỉ bao gồm những đối tượng là những người về nguyên tắc luôn có nhu cầu được bảo vệ về sức khoẻ Những đối tượng cụ thể sẽ được quy định trong pháp luật
BHXH về y tế được thực hiện trước hết đối với những người lao động phụ thuộc, tức là người lao động không có tư liệu sản xuất và phải đi làm thuê hay những người có quan hệ lao động Đây là loại hình BHXH nghĩa vụ, nó mang tính chất bắt buộc đối với mọi người lao động phụ thuộc và chủ sử dụng lao động Sau đó với bản chất ưu việt của BHXH về y tế nên nó được mở rộng ra các đối tượng lao động khác như người hành nghề tự do, lao động nông, lâm ngư nghiệp và BHYT theo đơn vị gia đình
Vấn đề KCB không đơn thuần chỉ liên quan đến vấn đề kỹ thuật y tế mà còn liên quan một cách rất chặt chẽ đến các yếu tố kinh tế như: các khoản chi trả cho các nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật (khám bệnh, phẫu thuật, thủ thuật ) của các bác sĩ, chi phí cho bệnh viện với các trang thiết bị, vật tư y tế phục vụ cho KCB và thuốc men - nếu nhìn dưới giác độ kinh tế - đó là "Cung" của ngành y
tế Còn phía "Cầu" là bệnh tật, những bệnh tật này cần đến các dịch vụ KCB và những hàng hóa cần thiết cho sức khoẻ Vì vậy khi thực hiện BHYT, ở các nước công nghiệp phát triển bên cạnh việc sử dụng vai trò điều tiết của Nhà nước, người ta còn chú trọng sử dụng quan hệ cung - cầu điều tiết trên thị trường sức khoẻ hay còn gọi là thị trường y tế nhằm đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn quỹ đóng góp của người tham gia BHYT và nâng cao chất lượng KCB
Trong các nước công nghiệp phát triển ở châu Âu, số người tham gia BHYT theo luật pháp chiếm tới 90% dân số, chỉ 10% dân số còn lại không tham gia BHXH Nhóm người này không thuộc diện đối tượng điều chỉnh của luật BHYT và phần lớn trong số họ là những người giàu có, họ có đủ khả năng tự lo
Trang 30liệu khi ốm đau hoặc tham gia BHYT tư nhân để hưởng những quyền lợi cao hơn khi ốm đau
Ở nước ta BHYT xã hội được tiến hành từ năm 1992 và cho đến nay vẫn thực hiện BHYT bắt buộc đối với người lao động có quan hệ việc làm giữa người sử dụng lao động với người lao động Những đối tượng xã hội như: người
có công với cách mạng, thân nhân sĩ quan quân đội, người nghèo cũng được Nhà nước cấp kinh phí để tham gia BHYT xã hội Các đối tượng là trẻ em dưới
6 tuổi được khám chữa bệnh miễn phí bằng nguồn ngân sách của Nhà nước và địa phương và đang được xem xét để tham gia BHYT Hình thức BHYT tự nguyện đang được vận động thực hiện đối với học sinh, sinh viên và nhóm cộng đồng theo địa bàn dân cư hoặc theo tổ chức xã hội
1.3 Sự cần thiết của Bảo hiểm y tế cho người nghèo
Con người trong cuộc sống, cũng như trong quá trình lao động luôn phải chịu ảnh hưởng và chịu sự tác động của môi trường xung quanh Sự tác động này bao gồm các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể Trong thời đại công nghiệp hoá hiện đại hoá, loài người lại chịu ảnh hưởng của những thứ do chính mình gây ra,
đó là nền sản xuất công nghiệp đã phá vỡ môi trường sinh thái do chất thải từ các khu công nghiệp tạo ra Thêm vào đó lao động không còn đơn thuần là một hành vi có ý thức của con người, không chịu bất cứ một ảnh hưởng hay tác động nào khác, mà ở nhiều nơi, nhiều người đã phải làm việc ở những môi trường nguy hiểm, độc hại Môi trường xung quanh có tác động lớn đến sức khoẻ của con người, nên ốm đau bệnh tật là khó ai tránh khỏi
Đặc biệt ở nước ta, hậu quả do chiến tranh để lại là rất nặng nề từ đó ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của nhân dân Chính vì vậy mà nhu cầu được chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ sức khoẻ là một nhu cầu tất yếu của mọi người dân trong cộng
Trang 31đồng xã hội Xã hội càng phát triển thì nhu cầu này càng tăng lên Tuy vậy khi
ốm đau không phải ai cũng đủ khả năng để trang trải các khoản chi phí khám chữa bệnh, đặc biệt là những người nghèo Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã xác định BHYT là một trong những loại hình hoạt động có bản chất nhân văn, nhân đạo cần phải được triển khai
Trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại, ngành y tế cũng đã
có những bước chuyển biến lớn, đi sát với sự phát triển của khoa học kỹ thuật,
do đó mà phương tiện khám chữa bệnh ngày càng hiện đại và đắt tiền Hệ thống dịch vụ được nâng cấp, đội ngũ cán bộ y tế được đào tạo ngày một chu đáo hơn, lành nghề hơn, trình độ quản lý kinh tế và hệ thống y tế ngày càng chặt chẽ hơn,
từ đó làm cho chi phí khám chữa bệnh tăng lên rất nhiều Đặc biệt, ngày nay y học đã phát triển mạnh mẽ, nhiều loại thuốc đặc trị ra đời, nên việc chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh ngày càng đắt đỏ Tình trạng này làm cho một bộ phận lớn dân cư không có khả năng chi trả khi ốm đau, bệnh tật, buộc phải có sự hỗ trợ của BHYT
Mặt khác khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, dịch vụ khám chữa bệnh thường đắt đỏ, có thể nói là cao nhất trong tất cả các dịch vụ xã hội Khi không may bị ốm đau bệnh tật bất ngờ, đại đa số người dân không đủ khả năng tài chính để bảo vệ sức khoẻ của mình cũng như gia đình Điều này dẫn đến sự cần thiết phải có một giải pháp để giải quyết vấn đề trên và Bảo hiểm y tế ra đời trên
cơ sở đó
Hơn nữa nền kinh tế tăng trưởng, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, tuổi thọ của người dân ngày càng được tăng lên, cơ cấu dân số được chuyển dịch theo chiều hướng số người già nhiều lên, làm cho nhu cầu khám chữa bệnh không ngừng tăng lên Vì vậy hệ thống khám chữa bệnh, cơ sở vật chất y tế chưa đáp ứng nổi, đặc biệt ngân sách Nhà nước không thể thoả mãn được nhu
Trang 32cầu này Chắnh vì thế chỉ có BHYT mới đáp ứng được với tắnh chất huy động sự đóng góp của số đông người khoẻ mạnh để bù đắp cho số ắt người ốm đau, giúp các gia đình, doanh nghiệp tháo gỡ được khó khăn
ở nước ta đã có một thời gian dài, Nhà nýớc dùng tiền từ ngân sách để lo việc chữa bệnh cho nhân dân Đến nay khả nãng đó rất hạn chế vì nhu cầu chữa bệnh ngày càng tăng, chi phắ y tế ngày càng đắt, trong khi đó cơ sở vật chất ngành y tế ngày càng giảm sút, cần phải sửa chữa cũng như cần có thêm các phương tiện để điều trị hữu hiệu
Việc thu một phần viện phắ trong những năm qua không những không đủ chi phắ cho ngành y tế, vì mức thu được là quá ắt so với thực chi khám chữa bệnh, mà còn tạo ra sự bất công mới, gây khó khăn cho người nghèo Để khắc phục từng bước những điều chưa tốt trong việc thu viện phắ cần phải sớm tổ chức thực hiện BHYT
Từ những vấn đề trên, BHYT ra đời là tối cần thiết vì nó đáp ứng được nguyện vọng của đại đa số người dân trong xã hội
1.4 Vai trò và tầm quan trọng của BHYT
BHYT là một chắnh sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và
cá nhân có nhu cầu được bảo hiểm, từ đó hình thành nên một quỹ và quỹ này sẽ được dùng để chi trả chi phắ khám chữa bệnh, khi một người nào đó không may mắc phải bệnh tật mà họ có tham gia BHYT
Mặc dù ở mỗi nước khác nhau thì sẽ có các hình thức tổ chức khác nhau,
có nước tổ chức độc lập với loại hình bảo hiểm khác, có nước lại coi đây là một trong những chế độ của BHXH Ở nước ta BHYT đã xác nhập vào BHXH kể từ
Trang 33ngày 24/01/2002 Nhưng mặc dù được tổ chức như thế nào đi chăng nữa, thì BHYT vẫn có vai trò riêng biệt mang tính xã hội rộng rãi như sau:
Thứ nhất BHYT chính là biện pháp để xoá đi sự bất công giữa người giàu
và người nghèo, để mọi người có bệnh đều được điều trị với điều kiện họ có tham gia BHYT Với BHYT, mọi người sẽ được bình đẳng hơn, được điều trị theo bệnh, đây là một đặc trưng ưu việt của BHYT BHYT mang tính nhân đạo cao cả và được xã hội hoá theo nguyên tắc “Số đông bù số ít” Số đông người tham gia để hình thành quỹ và quỹ này được dùng để chi trả chi phí khám chữa bệnh cho một số ít người không may gặp phải rủi ro bệnh tật Tham gia BHYT vừa có lợi cho mình, vừa có lợi cho xã hội Sự đóng góp của mọi người chỉ là đóng góp phần nhỏ so với chi phí khám chữa bệnh khi họ gặp phải rủi ro ốm đau, thậm chí sự đóng góp của cả một đời người cũng không đủ cho một lần chi phí khi mắc bệnh hiểm nghèo Do vậy sự đóng góp của cộng đồng xã hội để hình thành nên quỹ BHYT là tối cần thiết và được thực hiện theo phương trâm:
“Mình vì mọi người, mọi người vì mình”, khi khoẻ thì để hỗ trợ người ốm đau, khi không may ốm đau thì ta lại nhận được sự đóng góp của cộng đồng, điều này đã thực sự mang lại sự công bằng trong khám chữa bệnh
Thứ hai: BHYT giúp cho người tham gia khắc phục khó khăn cũng như
ổn định về mặt tài chính khi không may gặp phải rủi ro ốm đau Nhờ có BHYT, người dân sẽ an tâm được phần nào về sức khoẻ cũng như kinh tế, bởi vì họ đã
có một phần như là quỹ dự phòng của mình giành riêng cho vấn đề chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt với những người nghèo chẳng may mắc bệnh Như vậy BHYT ra đời có tác dụng khắc phục hậu quả và kịp thời ổn định được cuộc sống cho người dân khi họ bị ốm đau, tạo cho họ một niềm lạc quan trong cuộc sống,
từ đó giúp họ yên tâm lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho chính bản thân họ và sau đó là cho xã hội, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của xã hội
Trang 34Thứ ba: Bảo hiểm y tế ra đời còn góp phần giáo dục cho mọi người dân trong xã hội về tính nhân đạo theo phương châm: “Lá lành đùm lá rách”, đặc biệt là giúp giáo dục cho trẻ em ngay từ khi còn nhỏ tuổi về tính cộng đồng thông qua loại hình BHYT học sinh - sinh viên
Thứ tư: BHYT làm tăng chất lượng khám chữa bệnh và quản lý y tế thông qua hoạt động quỹ BHYT đầu tư Lúc đó trang thiết bị về y tế sẽ hiện đại hơn, có kinh phí để sản xuất các loại thuốc đặc trị chữa bệnh hiểm nghèo, có điều kiện nâng cấp các cơ sở khám chữa bệnh một cách có hệ thống và hoàn thiện hơn, giúp người dân đi khám chữa bệnh được thuận lợi Đồng thời đội ngũ cán bộ y tế sẽ được đào tạo tốt hơn, các y, bác sỹ sẽ có điều kiện nâng cao tay nghề, tích luỹ kinh nghiệm, có trách nhiệm đối với công việc hơn, dẫn đến sự quản lý dễ dàng và chặt chẽ hơn trong khám chữa bệnh
Thứ năm: BHYT còn có tác dụng góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước Hiện nay kinh phí cho y tế được cấu thành chủ yếu từ 4 nguồn:
Trang 35Thứ sáu: Chỉ tiêu phúc lợi xã hội trong mỗi nước cũng biểu hiện trình độ phát triển của nước đó Do vậy, BHYT là một công cụ vĩ mô của Nhà nước để thực hiện tốt phúc lợi xã hội, đồng thời tạo nguồn tài chính hỗ trợ, cung cấp cho hoạt động chăm sóc sức khoẻ của người dân
Thứ bảy: BHYT còn góp phần đề phòng và hạn chế những bệnh hiểm nghèo theo phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” Với việc kết hợp với các cơ sở khám chữa bệnh BHYT kiểm tra sức khoẻ, chăm sóc sức khoẻ cho đại
đa số những người tham gia BHYT, từ đó phát hiện kịp thời những căn bệnh hiểm nghèo và có phương pháp chữa trị kịp thời, tránh được những hậu quả xấu,
mà nếu không tham gia BHYT tâm lý người dân thường sợ tốn kém khi đi bệnh
viện, do đó mà coi thường hoặc bỏ qua những căn bệnh có thể dẫn đến tử vong
1.5 Đối tƣợng tham gia và phạm vi BHYT
BHYT như trên đã nói nhằm mục đích chăm lo sức khoẻ, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân do đó đối tượng của BHYT chính là sức khoẻ của mọi người được bảo hiểm Có nghĩa là nếu người được bảo hiểm gặp rủi ro về sức khoẻ (bị ốm đau, bệnh tật…) thì sẽ được cơ quan BHYT xem xét chi trả bồi thường BHXH ở nước ta hiện có các chế độ: Chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất như vậy cũng thể hiểu BHYT là chế độ khám chữa bệnh (KCB) Hoạt động y tế thường bao gồm: phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng Tuỳ theo tính chất và phạm vi hoạt động mà BHYT ở mỗi quốc gia có các loại hình như: Phòng bệnh và chữa bệnh Chữa bệnh và phục hồi chức năng Phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng Ở các quốc gia có các loại hình như vậy thì BHYT được gọi là Bảo hiểm sức khoẻ Còn nếu chỉ gồm hoạt động chữa bệnh thì chỉ gọi là BHYT
Trang 361.5.2 Đối tượng tham gia BHYT
BHYT nói riêng và bảo hiểm sức khoẻ nói chung là một dịch vụ bảo hiểm rất nổi tiếng trên thế giới và được đông đảo nhân dân tham gia Bất kì ai có sức khoẻ có nhu cầu Bảo hiểm sức khỏe đều có quyền tham gia bảo hiểm Như vậy đối tượng tham gia BHYT là mọi người dân có nhu cầu BHYT cho sức khoẻ của mình hoặc cũng có thể là người đại diện cho một tập thể, một đơn vị, cơ quan…đứng ra kí kết hợp đồng BHYT cho tập thể, đơn vị, cơ quan đó Trong trường hợp này, mỗi cá nhân tham gia BHYT tập thể sẽ được cấp một giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc thẻ bảo hiểm để phục vụ quyền lợi của riêng mình Văn bản này có thể có tên gọi khác nhau như giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc thẻ bảo hiểm…ở các nước khác nhau Trong thời kỳ đầu mới triển khai BHYT, thông thường các nước đều có hai nhóm đối tượng tham gia BHYT là bắt buộc
và tự nguyện Hình thức bắt buộc áp dụng đối với công nhân viên chức Nhà nước và một số đối tượng như người về hưu có hưởng lương hưu…Hình thức tự nguyện áp dụng cho mọi thành viên khác trong xã hội có nhu cầu và thường giới hạn trong độ tuổi nhất định tuỳ theo từng quốc gia 1.3 Phạm vi bảo hiểm BHYT là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động
sự đóng góp của các cá nhân, tập thể để thanh toán chi phí y tế cho người tham gia bảo hiểm Thông thường, BHYT hoạt động trên cơ sở quỹ tài chính của mình, nhà nước chỉ hỗ trợ tài chính khi thật cần thiết Vì hoạt ðộng theo nguyên tắc cân bằng thu chi nhý vậy nên tuy mọi ngýời dân trong xã hội đều có quyền tham gia BHYT nhưng thực chất BHYT không chấp nhận bảo hiểm cho những người mắc bệnh nan y nếu không có thoả thuận gì thêm Những người đã tham gia BHYT khi gặp rủi ro về sức khoẻ như bị ốm đau, bệnh tật đều được thanh toán chi phí khám chữa bệnh với nhiều mức độ khác nhau tại các cơ quan y tế Tuy nhiên nếu khám chữa bệnh trong các trường hợp tự huỷ hoại bản thân, trong tình trạng say, vi phạm pháp luật hoặc một số trường hợp loại trừ theo quy định
Trang 37của BHYT thì không được cơ quan BHYT chịu trách nhiệm Ngoài ra, mỗi quốc gia đều có những chương trình sức khoẻ quốc gia khác nhau, trong đó quy định một số loại bệnh mà người đến khám chữa bệnh đó được ngân sách của chương trình (hoặc ngân sách nhà nước) đài thọ chi phí Cơ quan BHYT cũng không có trách nhiệm BHYT nếu họ khám chữa bệnh thuộc chương trình này Tuy nhiên, do hoạt động BHYT có hai hình thức bắt buộc và tự nguyện nên có thể có các quy định khác nhau về phạm vi BHYT của hai nhóm đối tượng này Thông thường phạm vi BHYT của nhóm BHYT tự nguyện linh hoạt hơn nhóm BHYT bắt buộc, do họ được quyền lựa chọn phạm vi BHYT theo nhu cầu Nhưng do đó công tác quản lý sẽ phức tạp hơn
1.5.3 Phương thức tham gia BHYT
Phương thức BHYT Căn cứ vào mức độ thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT, BHYT được phân ra: BHYT trọn gói: Là phương thức BHYT trong đó cơ quan BHYT sẽ chịu phần trách nhiệm về mọi chi phí y
tế thuộc phạm vi BHYT cho người được BHYT BHYT trọn gói, trừ các đại phẫu thuật: Là phương thức BHYT trong đó cơ quan BHYT sẽ chịu trách nhiệm
về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT cho người được BHYT, trừ các chi phí
y tế cho các cuộc đại phẫu thuật (theo quy định của cơ quan y tế) BHYT thông thường: Là phương thức BHYT trong đó trách nhiệm của cơ quan BHYT được giới hạn tương xứng với trách nhiệm và nghĩa vụ của người được BHYT Đối với các nước phát triển, mức sống dân cư, hoạt động BHYT đã có từ lâu và phát triển, có thể thực hiện BHYT theo cả ba phương thức trên Đối với các nước nghèo, mới triển khai hoạt động BHYT thường áp dụng phương thức BHYT thông thường Đối với phương thức BHYT thông thường, có hai hình thức tham gia bảo hiểm đó là BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện BHYT bắt buộc được thực hiện với một số đối tượng nhất định, được quy định trong các văn bản pháp
Trang 38luật về bảo hiểm Dù muốn hay không những người thuộc đối tượng này đều phải tham gia BHYT Số còn lại không thuộc đối tượng tham gia BHYT bắt buộc tùy theo nhu cầu và khả năng có thể tham gia BHYT tự nguyện
1.6.Khái quát chung về đặc điểm huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội
1.6.1 Đặc điểm dân số, lao động
Chương Mỹ là một trong những huyện có diện tích và quy mô dân số lớn của thành phố Hà Nội với 73.692 hộ dân Theo kết quả điều tra xác định hộ nghèo, cận nghèo của huyện tại thời điểm cuối năm 2013, toàn Huyện có 3.748
hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 5,09% tổng số hộ chung toàn Huyện
Trong tổng số 3.748 hộ nghèo có 1.648 hộ nghèo theo chuẩn trung ương ( Thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống ở thành thị và thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng ở nông thôn) chiếm 45% tổng số
hộ nghèo của toàn huyện và chiếm 2,28 tổng số hộ dân cư Trong tổng số 3.748
hộ nghèo có 1.356 hộ có thành viên đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng Số
hộ nghèo khu vực nông thôn chiếm 95% tổng số hộ nghèo toàn huyện Có 12 đơn vị tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% Đơn vị có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất là thị trấn Xuân Mai 1,99%; Đơn vị có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là xã Trần Phú 7,74%
Cư trú trên địa bàn Huyện có người Kinh và người Mường Trong đó, người Kinh chiếm 99,84%, người Mường chiếm 0,16% dân số toàn Huyện Dân
cư ở nông thôn chiếm 78%, ở thị trấn chỉ chiếm 22% Dân cư chủ yếu tập trung
ở những nơi khô ráo, gần nguồn nước và những nơi đất khá tốt
Lao động nông – lâm nghiệp chiếm tới 82% tỷ lệ lao động của Huyện Tuy nhiên, trong những năm gần đây tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm dần và chuyển sang các lĩnh vực khác như công nghiệp, dịch vụ và đặc biệt là lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp
Trang 391.6.2.Nguồn thu nhập của các hộ trong huyện
Tình hình thu nhập cơ bản là từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của chính các thành viên trong gia đình Tuy chưa phải là yếu tố quyết định đến mức sống của các thành viên song nó là yếu tố quan trọng nhất phản ánh đời sống vật chất của các hộ gia đình và nó có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống văn hoá, tinh thần cũng như các hoạt động khác Thu nhập của các hộ trên địa bàn huyện Chương Mỹ chủ yếu là từ ngành trồng trọt (chiếm 51,3%)
Chương Mỹ là một huyện có làng nghề (chủ yếu là nghề mây tre đan), ngành nghề ở Chương Mỹ đang rất phát triển và đóng góp tới 20,6% trong tổng thu nhập của các hộ gia đình Việc phát triển các làng nghề góp phần tận dụng lao động tự do và lao động nhàn rỗi ở địa phương trong thời gian rảnh giữa các mùa vụ Có thể nói các làng nghề góp phần quan trọng vào việc tăng thu nhập cho các hộ nghèo Tuy nhiên sản xuất ngành nghề ở Chương Mỹ vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là việc tìm đầu ra lâu dài và ổn định cho các sản phẩm của làng nghề Nhìn chung đời sống của nhân dân, đặc biệt là người nghèo còn gặp nhiều khó khăn, mức thu nhập còn thấp, số hộ nghèo, người nghèo còn lớn
1.6.3 Chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn huyện
Xác định công tác Chăm sóc sức khỏe cho nhân dân là một trong những nhiệm
vụ vô cùng quan trọng vì vậy chính quyền địa phương quan tâm, chú trọng đến việc Chăm lo sức khỏe cho người dân thông qua việc lãnh đạo, chỉ đạo hệ thống
y tế cơ sở tiếp tục được củng cố và hoàn thiện với 100% các xã, thị trấn có trạm
y tế, toàn huyện có 01 Bệnh viện đa khoa huyện Chương Mỹ với 240 giường bệnh trung bình 1 ngày có gần 600 người bệnh đến khám và điều trị Công tác khám chữa bệnh và Khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tại trạm y tế được
tổ chức tốt Hằng năm triển khai thực hiện các Chương trình, Dự án mục tiêu
Trang 40Quốc gia về y tế có hiệu quả Tổ chức nhiều hoạt động từ thiện nhân đạo khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho hàng trăm nghìn lượt đối tượng chính sách, người nghèo, trẻ em và người khuyết tật Nhờ vậy sức khỏe của người dân trên
địa bàn huyện ngày một cải thiện