1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa

101 359 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 3,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam kết rằng, tất cả những kết quả nghiên cứu nhận được trong luận văn “Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh BĐKH và đề xuất giải pháp ứng phó

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SAU ĐẠI HỌC

TRẦN ĐĂNG KHÔI

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN NGUỒN NƯỚC BỀ MẶT TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ CHO NGƯỜI DÂN HUYỆN QUAN HÓA TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SAU ĐẠI HỌC

TRẦN ĐĂNG KHÔI

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN NGUỒN NƯỚC BỀ MẶT TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ CHO NGƯỜI DÂN HUYỆN QUAN HÓA TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Phan Văn Tân

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết rằng, tất cả những kết quả nghiên cứu nhận được trong luận văn “Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh BĐKH

và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện Quan Hóa – tỉnh Thanh Hóa”, là do tôi thực hiện Các kết quả trong nghiên cứu này là sản phẩm của quá trình làm việc nghiêm túc của tôi với sự hỗ trợ chuyên môn của người hướng dẫn khoa học Tôi không sử dụng, không sao chép những kết quả nghiên cứu chưa hoặc đã được công bố của người khác cho nghiên cứu này

Tác giả

Trần Đăng Khôi

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với nội dung nghiên cứu về khả năng tiếp cận nguồn nước của người dân

ở một huyện vùng cao của tỉnh Thanh Hóa, địa bàn nghiên cứu rộng, địa hình phức tập, nội dung nghiên cứu có tính liên ngành Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại, nghiên cứu đã đạt được những kết quả nhất định, để có được thành quả đó, tôi xin được trân trọng cảm ơn Giáo sư, Tiến sĩ Phan Văn Tân, Bộ môn Khí tượng và BĐKH, Trường ĐHKHTN, đã chỉ bảo tận tình, giúp đỡ về phương pháp, cách tiếp cận và phân tích vấn đề nghiên cứu Tôi cũng xin trân trọng cảm

ơn các cán bộ đang công tác tại các phòng ban chuyên môn của UNBD huyện Quan Hóa gồm TT y tế dự phòng, phòng NN&PTNT, phòng TNMT, Trạm khí tượng, Trung tâm dân số KHHGĐ, cán bộ các xã và các cộng tác viên tại thôn bản, người dân tham gia cung cấp thông tin đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ thu thập, cung cấp thông tin cho nghiên cứu Ngoài ra tôi xin được cảm ơn Tổ chức TNTG VN, những đồng nghiệp và gia đình đã chia sẻ thông tin, công việc trong quá trình tôi thực hiện nghiên cứu này

Tôi hy vọng kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần vào việc xây dựng kế hoạch sử dụng tài nguyên nước bề mặt tại huyện Quan bền vững hơn trong tương lai

Trân trọng cảm ơn

Tác giả

Trần Đăng Khôi

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Vai trò của nước 1

2 Hiện trạng tiếp cận nước hợp vệ sinh cho sinh hoạt tại nông thôn và cộng đồng dân cư sinh sống tại các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa 1

3 Mục đích nghiên cứu: 4

4 Nội dung nghiên cứu 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

6 Tiến trình thực hiện và nguồn lực hỗ trợ 6

7 Cấu trúc luận văn 6

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1 Cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu 7

2 Các thuật ngữ, khái niệm dùng trong nghiên cứu 9

3 Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới liên quan đến lĩnh vực của đề tài nghiên cứu 11 4 Tổng quan các nghiên cứu tại Việt Nam liên quan đến lĩnh vực của đề tài nghiên cứu 14 4.1 Biến đổi khí hậu tại Việt Nam 14

4.1.1 Xu thế diễn biến nhiệt độ 14

4.1.2 Xu thế diễn biến lượng mưa 15

4.1.3 Tác động BĐKH ở Việt Nam 16

4.2 Tình hình tiếp cận nước sạch tại các khu vực nông thôn tại Việt Nam 17

5 Thực trạng vấn đề nghiên cứu tại tỉnh Thanh Hóa và địa bàn thực hiện nghiên cứu 18

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

I CÁC PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU 22

1 Phương pháp nghiên cứu định lượng: 22

2 Nguồn số liệu: 22

II MÔ TẢ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐƯỢC SỬ DỤNG 23

1 Phương pháp nghiên cứu định lượng bằng xử lý thống kê 23

2 Phương pháp khảo sát hộ gia đình 23

2.1 Giới thiệu về phương pháp 23

2.2 Địa bàn nghiên cứu và cỡ mẫu điều tra 24

3 Phương pháp tổng hợp, rà soát số liệu thứ cấp 26

4 Phương pháp nghiên cứu định tính và hỗn hợp 27

4.1 Cơ sở áp dụng phương pháp 27

4.2 Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu định tính 28

4.3 Các phương pháp nghiên cứu định tính sử dụng trong nghiên cứu 29

4.3.1 Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm 29

4.3.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 30

4.3.3 Nghiên cứu trường hợp điển hình 31

4.3.4 Thực địa quan sát có sự tham gia, chụp ảnh 32

4.3.5 Công cụ lược sử thôn bản 32

5 Tiến trình nghiên cứu 33

Trang 6

6. TRIỂNKHAI NGHIÊNCỨU 34

6.1 Kết quả thu thập và xử lý thông tin quan trắc khí tượng 34

6.2 Kết quả thu thập thông tin khảo sát hộ gia đình 34

Địa bàn chọn mẫu khảo sát hộ gia đình 34

Đối tượng điều tra 35

Tiến trình thực hiện khảo sát hộ gia đình 36

Xây dựng phiếu khảo sát hộ gia đình 37

Tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật cho khảo sát viên 37

Thực địa khảo sát hộ gia đình 37

Sử dụng phần mềm phân tích số liệu 38

6.3 Kết quả tổ chức thực hiện nghiên cứu định tính 38

7. KẾTQUẢ NGHIÊN CỨU DỰKIẾN 38

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ NHẬN XÉT……….40

3.1 Biến đổi khí hậu ở huyện Quan Hoá 40

So sánh giá trị nhiệt độ và lượng mưa trong cùng giai đoạn quan 46

a) Sự biến đổi số lượng các mạch nước lộ thiên trong mùa khô 48

b) Sự biến đổi số lượng các dòng suối trong mùa khô 49

c) Sự biến đổi lưu lượng nước chảy trong các dòng suối 50

d) Sự thay đổi khoảng cách các nguồn cung cấp nước 51

3.3 Tiếp cận nước trong sinh hoạt 54

3.4 Tiếp cận nước trong sản xuất nông nghiệp 63

3.5 Một số nguyên nhân khác ảnh hưởng đến tài nguyên nước mặt 68

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 72

1 Kết luận liên quan đến diễn biến các yếu tố khí hậu 72

2 Kết luận liên quan đến thay đổi hiện trạng nguồn nước 73

3 Kết luận liên quan đến khả năng tiếp cận nguồn nước của hộ gia đình 75

4 Kết luận liên quan đến kế hoạch ứng phó của hộ gia đình 75

5 Một số khuyến nghị trên cơ sở kết quả nghiên cứu 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

BẢNG CÂU HỎI 79

PHỎNG VẤN HỘ GIA ĐÌNH 79

PHẦN GIỚI THIỆU 79

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Phiên giải

IPCC Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

WB Ngân hàng thế giới

UNDP Liên hợp quốc

Unicef Tổ chức bảo vệ trẻ em liên hợp quốc

UBND Ủy ban nhân dân

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á

BĐKH Biến đối khí hậu

HVCA Hazard Vulnebility Capacity Asssement – Đánh giá hiểm

họa, tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực ứng phó

PRA Participatory Rural Apraised – Phương pháp đánh giá nhanh

nông thôn có sự tham gia

Tm Nhiệt độ tối thấp

CIs 95% Confident Interval 95% - Độ tin cậy 95%

N Tần suất xuất hiện các phần tử mẫu

FGD Focus group Discussion – Thảo luận nhóm

KII Key Informant Interview – Phỏng vấn sâu

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 : Mức tăng nhiệt độ (oC) và mức thay đổi lượng mưa năm so với thời kỳ

1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) tại Thanh Hóa

19

Bảng 3.2: Địa bàn chọn thôn bản nghiên cứu và mẫu nghiên cứu 35 Bảng 3.3: Đối tượng tham gia cung cấp thông tin trong khảo sát hộ gia đình 36 Bảng 3.4: Thời gian và địa bàn tổ chức khảo sát hộ gia đình 38

Bảng 3.6: Mô tả xu thế diễn biến nhiệt độ giai đoạn 1980 – 2014 tại huyện Quan Hóa 43 Bảng 3.7: Mô tả xu hướng diễn biến lượng mưa trong giai đoạn 1980-2014 45 Bảng 3.8: Đánh giá xu hướng nhiệt độ, lượng mưa và sự thiếu hụt nước bề mặt 47 Bảng 3.9: Tỷ lệ người dân cho biết sự thay đổi về số lượng mạch nước trong mùa khô

2004 và 2014

49

Bảng 3.10: So sánh vị trí nguồn nước hiện tại so với 10 năm trước đây 52 Bảng 11: Tỷ lệ người dân nêu các nguyên nhân dẫn đến nguồn nước xa hơn 53 Bảng 3.12: So sánh việc chuyển đổi trong sử dụng các nguồn nước trong mùa khô

của người dân so với 10 năm trước đây

57

Bảng 3.13: Mức độ đáp ứng nhu cầu dùng nước sinh hoạt giữa các dân tộc 58 Bảng 3.14: Mức độ đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt giữa nhóm hộ 58 Bảng 3.15: Thời gian người dân dùng để lấy nước về nhà dùng cho sinh hoạt 60 Bảng 3.16: Tỷ lệ hộ gia đình nói rằng bệnh của họ liên quan đến nguồn nước 61 Bảng 3.17: Tỷ lệ hộ gia đình chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến thiếu nước tưới cho sx 65 Bảng 3.18: Các nguyên nhân không đủ nước cho cây trồng trên nương rẫy phát triển 66 Bảng 3.19: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước phục vụ cho chăn nuôi 66 Bảng 3.20: Tỷ lệ hộ gia đình nhận xét về sự thay đổi diện tích rừng so với 10 năm

trước đây (nguồn: khảo sát hộ gia đình)

69

Bảng 3.21: Biến động diện tích đất theo mục đích sử dụng năm 2005 và 2014 70

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.4: Xu thế thay đổi nhiệt độ bề mặt giai đoạn 1901-2012, IPCC 11 Hình 1.5: Xu thế thay đổi lượng mưa giai đoạn 1951-2010, IPCC 12 Hình 2.1: Sơ đồ mô tả quy trình thực hiện phương pháp khảo sát hộ gia đình 24 Hình 2.2: Mô phỏng quá trình chọn mẫu khảo sát hộ gia đình 25 Hình 2.3: Mô phỏng cách thu thập thông tin tính tính bằng PP thảo luận nhóm 30 Hình 2.4: Mô tả phương thức thu thập thông tin bằng phỏng vấn sâu 31 Hình 3.1: Xu thế diễn biến nhiệt độ giai đoạn 1980-2014 tại Hồi Xuân – Quan Hóa 41 Hình 3.2: Xu hướng nhiệt độ mùa khô tại trạm Hồi Xuân giai đoạn 1980 – 2014 41 Hình 3.3: Biểu đồ mô tả xu hướng diễn biến nhiệt độ trạm Hồi Xuân, 42 Hình 3.4: Biểu đồ biểu diễn xu thế lượng mưa giai đoạn 1980 -2014 trạm Hồi Xuân 44

Hình 3.7: Sự suy giảm số lượng các mạch nước trong 10 năm 49 Hình 3.8: Tỷ lệ hộ GĐ cảm nhận sự thay đổi lượng nước suối năm 2004 và 2014 50 Hình 3.9: Tỷ lệ hộ GĐ dự đoán lượng nước chảy các con suối trong 5 năm tới 51 Hình 3.10: Biểu đồ so sánh thay đổi vị trí nguồn nước giữa các dân tộc 53 Hình 3.11: Nguồn nước suối dùng làm nước sinh hoạt bản Chại, Hiền Chung 55 Hình 3.12: Nguồn nước hộ gia đình sử dụng mùa mưa và mùa khô 55

Hình 3.14: Mô tả mức độ đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt trong mùa khô 58

Hình 3.16: Thùng chứa nước dẫn về hộ gia đình tại bản Phố Mới , xã Nam Tiến 61 Hình 3.17: Guồng nước tưới lúa bản Sài 1, xã Thiên Phủ, nguồn Quan Hóa ADP 64 Hình 3.18: Kế hoạch ứng phó hộ gia đình với tình trạng thiếu nước trong tương lai 67

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Vai trò của nước

Nước là một loại vật chất trong tự nhiên, đóng vai trò quan trọng đối với đời sống của sinh vật và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của con người Với sinh vật nước là nguyên liệu cho cây trong quá trình quang hợp tạo ra các chất hữu cơ, là môi trường hoà tan chất vô cơ và phương tiện vận chuyển chất

vô cơ và hữu cơ trong cây, vận chuyển máu và các chất dinh dưỡng ở động vật, bảo đảm cho thực vật có một hình dạng và cấu trúc nhất định Ở thực vật nước chiếm hàm lượng lớn trong cấu tạo vật chất, các loài thực vật thân gỗ có lượng nước chiếm 40-60%, táo chiếm 96% - 98%, ở dưa chuột chiếm 94% - 95% Nước còn là môi trường sống của rất nhiều loài sinh vật, nước giữ vai trò tích cực trong việc phát tán nòi giống của các sinh vật, là môi trường sống của nhiều loài sinh vật

Đối với con người, nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể, nước là chất quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể Một người cần cung cấp 2-3 lít nước để đổi mới lượng nước của cơ thể, và duy trì các hoạt động sống bình thường Mất nước trên 10% lượng nước có khả năng gây trụy tim mạch, hạ huyết áp, nhịp tim tăng cao, mất nước 15-20% có thể tử vong

2 Hiện trạng tiếp cận nước hợp vệ sinh cho sinh hoạt tại nông thôn và cộng đồng dân cư sinh sống tại các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa

Theo tài liệu chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2011-2015, tính đến năm 2010, tỷ lệ dân số tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh tăng lên 80%, thấp hơn kế hoạch 5%, trong đó tỷ lệ số dân nông thôn có nước dùng sinh hoạt theo tiêu chuẩn QCVN 02/2009: BYT là 40% thấp hơn kế hoạch 10% Trong 7 vùng sinh thái thì vùng Bắc Trung Bộ thuộc một trong hai vùng có tỷ lệ dân sử dụng nước hợp vệ sinh thấp nhất là

Trang 11

73%, thấp hơn trung bình 8% (Báo cáo đánh giá ngành nước Việt Nam, WHO,

UNICEF, VIHEMA, 2012)

Tuy nhiên những con số tiếp cận nước hợp vệ sinh cho sinh hoạt và sản xuất như trên chưa phản ánh bức tranh cụ thể của các khu vực dân cư sinh sống khác nhau, đặc biệt đối với các cộng đồng dân cư sinh sống tại các khu vực vùng sâu vùng xa, nơi điều kiện nước sử dụng cho sinh hoạt phụ thuộc phần lớn vào các nguồn nước tự nhiên bề mặt Số liệu phân tích từ các điều tra, khảo sát tiếp cận nguồn nước cho sinh hoạt của các địa phương vùng sâu, vùng xa cho thấy, tại nhiều địa phương, người dân vẫn sử dụng nguồn nước suối, nước khe (nước mạch chảy ra) là nguồn nước chính cho sinh hoạt Điển hình theo điều tra hộ gia đình của tổ chức Tổ chức Tầm nhìn Thế giới Việt Nam (World Vision International Vietnam - WVI) với quy mô 30 cụm, cỡ mẫu 660 hộ cho kết quả như sau, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước suối, nước trong khe ở huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên là 94.7% (WVI, 2014, Household Survey Report), huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa là 56.9% (WVI, 2014, Household Survey Report), ở huyện Quan Sơn là 90.0% (WVI, 2015, Household survey report), Huyện Thường Xuân 24.1%; (World Vision 2012, Baseline Survey Report) Hơn nữa tiêu chí trong tiếp cận sử dụng nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh của các chương trình, dự án thông thường chỉ đánh giá được tỷ lệ hộ dùng nguồn nước đó, chưa đánh giá chi tiết được thực tế thời gian mà người dân phải dành

để đi lấy nước về gia đình là bao nhiêu, lượng nước lấy về có đủ dùng cho sinh hoạt không hay chỉ đủ cho việc ăn, uống, còn việc tắm, giặt hoặc sinh hoạt khác phải sử dụng các nguồn nước không đảm bảo vệ sinh

Trong thực tế các giải pháp nhằm tăng cường tỷ lệ dân số tiếp cận với các nguồn nước hợp vệ sinh của chính phủ, của các chương trình, dự án cho những khu vực này đang tập trung giải quyết ở phần ngọn, thông qua can thiệp bằng biện pháp công trình là chủ yếu, chưa giải quyết các nguyên nhân gốc rễ để có thể sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước bề mặt, điều đó càng dẫn tới việc nguồn nước bề mặt ngày càng cạn kiệt hơn

Trang 12

Cũng giống như các địa phương là huyện miền núi, huyện Quan Hóa là một huyện có địa hình hiểm trở, độ dốc cao, độ cao trung bình 400-600 mét so với mực nước biển, dân số khoảng gần 50,000 người, mật độ dân cư thưa thớt, phân bố dải rác với thành phần dân số bao gồm 74% dân tộc Thái, 17,6% dân tộc Mường, 7% dân tộc Kinh và 1,4% dân tộc H’Mông, người Hoa Với đặc điểm văn hóa và dựa vào điều kiện tự nhiên sẵn có cho nên hầu hết người dân huyện Quan Hóa có thói quen sử dụng các nguồn nước bề mặt tự nhiên như nước mưa, nước suối, nước mó và nước sông cho sinh hoạt hàng ngày cũng như phục vụ sản xuất nông nghiệp Ngoài những nguồn nước trên, cũng có một tỷ lệ nhỏ hộ gia đình sử dụng nguồn nước giếng khoan, nước giếng đào cho sinh hoạt nhưng nhóm đối tượng này tập trung chủ yếu ở thị trấn, thị tứ nơi điều kiện kinh

tế hộ gia đình khá hơn

Tuy nhiên trong những năm gần đây nguồn tài nguyên nước bề mặt sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất tại Quan Hóa có những thay đổi theo xu hướng giảm, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của hộ gia đình Việc xác định các nguyên nhân, mức độ tác động của các nhân tố này tới việc suy giảm nguồn tài nguyên nước bề mặt trở nên quan trọng và cần thiết cho việc cung cấp thông tin

để hoạch định chính sách và các giải pháp của chính quyền địa phương nhằm sử dụng nguồn nước bề mặt một cách bền vững, cân bằng được mối quan hệ giữa nguồn nước cho sinh hoạt và nước phục vụ cho sản xuất

Thông thường với mỗi vấn đề khi không xác định được nguyên nhân cụ thể thì vấn đề hiện tại sẽ diễn biến theo hướng trầm trọng hơn và tiếp cận nguồn nước bề mặt của người dân cũng có chung mối quan hệ như vậy, do vậy nếu không xác định được các mối quan hệ dẫn tới suy giảm tài nguyên nước bề mặt tại Quan Hóa thì trong tương lai sẽ vấn đề suy giảm này sẽ là một trong những yếu tố làm giảm diện tích trồng cây nông nghiệp hàng năm, mất cân bằng giữa nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt và nguồn nước cho sản xuất, chi phí dành cho việc xây dựng lắp đặt hệ thống nước phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất của người dân sẽ tăng cao, thời gian dùng cho việc lấy nước có xu thế ngày càng nhiều và

Trang 13

quãng đường đi lấy nước ngày càng xa Việc sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh cho sinh hoạt gia đình có thể bị đe dọa, đặc biệt là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong cộng đồng và chính quyền địa phương có thể sẽ phải chi phí ngân sách nhiều hơn cho việc xây dựng các hệ nước phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất

Thực tế đòi hỏi cần có những nghiên cứu để tìm hiểu vấn đề một cách thấu đáo hơn về các vấn đề nội tại đang diễn ra, chúng tôi xác định cần tiến hành nghiên cứu “Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện Quan Hóa – Thanh Hóa” Chúng tôi hy vọng kết quả của nghiên cứu sẽ đưa ra những phát hiện về hiện trạng dòng chảy hiện tại so với quá khứ và xu thế biến động của dòng chảy trong tương lai Bên cạnh đó chúng tôi sẽ nỗ lực xác định nguyên nhân cốt lỗi của vấn đề và khuyến cáo cho chính quyền địa phương trong việc đưa ra các giải pháp giảm nhẹ và thích ứng với sự ảnh hưởng của hiện tượng BĐKH tới tài nguyên nước cũng như hoạch định các chiến lược trung hạn và dài hạn cho việc sử dụng bền vững nguồn nước tại địa phương

- Dựa trên các bằng chứng nghiên cứu để đưa ra một số khuyến nghị cho chính quyền địa phương trong việc xây dựng kế hoạch ứng phó nhằm tăng cường khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt của cộng đồng trong tương lai

Trang 14

4 Nội dung nghiên cứu

- Để trả lời được câu hỏi nghiên cứu có một số giả thuyết nghiên cứu như lượng mưa liên kết chặt chẽ với nguồn nước, trữ lượng tài nguyên nước mặt và nước ngầm liên quan đến sự biến đổi của lượng mưa Do vậy nội dung nghiên cứu sẽ tìm hiểu được mối quan hệ giữa sự biến đổi của lượng mưa với sự thay đổi trong việc tiếp cận nguồn nước

- Giả thuyết thứ hai được xây dựng trên giả thuyết một, đó là nếu tồn tại mối quan hệ như trên thì đưa ra được bức tranh tiếp cận nguồn nước

- Từ các giả thuyết này, nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm: Khảo sát

sự biến đổi một số yếu tố khí hậu, lượng mưa, bốc hơi, nhiệt độ của khu vực nghiên cứu Khảo sát và tìm bằng chứng về sự thay đổi cách thức trong tiếp cận nguồn nước của cộng đồng dân cư khu vực nghiên cứu Và xác định mối quan

hệ giữa sự biến đổi các yếu tố khí hậu đến sự thay đổi trong việc tiếp cận nguồn nước mặt của đồng bào trong khu vực nghiên cứu Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước của khu vực nghiên cứu trong tương lai

5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn này được xác định như sau:

- Các yếu tố khí hậu tại huyện Quan Hóa bao gồm nhiệt độ và lượng mưa giai đoạn 1980 – 2014

- Các dòng suối, các mạch nước (mó nước) tự nhiên trên địa bàn nghiên cứu

ở thời điểm hiện tại và quá khứ 10 năm trước đây

- Sự thay đổi diện tích đất theo mục đích sử dụng hiện tại và quá khứ 10 năm trước đây

- Cộng đồng dân cư và hiện trạng sử dụng các nguồn nước bề mặt của họ Phạm vi nghiên cứu của luận văn là bốn xã với 30 thôn bản của huyện Quan Hóa bao gồm xã Hiền Chung, Thiên Phủ, Nam Tiến và xã Phú Thanh Các xã được lựa chọn có tính đại diện về điều kiện tế - xã hội và vị trí địa lý cho các

Trang 15

cộng đồng dân cư trong huyện, các bản được lựa chọn theo cách lựa chọn ngẫu nhiên

6 Tiến trình thực hiện và nguồn lực hỗ trợ

 Tiến trình thực hiện nghiên cứu gồm các giai đoạn chính như sau:

- Giai đoạn lập đề cương nghiên cứu

- Giai đoạn nghiên cứu tài liệu

- Giai đoạn thu thập số liệu

- Giai đoạn phân tích và tổng hợp thông tin

- Giai đoạn hoàn thiện báo cáo cơ bản, tham vấn ý kiến chuyên gia, điều chỉnh và nghiên cứu bổ sung thông tin

- Hoàn thiện báo cáo và kết thúc tiến trình nghiên cứu

 Nguồn lực hỗ trợ: Với việc sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, phạm vi rộng lớn, cỡ mẫu nghiên cứu lớn đòi hỏi nghiên cứu cần huy động một lượng tình nguyện viên hỗ trợ cho việc thu thập thông tin Dự kiến số tình nguyện viên huy động cho nghiên cứu định lượng là 12 người, nghiên cứu hỗn hợp là 6 người

7 Cấu trúc luận văn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu về đề tài “Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh BĐKH và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa” có bố cục như sau:

o Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

o Chương II: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

o Chương III: Các kết quả nghiên cứu

o Mục kết luận và khuyến nghị

o Mục tài liệu tham khảo

o Mục phụ lục

Trang 16

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu có tính liên ngành cao, có sự liên quan giữa các ngành khoa học tự nhiên như khí tượng, khí hậu, môi trường và các ngành khoa học xã hội như văn hóa bản địa, phong tục tập quán, hương ước quy ước trong cộng đồng Cơ sở của vấn đề nghiên cứu dựa trên các lý thuyết hệ thống về vòng tuần hoàn nước, lý thuyết hệ thống về biến đổi khí hậu, cách tiếp cận vấn đề trong bối cảnh BĐKH

Vòng tuần hoàn nước là sự tồn tại và vận động của nước trên mặt đất, trong lòng đất và trong bầu

khí quyển của Trái Đất

Nước trên trái đất luôn vận

động và chuyển từ trạng

thái này sang trạng thái

khác, từ thể lỏng sang thể

hơi hoặc thể rắn (băng,

tuyết) và ngược lại (Cục

khảo sát địa chất Hoa Kỳ

USGS)

tuần hoàn nước cho thấy,

dòng chảy bề mặt được sinh ra từ quá trình giáng thủy, từ dòng nước ngầm chảy

ra từ các khe hở địa chất hoặc ở một số khu vực do băng, tuyết tan chảy thành dòng Các dòng chảy này thông thường sẽ đổ nước ra các lưu vực sông, hồ hoặc biển, đôi khi các dòng chảy nhỏ hơn có thể sẽ bị triệt tiêu do sự thiếu hụt nước trong quá trình thẩm thấu, bốc thoát hơi nước cũng như hoạt động can thiệp của con người

Vòng tuần nước xét trong một khu vực địa lý hẹp hơn càng thể hiện mối quan hệ mật thiết với các yếu tố khí hậu, tài nguyên nước của mỗi khu vực phụ

Hình 1.1: Vòng tuần hoàn nước, nguồn http://water.usgs.gov/edu/watercyclevietnamese.

html

Trang 17

thuộc nhiều vào lượng giáng thủy, do vậy khi lượng mưa có xu hướng giảm sẽ dẫn đến tài nguyên nước mặt, các dòng chảy bề mặt suy giảm

Biến đổi khí hậu đã được chứng minh đã và đang diễn ra, đã có những thay đổi về giá trị trung bình của một số yếu tố khí hậu cơ bản như nhiệt độ có xu hướng tăng và lượng mưa có xu hướng giảm trong những thập kỷ gần đây Theo cục bảo vệ môi trường Mỹ, những tác động tiềm tàng của BĐKH dẫn đến thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa và mực nước biển và mang đến những tác động đến sức khỏe, nông nghiệp, nguồn nước, các khu vực ven biển, các giống loài và khu vực tự nhiên

Từ những cơ sở lý thuyết đó, vấn đề tiếp cận để giải quyết bài toán về thích ứng và giảm nhẹ

hệ và xây dựng chiến lược và kế hoạch ứng phó

Hình 1.2: Tác động tiềm tàng của BĐKH, nguồn Cơ quan BVMT Mỹ

Trang 18

Với một số cơ sở lý thuyết như trên, đề tài nghiên cứu “Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn

nước bề mặt trong

bối cảnh BĐKH

và giải pháp ứng

phó cho người dân

huyện Quan Hóa,

tỉnh Thanh Hóa”,

được đề xuất để

nghiên cứu

2 Các thuật ngữ, khái niệm dùng trong nghiên cứu

Thời tiết: Là trạng thái tức thời của khí quyển ở một địa điểm cụ thể, được

đặc trưng bởi các đại lượng đo được, như nhiệt độ, độ ẩm, gió, lượng mưa,…hoặc các hiện tượng quan trắc được như sương mù, dông, mưa, nắng…

Khí hậu: Là sự tổng hợp của thời tiết, được đặc trưng bởi các giá trị trung

bình thống kê và các cực trị đo được hoặc quan trắc được của các yếu tố và hiện tượng thời tiết trong một khoảng thời gian đủ dài, thường là hàng chục năm

Biến đổi khí hậu: Là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể

được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn “IPCC”

Số liệu quan trắc

Chiến lƣợc và kế hoạch ứng phó với BĐKH

Đánh giá được tác động của BĐKH, tính tổn

Kịch bản BĐ

KH

Mối liên

hệ

Tác động tươn

g lai

Hình 1.3: Sơ đồ chiến lược và KH ứng phó với BĐKH, P.V Tân và cộng sự

Trang 19

Các hiện tượng thời tiết cực đoan: Là sự gia tăng cường độ của các yếu tố

thời tiết như sự thay đổi của cực nhiệt độ, thời tiết cực đoan còn bao gồm cả yếu

tố hiện tượng các yếu tố thời tiết trái quy luật thông thường

Khả năng ứng phó: Là hàng loạt những hoạt động của con người nhằm

thích ứng và giảm nhẹ các tác nhân gây ra BĐKH

Vòng tuần hoàn nước: Là sự tồn tại và vận động của nước trên mặt đất,

trong lòng đất và trong bầu khí quyển của Trái Đất Nước trên trái đất luôn vận động và chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ thể lỏng sang thể hơi

hoặc thể rắn (băng, tuyết) và ngược lại (The Water Cycle summary, USGS Water

Science School)

Dòng chảy bề mặt: Thông thường, một phần nước mưa rơi thấm ngay vào

đất, nhưng khi đất đạt tới trạng thái bão hoà hay không thấm, thì bắt đầu chảy theo sườn dốc thành dòng chảy

Suối: Một tầng nước ngầm liên tục được bổ sung nước đến khi nước chảy

tràn trên mặt đất, kết quả là hình thành các con suối Các con suối có thể rất nhỏ, chỉ có nước chảy khi có một trận mưa đáng kể, đến các dòng suối lớn chảy với hàng trăm triệu gallon nước mỗi ngày

- Các con suối có thể hình thành trong bất kỳ loại đá nào, nhưng phần lớn chúng hình thành trong các loại đá vôi và đolomit, dễ dàng rạn nứt và hoà tan do mưa axit Khi đá bị phá huỷ và hoà tan, các khoảng trống hình thành cho phép nước chảy qua Nếu dòng chảy theo phương ngang, nó có thể chảy tới mặt đất, hình thành các con suối Nước suối không phải bao giờ cũng sạch

Bốc hơi nước: Bốc hơi nước là một quá trình nước chuyển từ thể lỏng sang

thể hơi hoặc khí Bốc hơi nước là đoạn đường đầu tiên trong vòng tuần hoàn mà nước chuyển từ thể lỏng thành hơi nước trong khí quyển Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các đại dương, biển, hồ và sông cung cấp gần 90% độ ẩm của khí quyển qua bốc hơi, với 10% còn lại do thoát hơi của cây

Trang 20

Giáng Thủy: Là nước thoát ra khỏi những đám mây dưới các dạng mưa,

mưa tuyết, mưa đá, tuyết Nó là cách chính để nước khí quyển quay trở lại Trái Đất Phần lớn lượng giáng thuỷ là mưa Những đám mây trên bầu trời chứa hơi nước và những hạt nhân mây nhỏ, các hạt nhân mây này quá nhỏ để có thể rơi xuống thành mưa, nhưng nó cũng đủ lớn để hình thành nên các đám mây có thể nhìn thấy được

Khái niệm về nước sạch: Nước sạch là nước đảm bảo các yêu cầu sau:

- Nước trong, không màu,

- Không mùi vị lạ, không có tạp chất,

- Không chứa chất tan có hại; và Không có mầm gây bệnh

3 Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới liên quan đến lĩnh vực của đề tài nghiên cứu

3.1 Xu hướng nhiệt độ bề mặt trái đất

Theo nghiên cứu của ủy ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) thì nhiệt độ trung bình toàn cầu kết hợp giữa nhiệt độ mặt đất và nhiệt độ đại dương được tính toán theo đường xu hướng tuyến tính cho thấy nhiệt độ ấm dần lên từ 0.65

0

CC - 1.06 0CC trong giai đoạn 1880 -

2012 Trong giai đoạn dài nhất (1901 –

2012) khi tính toán đường xu thế của khu

vực cho kết quả khá đầy đủ rằng hầu như

toàn bộ bề mặt địa cầu đã ấm lên

Về tổng thể cho thấy, xu thế khí hậu lâu

dài có mức ấm lên bề mặt địa cầu trong

giai đoạn 15 năm qua (1998 – 2012) là

0.05 [-0.05 – 0.15] 0C trong một thập kỷ, Hình 1.4: Xu thế thay đổi nhiệt độ bề mặt giai đoạn 1901-2012, IPCC

Trang 21

điều đó bắt nguồn từ hiện tượng El Nino mạnh mẽ, nhỏ hơn tỷ lệ tính toán từ

1951 (1951-2012; 0.12[0.08 – 0.14] 0C trong một thập kỷ (IPCC, 2014

Synthesis report, page 40)

3.2 Xu hướng lượng mưa giai đoạn 1951 đến 2010

Có nhiều khả năng rất phù rằng những khu vực có độ mặn bề mặt cao, nơi có

ưu thế thoát hơi trở nên mặn hơn, trong khi có các khu vực có độ mặn thấp, nơi lượng mưa có ưu thế thì nước trở nên loãng hơn từ những năm 1950 Xu hướng những khu vực có độ mặn nước biển cung cấp gián tiếp những bằng chứng cho

sự bốc hơi nước và lượng giáng thủy trong các đại dương và theo cách đó sẽ dẫn

đến thay đổi vòng tuần hoàn nước trái đất (độ tin cậy trung bình)

3.3 Tác động của |BĐKH

Trong những thập kỷ gần đây sự thay đổi của khí hậu là nguyên nhân tác động đến hệ sinh thái và con người trên tất cả các lục địa và đại dương Sự tác động của BĐKH đã được khẳng định bất chấp tính nhạy cảm của hệ sinh thái và con người khi khí hậu thay đổi Các bằng chứng quan sát tác động của BĐKH là mạnh nhất trong những hệ thống tự nhiên Trong nhiều khu vực, sự thay đổi lượng mưa (giáng thủy) hoặc

sự tan chảy của băng và tuyết dẫn đến thay đổi hệ thống thủy học, ảnh hưởng đến nguồn nước cả về chất lượng và số lượng Nhiều loài sống trên cạn, sống trong nước ngọt và các loài dưới biển đã phải thay đổi phạm vi địa lý, mùa hoạt

động, mùa di cư, sự phong phú giống loài trong quá trình khí hậu biến đổi (

IPCC, 2014 Báo cáo tổng hợp, trang 6)

Hình 1.5: Xu thế thay đổi lượng mưa giai đoạn

1951-2010, IPCC

Trang 22

Theo nghiên cứu của tổ chức Nước của Liên hợp quốc (UN Water), BĐKH càng làm tăng thêm vai trò trung tâm của nước trong mối quan hệ với các vấn đề chính toàn cầu Đầu tiên những tác động tiêu cực của khí hậu làm thay đổi vòng tuần nước và những yêu cầu không thể tránh khỏi trong việc hợp tác toàn cầu để cùng đi đến thỏa thuận chung về vấn đề BĐKH Và việc thích ứng và giảm thiểu tác động BĐKH có mối quan hệ với nhau bởi vì khí các bon và vòng tuần hoàn

nước có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau (UN Water, 2012 Quản lý nước trong

bối cảnh bất định và rủi ro, trang 29)

BĐKH toàn cầu được kỳ vọng sẽ làm trầm trọng hơn căng thẳng về nguồn nước một phần do sự phát triển dân số và thay đổi mục đích sử dụng đất và cũng tăng thêm tần suất của các thời tiết cực đoan và các hiện tượng thủy văn (ngập lâu trong các lãnh thổ) Sự tăng nhiệt độ của nước, tăng cường tính dữ dội của các trận mưa, và kéo dài thời gian của dòng chảy ở khu vực thấp, điều đó làm càng làm trầm trọng hơn các vấn đề ô nhiễm và tăng áp lực dịch bệnh như sốt rét, tiêu chảy, các bệnh ký sinh trùng Bên cạnh đó việc gia tăng tần suất các trận mưa lớn cũng sẽ vượt khả năng của các hệ thống thoát nước dẫn đến lượng nước

ứ đọng không được xử lý cũng sẽ tác động tới sức khỏe của con người (UN

Water, 2012 Quản lý nước trong bối cảnh bất định và rủi ro,trang 106)

Nước là là yếu tố chính liên quan đến an ninh lương thực Ở cấp độ toàn cầu,

có đủ nước cho nhu cầu trong tương lai nhưng bức tranh thế giới với nhiều khu vực rộng lớn sẽ bị ẩn đi, nguồn nước trở nên khan hiếm và ảnh hưởng tới hàng triệu người, nhiều người trong số đó là những người nghèo và những người thiệt thòi Yếu tố thay đổi chính là chính sách và quản lý nguồn nước bao trùm toàn

bộ các chuỗi sản phẩm nông nghiệp là cần thiết để đảm bảo sử dụng một cách tốt nhất những nguồn nước hiện tại nhằm đáp ứng sự tăng trưởng nhu cầu về lương thực và các sản phẩm nông nghiệp khác

Trang 23

4 Tổng quan các nghiên cứu tại Việt Nam liên quan đến lĩnh vực của đề tài nghiên cứu

4.1 Biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Theo công bố trong báo cáo tổng quan, Việt Nam 2035 thì Việt Nam là một

trong năm quốc gia dễ bị ảnh hưởng nhất bởi BĐKH (WB – Bộ kế hoạch đầu tư

(2016), Việt Nam 2035) Nhiệt độ trung bình tại Việt Nam tăng 0,26°C mỗi thập

kỷ kể từ năm 1971, tức là cao gấp đôi so với tốc độ tăng bình quân trên toàn cầu Theo xu thế hiện nay, nhiệt độ trung bình hàng năm vào năm 2040 sẽ cao hơn 0,6 đến 1,2°C so với giai đoạn 1980-1999 (tùy từng địa phương) Kết quả dự báo cho thấy các đợt nóng, lạnh sẽ tăng cường và mực nước biển sẽ dâng thêm 28-33cm tại các vùng biển của Việt Nam Biến thiên lượng mưa giữa các mùa

dự báo cũng sẽ tăng, mùa mưa sẽ mưa nhiều hơn và mùa khô sẽ khô hơn Mưa lớn và lũ lụt sẽ xảy ra thường xuyên hơn, nhất là tại phía Bắc, bao gồm cả Hà Nội Tại vùng núi nguy cơ sạt lở đất sẽ tăng

Nghiên cứu BĐKH ở Việt Nam đã được tiến hành từ những thập niên 90 của thế kỷ trước bởi các nhà khoa học đầu ngành Tuy nhiên, vấn đề này chỉ thực sự được quan tâm chú ý từ sau năm 2000, đặc biệt từ năm 2008 đến nay Các công trình nghiên cứu cũng đã dần dần đi vào chiều sâu về bản chất vật lý và những bằng chứng của sự BĐKH Kết quả của những nghiên cứu này cho thấy khí hậu Việt Nam đã có những dấu hiệu biến đổi rõ rệt Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0.5ºC trên phạm vi cả nước và lượng mưa có xu

hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam lãnh thổ (Phan Văn Tân, Ngô Đức

Thành, 2012)

4.1.1 Xu thế diễn biến nhiệt độ

Ở Việt Nam, xu thế biến đổi của nhiệt độ là rất khác nhau trên các khu vực địa lý và cũng khác nhau giữa mùa trong năm, theo nghiên cứu của Viện khí tượng và thủy văn thì họ căn cứ vào tốc độ xu thế của đa số trạm trên từng vùng khí hậu, đã ước lượng xu thế và mức tăng nhiệt độ trung bình trong 50 năm qua

Trang 24

(1961-2007) là 0,6 – 1,8°C trong mùa đông, 0,2°C – 0,8°C trong mùa xuân, 0,5

°C – 0,9 °C trong mùa hè và 0,4 – 0,8 °C trong mùa thu Tính chung cả năm,

mức tăng nhiệt độ trong năm thập kỷ vừa qua là 0,6 – 0,9°C (Nguyễn Văn

Vào mùa đông, nhiệt độ tăng nhanh hơn cả là ở Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (khoảng 1,3 - 1,5°C/50 năm) Tính trung bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta đã tăng lên 1,2 oC/50 năm

Kịch bản diễn biến nhiệt độ: Vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải

trung bình, nhiệt độ trung bình tăng từ 2°C- 3°C trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn

so với những nơi khác Nhiệt độ thấp nhất trung bình tăng từ 2,2 đến 3,0 °C, nhiệt độ cao nhất trung bình tăng từ 2,0 đến 3,2 °C Số ngày có nhiệt độ cao nhất

trên 35 °C tăng từ 15 đến 30 ngày trên phần lớn diện tích cả nước (Bộ TN&MT

(2012), Kịch bản BĐKH - NBD cho Việt Nam)

4.1.2 Xu thế diễn biến lƣợng mƣa

Lượng mưa mùa khô (tháng 11- 4) tăng lên chút ít hoặc thay đổi không đáng

kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam Lượng mưa mùa mưa (tháng 5-10) giảm từ 5 đến hơn 10% trên đa phần diện tích phía Bắc nước ta và tăng khoảng 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam

Xu thế diễn biến của lượng mưa năm tương tự như lượng mưa mùa mưa, tăng ở các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc Khu vực Nam

Trang 25

so với các vùng khác ở nước ta, nhiều nơi đến 20% trong 50 năm qua Lượng mưa ngày cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu, nhất là trong những năm gần đây Số ngày mưa lớn cũng có xu thế tăng lên tương ứng, nhiều biến động mạnh xảy ra ở khu vực miền Trung Tồn tại mối tương quan khá rõ giữa sự nóng lên toàn cầu và nhiệt độ bề mặt biển khu vực Đông xích đạo Thái Bình Dương

với xu thế biến đổi của số ngày mưa lớn trên các vùng khí hậu phía Nam (Bộ

TNMT 2012, Kịch bản BĐKH- NBD)

Theo nghiên cứu của Viện khoa học khí tượng tượng và thủy văn cho thấy, vùng khí hậu Bắc Trung Bộ với mùa mưa là từ tháng V, tháng VI, tháng VII đến tháng XI, tháng XII, độ lệch tiêu chuẩn phổ biến của lượng mưa trong các tháng

I, IV, VII, X lần lượt là 30 – 100 mm; 30 – 50 mm; 80 – 120 mm; 250 – 400 mm

và chung cho cả năm là 400 – 700 mm Đáng chú ý là ở Bắc Trung Bộ lượng mưa biến đổi nhiều hơn trong các tháng gió Lào gay gắt và biến suất của lượng

mưa năm cũng lớn hơn so với Bắc Bộ (Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Trọng Hiệu,

Trần Thục 2010, BĐKH và tác động ở VN)

Kịch bản diễn biến lƣợng mƣa: Vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải

trung bình, lượng mưa năm tăng trên hầu khắp lãnh thổ, mức tăng phổ biến từ 2 đến 7%, riêng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ tăng ít hơn, dưới 3% Xu thế chung

là lượng mưa mùa khô giảm và lượng mưa mùa mưa tăng Lượng mưa ngày lớn nhất tăng thêm so với thời kỳ 1980-1999 ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và giảm ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ Tuy nhiên ở các khu vực khác nhau lại

có thể xuất hiện ngày mưa dị thường với lượng mưa gấp đôi so với kỷ lục hiện nay

4.1.3 Tác động BĐKH ở Việt Nam

Những bằng chứng quan sát về hệ thống khí hậu tại Việt nam cho thấy BĐKH đã diễn ra với các kịch bản có xu hướng tương đồng với BĐKH trên toàn cầu, BĐKH đã tác động đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau, những tác

Trang 26

động của BĐKH vừa mang lại những thách thức cho sự phát triển kinh tế, xã hội nhưng cũng mang lại những cơ hội mới cho việc phát triển

Trong nghiên cứu tác động BĐKH tại VN, tác giả Nguyễn Văn Thắng và cộng sự đã cho thấy, BĐKH ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực như tác động tiêu cực lên các lĩnh vực thuộc nhóm nông – lâm – ngư, đặc biệt là nông nghiệp Nhóm công nghiệp – năng lượng – giao thông vận tải thì hầu hết sự kiện chủ yếu có tác động tiêu cực đến các hoạt động của nhóm này Nhóm y tế - du lịch

có nhiều tác động tiêu cực lên một số hoạt động nhất định trong các lĩnh vực thuộc nhóm y tế - du lịch

Nghiên cứu của Phan Văn Tân và cộng sự nêu rõ, nông nghiệp là lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất của BĐKH nói chung và của biến động khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan nói riêng Khi nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên có thể làm thay đổi cơ bản hệ thống canh tác nông nghiệp

ở một vực do sự dịch chuyển ranh giới thực vật và cây trồng, tức là thay đổi chế

độ và điều kiện ngoại cảnh (khí hậu) của sản xuất nông nghiệp ở vùng đó thì biến động khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan có tác động tiềm tàng gây

ra những tai biến khí hậu thường vượt quá khả năng ứng phó, dẫn đến mất mùa, giảm năng suất, sản lượng nông nghiệp hàng năm, thậm chí làm cho đất đai

không còn khả năng canh tác (Phan Văn Tân (2010), Báo cáo tổng hợp kết quả

khoa học công nghệ đề tài MÃ SỐ: KC08.29/06-10)

4.2 Tình hình tiếp cận nước sạch tại các khu vực nông thôn tại Việt Nam

Theo báo cáo đánh giá chương trình nước Việt Nam của Unicef, Bộ Y tế Tính đến năm 2010, tổng số dân nông thôn được sử dụng nước HVS là 48.752.457 người, tăng 8.630.000 người so với cuối năm 2005, tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh tăng từ 62% lên 80%, thấp hơn kế hoạch 5%, trung bình tăng 3,6%/năm Trong đó, tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt đạt QCVN 02/BYT trở lên là 40%, thấp hơn kế hoạch 10%

Trang 27

Trong 7 vùng kinh tế - sinh thái, vùng Đông nam Bộ có tỷ lệ số dân nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 90%, cao hơn trung bình cả nước 10% Thấp nhất là vùng Tây nguyên 72% và Bắc trung Bộ 73%, thấp hơn trung bình 8%

Thực tế điều tra cho thấy, cơ cấu nguồn nước ăn uống, sinh hoạt chính ở các

hộ gia đình vùng nông thôn hiện nay như sau: 33,1% giếng khoan, 31,2% giếng khơi, 1,8% nước mưa, 11,7% nước máy, 7,5% nước suối đầu nguồn, 11% nước sông ao hồ, 3,7% nguồn nước khác

Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2008 các bệnh liên quan đến nước: tiêu chảy, hội chứng lỵ, lỵ trực khuẩn là 3 trong số 10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, trong đó tiêu chảy là bệnh đứng thứ 6 trong các bệnh có tỷ lệ tử vong lớn nhất (0,009/100,000 dân) Năm 2009 tình hình cũng chưa được cải thiên, tỷ lệ mắc/100,000 dân với bệnh tiêu chảy là 1,081,7 ; tả là 0,56 ; lỵ trực khuẩn là 30,55 ; lỵ amip là 10,97 ; thương hàn là 1,77 Tỷ lệ mắc các bệnh này chỉ đứng thứ 5 sau một số bệnh đường hô hấp

Bộ NN&PTNT, 2014, Báo cáo kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2013 cho thấy tỷ lệ dân

sử dụng nước hợp vệ sinh thấp: Bắc Trung Bộ: 73%; Tây Nguyên: 77% Tích lũy tỷ lệ dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh là 82.5%

5 Thực trạng vấn đề nghiên cứu tại tỉnh Thanh Hóa và địa bàn thực hiện nghiên cứu

Thanh Hóa là một trong những tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ chịu nhiều tác động của BĐKH, kịch bản BĐKH – NBD 2011 cho thấy, trong giai đoạn 2020 -2100 khu vực Tỉnh Thanh Hóa có xu hướng nhiệt độ tăng, mức thay đổi nhiệt độ cuối thế kỷ 21 là 2.4 °C (2.2-2.8 °C) Bên cạnh đó kịch bản lượng mưa thay đổi theo năm cũng tăng, mức độ tăng của lượng mưa cuối thế kỷ 21 là 5.8% (4.0-8.0%)

Trang 28

Bảng 1.1 : Mức tăng nhiệt độ (°C) trung bình năm và mức thay đổi lƣợng mƣa (%) năm so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) tại Thanh Hóa

và theo kịch bản phát thải Theo 2 kịch bản A1F1 và B2, lượng mưa trung bình năm ở Thanh Hóa các giai đoạn 2020, 2050, 2100 đều tăng Phân bổ lượng mưa tăng dần từ phía Bắc xuống phía Nam Các huyện có phân bố lượng mưa trung bình năm cao theo 2 kịch bản vào năm 2100 là Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nga Sơn, Bỉm Sơn và Thạch Thành Lượng mưa trung bình theo mùa ở các giai đoạn tháng 12 đến tháng 2 và tháng 3 đến tháng 5 có xu hướng giảm dần so với năm

1990 qua các năm, mức giảm từ -0,55% đến -26,44% Ngược lại, lượng mưa trung bình theo mùa ở các giai đoạn tháng 6 đến tháng 8 và tháng 9 đến tháng 11

có xu hướng tăng dần, so với giai đoạn nền qua các năm, mức tăng từ 0,51% đến 13,38% Theo kịch bản về phát thải cao và trung bình, nhiệt độ trung bình khu vực tỉnh Thanh Hóa có xu hướng tăng dần qua các năm Phân bố nhiệt độ tăng dần từ đồng bằng ra vùng ven biển Còn vùng miền núi nhiệt độ tăng ít hơn so với khu vực đồng bằng và ven biển Mức tăng nhiệt độ vào năm 2100 tương ứng

Trang 29

là 1,43 °C và 2,66 °C xuất hiện vào giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 5 (Website:

KTTVTTB.vn)

Đối với địa bàn huyện Quan Hoá, đây là một huyện miền núi nằm về phía Tây của tỉnh Thanh Hoá, cách thành phố Thanh Hoá 134 km theo quốc lộ 47 và quốc lộ 15A, phía Bắc giáp tỉnh Sơn La và Hoà Bình, phía Nam giáp huyện Quan Sơn, phía Đông giáp huyện Bá Thước, phía Tây giáp huyện Mường Lát, tỉnh Sơn La và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Vị trí này giúp Quan Hoá

có mối quan hệ kinh tế – xã hội với các lãnh thổ khác thông Quốc lộ 15A và Sông Mã chảy qua từ đầu đến cuối Huyện dài trên 50 Km

Do đặc điểm địa hình, Quan Hóa là một huyện miền núi có địa hình rất phức tạp, độ dốc cao, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 400-600m Diện tích tự nhiên của huyện Quan Hóa 99,070 ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 90,278,7ha (đất sản xuất nông nghiệp 2648.6 ha và đất lâm nghiệp 87,578.4ha) Đất chuyên dùng khoảng 919ha và đất chưa sử dụng 5481.9ha Dân số toàn huyện có 46,323 người, mật độ dân cư thưa thớt với 46 người/km2, phân bố dải rác với thành phần dân số bao gồm 74% dân số là dân tộc Thái, 17,6% dân tộc Mường, 7% dân tộc Kinh và 1,4% dân tộc H’Mông và người Hoa Tỷ lệ tăng dân số năm 2014 là 1.079% so với năm 2004 là 1.080, như vậy tỷ lệ tăng dân số

ở huyện Quan Hóa rất ổn định và gần như không có sự thay đổi sau 10 năm, do vậy tổng dân số tại huyện Quan Hóa cũng chỉ tăng 3,288 khẩu so với năm 2004.Bên cạnh vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, Quan Hóa là một trong những huyện có điều kiện kinh tế khá khó khăn của tỉnh Thanh Hóa, thuộc một trong

62 huyện nghèo thuộc chương trình 30a của chính phủ, tỷ lệ hộ nghèo năm 2014 theo báo cáo của UBND huyện Quan Hóa là 24.7%, hộ cận nghèo là 17.0% Quan Hoá có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình năm là 24o

C Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối có thể lên tới 39 – 41oC và thấp nhất có thể xuống tới 2 oC Lượng mưa trung bình năm 1.700 – 1.900 mm Các hiện tượng thời tiết cực đoan là gió Phơn Tây Nam (Hoạt động mạnh vào tháng 4, 5

và đầu tháng 6); lốc cục bộ đôi khi kèm theo mưa đá thường xuất hiện vào tháng

Trang 30

4, tháng 5; Lũ quét cũng có thể xảy ra vào các tháng 7, 8 và tháng 9 gây ra nhiều thiệt hại

Quan Hóa có hệ thống sông, suối khá phong phú với hai con sông lớn chảy qua địa bàn là sông Mã và sông Luồng và nhiều con suối lớn chảy trên địa bàn

và có 2 hồ đập lớn cung cấp nước sản xuất trên địa bàn

Với điều kiện tự nhiên phức tạp, bị chia cắt bởi các thung lũng sâu được kiến tạo giữa các dãy núi cao, dân cư phân bố dải rác, đời sống người dân phụ thuộc nhiều vào việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên sẵn có trên địa bàn như phát triển kinh tế phụ thuộc vào việc khai thác rừng (măng, tre luồng, cây thuốc…), tập quán sử dụng nước cho sinh hoạt và cho sản xuất phụ thuộc phần lớn vào lượng nước chảy bề mặt của các dòng suối trên địa bàn Do vậy việc biến động tài nguyên nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hộ gia đình với mức độ bao phủ rộng trên nhiều địa bàn dân cư sinh sống

Từ kết quả tổng hợp các nghiên cứu liên quan cho thấy, các nghiên cứu tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa hiện tượng BĐKH và tài nguyên nước hầu hết tập trung vào tìm hiểu xu thế diễn biến các yếu tố khí tượng như nhiệt độ, lượng mưa và hiện tượng ngập lụt tại các vùng ven biển, đồng bằng và không có nhiều kết quả nghiên cứu được công bố cho các khu vực miền núi để tìm hiểu tác động của BĐKH đến tài nguyên nước và sự ảnh hưởng đến đời sống dân cư tại các khu vực này Do vậy việc thực hiện đề tài nghiên cứu về ““Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện Quan Hóa – Thanh Hóa” sẽ giúp việc cung cấp các bằng chứng cụ thể hơn về ảnh hưởng BĐKH tới tài nguyên nước mặt tại địa bàn dân cư có tính dễ bị tổn thương cao

Trang 31

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu nhằm thu thập và phân tích thông tin tại khu vực nghiên cứu từ đó đưa ra những kết luận có cơ sở khoa học về chủ đề nghiên cứu Việc thực hiện các phương pháp sẽ ưu tiên sử dụng tối đa nguồn thông tin thứ cấp có sẵn bao gồm các số liệu thống kê, quan trắc liên quan đến chủ đề nghiên cứu, đó sẽ là giai đoạn đầu tiên trước khi triển khai các điều tra bổ sung khác Dựa trên việc sàng lọc, phân tích và sử dụng thông tin thứ cấp này để xác định các chỉ tiêu, các nội dung thông tin chưa được thống

kê, lưu trữ sẽ được bổ sung bằng điều tra hộ gia đình và cuối cùng là việc tổ chức nghiên cứu định tính nhằm làm rõ những ý nghĩa của các số liệu đã thống kê, phân tích trong các nghiên cứu định lượng

1 Phương pháp nghiên cứu định lượng:

Nghiên cứu định lượng là điều tra thực nghiệm có hệ thống về các hiện tượng quan sát được qua số liệu thống kê, toán học hoặc số hoặc kỹ thuật

vi tính

o Rà soát, tổng hợp thông tin thứ cấp

o Phương pháp xử lý thống kê số liệu quan trắc

o Phương pháp khảo sát hộ gia đình

2 Nguồn số liệu:

Gồm các số liệu thu thập (số liệu quan trắc khí tượng thuỷ văn - các chuỗi

số liệu độ dài, trạm, ), số liệu điều tra, khảo sát (các phiếu bảng hỏi, các băng phỏng vấn sâu, niên giám thống kê,

Trang 32

II Mô tả các phương pháp nghiên cứu được sử dụng

1 Phương pháp nghiên cứu định lượng bằng xử lý thống kê

- Hồi cứu số liệu quan trắc khí tượng sẵn có và sử dụng các phần mềm phân tích thống kê để tính toán các yếu tố khí tượng quan trắc thời kỳ 1981-2010 từ

đó phân tích và xác định diễn biến về một số yếu tố khí hậu bao gồm nhiệt độ, lượng mưa tại khu vực huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Nguồn số liệu thống kê và lưu trữ tại Bộ môn Khí Tượng – Khoa Khí

tượng thủy văn và Hải dương học, ĐHKHTN – ĐHQG Hà Nội

Mô tả phương pháp và cách thực hiện

- Dựa vào chuỗi số liệu tổng lượng mưa và trung bình nhiệt độ T2m của các tháng trong giai đoạn 1981 -201, đường xu thế của 2 biến này sẽ được đưa ra, với hệ số góc (k):

o K < 0: xu thế giảm

o K = 0: xu thế không tăng, không giảm

o K > 0: xu thế tăng

2 Phương pháp khảo sát hộ gia đình

2.1 Giới thiệu về phương pháp

Khảo sát hộ gia đình là phương pháp nhằm tìm kiếm sự phản hồi từ những đối tượng nghiên cứu là chủ hộ gia đình hoặc thành viên trong gia đình nắm nhiều thông tin về các vấn đề xảy ra tại cộng đồng nơi mà họ sinh sống, làm việc

có liên quan đến vấn đề nghiên cứu” –World Vision International Organization Mục đích sử dụng phương pháp khảo sát hộ gia đình là thông qua thiết kế các bộ phiếu điều tra bán cấu trúc và sử dụng cách thức phỏng vấn trực tiếp đối tượng thu thập thông tin để lấy ý kiến, những tri thức bản địa mà họ đã tích lũy

có liên quan đến các vấn đề được đề cập đến trong nội dung nghiên cứu

Thông tin thu thập từ cộng đồng (quần thể nghiên cứu) được xử lý kỹ thuật để có thể phân tích và lượng giá theo các tham số biểu diễn cho những nội dung nghiên cứu Bằng cách sử dụng các phương pháp thống kê mô tả và

Trang 33

phương pháp thống kê suy diễn, các kết quả phân tích từ mẫu nghiên cứu sẽ giúp cho việc suy luận ra các tham số cho quần thể đích

2.2 Địa bàn nghiên cứu và cỡ mẫu điều tra

Quần thể nghiên cứu là cộng đồng dân cư sinh sống tại huyện Quan Hóa tỉnh Thanh Hóa Với đặc điểm địa hình phân chia phức tạp, bị chia cắt bởi điều kiện tự nhiên do vậy việc chọn địa bàn nghiên cứu được xác định

tại bốn xã trong huyện bao gồm xã Hiền Chung, xã Thiên Phủ, Xã Nam Tiến và xã Phú Thanh

Quần thể đích

Mẫu nghiên cứu

Tham số mẫu

Tham số quần thể

Biến số

PP chọn mẫu

ngẫu nhiên đơn

Quần thể nghiên cứu

Trang 34

Chọn cụm: Sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm hai giai đoạn, giai đoạn một chọn mẫu cụm và giai đoạn hai chọn hộ khảo sát.

Giai đoạn một: Chọn các cụm (thôn/bản) khảo sát bằng phương pháp chọn mẫu cụm có hệ thống với xác suất tương ứng, với phương thức chọn mẫu cụm như trên, dự kiến địa bàn nghiên cứu được lựa chọn ngẫu nhiên ra ba mươi cụm

Giai đoạn hai: Chọn hộ gia đình trong các cụm bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với số lượng các hộ gia đình tại các cụm như nhau

(Phạm Việt Cường (2012), Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu, Đại học y tế

công cộng)

Tính toán cỡ mẫu: Đối với các trường hợp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn hoặc

chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống đều sử dụng công thức chọn mẫu như sau:

2

2 2 /

d

p p z

Hình 2.2: Mô phỏng quá trình chọn mẫu khảo sát hộ gia đình (a) Xác định quần thể nghiên cứu (b)

Chọn cụm từ quần thể nghiên cứu (c) Chọn hộ từ quần mẫu nghiên cứu

n: lượng mẫu z: hệ số tin cậy p: tỷ lệ dự đoán d: độ chính xác tuyệt đối

Trang 35

p: Tỷ lệ dự đoán, vấn đề khảo sát khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh BĐKH chưa được thực hiện bởi nghiên cứu khác tại địa bàn nghiên cứu, do vậy chúng tôi xác định tỷ lệ dự đoán cho nghiên cứu là 0.5, với việc lựa chọn tỷ lệ này, cỡ mẫu trong nghiên cứu này sẽ ở giá trị cao nhất

d: Dựa trên khả năng về nguồn lực (con người và tài chính) chúng tôi xác định

độ chính xác tuyệt đối của nghiên cứu là 0.05 (khoảng dao động quy định 0 -1)

Kết quả tính toán cho mẫu nghiên cứu (n) cần cho khảo sát là:

𝑛 = 1.96 ∗ 1.96 0.5 1−0.5

0.052 = 384 hộ

- Phiếu khảo sát hộ gia đình: Là dạng bảng hỏi bán cấu trúc, sử dụng các câu hỏi đóng và câu hỏi nhiều lựa chọn để lấy thông tin từ đối tượng cung cấp Các câu hỏi trong phiếu khảo sát nhằm thu thập thông tin về các mục tiêu nghiên cứu, các chỉ số cần đo lường, đáp ứng nhu cầu về thông tin được biểu diễn dưới dạng số học

- Biểu diễn kết quả nghiên cứu:

95% khoảng tin cậy cho một giá trị trung bình

3 Phương pháp tổng hợp, rà soát số liệu thứ cấp

- Sử dụng các nguồn thông tin, số liệu sẵn có từ các ấn bản được công bố trước đó bao gồm các báo cáo, các số liệu trong niên giám thống kê, các phần mềm quản lý dữ liệu của các ban ngành trên địa nghiên cứu

Giá trị TB – 1.96*SE Giá trị TB quần thể NC Giá trị TB + 1.96*SE

Mean QT – 1.96*SE Mean quần thể NC Mean QT+ 1.96*SE

Trang 36

4 Phương pháp nghiên cứu định tính và hỗn hợp

4.1 Cơ sở áp dụng phương pháp

- Nghiên cứu định tính là một phương pháp điều tra được sử dụng trong

nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, không chỉ trong các ngành khoa học truyền thống mà còn trong nghiên cứu thị trường và các bối cảnh khác Nghiên cứu định tính nhằm mục đích thu thập một sự hiểu biết sâu sắc về hành vi con người

và lí do ảnh hưởng đến hành vi này Các phương pháp định tính điều tra lý do tại sao và làm thế nào trong việc ra quyết định, không chỉ trả lời các câu hỏi cái gì,

ở đâu, khi nào Do đó, các mẫu nhỏ tập trung thường được sử dụng nhiều hơn hàng loạt mẫu lớn.)

- Phương pháp nghiên cứu định lượng cung cấp các bằng chứng đáng tin cậy nếu cỡ mẫu nghiên cứu là đủ lớn và phân tích hồi quy giúp cho việc kiểm soát số lượng lớn các biến khi đo lường tác động của các biến số cụ thể cho các mục tiêu nghiên cứu Nhưng nghiên cứu định lượng không chỉ ra được bối cảnh một cách đầy đủ các quan hệ nhân quả bởi vì nó thiếu khả năng cung cấp các thông tin bối cảnh (Hentschel, 1999)

- Phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm sự tham gia của cộng đồng với cách phỏng vấn sâu giúp cho việc sáng tỏ các vấn đề kinh tế, văn hóa – xã hội và bối cảnh chính trị của toàn bộ tiến trình trong quá trình nghiên cứu Trong việc đánh giá các dự án, việc kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định lượng

và nghiên cứu định tính có tính chất quan trọng đặc biệt bởi vì “nghiên cứu định tính cho phép tìm hiểu một cách sâu sắc các vấn đề được lựa chọn để nghiên cứu, các trường hợp hoặc các sự kiện và có thể đưa ra một cách nhìn đa chiều, một cách hiểu thấu đáo nội hàm của vấn đề” (Baker, 2000:8) Nói một cách khác, nghiên cứu định tính giúp người nghiên cứu hiểu biết một cách tốt hơn về đối tượng, tri giác và các ưu tiên (World Bank, Khảo sát và giá trị của việc kết

Trang 37

hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng cho phân tích số liệu của khu vực châu Mỹ Latin, 2001:2-3

Trong những trường hợp nghiên cứu cụ thể như nghiên cứu chính sách, nghiên cứu về đói nghèo, bất bình đẳng và tính dễ bị tổn thương của tác giả Coudouel, Hentschel, and Wodon (2001) khuyến nghị rằng phương pháp nghiên cứu định tính đảm bảo ba mục đích i) giúp thiết kế những bộ câu hỏi nghiên cứu hộ gia đình ; ii) Ước định những căn cứ vững chắc của các kết quả khảo sát tại cộng đồng và đánh giá xem mức độ phản hồi lại có tính đồng nhất không trong bối cảnh mỗi địa phương khác nhau, iii) tập hợp những thông tin mà hộ gia đình không có khả năng nắm bắt được hoặc họ nắm được thông tin nhưng ở mức rất

sơ bộ, chưa hoàn chỉnh Nghiên cứu định tính cũng giúp chỉ ra những câu hỏi nghiên cứu mà không thể dễ dàng trả lời được trong nghiên cứu định lượng

4.2 Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu định tính

- Phương pháp nghiên cứu định tính là một cách tiếp cận nhằm tìm cách mô

tả phân tích đặc điểm văn hóa, hành vi của con người và của nhóm người từ nhà nghiên cứu

- Nghiên cứu định tính cung cấp một cách toàn diện về đặc điểm môi trường

xã hội nơi nghiên cứu được tiến hành Đời sống xã hội được nhìn nhận như một chuỗi các sự kiện liên kết chặt chẽ với nhau mà cần được mô tả một cách đầy đủ

để phản ánh được cuộc sống thực tế hàng ngày

- Nghiên cứu định tính dựa trên một chiến lược nghiên cứu linh hoạt và có tính biện chứng Phương pháp này cho phép phát hiện những chủ đề quan trọng

mà các nhà nghiên cứu có thể chưa bao quát được trước đó Trong nghiên cứu định tính, một số câu hỏi nghiên cứu và phương pháp thu thập thông tin được chuẩn bị trước, nhưng chúng có thể được điều chỉnh cho phù hợp khi những thông tin mới xuất hiện trong quá trình thu thập Đó là một trong những khác biệt cơ bản giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng

Trang 38

- Xét trong bối cảnh nghiên cứu về môi trường, cụ thể hơn là xác định các đặc điểm về nguồn nước bề mặt cung cấp cho người dân trong sinh hoạt và hoạt động sản xuất nông nghiệp thì phương pháp này có thể cung cấp thông tin đầy

đủ về hiện trạng của các nội dung nghiên cứu thông qua việc tổng hợp các ý kiến của cộng đồng nơi người dân sinh sống lâu dài và có hiểu biết rõ ràng về đối tượng nghiên cứu này

4.3 Các phương pháp nghiên cứu định tính sử dụng trong nghiên cứu 4.3.1 Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm

a Cơ sở áp dụng:

- Vấn đề tiếp cận các nguồn nước tự nhiên phục vụ cho sinh hoạt và các hoạt động sản xuất của người dân là vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống của họ Tất cả những thay đổi, những cú sốc liên quan đến sự thay đổi nguồn nước tại cộng đồng nơi mà họ hàng ngày đang sử dụng đều được phản ánh một cách chủ quan hoặc khách quan vào bộ não của họ Do vậy việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để thu thập thông tin sẽ góp phần quan trọng vào việc mô tả các tham số được nghiên cứu trong khảo sát định lượng Diễn biến của các tham số nghiên cứu sẽ được phản ánh một cách đa chiều hơn là việc biểu diễn những con

số đơn thuần từ quá trình nghiên cứu định lượng bằng phương pháp hộ gia đình

b Mô tả phương pháp và cách thức thực hiện

- Một nhóm tập trung bao gồm từ 8 đến 10 người tương đồng về một số đặc điểm như trình độ học vấn, độ tuổi, khu vực sinh sống và phù hợp với chủ đề cuộc thảo luận

Trang 39

- Chủ đề nghiên cứu đã được

chuẩn bị và đưa ra để các đối tượng

tham gia phân tích, thảo luận, tranh

luận Các thành viên tham dự sẽ

đưa ra những quan điểm, lý lẽ, kinh

nghiệm và những nhận định của họ

về vấn đề được tung ra

- Mỗi chủ đề thảo luận phải

đảm bảo hầu hết các thành viên đều

cùng đi đến một thống nhất chung

sau khi họ đã có những bằng

chứng, luận điểm tương đối đầy đủ

về vấn đề đang thảo luận

- Thư ký và người điều hành cuộc thảo luận luôn bám sát, ghi chép thông tin được trao đổi giữa các thành viên trong quá trình họ thảo luận Giúp quá trình thảo luận đúng hướng và đảm bảo thời gian

4.3.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

a) Cơ sở áp dụng:

- Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm thu thập thông tin ở mức độ chuyên sâu hơn và khả năng bao quát cho một phạm vi rộng lớn hơn về vấn đề nghiên cứu trên địa bàn

- Thảo luận nhóm tập trung thông thường chỉ cung cấp thông tin ở một phạm

vi nghiên cứu hẹp hơn (thôn/bản/cụm dân cư), do vậy phỏng vấn sâu sẽ giúp nhìn vấn đề ở phạm vi địa lý lớn hơn, các thông tin có tính chuyên môn cao hơn

b) Mô tả phương pháp và cách thức thực hiện

- Đối tượng cung cấp thông tin thường là những người “sở hữu” nhiều thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu, họ là những người nắm vai trò quản lý ở địa bàn nghiên cứu đó hoặc phụ trách công tác chuyên môn liên quan đến lĩnh

Hình 2.3: Mô phỏng phương thức thu thập thông tin tính tính bằng phương pháp thảo luận nhóm

Trang 40

vực nghiên cứu Đối với nghiên cứu này chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu các chủ tịch, phó chủ tịch cấp xã, cán bộ địa chính, nông nghiệp

- Số lượng đối tượng tham gia có thể từ 1-3 người với những tiêu chí sở hữu nhiều thông tin, có chuyên môn liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, sinh sống tại địa bàn nghiên cứu

- Người phỏng vấn sử dụng chủ đề nghiên cứu chuẩn bị trước (bộ câu hỏi định hướng theo cấu trúc câu hỏi mở) để phỏng vấn trực tiếp đối tượng cung cấp thông tin

- Thư ký và người phỏng vấn bám sát và ghi chép toàn bộ thông tin do đối tượng cung cấp, mã hóa và tổng hợp theo chủ đề nghiên cứu

4.3.3 Nghiên cứu trường hợp điển hình

a) Cơ sở áp dụng

- Nhằm thu thập thông tin toàn diện, có hệ thống và sâu về các trường hợp đang quan tâm “Một trường hợp”đây có thể là một cá nhân, một sự kiện, một chương trình hay một cộng đồng

Nghiên cứu trường hợp đặc biệt cần

thiết cho việc khai thác thông tin và

mong muốn hiểu biết sâu về một số

người, vấn đề và tình huống cụ thể,

cũng như khi các trường hợp có nhiều

thông tin hay mà có thể đem lại một

cách nhìn sâu sắc về hiện tượng đang

quan tâm

- Trong bối cảnh nghiên cứu này

chúng tôi thực hiện nghiên cứu hộ gia

đình đang sử dụng các nguồn nước bề

mặt trên địa bàn và một số hiện tượng

C

Chủ đề nghiên cứu

Hình 2.4: Mô tả phương thức thu thập thông

tin bằng phỏng vấn sâu

Ngày đăng: 11/11/2016, 10:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Hoàng Thị Hải Vân, Viện đào tạo y học dự phòng và y tế công cộng, Phương pháp tổng hợp và trình bày số liệu Khác
[3] Võ Thanh Sơn, Một số phương pháp tiếp cận trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững Khác
[5] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam Khác
[6] Viện khoa học khí tượng thủy văn và môi trường (2012), Tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng, Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và bản đồ Việt Nam, Hà Nội Khác
[7] Viện khoa học khí tượng thủy văn và môi trường (2010), Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Khác
[9] Phan Văn Tân (2010), Nghiên cứu tác động của BĐKH toàn cầu đến các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam, khả năng dự báo và giải pháp chiến lược ứng phó, Mã số: KC08.29/06-10 Khác
[10] Trần Thục, Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước Việt Nam, Viện khoa học khí tượng thủy văn và môi trường, Hà Nội 2011 Khác
[11] Phan Văn Tân, Ngô Đức Thành (2013), Biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Một số kết quả nghiên cứu, thách thức và cơ hội trong hội nhập quốc tế, Tạp chí khoa học ĐHQG HN Khác
[12] UNDP (2007/2008), Báo cáo phát triển con người – Cuộc chiến chống BĐKH, Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách Khác
[13] Thông tư quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng Số: 34/2009/TT- BNNPTNTQuy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt QCVN 02:2009/BYT Khác
[14] Bộ tài nguyên và môi trường (2008), Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH Khác
[15] Bộ NN&amp;PTNT (2014), Báo cáo kết quả thực hiện chương trình MTQG nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2013Tài liệu tiếng Anh Khác
[1] World Bank, 2010. Handbook on Impact Evaluation Quantitative Methods and Practices, Shahidur R. Khandker, Gayatri B. Koolwal, Hussain A. Samad Khác
[2] World Bank Technical Paper No 518, Measurement and Meaning, Combining Quantitative and Qualitative Methods for the Analysis of Poverty and Social Exclusion Latin America Khác
[3] World Vision International, 2013. Guide to Using the Caregiver Survey, Measuring the Indicators for Child Well-being Outcomes Khác
[4] The Effectiveness of Community-based Adaptation (CBA) to Climate Change, From the Viewpoint of Social Capital and Indigenous Knowledge, Hozuma Sekine, Kotaro Fukuhara, Aya Uraguchi, Chun Knee Tan, Mikiko Nagai and Yuko Okada, GEIC Working Paper Series 2009-001 Khác
[5] Climate Vulnerability and Capacity Analysis Handbook, Prof. Robert Chambers, Research Associate, Institute of Development Studies, University of Sussex Khác
[6] IPCC, 2007. Climate Change 2007: Impacts, Adaptation and Vulnerability. Contribution of Working Group II to the Fourth Assessment Report of the [7] IPCC, 2008. Climate change and water, Technical Paper VI Khác
[9] UN Water, 2012. Managing Water under Uncertainty and Risk, Development Report 4 Volume 1 Khác
[10] IPCC, 2001. Third Assessment Report, Working Group 2, Annex B: Glossary of Terms Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3: Sơ đồ chiến lược và KH ứng phó với BĐKH, P.V Tân và cộng sự - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Hình 1.3 Sơ đồ chiến lược và KH ứng phó với BĐKH, P.V Tân và cộng sự (Trang 18)
Sơ đồ mô tả quy trình thực hiện phương pháp khảo sát hộ gia đình [1] - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Sơ đồ m ô tả quy trình thực hiện phương pháp khảo sát hộ gia đình [1] (Trang 33)
Hình 2.2: Mô phỏng quá trình chọn mẫu khảo sát hộ gia đình (a) Xác định quần thể nghiên cứu (b) - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Hình 2.2 Mô phỏng quá trình chọn mẫu khảo sát hộ gia đình (a) Xác định quần thể nghiên cứu (b) (Trang 34)
Hình 2.3: Mô phỏng phương thức thu thập thông  tin tính tính bằng phương pháp thảo luận nhóm - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Hình 2.3 Mô phỏng phương thức thu thập thông tin tính tính bằng phương pháp thảo luận nhóm (Trang 39)
Hình 2.4: Mô tả phương thức thu thập thông - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Hình 2.4 Mô tả phương thức thu thập thông (Trang 40)
Bảng 3.2: Danh sách cụm tiến hành khảo sát hộ gia đình - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Bảng 3.2 Danh sách cụm tiến hành khảo sát hộ gia đình (Trang 44)
Hình 3.1: Xu thế diễn biến nhiệt độ giai đoạn 1980-2014 tại - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Hình 3.1 Xu thế diễn biến nhiệt độ giai đoạn 1980-2014 tại (Trang 50)
Hình 3.3: Biểu đồ mô tả xu hướng diễn biến nhiệt độ trạm Hồi Xuân, hình a) tháng 11, - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Hình 3.3 Biểu đồ mô tả xu hướng diễn biến nhiệt độ trạm Hồi Xuân, hình a) tháng 11, (Trang 51)
Bảng 3.7: Mô tả xu hướng diễn biến lượng mưa trong giai đoạn 1980-2014 - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Bảng 3.7 Mô tả xu hướng diễn biến lượng mưa trong giai đoạn 1980-2014 (Trang 54)
Bảng 3.9: Tỷ lệ người dân cho biết sự thay đổi về số lượng mạch nước trong  mùa khô 2004 và 2014 (Nguồn: Khảo sát hộ gia đình) - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Bảng 3.9 Tỷ lệ người dân cho biết sự thay đổi về số lượng mạch nước trong mùa khô 2004 và 2014 (Nguồn: Khảo sát hộ gia đình) (Trang 58)
Bảng 11: Tỷ lệ người dân nêu các nguyên nhân dẫn đến nguồn nước xa hơn - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Bảng 11 Tỷ lệ người dân nêu các nguyên nhân dẫn đến nguồn nước xa hơn (Trang 62)
Hình 3.15: Sự thay đổi nguồn nước sử dụng sinh hoạt - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Hình 3.15 Sự thay đổi nguồn nước sử dụng sinh hoạt (Trang 65)
Hình 3.19: Guồng nước tưới lúa bản Sài 1, xã Thiên Phủ, nguồn Quan  Hóa ADP - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Hình 3.19 Guồng nước tưới lúa bản Sài 1, xã Thiên Phủ, nguồn Quan Hóa ADP (Trang 73)
Hình 3.20: Biểu đồ so sánh sự thay đổi lượng nước với diện tích rừng - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Hình 3.20 Biểu đồ so sánh sự thay đổi lượng nước với diện tích rừng (Trang 80)
Hình 4.1: Sơ đồ biểu diễn hiện trạng nước suối tại huyện Quan Hóa - Đánh giá khả năng tiếp cận nguồn nước bề mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó cho người dân huyện quan hóa – tỉnh thanh hóa
Hình 4.1 Sơ đồ biểu diễn hiện trạng nước suối tại huyện Quan Hóa (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w