1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình truyền thống ứng phó biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân xã nam phú, huyện tiền hải, tỉnh thái bình

72 614 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế một trong những nhiệm vụ quan trọng được nhấn mạnh trong Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SAU ĐẠI HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SAU ĐẠI HỌC

NGUYỄN THỊ TÚ ANH

XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CÓ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN XÃ NAM PHÚ, HUYỆN TIỀN HẢI,

TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH Nguyễn Đức Ngữ

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Các khái niệm, định nghĩa 5

1.2 Các nghiên cứu trên thế giới về truyền thông BĐKH 9

1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới về truyền thông BĐKH 9

1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam về truyền thông BĐKH 12

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Cơ sở lý luận 19

2.2 Tiêu chí đánh giá mức độ hiệu quả ứng phó với BĐKH của hoạt động/mô hình/cách làm hay 19

2.3 Phương pháp nghiên cứu 27

2.4 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu – xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 32

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG VÀ KIỂM NGHIỆM MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG ỨNG PHÓ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CÓ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG 36

3.1 Tiến trình xây dựng mô hình truyền thông ứng phó BĐKH có sự tham gia của cộng đồng dân cư xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 36

3.2 Mô hình truyền thông ứng phó BĐKH có sự tham gia của cộng đồng 48

KẾT LUẬN 51

KHUYẾN NGHỊ 52

Trang 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC 58

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm

ơn tới GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa sau Đại học – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành và bảo vệ luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo trong Hội đồng xét duyệt Đề cương luận văn

đã có những định hướng, góp ý cho tôi ngay từ bước đầu xây dựng đề cương luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn bè, đồng nghiệp thuộc Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) đã giúp tôi trong quá trình nghiên cứu thực địa để hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cho đến khi hoàn thành và bảo vệ luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Tú Anh

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

KHCNMT Khoa học công nghệ môi trường

AMDI Asian management & development institule: Viện quản lý và phát

triển châu Á

APEC Asia pacific economic cooperation: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á

– Thái Bình Dương ASEM The Asia – Europe Meeting: Diễn đàn hợp tác Á – Âu

BĐKH Biến đổi khí hậu

CARE Hợp tác xã cho việc gửi hàng của Mỹ sang châu Âu

COP Conference of Parties: Hội nghị các bên

FAO Food and agriculture organization of United nations: Tổ chức

Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc G8 Group of eight: nhóm 8 quốc gia có nền công nghiệp hàng đầu thế giới

IDRC International development research centre: Trung tâm quốc tế

nghiên cứu phát triển

IMHEN Viện Khí tượng thủy văn và môi trường

IPCC Intergovernmental panel on climate change: Uỷ ban liên chính phủ

về biến đổi khí hậu ISET Viện Chuyển đổi Xã hội và Môi trường

MCD Centre for Marinelife Conservation and Community Development:

Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng NGO Non-governmental organization: Tổ chức phi chính phủ

NISTPASS Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ

Trang 8

SRD Centre for sustainable rural development: Trung tâm phát triển nông

thôn bền vững

UN United Nations: Liên Hợp Quốc

UNDP United Nations development programe: Chương trình Phát triển

Liên Hợp Quốc

UNFCCC United nations Framework convention on Climate Change: Công ước

Khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu

WB World bank: Ngân hàng thế giới

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Các thảm họa xảy ra ở xã Nam Phú 34

Bảng 2.2: Thông tin tổng hợp của ba xã Nam Phú, Nam Thịnh và Nam Hưng 35

Bảng 3.1: Kết quả điều tra trước khi xây dựng mô hình truyền thông 37

Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả sau khi triển khai mô hình 45

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1: Tiến trình xây dựng Mô hình truyền thông ứng phó BĐKH 37

Hình 3.2: Lớp tập huấn cho tuyên truyền viên 41

Hình 3.3: Biểu đồ So sánh kết quả trước và sau khi xây dựng mô hình truyền thông 47

Hình 3.4: Sơ đồ mô hình truyền thông 46

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn đối với toàn cầu

và Việt Nam, đặc biệt với các vùng ven biển Trước khi công bố bản báo cáo đánh giá thứ tư của IPCC vào cuối năm 2007, một nghiên cứu của Ngân Hàng Thế Giới cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trên toàn cầu

từ các hậu quả của hiện tượng biến đổi khí hậu: trong 84 quốc gia đang phát triển ven biển được điều tra về mực nước biển dâng [20] Việt Nam đứng đầu về những tác động đến dân số, GDP, khả năng mở rộng đô thị và các khu vực đất ngập nước, cũng như xếp hạng 2 đối với các ảnh hưởng về quỹ đất (sau Bahamas) và khả năng mở rộng đất nông nghiệp (sau Ai Cập) [31]

Cùng nhận định như nghiên cứu trên, bản Đánh giá Stern nổi tiếng về kinh tế học của hiện tượng biến đổi khí hậu xác nhận mức độ tổn thương cao của Việt Nam đối với các biến đổi khí hậu [30] Khoảng 43 triệu người Việt Nam hoặc hơn 55% dân

số cả nước (38% dân số đô thị Việt Nam) đang sinh sống tại những vùng ven biển có cao độ thấp và dễ bị tổn thương [26] Đây là tỉ lệ phần trăm cao nhất trên toàn thế giới Đặc biệt, sinh kế trong các vùng đồng bằng chủ yếu, tập trung đông dân cư của sông Cửu Long và sông Hồng đang bị ảnh hưởng Ví dụ, tới 20.000 km2 của lưu vực đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập sau mực nước biển tăng 1 m [23]

Biến đổi khí hậu đã trở thành thách thức lớn với mọi cộng đồng Những nơi khó khăn và sinh kế phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên chính là nơi dễ bị tổn thương nhất do biến đổi khí hậu Người dân ven biển là đối tượng dễ bị tổn thương nhất

do chủ yếu sinh kế dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, họ có năng lực thích ứng hạn chế và thường sinh sống ở những vùng địa lý dễ bị tổn thương nhất bởi thiên tai, trong khi lại thiếu các nguồn lực cần thiết để đương đầu với rủi ro Vì thế một trong những nhiệm

vụ quan trọng được nhấn mạnh trong Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho toàn xã hội về biến đổi khí hậu, với mục tiêu đến năm 2015 có trên 80% cộng đồng dân cư và 100% công chức, viên chức nhà nước có hiểu biết cơ bản về biến đổi khí hậu và các tác động của nó [15]

Trang 11

Công tác truyền thông được xem là một công cụ quan trọng có tác động làm thay đổi nhận thức và hành vi, để con người tự nguyện tham gia vào các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu Tuy nhiên, hiện nay dù công tác tuyên truyền được tiến hành tích cực, nhận thức về biến đổi khí hậu được nâng cao hơn trong mấy năm trở lại đây song phần lớn người dân mới biết đến biến đổi khí hậu mà chưa hiểu một cách sâu sắc, đầy đủ những vấn đề cơ bản của biến đổi khí hậu và những tác động của chúng Hơn thế nữa về những giải pháp mà bản thân và cộng động phải thực hiện để thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu chưa được thể hiện trên thực tế, trong đó đặc biệt là tham gia quá trình ra quyết định

Trong bối cảnh đó, việc nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu sẽ đặc biệt quan trọng để đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp của các giải pháp thích ứng cả từ phía chính quyền và khu vực tư nhân Đồng thời tăng cường vai trò của các cộng đồng dễ bị tổn thương nhất trong quá trình ra quyết định

Vì vậy, việc xây dựng các công cụ, mô hình, giải pháp truyền thông hiệu quả các thông tin chính xác về ứng phó với biến đổi khí hậu và chia sẻ tri thức từ các nguồn khác nhau là thực sự cần thiết Đó sẽ là cơ sở để hỗ trợ cho tất cả quá trình ra quyết định liên quan đến thích ứng và giảm nhẹ với biến đổi khí hậu Truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân là hướng nghiên cứu mới được tổng kết từ những kinh nghiệm truyền thông về biến đổi khí hậu Theo đó, tăng cường tính dân chủ, tạo sự đồng thuận trong cộng đồng, nâng cao hiệu quả của truyền thông Nhiệm vụ trọng tâm của đề tài là nghiên cứu các hình thức truyền thông và phương pháp truyền thông để từ đó lựa chọn và xây dựng một mô hình truyền thông về ứng phó với biến đổi khí hậu bảo đảm có sự tham gia của cộng đồng dân cư, phù hợp với tình hình, đặc điểm của địa phương đảm bảo tính hiệu quả và khả thi, đồng thời có thể

nhân rộng ra những địa phương có điều kiện tương tự

Tác giả lựa chọn xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình để tiến hành triển khai nghiên cứu xây dựng mô hình truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu có

sự tham gia của người dân vì các lý do sau:

Cộng đồng dân cư đang sinh sống tại địa bàn nghiên cứu của tác giả, xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đang chịu ảnh hưởng hết sức to lớn của biến đổi khí hậu và nguy cơ của nó ngày càng lớn [17]

Trang 12

Từ năm 2008 xã Nam Phú đã được Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) triển khai một số dự án và đã có những kết quả được ghi nhận Đây chính là tiền đề tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả khi tiếp xúc, làm việc và triển khai nghiên cứu tại địa bàn xã

Cho đến nay, đã có một số dự án và một vài chương trình tuyên truyền, phổ biến kiến thức về biến đổi khí hậu được thực hiện tại xã, tuy nhiên chưa có một mô hình truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu nào được xây dựng và triển khai Bên cạnh đó hiệu quả của các chương trình hay dự án này còn hạn chế và vai trò, sự tham gia của cộng đồng dân

cư trong việc ứng phó biến đổi khí hậu vẫn chưa được nâng cao như mong đợi

Từ những lý do trên tên đề tài được xác định là “Xây dựng mô hình truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được mức độ nhận thức và sự tham gia của người dân trong việc chủ động ứng phó biến đổi khí hậu tại thời điểm nghiên cứu, xác định được nội dung

truyền thông

- Nghiên cứu, áp dụng được các cách tiếp cận mới trong truyền thông và xây dựng được mô hình truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân hiệu quả và khả thi với địa phương nhằm nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, trong đó xây dựng được một Bảng đăng

ký cải thiện hành động ứng phó với biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các hộ gia đình có sinh kế chính là nông nghiệp, thủy sản và du lịch tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

- Các hình thức, giải pháp, mô hình truyền thông hiệu quả và khả thi

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: Giới hạn phạm vi nghiên cứu tại địa bàn xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, bên cạnh nghiên cứu mở rộng điều tra tại hai xã Nam

Trang 13

Hưng và Nam Thịnh giáp với xã Nam Phú và cùng thuộc vùng đệm Khu Bảo tồn thiên nhiên huyện Tiền Hải để đối chứng

- Thời gian nghiên cứu: tháng 10 năm 2014 đến tháng 11 năm 2015

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

4.1 Ý nghĩa khoa học:

Kết quả Luận văn góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc khẳng định được vai trò sự tham gia của cộng đồng trong việc truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu Đồng thời, xây dựng được mô hình truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu có sự tham gia của công đồng có hiệu quả

5 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Xây dựng và kiểm nghiệm mô hình truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu có sự tham gia của cộng đồng dân cư

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm, định nghĩa

1.1.1 Biến đổi khí hậu:

Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó theo một xu hướng nhất định, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là vài thập

kỷ hoặc dài hơn.[24]

Biến đổi khí hậu có thể xảy ra do các nguyên nhân tự nhiên hoặc nhân tạo: Các yếu tố tự nhiên có thể làm cho khí hậu của trái đất thay đổi bao gồm sự thay đổi về cường độ bức xạ của mặt trời, sự thay đổi chậm về quỹ đạo của trái đất quanh mặt trời, các hoạt động kiến tạo của vỏ trái đất, các hoạt động núi lửa, sự thay đổi chuyển động của các dòng hải lưu trong các đại dương

Các hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển (ví dụ việc đốt nhiên liệu hóa thạch) và làm thay đổi bề mặt trái đất (ví dụ như nạn phá rừng, khai khoáng, canh tác nông nghiệp, đô thị hóa, sa mạc hóa, v.v.)

Nguyên nhân chính của sự biến đổi khí hậu hiện nay của trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các khí gây hiệu ứng nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa cácbon như các hệ sinh thái rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác

Những biến đổi trên sẽ tác động và gây hậu quả rất lớn đến tất cả các lĩnh vực của xã hội [9]

1.1.2 Ứng phó với biến đổi khí hậu [14]

Biến đổi khí hậu đang diễn ra và là quá trình không thể đảo ngược Nhân loại có

thể ứng phó với biến đổi khí hậu bằng cách thích ứng với tác động của nó (để làm

giảm thiệt hai do biến đổi khí hậu gây ra) và bằng cách giảm phát thải khí gây hiệu

ứng nhà kính (giảm nhẹ) để làm giảm mức độ và cường độ của sự thay đổi

a Thích ư ́ ng với biến đổi khí hậu [14]

Trang 15

Thích ứng với biến đổi khí hâ ̣u là sự điều chỉnh c ác hê ̣ thống tự nhiên hoă ̣c con người đối với s ự thay đổi của hoàn cảnh s ống hoă ̣c môi trường , nhằm mu ̣c đích giảm khả năng bị tổn thương do bi ến đổi khí hậu và tâ ̣n du ̣ng các cơ hô ̣i do nó mang la ̣i c ả trong ngắn hạn và dài hạn

b Giảm nhẹ biến đổi khí hậu [14]

Giảm nhẹ biến đổi khí hậu là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ

phát thải khí nhà kính trong nh ững thập kỷ tới Hiệu quả giảm nhẹ chỉ có thể đạt được khi các chính sách phù hợp được đưa ra một cách đầy đủ và loại bỏ được các rào cản liên quan

Năng lực thích ứng và giảm nhẹ phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế-xã hội và môi trường cũng như tính sẵn sàng của hệ thống thông tin và trình độ công nghệ của mỗi quốc gia

1.1.3 Truyền thông

Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia

sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu

phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội [10]

a Các yếu tố của truyền thông

Truyền thông thông tin bao gồm 9 yếu tố, trong đó 2 yếu tố là những thành phần chính yếu của một quá trình truyền thông thông tin – người gửi (sender) và người nhận (receiver) Hai thành phần khác chính là những công cụ truyền thông chủ yếu – thông điệp (message) và phương tiện truyền thông (media) 4 yếu tố còn lại là các chức năng của truyền thông thông tin – mã hóa, giải mã, phản ứng và phản hồi Yếu tố sau cùng là sự nhiễu thông tin trong hệ thống này Những yếu tố trên được giải thích

như sau: [10]

- Người gửi: là bên gửi thông điệp cho một bên khác

- Mã hõa: là quá trình diễn dịch tư duy thành hình thức biểu tượng

- Thông điệp: là tập hợp các biểu tưởng mà người gửi chuyển đi

Trang 16

- Phương tiện truyền thông: là những kênh truyền thông mà thông qua đó thông điệp di chuyển từ người gửi đến người nhận

- Giải mã: là quá trình mà nhờ đó người nhận ấn định ý nghĩa cho các biểu tượng

đã được mã hóa bởi người gửi

- Người nhận: là bên tiếp nhận thông điệp được gửi bởi một bên khác

- Phản ứng: là những hành động phản ứng của người nhận sau khi đã xem thông điệp

- Thông tin phản hồi: là một phần phản ứng của người nhận được truyền thông ngược lại cho người gửi

- Nhiễu thông tin: là trạng thái ngoài dự kiến hay sự méo mõ của thông tin xảy ra trong suốt quá trình truyền thông thông tin, nó gây hậu quả là người nhận sẽ tiếp nhận một thông điệp khác hẳn so với thông điệp ban đầu của người gửi

b Mục đích truyền thông

Nâng cao kiến thức, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của người nhận thông tin thông qua các cách tiếp nhận, hình thức và phương tiện khác nhau, người làm công tác truyền thông (tuyên truyền viên) sẽ truyền đạt các thông tin (thông điệp

truyền thông) tới người nhận thông tin (đối tượng truyền thông) [10]

c Các phương thức truyền thông

Có 3 phương thức truyền thông thường được sử dụng Đó là:

- Truyền thông một chiều: Bằng phương thức này người truyền thông gửi thông

điệp truyền thông tới người nhận thông điệp truyền thông qua kênh truyền thông mà

không có điều kiện nhận được sự phản hồi của đối tượng truyền thông [10]

Phương thức này thường được dùng để truyền những thông điệp truyền thông

có tính khẩn cấp (thí dụ: vỡ đê, cháy nhà v.v…) hoặc là những thông tin cần phổ biến (thí dụ: ngày, giờ, địa điểm họp, ngày lĩnh lương v.v…)

- Truyền thông hai chiều: Theo phương thức này, thông điệp truyền thông được

trao đổi giữa người gửi và người nhận thông điệp thông qua kênh truyền thông Người gửi thông điệp có điều kiện thu thập các thông tin phản hồi từ phía người nhận Quá

trình này có thể lặp đi, lặp lại nhiều lần [10]

Trang 17

Phương thức này thường được sử dụng trong các cuộc thăm dò ý kiến, dư luận

xã hội về một chủ trương, một dự án v.v…hoặc về một sản phẩm, một dịch vụ…cần tham khảo ý kiến rộng rãi nhằm hoàn thiện trước khi triển khai

- Phương thức truyền thông nhiều chiều: Khác với phương thức truyền thông

hai chiều, phương thức truyền thông nhiều chiều đòi hỏi người gửi thông điệp truyền thông cần hiểu biết đối tượng truyền thông trước khi gửi thông điệp truyền thông Để làm được việc này, người làm truyền thông phải tổ chức thu thập thông tin từ phía đối tượng truyền thông Có nhiều phương pháp thu thập thông tin, song phổ biến và hiểu quả nhất là tiến hành điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực tế tại cơ sở Vì vậy quá trình truyền thông theo phương thức nhiều chiều bao gồm 3 bước thu thập thông tin về đối tượng truyền thông, gửi thông điệp truyền thông tới đối tượng truyền thông, phản hồi

thông tin từ phía đối tượng truyền thông [10]

Phương thức truyền thông nhiều chiều thường được sử dụng trong các chiến dịch truyền thông quy mô lớn (thí dụ: về Chương trình xóa đói giảm nghèo, về phòng chống HIV/AIDS, v.v…) Các kênh truyền thông trong phương thức này thường là các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình v.v…) hoặc kết hợp với nhiều kênh khác nhau (như mít tinh, cổ động, hội nghị, hội thảo, huấn luyện v.v…kết hợp với các phương tiện truyền thông đại chúng

1.1.4 Tham gia

Tham gia – participation được dịch thành 2 từ tham dự và tham gia Theo GS

Tô Duy Hợp thì tham dự là tham gia ở mức thấp còn tham gia là tham dự ở mức cao

Và phương pháp luận tham gia là phương pháp luận đi từ dưới lên tức là đi từ người dân và trở thành khoa học

Tham gia của cộng đồng

Khái niệm “sự tham gia của cộng đồng” (community participation) được hình thành từ hai yếu tố: đó là yếu tố “cộng đồng” (community) và yếu tố “sự tham gia” (participation)

Theo Wates Nick, “cộng đồng” có thể định nghĩa là “một nhóm người sống trong cùng một khu vực địa lý và có chia sẻ nhiều đặc điểm chung” Còn theo Nabeel Hamdi trong cuốn sách (viết cùng Reinhard Goethert) “Hành động trong quy hoạch thành phố:

Trang 18

định hướng cho sự tham gia của cộng đồng” (Action Planning for Cities: A Guide to Community Practice, 1997), khái niệm “cộng đồng” có “tính chất địa lý và xã hội” và

“diễn tả một nhóm người sống trong cùng một khu vực sinh sống và có những hoạt động mang tính chất tập thể nhằm hướng tới một mục tiêu chung” [32]

Theo Wates Nick để định nghĩa “sự tham gia” (participation): cũng trong cuốn

“Sổ tay về quy hoạch cộng đồng” của ông thì “sự tham gia” có thể hiểu là “hành động hưởng ứng bằng cách tham dự vào một công tác nào đó” Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn chưa thật sự rõ ràng

Theo Clanrence Shubert định nghĩa thuật ngữ “Sự tham gia của cộng đồng” là quá trình trong đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình quy hoạch, thực hiện, quản lý, sử dụng hoặc duy trì một dịch vụ, trang thiết bị hay phạm vi hoạt động Các hoạt động cá nhân không có tổ chức sẽ không được coi là sự tham gia của cộng đồng

1.2 Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về truyền thông BĐKH

1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Biến đổi khí hậu là vấn đề mang tính toàn cầu, bắt đầu được quan tâm nghiên cứu từ đầu thế kỷ 19 [40] Biến đổi khí hậu bắt đầu được quan tâm nghiên cứu từ những năm 1960 Tuy nhiên, phải đến nửa cuối thập niên 1980, các chiến dịch truyền thông về biến đổi khí hậu mới thực sự được khởi xướng Thời gian đầu, đa số các hoạt động truyền thông cho công chúng chủ yếu tập trung vào các phát hiện khoa học về biến đổi khí hậu và các báo cáo tổng hợp, đôi khi là về một số hiện tượng thời tiết cực đoan, các cuộc họp cấp cao hoặc các cuộc họp hoạch định chính sách

Trong thời gian gần đây, biến đổi khí hậu trở thành chủ đề của nhiều Diễn đàn và Hội nghị cấp cao trên thế giới Chủ đề này nhận được nhiều sự chú ý của Liên Hợp Quốc (các báo cáo của IPCC, hội nghị các bên công ước khí hậu COP, báo cáo của UNDP), của các nước G8, IGOS (Ngân hàng Thế giới, OECD) và các tổ chức phi chính phủ Do qui mô toàn cầu của biến đổi khí hậu, những hậu quả về môi trường, xã hội và

văn hóa, vấn đề này ngày càng là chủ đề quan trọng trong truyền thông quốc tế [27]

Nhiều Hội nghị đã ra tuyên bố về biến đổi khí hậu như Hội nghị cấp cao Á - Âu lần thứ 6 (ASEM 6) họp tháng 11 năm 2006 tại Copenhagen (Đan Mạch), Hội nghị

Trang 19

thượng đỉnh các nước công nghiệp phát triển (G8) họp tháng 6 năm 2007, Hội nghị cấp cao APEC họp tháng 9 năm 2007 tại Úc, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc họp tháng

9 năm 2007, Hội nghị quốc tế về Biến đổi khí hậu họp tại Bali (Inđônêxia) tháng 12 năm 2007, và gần đây là Hội nghị diễn đàn kinh tế thế giới họp tại Đa vốt (Thụy Sĩ) tháng 1 năm 2008 v.v Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon phát biểu trong thông điệp gửi Chính phủ các nước rằng "Biến đổi khí hậu cũng khiến nhân loại phải đối mặt với những đe dọa to lớn như chiến tranh", rằng "Biến đổi khí hậu không chỉ là vấn đề môi trường, mà còn là mối đe dọa toàn diện, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đến tình trạng cung cấp lương thực toàn cầu, đến vấn đề di dân và đe dọa nền hòa bình và anh ninh thế giới" Nhiều nước đã thành lập các tổ chức để chỉ đạo và điều phối các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng các chương trình, chiến lược hoặc kế hoạch hành động quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu

Cộng đồng khoa học từ lâu đã thừa nhận tầm quan trọng của việc truyền thông

về biến đổi khí hậu Kể từ đầu những năm 1990, nhiều nghiên cứu đã xuất hiện trong

đó phân tích cách thức truyền thông hiện nay về biến đổi khí hậu đối với các đối tượng khác nhau Số lượng các nghiên cứu này ngày một tăng lên [22] Đã có một vài bài viết giới thiệu trong lĩnh vực này, chẳng hạn như của Susanna Moser (2010), Truyền thông biến đổi khí hậu: Lịch sử, thách thức, quá trình, định hướng tương lai [28]; Alison Anderson (2009), Xây dựng một chương trình nghiên cứu để phân tích sâu hơn trung gian truyền thông biến đổi khí hậu; hay Anabela Carvalho (2010 ) Mô tả các khía cạnh chính trị của truyền thông đầy đủ, an toàn và nghiên cứu tổng quan về các lĩnh vực của nó trong khi chưa có đối tượng và đặc điểm

Nhiều dự án truyền thông được nghiên cứu, xây dựng, tài trợ và triển khai bởi các tổ chức lớn như UN, FAO, UNDP, NGOs…Tuy nhiên chúng không đi sâu vào nghiên cứu xây dựng mô hình truyền thông ứng phó biến đổi khí hậu mà chủ yếu là lồng ghép các hoạt động truyền thông hoặc tiếp cận ở qui mô khác nhau

Một số nghiên cứu, dự án, hội nghị ở các khu vực khác nhau được triển khai, ví

Trang 20

Năm 2002 và 2007, tại Phần Lan, chương trình truyền thông biến đổi khí hậu được tài trợ và phối hợp một số sáng kiến truyền thông quy mô nhỏ Để đáp ứng nhu cầu phối hợp liên tục, một nhóm hướng dẫn Truyền thông biến đổi khí hậu đặc biệt được thành lập bởi Bộ Môi trường Mục đích chính của nhóm là tạo cơ sở nền tảng để phối hợp các chiến lược và thực hiện truyền thông của cơ quan nhà nước có hiệu quả bằng cách cải thiện sự hợp tác giữa các tổ chức khác nhau Nhóm này đảm bảo rằng các công dân và đô thị được cung cấp các thông tin về các biện pháp giảm thiểu và thích ứng

Năm 2008, Đại học Yale, Mỹ đã tiến hành nghiên cứu và triển khai dự án về truyền thông biến đổi khí hậu quy mô lớn cho toàn thể người dân nước Mỹ, với mục tiêu: Nâng cao hiểu biết của công chúng về biến đổi khí hậu cũng như các giải pháp thích ứng và giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu; Thúc đẩy hành động của các nhà lãnh đạo, quần chúng, các doanh nghiệp, giới học giả và truyền thông nhằm cài thiện hơn nữa kiến thức và hiểu biết cho người Mỹ [33]

Năm 2013, tại Bắc Kinh, Trung Quốc, hội nghị quốc tế về Truyền thông biến đổi khí hậu: Nghiên cứu và Thực hành Hội thảo được phối hợp tổ chức bởi Trung tâm

Truyền thông biến đổi khí hậu Trung Quốc (China4C), Oxfam Hồng Kông và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Xã hội Báo chí Đại học Renmin

Năm 2010, tại Guatemala, dự án do UNDP, GEF tài trợ "Truyền thông quốc gia thứ hai tham gia UNFCCC " Thông qua dự án này, UNDP Guatemala đã có thể hỗ trợ trong việc tăng cường các sáng kiến biến đổi khí hậu của Bộ Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên hỗ trợ giáo dục, quá trình nhận thức và đào tạo công lập, cũng như cho phép

Bộ đạt được tầm lãnh đạo chính trị trong việc tăng cường pháp lý và thể chế của vấn đề biến đổi khí hậu Ngoài ra, dự án đã đóng một vai trò rất lớn trong việc hỗ trợ các chính phủ Guatemala tại các cuộc đàm phán quốc tế về biến đổi khí hậu, đặc biệt là trong các vòng đàm phán cuối cùng của Nghị định thư Kyoto và các hội nghị lần thứ 15 của các bên tham gia Công ước Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu

Năm 2013, tại Ghana Dự án “Khuôn khổ truyền thông rủi ro biến đổi khí hậu cho chính sách phát triển đô thị ven biển” được triển khai Mục tiêu dự án nhằm tích hợp phân tích rủi ro khí hậu và giảm nhẹ rủi ro thiên tai vào quy hoạch phát triển thành phố ven biển Ghana

Trang 21

Năm 2013, chính phủ Australia tiếp tục phát động chương trình quốc gia lần thứ 6 về truyền thông biến đổi khí hậu Trong đó các khu vực ven biển là trọng tâm của chương trình

Tựu chung, trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về truyền thông biến đổi khí hậu ở các khu vực, quy mô và đối tượng khác nhau, đặc biệt trong vòng 30 năm trở lại đây Tuy nhiên, các nghiên cứu về việc xây dựng mô hình truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu thì mới chỉ được nghiên cứu trong những năm gần đây theo các cách tiếp cận khác, chưa thể đưa ra một kết quả tổng quan chung hay một

mô hình xác định

1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam về truyền thông BĐKH

Biến đổi khí hậu đối với Việt Nam không còn là một vấn đề xa lạ, vấn đề này được nghiên cứu từ những năm 1990 và được chú trọng nghiên cứu từ năm 2000 đăc biệt là từ năm 2008 đến nay Các nghiên cứu trong thời gian đầu tập trung chủ yếu vào tìm hiểu bản chất, nguyên nhân, diễn biến và đề xuất nguyên tắc, giải pháp chung để thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu [12]

Nước ta đã có nhiều chương trình, nhiều nghiên cứu nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu như: Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (2008), Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam (2011), Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu (2011)… Tuy nhiên, những nghiên cứu, dự án, chương trình về truyền thông biến đổi khí hậu vẫn còn hạn chế về số lượng Bên cạnh đó, các nghiên cứu này chủ yếu được thực hiện bằng nguồn vốn của nước ngoài, chưa có nghiên cứu chuyên biệt nào về mô hình truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu có sự tham gia của cộng đồng dân cư ven biển

Theo nhận xét mới được đưa ra của PANOS, một mạng lưới toàn cầu của các tổ chức phi chính phủ hợp tác về truy ền thông để thúc đẩy phát triển, cho rằng các nước đang phát triển chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, tuy nhiên hoa ̣t đô ̣ng truyền thông của họ không mặn mà lắm trong việc đưa tin về thảm họa môi trường này

và Viê ̣t Nam cũng không nằm ngoài nhận xét trên

Cũng trong kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu sức khỏe, môi trường và phát triển nhận xét rằng hiện nay, các cơ quan truyền thông tại Việt Nam chỉ đưa tin về

Trang 22

biến đổi khí hậu ở bề rộng ở mức độ quốc gia và toàn cầu, không có mối liên quan giữa các vấn đề và hiện trạng ở địa phương

Mặc dù có rất nhiều bài báo đề cập đến các thảm họa thiên nhiên do biến đổi khí hậu gây ra như lũ lụt, bão, nước ngầm nhưng chưa có nhà báo nào chỉ ra mối liên

hệ giữa các hiện tượng trên và biến đổi khí hậu

Thiên tai và Biến đổi khí hậu đang ngày càng tác động rõ rệt đến đời sống và môi trường của người dân, đặc biệt ở vùng nông thôn ven biển ở Đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Nâng cao năng lực ứng phó, phục hồi và thích nghi với tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu tốt hơn cho người dân đang là mục tiêu của Đề án 1002 về Quản lý Rủi ro Thiên tai Dựa vào Cộng đồng của Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2020 Các chương trình này đang được triển khai ở các tỉnh với nhiều công cụ và phương pháp truyền thông khác nhau kể cả phương tiện thông tin đại chúng để nâng cao nhận thức cộng đồng và cán bộ các cấp

Tại Việt Nam, truyền thông về biến đổi khí hậu đã và đang được nhiều tổ chức nghiên cứu và đánh giá Theo Tổ chức Đông Tây hội ngộ (EMWF) từng công bố trong kết quả nghiên cứu về “Sự thích ứng với biến đổi khí hậu ở tỉnh Quảng Nam”, có khoảng 49% người được phỏng vấn không biết về các chính sách và quy trình của Nhà nước, 72% không biết về các kế hoạch chuẩn bị phòng chống thiên tai… vì thế, họ không có khả năng lên kế hoạch và chuẩn bị ứng phó với thiên tai [36]

Kết quả điều tra của Trung tâm Nghiên cứu môi trường, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ về hoạt động truyền thông thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư ven biển ở xã Hiệp Thạnh (huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh) và xã Đất Mũi (tỉnh Cà Mau) cho thấy, có đến 58,7 % số người chưa từng nghe đến khái niệm biến đổi khí hậu, 35,3% số người đã từng nghe đến biến đổi khí hậu nhưng không biết ý nghĩa của cụm từ này [35]

Do có địa bàn sát biển và chịu tác động của các nguy cơ sói lở, nhiều hộ gia đình cần các thông tin dự báo thời tiết Tuy nhiên, đã có 58,9% số người dân cho rằng khi có các sự kiện thời tiết nghiệm trọng đã không nhận được các thông tin trước đó Còn lại 41,1% có nhận được thông tin về sự kiện thời tiết nghiệm trọng nhưng nguồn nhận chủ yếu cũng từ truyền hình…[35]

Trang 23

Việc ứng phó với vấn đề thiên tai, mỗi người dân cần có những kiến thức, kỹ năng cần thiết Tuy nhiên, với người dân ven biển, việc ứng phó với vấn đề này chủ yếu dựa trên kinh nghiệm đúc kết của bản thân (37,9%), còn kiến thức và kỹ năng có được qua hoạt động tập huấn, do được người khác hướng dẫn, chính quyền địa phương phổ biến chỉ có 16,0%, còn lại 5,3% tiếp nhận và học tập từ báo đài [35]

Một kết quả nghiên cứu khác của BBC Media Action năm 2013 về “Người dân Việt Nam đang thích ứng với biến đổi khí hậu thế nào và truyền thông có thể làm gì để

hỗ trợ họ” trong khuôn khổ dự án Climate Asia do Bộ Phát Triển Quốc Tế Anh (DFID) tài trợ, cho thấy có 41% người dân ở ĐBSCL cho rằng chưa bị ảnh hưởng - tức là chưa cần phải hành động, trong khi có 14% cố tồn tại: quá khó khăn để làm được gì, 10% chật vật: có hành động nhưng gặp khó khăn, 16% thích ứng: đã và muốn hành động thêm và 19% sẵn lòng lo lắng về tương lai [3] Báo cáo cũng đưa ra nhận định rằng những người dân được thông tin đầy đủ thì ứng phó tốt hơn Do đó, tổ chức truyền thông về biến đổi khí hậu cần phải chú ý đến những giá trị và ưu tiên của người dân, họ muốn nhìn thấy những lợi ích rõ ràng nếu họ hành động Về thông tin và truyền thông khuyến khích hành động: để thành công cũng cần phải tính đến hiệu ứng lan tỏa của các nhóm đối tượng Sự tham gia và thảo luận của cộng đồng chứng minh

là chìa khóa để người dân thực hiện các hành động phức tạp hơn trong việc chuẩn bị trước thời tiết cực đoan và thích ứng với biến đổi khí hậu [13]

Đã có nhiều dự án liên quan đến truyền thông biến đổi khí hậu được thực hiện tại Việt Nam, tuy nhiên các dự án này chỉ tập trung chủ yếu tăng cường nhận thức về biến đổi khí hâu và trong các dự án này, truyền thông biến đổi khí hậu chỉ được lồng ghép trong các hoạt động dự án mà chưa có một mô hình truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu có sự tham gia nào của người dân được xây dựng Một số dự án cũng

đề cập đến việc xây dựng mô hình truyền thông nhưng các mô hình hầu như chỉ truyền thông về tác động và rủi ro do biến đổi khí hậu Dưới đây, tác giả giới thiệu một số dự

án liên quan đến truyền thông biến đổi khí hậu như sau:

Năm 2007, Dự án “Nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực cho địa phương trong việc thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu, góp phần thực hiện Công ước Khung của Liên hiệp quốc và Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu”, do Trung tâm Khoa học Công nghệ Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường thực hiện với sự tài trợ các

Trang 24

dự án nhỏ, Quĩ Môi trường toàn cầu (GEF SGP) Mục tiêu dự án là nâng cao nhận thức và hiểu biết về biến đổi khí hậu và tăng cường năng lực quản lý của các địa phương tham gia dự án (Lào Cai, Ninh Thuận và Bến Tre) trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch hành động thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu; tuyên truyền, phổ biến kiến thức về biến đổi khí hậu trong cộng đồng các địa phương tham gia dự án, góp phần nâng cao nhận thức trong toàn xã hội

Năm 2009, Dự án “Nghiên cứu, đánh giá các mô hình thích ứng biến đổi khí hậu tại Việt Nam” được thực hiện từ tháng 09/2014 với sự hỗ trợ của Mạng lưới các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực biến đổi khí hậu (VNGO&CC) do Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc (DFAT) và được thực hiện thông qua Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD) Mục tiêu của dự án là thống kê, tổng hợp được các

mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu đã được thực hiện bởi các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam giai đoạn 2009 - 2014; xây dựng được bộ tiêu chí cấp Cục đánh giá tính thích ứng của các mô hình dựa trên cơ sở khoa học; áp dụng thí điểm bộ tiêu chí

để đánh giá một số mô hình thích ứng trên 04 tỉnh thí điểm; xuất bản được ấn phẩm tổng kết các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu có hiệu quả cao kèm theo khuyến cáo sử dụng đối với từng điều kiện cụ thể [37]

Trong khuôn khổ Quỹ Hợp tác địa phương, dự án Nâng cao năng lực về Biến đổi khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự (2009-2011) hướng đến Nhóm làm việc về biến đổi khí hậu (CCWG) và Mạng lưới các Tổ chức phi chính phủ Việt Nam và biến đổi khí hậu (VNGO&CC) Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD) đóng vai trò điều phối Cuốn “Tài liệu đào tạo tập huấn viên về biến đổi khí hậu” là một trong những hoạt động khác của dự án Mục đích nhằm nâng cao nhận thức và năng lực cho các tổ chức xã hội dân sự trong việc giảm thiểu, thích ứng với biến đổi khí hậu và lồng ghép nhiệm vụ này vào các chương trình liên quan hiện có hoặc trong tương lai, nhằm đóng góp vào sự phát triển bền vững lâu dài của Việt Nam Trong số nhiều mục tiêu, nâng cao nhận thức của người dân và phát triển nguồn nhân lực là ưu tiên hàng đầu của dự án [37]

Năm 2011, Dự án “Nghiên cứu mô hình truyền thông về rủi ro biến đổi khí hậu liên quan đến nước ở khu vực đồng bằng sông Mekong tại Việt Nam” – Dự án tài trợ bởi Ma ̣ng lưới Nghiên cứu sông Mekong Bền vững (Sumernet) Dự án được tiến hành

Trang 25

bởi các viện nghiên cứu và trường đại học tại những khu vực thường xảy ra thiên tai liên quan đến nước ở Việt Nam, Campuchia và Thái Lan từ tháng 07/2011 đến tháng 09/2012 Những tổ chức tham gia dự án ở Việt Nam gồm có: Viện Chiến lược và Chính Sách Khoa học công nghệ (NISTPASS), Viện Quản lý và Phát triển Châu Á (AMDI), tỉnh An Giang, đại học An Giang [39]

Tháng 12 năm 2011, Cuốn tài liệu “Các mô hình ứng phó với biến đổi khí hậu - Kinh nghiệm của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam” là sản phẩm kết quả của quá trình tổng hợp & nghiên cứu về những mô hình ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) tại Việt Nam do các tổ chức phi chính phủ/xã hội dân sự thực hiện Nhóm chuyên gia

có chuyên môn, kinh nghiệm làm việc trong lĩnh nghiên cứu vực nghiên cứu tài liệu hóa về các vấn đề liên quan đến môi trường, BĐKH của Trung tâm Sống và Học tập vì Môi trường và Cộng đồng (Live&Learn) thực hiện với sự hỗ trợ của nhóm cán bộ dự

án thuộc Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD) Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ Dự án “Xây dựng năng lực về BĐKH cho các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam” được Đại sứ quán Phần Lan tài trợ cho Nhóm làm việc về BĐKH (CCWG)

và mạng lưới các tổ chức phi chính phủ Việt Nam và BĐKH (VNGO&CC) do Trung tâm SRD triển khai [37]

Năm 2012, Dự án “Mô hình truyền thông về rủi ro do biến đổi khí hậu hỗ trợ cho công tác thích ứng tại các cộng đồng ven biển và châu thổ tại Việt Nam” được tài trợ bởi Trung tâm Phát triển Quốc tế Canada (IDRC), Canada và Viện Chuyển đổi Xã hội và Môi trường (ISET) bắt đầu hoạt động Các đối tác của dự án gồm có: Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học công nghệ (NISTPASS), Viện Quản lý và Phát triển Châu Á (AMDI) và Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam Dự án hướng đến việc xác định các phương thức cải thiện và chia sẻ một cách hiệu quả những hiểu biết về các rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu và phát triển cũng như các ýếu tố bất định giữa các bên liên quan, làm cơ sở hỗ trợ giảm thiểu rủi ro của những hiểm họa liên quan đến nước (như lũ, xâm nhậm mặn…) cũng như nâng cao năng lực thích ứng của các cộng đồng ven biển và châu thổ ở các thành phố Đà Nẵng, Quy Nhơn và Cần Thơ [38]

Năm 2012, Dự án nghiên cứu “Mô hình truyền thông về rủi ro do biến đổi khí hậu và thích ứng tại các cộng đồng ven biển” tại thành phố Đà Nẵng do Hội Liên hiệp

Trang 26

Phụ nữ Đà Nẵng phối hợp với Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ (NISTPASS)

Một số dự án tại xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình [34]:

Năm 2011, Dự án “Tăng cường sức đề kháng và khả năng phục hồi của các khu

dự trữ sinh quyển ven biển Việt Nam trước biến đổi khí hậu và tai biến môi trường thông qua quản lý tài nguyên và phát triển sinh kế bền vững” (MCD 40) Nhà tài trợ:

Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy điển (Sida), Đại sứ quán Thụy Điển Dự án với mục tiêu tổng quan là nâng cao sức đề kháng và hồi phục trước biến đổi khí hậu và tai biến môi trường của khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà, góp phần đảm bảo hài hòa giữa bảo tồn và phát triển thông qua tăng cường quản lý tài nguyên biển và phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng

Năm 2012, Dự án "Xây dựng quan hệ đối tác nhằm tăng cường khả năng thích ứng với Biến Đổi Khí Hậu của các Cộng đồng ven biển Việt Nam"- Dự án PRC (MCD 46) do Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) được hỗ trợ bởi chính phủ Úc và hỗ trợ kỹ thuật bởi Oxfam Mục tiêu: Nâng cao nhận thức về tác động của Biến đổi Khí hậu tại địa phương tới những người nghèo dễ bị tổn thương (đặc biệt là phụ nữ) và họ cũng làm việc với chính quyền địa phương để lồng ghép các biện pháp thích ứng và giảm thiểu rủi ro vào kế hoạch quản lí và phát triển của địa phương Tăng cường khả năng thích ứng sinh kế và hệ sinh thái tại những xã ven biển

dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi của khí hậu

Năm 2013, Dự án: " Thực tập sinh và đại diện cộng đồng chung tay ứng phó với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại các khu dự trữ sinh quyển Việt Nam"- (Dự

án IVF) với mục tiêu huy động sự tham gia, trí tuệ và năng lực của thanh niên sinh viên Việt Nam để tăng cường tính bền vững, độ lan tỏa và sức mạnh cho các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu tại vùng ven biển Việt Nam, qua đó tăng cường khả năng phục hồi của cộng đồng ven biển dễ bị tổn thương trước tác động của thay đổi khí hậu, biến đổi khí hậu và thiên tai

Các dự án cũng đã đạt được những kết quả nhất định tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số vấn đề như: Nhận thức của một số người dân về biến đổi khí hậu và sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu còn rất hạn chế, do vậy các hộ này thiếu nhiệt tình khi điều chỉnh, thay đổi thói quen phát triển các mô hình sinh kế thích ứng theo hướng dẫn của dự án Hiện nhiều hộ và cả cán bộ xã vẫn đang hiểu đây là một dự án giúp xóa đói

Trang 27

giảm nghèo cho địa phương nên tính nhân rộng sẽ còn gặp nhiều khó khăn Tại xã chưa có một mô hình truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu nào có sự tham gia của cộng đồng được xây dựng và triển khai

Trang 28

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

sự chuẩn bị trước

Mục đích của ứng phó khẩn cấp là hạn chế thiệt hại do các tác động của thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan đối với tính mạng, tài sản và môi trường, duy trì các hoạt động bình thường của sản xuất, đời sống, bảo vệ môi trường ở nơi xảy ra

+ Ứng phó cơ bản, lâu dài với biến đổi khí hậu là đối phó với các tác động cơ bản, lâu dài của các hiện tượng nhiệt độ toàn cầu tăng lên kéo theo sự dâng lên của mực nước biển đang diễn ra tức thì và kéo dài hàng thập kỷ và thế kỷ Đồng thời, ứng phó với các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan có thể xảy ra trong suốt quá trình trái đất nóng lên

Khác với ứng phó khẩn cấp tập trung vào các giải pháp thích ứng thì ứng phó

cơ bản và lâu dài bao gồm các giải pháp thích ứng hạn chế và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu bằng việc lợi dụng các mặt có lợi của biến đổi khí hậu đem lại và các giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu _ giảm phát thải khí nhà kính Nhằm hạn chế tiến tới ngăn chặn hiện tượng trái đất nóng lên Mục đích của việc ứng phó cơ bản, lâu dài với biến đổi khí hậu là bảo đảm phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo vệ khí hậu trái đất

Ứng phó cơ bản, lâu dài với biến đổi khí hậu là nền tảng, cơ sở để tăng cường năng lực ứng phó khẩn cấp, bảo đảm cho ứng phó khẩn cấp đạt hiệu quả cao nhất,

Trang 29

ngược lại hiệu quả của ứng phó khẩn cấp tạo cơ sở để hoàn thiện và góp phần thực hiện mục tiêu của ứng phó cơ bản, lâu dài với biến đổi khí hậu

b Thực tiễn

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, trong đó đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng, bên cạnh đồng bằng sông Nile (Ai Cập) và đồng bằng sông Ganges (Bangladesh) Theo các kịch bản biến đổi khí hậu, vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở nước ta tăng khoảng 2 - 3oC, tổng lượng mưa năm và lượng mưa mùa mưa tăng, trong khi đó lượng mưa mùa khô lại giảm, mực nước biển có thể dâng khoảng từ 75 cm đến 1 m so với thời kỳ 1980 – 1999[2] Nếu mực nước biển dâng cao 1m, sẽ có khoảng 40% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các tỉnh khác thuộc vùng ven biển sẽ bị ngập, trong đó, thành phố Hồ Chí Minh sẽ bị ngập trên 20% diện tích; khoảng 10 - 12% dân số nước ta bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất khoảng 10% GDP [2] Tác động của biến đổi khí hậu đối với nước ta là rất nghiêm trọng, là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước

Trước những hậu quả do biến đổi khí hậu mang lại, tháng 7/2008, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu trong đó nhấn mạnh đến mục tiêu của Chương trình nhằm đánh giá mức độ tác động của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương trong từng giai đoạn và xây dựng được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu cho từng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn

Biến đổi khí hậu là thách thức nghiêm trọng nhất đối với toàn nhân loại, ảnh hưởng sâu sắc và làm thay đổi toàn diện đời sống xã hội toàn cầu Là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, Việt Nam coi ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn

đề có ý nghĩa sống còn

Cho đến nay, đã có hơn 300 văn bản có nội dung liên quan đến chính sách và hướng dẫn thực thi chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu đã được các ngành, các cấp, các địa phương ban hành Tuy nhiên, các chuyên gia quốc tế và các nhà quản lý chuyên môn tại cuộc hội thảo chuyên đề do Uỷ ban KHCNMT, Viện Rosa

Trang 30

Luxemburd Đông Nam Á phối hợp với UBND tỉnh Khánh Hòa đều nhận định người dân chưa có sự chuẩn bị, chưa biết đến các phương án và biện pháp phòng ngừa để bảo

vệ bản thân và gia đình trước những tác động của thiên tai

Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ việc các văn bản liên quan đến chính sách về đối phó với biến đổi khí hậu chưa được đặt trong bối cảnh thực tế để đánh giá toàn diện các tác động của biến đổi khí hậu, việc ứng phó chưa được thực hiện đầy đủ, chưa có hướng dẫn cụ thể của trung ương về quy trình tích hợp lồng ghép Vấn đề quan trọng hơn nữa đó là chưa huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương – yếu

tố thành công giúp nâng cao hiệu quả bền vững của Chương trình Bên cạnh đó, việc thực thi chính sách cần phải được giải quyết xuất phát từ nhu cầu của địa phương gắn với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể trong đó chú trọng đến việc nâng cao năng lực, ưu tiên cho những đối tượng dễ bị tổn thương nhiều nhất

Trong thời gian qua, cùng với sự chủ động, nỗ lực đầu tư nguồn lực từ Trung ương cho các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam, công đồng quốc tế cũng đã có những hỗ trợ đáng kể giúp Việt Nam tăng cường năng lực ứng phó như hỗ trợ tài chính, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ xây dựng thể chế, chính sách về biến đổi khí hậu Tuy nhiên nhu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu ở nước ta là rất lớn, cần triển khai đồng bộ các giải pháp để tăng cường năng lực cũng như huy động nguồn lực từ nhiều phía

Ứng phó với biến đổi khí hậu ngày càng được quan tâm đặc biệt trong bối cảnh BĐKH ngày càng gia tăng Các hoạt động ứng phó này gặp các trở ngại từ chính nhận thức, tập quán của cộng đồng và khả năng tiếp cận thông tin của họ về BĐKH Do đó, truyền thông cần và phải được xem như là một công cụ quan trọng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi hành vi của từng người trong cộng đồng từ đó thúc đẩy họ chủ động tham gia vào các hoạt động ứng phó với BĐKH từ phạm vi cá nhân, đến gia đình, cơ quan, ngành và toàn cộng dồng

2.1.2 Truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu - Cơ sở lý luận và thực tiễn

a Cơ sở lý luận [10]

Trang 31

Truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu thực chất là một loại truyền thông môi trường Do đó, truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu cũng có những đặc điểm chung với truyền thông môi trường, đó là:

Các vấn đề môi trường có tác động, ảnh hưởng đến mọi người, mọi ngành, mọi nghề, mọi mặt của đời sống xã hội của con người, không chỉ đối với các thế hệ hiện tại

mà cả đến các thế hệ tương lai

Phạm vi tác động, ảnh hưởng của các vấn đề môi trường đến điều kiện tự nhiên

và các hoạt động kinh tế-xã hội thay đổi rất rộng từ cá nhân, xóm, thôn, bản đến quốc gia, khu vực và toàn cầu Vì thế, vấn đề môi trường là vấn đề chung của cộng đồng (thí dụ: biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu)

Những tác động và hậu quả tác động của sự thay đổi môi trường do con người gây ra đến các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người không phải lúc nào cũng

có thể dễ dàng nhận ra, xác định, đánh giá được, mặt khác, nó không chỉ có những hậu quả trước mắt mà có cả những hậu quả tiềm tàng trong tương lai, có khi phải đến các thế

kỷ sau (thí dụ: biến đổi khí hậu có tác động tiềm tàng đến thế hệ mai sau)

Từ những đặc điểm nêu trên mục đích của truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu không chỉ là nhằm truyền đạt thông tin hay quá nhấn mạnh vào truyền đạt thông tin mà quan trọng hơn là nhằm thu hút mọi người tham gia vào quá trình chia sẻ thông tin, tạo ra sự hiểu biết chung, nhận thức chung về những vấn đề biến đổi khí hậu

để từ đó cùng chia sẻ trách nhiệm và thống nhất hành động theo một hướng chung trong việc giải quyết những vấn đề của biến đổi khí hậu đặt ra

Yêu cầu của truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu là làm cho các đối tượng truyền thông thấy rõ thực trạng của họ và cộng đồng của họ đã và đang chịu những hậu quả tác động tiêu cực của sự biến đổi khí hậu toàn cầu, những nguy cơ, hiểm họa tiềm tàng do biến đổi khí hậu gây ra trong tương lai, nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu hiện nay và những giải pháp mà loài người phải thực hiện để hạn chế, giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu, thông qua việc cung cấp cho họ những minh chứng khoa học và thực tiễn sinh động về hiện tượng biến đổi khí hậu và những hậu quả tác động của chúng Thu hút, huy động được đông đảo lực lượng xã hội tham gia vào quá trình truyền thông, qua đó nâng cao được nhận thức, kiến thức khoa học,

Trang 32

thay đổi thái độ và hành vi của họ theo hướng ứng phó thích hợp và có hiệu quả với sự biến đổi khí hậu trong mọi hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và đời sống

Tuy nhiên theo Chiến lược Quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu thì nhận thức về biến đổi khí hậu của cộng đồng còn hạn chế và phiến diện, mới chỉ quan tâm nhiều đến các tác động tiêu cực mà biến đổi khí hậu gây ra mà chưa quan tâm đúng mức tới việc chuyển đối lối sống, mẫu hình sản xuất và tiêu thụ theo định hướng các-bon thấp, tăng trưởng xanh [15]

Quan điểm Chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu [15]:

- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức và các thành phần xã hội về các vấn đề biến đổi khí hậu

- Xây dựng các phương pháp phù hợp nhằm tiếp cận và sử dụng thông tin về biến đổi khí hậu cho các thành phần xã hội; đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến về tác động, nguy cơ và cơ hội từ biến đổi khí hậu, đặc biệt chú trọng tới cộng đồng dân cư và địa bàn trọng điểm

- Tăng cường ý thức, trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm cộng đồng trong phòng, tránh và khắc phục hậu quả thiên tai; xây dựng lối sống, mẫu hình tiêu thụ thân thiện với khí hậu cho mọi thành viên của cộng đồng; khuyến khích, nhân rộng các điển hình tốt trong ứng phó với biến đổi khí hậu

Cư dân biển, đặc biệt những khu vực phải thường xuyên đối mặt với xâm nhập mặt, xói lở và bão lũ là những nơi rất cần thông tin về tác động biến đổi khí hậu đến đời sống dân sinh và cách ứng phó Tuy nhiên, thời gian qua, khâu truyền thông về biến đổi khí hậu cho đối tượng này còn rất hạn chế Một số kết quả nghiên cứu đã nêu trên, phần tổng quan vấn đề nghiên cứu tại Việt Nam đã cho thấy rõ khẳng định này

Trang 33

Thực tế hiện nay, nguồn lực cho biến đổi khí hậu tập trung vào nghiên cứu khoa học, xây dựng chính sách, còn rất thiếu cho các dự án thích ứng cụ thể Đặc biệt, để ứng phó với các hiện tượng tai biến thường diễn ra như hạn hán, lũ lụt… thì công tác truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xã hội hóa nguồn lực và huy động sự tham gia của cộng đồng còn khó khăn

Cần phải truyền thông để người dân thay đổi nhận thức đã ăn sâu trong nếp nghĩ từ nhiều đời là thiên tai là hoạt động thiên nhiên, không kiểm soát được Từ thái

độ tích cực ứng xử với thiên tai, người dân mới phản ứng một cách chủ động, có tính khoa học, không ỉ lại vào sự cứu trợ từ bên ngoài Quan trọng, các quyết định về ứng phó với Biến đổi khí hậu sẽ không chỉ được đưa ra bởi chính quyền địa phương mà còn bởi các hộ gia đình và các nhóm cộng đồng

Thời gian qua, bên cạnh việc ban hành các chủ trương, chính sách liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, công tác tuyên truyền đã được các Bộ, ban, ngành, các tổ chức xã hội triển khai với nhiều hình thức, nhằm từng bước nâng cao nhận thức của người dân về những tác động nguy hại, các giải pháp phòng ngừa Tuy nhiên, đến nay, thông tin về biến đổi khí hậu vẫn còn rất nhiều hạn chế, đặc biệt là tăng cường sự tham gia chủ động của cộng đồng trong truyền thông biến đổi khí hậu

Cụ thể là nhiều chương trình truyền thông về biến đổi khí hậu còn mang tính tự phát, chưa có một kế hoạch tổng thể, và chưa có sự phân biệt mức độ nhận thức, thái

độ và hành vi của các đối tượng thu nhận thông tin Do đó, hoạt động truyền thông xem việc nâng cao nhận thức như là kết quả cần đạt, ít khi quan tâm đến việc thúc đẩy thay đổi hành vi của các chủ thể hướng đến thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu… Cần thiết phải tăng cường các hoạt động truyền thông nhằm huy động mọi tầng lớp nhân dân cùng chung tay bảo vệ môi trường

Vì vậy, việc truyền thông, thông tin cần được đẩy mạnh và xây dựng theo một

mô hình phù hợp để người dân thấy được các lợi ích cũng như vị trí, vai trò và trách nhiệm của bản thân để cùng chung tay bảo vệ môi trường, sẵn sàng ứng phó với biến đổi khí hậu là hoàn toàn cấp thiết trong bối cảnh hiện nay

2.2 Tiêu chí đánh giá mức độ hiệu quả ứng phó với BĐKH của hoạt động/mô hình/cách làm hay [19] [25]

Trang 34

Đối với các mô hình giảm nhẹ BĐKH

Cho thấy rõ mức độ tiết kiệm năng lượng và những lợi ích về môi trường (giảm phát thải các khí nhà kính và các chất gây ô nhiễm môi trường khác)

Sử dụng năng lượng tái tạo

Sử dụng những công nghệ sản xuất tiên tiến/nâng cao hiệu quả sản xuất/giảm phát thải

Đối với các mô hình thích ứng với BĐKH

Có những đóng góp nhằm giảm thiểu nguy cơ cộng đồng bị ảnh hưởng bởi

những tác động do BĐKH gây ra, thông qua đó tăng cường năng lực thích ứng của cộng đồng trước những tác động của BĐKH

Các tiêu chí chung khác

Ngoài ứng phó với BĐKH, mô hình/kinh nghiệm hay cần cho thấy những lợi ích/tác động có lợi về kinh tế, xã hội và môi trường khác (VD như góp phần cải thiện đời sống/sinh kế của người dân, cải thiện môi trường địa phương và/hoặc những lợi ích kinh tế/xã hội khác) Ví dụ như về hiệu quả chi phí, số lượng công ăn việc làm/nghề mới được tạo ra và những hiệu quả xã hội khác (góp phần giảm thiểu chi phí cho người tiêu dùng, tạo ra những lợi ích cho những nhóm người dễ bị tổn thương v.v )

Cân nhắc đến tính không chắc chắn của BĐKH và của những tác động của BĐKH và/hoặc áp dụng những nguyên tắc mang tính phòng ngừa

Sự tham gia của cộng đồng địa phương (Mức độ tham gia vào các khâu của hoạt động/mô hình/cách làm hay, mức độ trao quyền, mức độ tham gia của các đối tượng dễ bị tổn thương vào các hoạt động của mô hình v.v…)

Được xây dựng dựa trên những nhu cầu, những ưu tiên, kiến thức và khả năng của cộng đồng địa phương

Sử dụng những cách tiếp cận có sự tham gia thông qua đó tăng cường nhận thức cũng như năng lực cho cộng đồng về BĐKH và tác động của BĐKH

Có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương, đặc biệt là các đối tượng dễ bị tổn thương như người nghèo, trẻ em, phụ nữ và người cao tuổi v.v…, vào toàn bộ chu trình của dự án từ khâu thiết kế đến triển khai và giám sát, đánh giá

Trang 35

Có sự phối hợp chặt chẽ giữa cộng đồng địa phương, các nhà khoa học/chuyên gia

và cán bộ dự án, trong đó cộng đồng địa phương có vai trò chủ đạo

Tính bền vững (Hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường) [21]

Các mô hình/cách làm hay cần tập trung vào giải quyết những nhu cầu trước mắt của cộng đồng, tuy nhiên trong đó cần thiết phải có sự xem xét đến những ưu tiên trung hạn và dài hạn

Phát hiện được và xem xét thấu đáo toàn bộ những nguyên nhân gây ra tính dễ bị tổn thương của cộng đồng/vùng hoạt động,

Vận dụng giải pháp một cách linh hoạt, không nhất thiết bó hẹp vào ứng phó với BĐKH, nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương của cộng đồng/vùng hoạt động

Có biện pháp hài hòa những xung đột lợi ích (sẵn có và tiềm tàng) có thể nảy sinh trong quá trình thực hiện mô hình/cách làm hay

Các biện pháp triển khai mô hình đáp ứng được nhu cầu thực tế của cộng đồng, có

sự học hỏi từ các kinh nghiệm địa phương và phù hợp với các giá trị văn hóa-xã hội & kinh tế của địa phương

Mô hình/cách làm hay cần nhận biết được, xem xét những ảnh hưởng và các xu hướng của các hoạt động ứng phó diễn ra ở cấp quốc gia và quốc tế có thể có đến các hoạt động ứng phó ở địa phương và ngược lại

Tính độc đáo/sáng tạo [29]

Có cách tiếp cận độc đáo/sáng tạo, đặc biệt là việc ứng dụng một cách linh hoạt và sáng tạo những kiến thức/giải pháp đã có trong quá trình thực hiện mô hình và tạo ra được những kết quả cụ thể

Có sự kết hợp giữa tri thức bản địa và kiến thức khoa học một cách hợp lý

Cho thấy những ưu điểm vượt trội so với những cách làm trước đó tại địa phương (nếu có)

Khả năng nhân rộng [5]

Mô hình/cách làm hay có tính đại diện, được chấp nhận và có sự hỗ trợ của cộng đồng Các kết quả của mô hình/cách làm hay có những tác động tích cực rõ rệt đến cộng đồng

Trang 36

Vấn đề được giải quyết thông qua việc triển khai mô hình có tính đại diện cho nhiều vùng và nhiều nhóm cộng đồng

Các hoạt động triển khai, các hướng dẫn được xây dựng trong khuôn khổ thực hiện

mô hình/cách làm hay, đơn giản, dễ hiểu, dễ được chấp nhận và dễ áp dụng ở cấp độ cộng đồng, đặc biệt là đối với các hoạt động và hướng dẫn mang tính kỹ thuật

Các mô hình/cách làm hay, ngoài việc đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng và giúp cộng đồng ứng phó với BĐKH, cần gắn liền với những chính sách, chiến lược và ưu tiên của địa phương, vùng và quốc gia và có sự ủng hộ của chính quyền các cấp

Có những cơ chế hiệu quả cho việc thu thập và chia sẻ những kinh nghiệm/kiến thức liên quan đến BĐKH và ứng phó với BĐKH

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

Vào thập niên cuối của thế kỷ 20, sự tham gia của người dân đã trở thành một

bộ phận quan trọng trong các chương trình và dự án phát triển, đặc biệt là trong các chương trình và dự án của Ngân hàng Thế giới và các tổ chức phát triển khác Tham gia được coi vừa là mục đích vừa là phương tiện, vì nó xây dựng kỹ năng và nâng cao năng lực hành động của người dân trong việc giải quyết các vấn đề và cải thiện cuộc sống của họ, đóng góp cho các chính sách và các dự án phát triển tốt hơn Các dự án sẽ

có nhiều cơ hội thành công và bền vững hơn nếu có sự tham gia của người hưởng lợi của dự án [13]

Ngân hàng Thế giới xem sự tham gia của người dân như là một quá trình, nhờ

đó người dân và đặc biệt là phụ nữ, người nghèo và trẻ em được tham gia vào quá trình ra quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của họ Sự tham gia của người dân nhằm các mục đích:

(1) Trao quyền - một sự chia sẻ quyền lực hợp lý với những người tham gia để nâng cao nhận thức về khả năng tham gia của họ vào quá trình thực hiện dự án

(2) Xây dựng và nâng cao năng lực của người dân trong việc phát triển cho chính họ và cộng đồng của họ

(3) Tăng cường hiệu lực của dự án, thúc đẩy sự đồng thuận, sự hợp tác cũng

Ngày đăng: 11/11/2016, 10:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Tan Cosey, Nguyễn Thị Hoàng Yến và Phạm Hà Phương (2013), Báo cáo nghiên cứu về Người dân Việt Nam đang thích ứng với biến đổi khí hậu thế nào và truyền thông có thể làm gì để hỗ trợ họ, trong khuôn khổ dự án Climate Asia do Bộ Phát Triển Quốc Tế Anh (DFID) tài trợ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu về Người dân Việt Nam đang thích ứng với biến đổi khí hậu thế nào và truyền thông có thể làm gì để hỗ trợ họ
Tác giả: Tan Cosey, Nguyễn Thị Hoàng Yến và Phạm Hà Phương
Năm: 2013
5. Minh, D.Q, 2008, CBDRM in Vietnam – Selection criteria of good practice and the inventory of integrating 135 program with DRR, [internet]http://www.srd.org.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: CBDRM in Vietnam – Selection criteria of good practice and the inventory of integrating 135 program with DRR
13. Nguyễn Duy Thắng, 2002, "Một số khía cạnh lý thuyết của cách tiếp cận Nghiên cứu hành động tham gia (PAR) trong phát triển cộng đồng" , Xã hội học số 1, (77) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khía cạnh lý thuyết của cách tiếp cận Nghiên cứu hành động tham gia (PAR) trong phát triển cộng đồng
16. Ủy ban Nhân dân Xã Nam Phú, 2014, Ủy ban Nhân dân xã Nam Phú, Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội năm 2014 mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế, xã hội năm 2015 , số 02/BC- UBND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội năm 2014 mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế, xã hội năm 2015
17. Phạm Thị Hiên Trung, 2014, Tin tức khuyến nông - Trung tâm Khảo nghiệm Khuyến nông Khuyến ngƣ Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tin tức khuyến nông
18. Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD), 2012, Báo cáo: Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và khả năng có sự tham gia (PVCA) Xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và khả năng có sự tham gia (PVCA) Xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
19. 3 Cornelius, 2009, Report on good measures in CCA in water management plans,http://icm.eionet.europa.eu/ETC_Reports/Good_practice_report_final_ETC.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report on good measures in CCA in water management plans
20. Dasgupta, S., et al., 2007: The Impact of Sea Level Rise on Developing Countries. A Comparative Analysis. World Bank Policy Research Working Paper 4136, February 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Impact of Sea Level Rise on Developing Countries. A Comparative Analysis
21. 5 Eriksen et al,. 2011, When not all climate change response is a good one: Identifying principles for sustainable adaptation,http://www.cakex.org/sites/default/files/sustainable.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: When not all climate change response is a good one: "Identifying principles for sustainable adaptation
22. Jari Lyytimọkia, Nina A. Nygrộnb, Ulla Ala-Ketolac, Sirpa Pellinenc, Virpi Ruohomọkid & Aino Inkinene, "Climate Change Communication by a Research Institute: Experiences, Successes, and Challenges from a North European Perspective", pages 118-129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate Change Communication by a Research Institute: Experiences, Successes, and Challenges from a North European Perspective
23. IPCC, 2007: Climate Change 007: Impacts, Adaptation, and Vulnerability. Contribution of Working Group II to the Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel of Climate Change, Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impacts, Adaptation, and Vulnerability. "Contribution of Working Group II to the Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel of Climate Change
24. IPCC,2007, The Physiccal Scientific Basis, Contribution of Working Group I to The Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change, Cambridge, United Kingdom and New York, NY, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Physiccal Scientific Basis, Contribution of Working Group I to The Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change
25. 4, Kete&Petkova, 2001, Assessing good practices in policies and measures to mitigate climate change in Central and Eastern Europe, Workshop on Good Practices in Policies and Measures of the UNFCCC,http://unfccc.int/files/meetings/workshops/other_meetings/application/pdf/kete.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing good practices in policies and measures to mitigate climate change in Central and Eastern Europe
26. McGranahan, G., D. Balk, and B. Anderson, 2007, The Rising Tide: Assessing the Risks of Climate Change and Human Settlements in Low Elevation Coastal Zones. Environment and Urbanization, 1 (19), 17-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Rising Tide: "Assessing the Risks of Climate Change and Human Settlements in Low Elevation Coastal Zones. Environment and Urbanization
27. Mike S. Schọfer & Inga SchlichtingMedia Representations of Climate Change: A Meta-Analysis of the Research Field pages 142-160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Meta-Analysis of the Research Field
28. Susanne C. Moser, 2010, Communicating climate change: history, challenges, process and future directions. Wiley Interdisciplinary Reviews:Climate Change. 1(1): p. 31-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Communicating climate change: history, challenges, process and future directions
34. Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD), website: http://www.mcdvietnam.org Link
35. Trung tâm Nghiên cứu môi trường, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ http://siss.vass.gov.vn/ Link
36. Trung tâm Nghiên cứu và Tƣ vấn quản lý tài nguyên http://www.corenarm.org.vn/?pid=93&id=660 Link
39. Viện Chiến lƣợc và Chính sách Khoa học và Công nghệ (NISTPASS) 40. Wikipedia, 2014, History of Climate Change Science, 24/12/2014,http://en.wkipedia.org/wiki/History_of_climate_change_science Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Các thảm họa xảy ra ở xã Nam Phú - Xây dựng mô hình truyền thống ứng phó biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân xã nam phú, huyện tiền hải, tỉnh thái bình
Bảng 2.1 Các thảm họa xảy ra ở xã Nam Phú (Trang 43)
Bảng 2.2: Thông tin tổng hợp của ba xã Nam Phú, Nam Thịnh và Nam Hƣng - Xây dựng mô hình truyền thống ứng phó biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân xã nam phú, huyện tiền hải, tỉnh thái bình
Bảng 2.2 Thông tin tổng hợp của ba xã Nam Phú, Nam Thịnh và Nam Hƣng (Trang 44)
Hình 3.1: Tiến trình xây dựng Mô hình truyền thông ứng phó BĐKH - Xây dựng mô hình truyền thống ứng phó biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân xã nam phú, huyện tiền hải, tỉnh thái bình
Hình 3.1 Tiến trình xây dựng Mô hình truyền thông ứng phó BĐKH (Trang 46)
Bảng 3.1 tổng hợp số liệu điều tra trước khi xây dựng mô hình truyền thông ta  thấy: tỷ lệ người dân biết đến biến đổi khí hậu ở ba xã nghiên cứu không cao, chiếm tỉ - Xây dựng mô hình truyền thống ứng phó biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân xã nam phú, huyện tiền hải, tỉnh thái bình
Bảng 3.1 tổng hợp số liệu điều tra trước khi xây dựng mô hình truyền thông ta thấy: tỷ lệ người dân biết đến biến đổi khí hậu ở ba xã nghiên cứu không cao, chiếm tỉ (Trang 47)
Hình 3.2: Lớp tập huấn cho tuyên truyền viên - Xây dựng mô hình truyền thống ứng phó biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân xã nam phú, huyện tiền hải, tỉnh thái bình
Hình 3.2 Lớp tập huấn cho tuyên truyền viên (Trang 50)
Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả sau khi triển khai mô hình - Xây dựng mô hình truyền thống ứng phó biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân xã nam phú, huyện tiền hải, tỉnh thái bình
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả sau khi triển khai mô hình (Trang 54)
Hình 3.3: Biểu đồ So sánh kết quả trước và sau khi xây dựng mô hình truyền thông - Xây dựng mô hình truyền thống ứng phó biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân xã nam phú, huyện tiền hải, tỉnh thái bình
Hình 3.3 Biểu đồ So sánh kết quả trước và sau khi xây dựng mô hình truyền thông (Trang 56)
Hình 3.4: Sơ đồ mô hình truyền thông - Xây dựng mô hình truyền thống ứng phó biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân xã nam phú, huyện tiền hải, tỉnh thái bình
Hình 3.4 Sơ đồ mô hình truyền thông (Trang 59)
Bảng đăng kí cải thiện hành động - Xây dựng mô hình truyền thống ứng phó biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân xã nam phú, huyện tiền hải, tỉnh thái bình
ng đăng kí cải thiện hành động (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w