Chưa bàn tới yếu tố cạnh tranh, thương mại nhưng quả thực các ứng dụng trên điện thoại di động ngày càng mở rộng song song với sự phát triển của cơ sở hạ tầng – công nghệ mạng điện thoại
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-VŨ THỊ THÙY LINH
PHÁT THANH TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG
SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ 3G
(KHẢO SÁT TRƯỜNG HỢP VIETTEL RADIO)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Mã số: 60.32.01.01
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Bá Dung
Hà Nội - 2016
Trang 31
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Vũ Thị Thùy Linh, tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ báo chí với đề tài “Phát thanh trên điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G (Khảo sát trường hợp Viettel Radio)” là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
là kết quả làm việc nghiêm túc, trung thực và cẩn trọng của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Trần Bá Dung Mọi số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là hoàn toàn trung thực
Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Tôi xin chịu trách nhiệm đối với Luận văn tốt nghiệp của mình
Hà nội, Ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thùy Linh
Trang 42
LỜI CẢM ƠN
Qua luận văn này, tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong Khoa Báo chí và Truyền thông – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến TS Trần Bá Dung đã tận tình hướng dẫn, hết lòng động viên khích lệ, nhiệt tình truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Media – Tổng công ty viễn thông quân đội Viettel cùng toàn thể cán bộ nhân viên trung tâm
đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu và tiến hành nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin chân thành gửi tới những người thân trong gia đình lời cảm ơn sâu sắc nhất Sự động viên, hậu thuẫn và ủng hộ vô điều kiện của gia đình và người thân đã giúp tôi có nhiều động lực để hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, Ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thùy Linh
Trang 53
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt 6
Danh mục các bảng biểu 8
Mở đầu 10
1 Lý do lựa chọn đề tài 10
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài 12
3 Nội dung và mục đích nghiên cứu 14
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
5 Phương pháp nghiên cứu 16
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 17
7 Bố cục của luận văn 18
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của phát thanh trên điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G 19
1.1 Phát thanh hiện đại và thị trường phát thanh Việt Nam 19
1.1.1 Đặc điểm của phát thanh hiện đại 19
1.1.2 Thị trường phát thanh tại Việt Nam 22
1.2 Phát thanh sử dụng công nghệ 3G 28
1.2.1 Sự ra đời của phát thanh sử dụng công nghệ 3G 28
1.2.2 Quy trình sản xuất chương trình phát thanh trên điện thoại di động 3G 30 1.3 Sự phát triển của công nghệ di động và sự ra đời của Viettel Radio 31
1.3.1 Sự phát triển của công nghệ di động 31
1.3.2 Sự ra đời của Viettel Radio 36
1.3.3 Các giai đoạn phát triển của Viettel Radio 38
Chương 2: Thực trạng các chương trình phát thanh của Viettel Radio (Khảo sát từ 09/2010 đến 09/2014) 45
2.1 Quy trình sản xuất của Viettel Radio và ưu, nhược điểm 45
Trang 64
2.1.1 Quy trình sản xuất 45
2.1.2 Ưu điểm 46
2.1.3 Nhược điểm 47
2.2 Nội dung các chương trình của Viettel Radio 48
2.2.1 Tin tức 48
2.2.2 Giải trí 51
2.2.3 Chương trình chuyên đề 53
2.2.4 Đọc truyện Istory 57
2.2.5 Khảo sát số lượng chương trình Viettel Radio sản xuất 58
2.3 Hình thức thể hiện các chương trình của Viettel Radio 62
2.3.1 Thời lượng 62
2.3.2 Kết cấu 64
2.3.3 Thể loại 67
2.3.4 Yếu tố đa phương tiện 67
2.4 Công chúng của Viettel Radio 69
2.4.1 Quy mô công chúng 69
2.4.2 Đặc điểm của công chúng 74
2.4.3 Kênh tiếp nhận sản phẩm của công chúng 76
2.4.4 Đánh giá của công chúng đối với các chương trình Viettel Radio 80
Chương 3: Đề xuất giải pháp và chiến lược phát triển nội dung cho Viettel Radio 87
3.1 Ưu điểm, hạn chế và những thách thức đặt ra cho Viettel Radio 87
3.1.1 Ưu điểm 87
3.1.2 Hạn chế 92
3.1.3 Thách thức đặt ra cho Viettel Radio 94
3.2 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng chương trình 96
3.2.1 Xây dựng chiến lược và kế hoạch nội dung 96
Trang 75
3.2.2 Lựa chọn hình thức thể hiện 98
3.2.3 Tổ chức và nhân lực 101
3.2.4 Tăng cường nghiên cứu, điều tra thính giả 102
3.3 Một số kiến nghị 102
3.3.1 Về cơ sở pháp lý 102
3.3.2 Về bản quyền nội dung 104
3.3.3 Về giá thành sản phẩm 105
3.3.4 Về việc truyền thông, quảng bá cho sản phẩm 105
Kết luận 109
Tài liệu tham khảo 111
Phụ lục 114
Trang 8DSL: Digital Subscriber Line: Đường Thuê bao Số
Ericsson ConsumerLab: Trung tâm nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng
G: Generation wireless telephone technology: Công nghệ điện thoại di động
(không dây)
GPRS: General Packet Radio Service: Công nghệ chuyển mạch gói
GPS: Global Positioning System: Hệ thống định vị toàn cầu
GSM: Global System for Mobile Communication: Hệ thống thông tin di động toàn cầu
HSDPA: Hight Speed Downlink Package Access: Gói đường truyền tốc độ cao IP: Internet Protocol: Giao thức Internet
IVR: Interactive Voice Response: Phản hồi Tiếng nói Tương tác
KTV: Kỹ thuật viên
Mbit: Megabit - một đơn vị để chỉ dung lượng dữ liệu máy tính
POST: Plain Old Telephone Service: Mạng điện thoại công cộng
SMS: Short Message Services: Dịch vụ tin nhắn ngắn
TDMA: Time – Division Multiple Access: Đa truy cập phân chia theo thời gian TNVN: Tiếng nói Việt Nam
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
VN: Việt Nam
VOD: Video on Demand: Video theo yêu cầu
VOV: Đài Tiếng nói Việt Nam
VR: Viettel Radio
Trang 97
VTC: Đài truyền hình kỹ thuật số
VTV: Đài truyền hình Việt Nam
WAP: Wireless Applications Protocol: Giao thức ứng dụng không dây
Trang 108
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Quy trình sản xuất chương trình phát thanh trên điện thoại 3G 30
2 Tóm lược quá trình phát triển của mạng thông tin di động tế bào 36 3 Sơ đồ quy trình sản xuất của Viettel Radio 45
4 Số lượng chương trình Viettel Radio sản xuất (từ 09/2010 đến 09/2014) 60
5 Số lượng chương trình Viettel Radio sản xuất tính theo năm 60
6 Số lượng chương trình sản xuất trung bình theo tháng 61
7 Biểu đồ thể hiện sự biến động số lượng chương trình phát sóng của Viettel Radio 61
8 Thời lượng các chương trình của Viettel Radio 63
9 Kết cấu các chương trình của Viettel Radio 66
10 Quy mô và sự phát triển số lượng khách hàng/ công chúng của Viettel Radio 69
11 Số liệu doanh thu của Viettel Radio theo kênh bán (2011-2014) 72
12 Biểu đồ thể hiện doanh thu của Viettel Radio – phân kênh (2011-2014).72 13 Biểu đồ tổng doanh thu của Viettel Radio (2011-2014) 73
14 Tổng hợp các gói dịch vụ của Viettel Radio 80
15 Biểu đồ đánh giá của thính giả về chất lượng các chương trình của Viettel Radio (Đơn vị: %) 81
16 Biểu đồ đánh giá của thính giả về thời lượng các chương trình của Viettel Radio (Đơn vị: %) 82
17 Biểu đồ đánh giá của thính giả về giao diện, màu sắc các trang wapsite của Viettel Radio (Đơn vị: %) 83
18 Biểu đồ yếu tố thính giả chưa hài lòng khi nghe Viettel Radio (Đơn vị: %) ……84
19 Biểu đồ đánh giá của thính giả về chất lượng kết nối mạng khi nghe/tải các chương trình của Viettel Radio (Đơn vị: %) 95
20 Giới tính của thính giả (Đơn vị %) 119 21 Độ tuổi của thính giả (Đơn vị %) 119
22 Trình độ học vấn của thính giả (Đơn vị %) 119
Trang 119
23 Nghề nghiệp của thính giả (Đơn vị %) 120
24 Thời gian nghe radio của thính giả (Đơn vị %) 120
25 Mức độ quan tâm của thính giả đối với các chuyên mục (Đơn vị %) 121
26 Lý do thính giả chọn nghe chương trình (Đơn vị %) 121
27 Nhận xét của thính giả về chất lượng các chương trình của Viettel Radio (Đơn vị %) 122
28 Nhận xét của thính giả về hình thức thể hiện các chương trình của Viettel Radio (Đơn vị %) 122
29 Nhận xét của thính giả về thời lượng các chương trình của Viettel Radio (Đơn vị %) 123
30 Nhận xét của thính giả về số lượng các chương trình của Viettel Radio (Đơn vị %) 123
31 Nhận xét của thính giả về mức độ bổ ích của các chương trình Viettel Radio (Đơn vị %) 124
32 Nhận xét của thính giả về giọng đọc và dẫn của các phát thanh viên Viettel Radio (Đơn vị %) 124
33 Đánh giá của thính giả về chất lượng nghe/ tải các chương trình ( Đơn vị %) 125
34 Nhận xét của thính giả về giao diện, màu sắc của trang (Đơn vị %) 125
35 Nhận xét của thính giả về các tính năng, thao tác sử dụng trên trang (Các nút bấm nghe/tải/nghe tiếp) (Đơn vị %) 126
36 Yếu tố khiến thính giả chưa hài lòng khi sử dụng dịch vụ của Viettel Radio (Đơn vị %) 126
37 Góp ý của thính giả nhằm cải thiện chất lượng nội dung cũng như hình thức thể hiện của Viettel Radio (Đơn vị %) 127
Trang 12sự bùng nổ của truyền thông đại chúng với sự xuất hiện của loại hình báo phát thanh Sự ra đời của những chiếc radio là bước ngoặt to lớn trong quá trình phát triển của báo chí, làm thay đổi cách tiếp cận thông tin của con người
Xã hội ngày càng hiện đại, khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển không ngừng, chiếc điện thoại di dộng hay còn gọi là Mobile ra đời khiến khoảng cách giữa con người được thu hẹp lại Kéo theo nó là những dịch vụ
di động đa dạng, phong phú từ các nhà cung cấp mạng Tiêu biểu nhất là sự ra đời và phát triển công nghệ mạng 3G, đánh dấu bước chuyển biến lớn trong quá trình phát triển công nghệ hiện nay
Nhằm phát huy tối đa những hiệu quả mà công nghệ 3G mang lại, các nhà mạng đã áp dụng công nghệ này để truyền tải thông tin qua các loại hình khác nhau Chưa bàn tới yếu tố cạnh tranh, thương mại nhưng quả thực các ứng dụng trên điện thoại di động ngày càng mở rộng song song với sự phát triển của cơ sở hạ tầng – công nghệ mạng điện thoại di động, trong đó có sự xuất hiện của mô hình phát thanh mới là phát thanh trên điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G hứa hẹn mang lại những trải nghiệm mới trong kỹ thuật giải trí truyền thông đa phương tiện của công chúng
Viettel là một trong những nhà mạng đi tiên phong trong việc khai thác cơ sở hạ tầng công nghệ sẵn có của một tập đoàn viễn thông để cho ra đời kênh phát thanh trên điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G, với tên gọi Viettel Radio Tháng 9-2010, những chương trình phát thanh đầu tiên trên điện thoại di động 3G của Viettel đến với công chúng thính giả Việc mở
Trang 1311
đường cho một mô hình phát thanh mới chắc chắn sẽ gặp phải những khó khăn, thách thức Từ khi ra đời cho đến nay, Viettel Radio đã trải qua chặng đường hơn 5 năm tồn tại, phát triển và đã dần gặt hái được những thành quả nhất định, trong khi thị trường phát thanh trong nước đang loay hoay tìm hướng đi mới
Thời kỳ đầu, số lượng công chúng (thuê bao/ khách hàng) sử dụng dịch vụ phát thanh trên điện thoại di động 3G của Viettel chỉ vài trăm Nhưng đến nay, số lượng này đã lên đến hàng trăm ngàn thuê bao, mang lại cho Viettel doanh thu hàng chục tỷ đồng mỗi năm Bước đầu thành công của Viettel Radio cũng đặt ra nhiều câu hỏi cho những nhà nghiên cứu báo chí nói chung và nghiên cứu phát thanh nói riêng Đứng trước rất nhiều khó khăn thách thức, sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường báo chí truyền thông nhưng Viettel Radio đã tạo cho mình một chỗ đứng khá vững chắc trong lĩnh vực phát thanh tại Việt Nam Tại sao công chúng lại chấp nhận bỏ tiền túi ra để nghe các chương trình phát thanh của Viettel Radio mà bỏ qua các chương trình phát thanh miễn phí? Chương trình phát thanh trên điện thoại di động 3G có những đặc trưng, ưu thế gì? Nó giống và khác như thế nào so với các chương trình phát thanh truyền thống? Đó là một vấn đề cần được nghiêm túc tìm hiểu, nghiên cứu
Chính vì vậy, nghiên cứu về phát thanh trên điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G là cái nhìn khá mới mẻ Việc đi sâu tìm hiểu về vấn đề này trước hết nhằm mang đến cho những người làm báo phát thanh nói riêng
và người làm báo nói chung cái nhìn đa diện, sâu sắc về những hình thức truyền tải thông tin qua công nghệ di động mới hiện nay Đặc biệt hơn, Radio đang được dự báo là loại hình báo chí chiếm ưu thế trong xã hội hiện đại, khi con người ngày càng trở nên bận rộn
Trang 1412
Hiện nay, thông tin báo chí trên mạng Internet khá đa dạng Riêng đối với loại hình báo phát thanh, nhiều tờ báo mạng đã bổ sung vào trang web của mình thêm chuyên mục Radio Online như Vietnamnet, Megafun, Tuổi trẻ Online… Tuy nhiên, với xu hướng hiện nay, có thể nói Radio trên điện thoại
di động sử dụng công nghệ 3G đang mở ra một tương lai mới cho loại hình báo phát thanh
Một lý do nữa khiến tác giả đến với đề tài này, đó là, tôi có may mắn được trực tiếp làm việc, sản xuất ra các sản phẩm phát thanh từ khi Viettel Radio ra đời cho đến nay Vì vậy, tác giả có điều kiện để tiếp cận cũng như bám sát nội dung, phương thức sản xuất - kinh doanh, qua đó có thể đưa ra được những đánh giá cụ thể, sát thực
Trên những cơ sở phân tích đó, tác giả lựa chọn đề tài “Phát thanh
trên điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G (Khảo sát trường hợp Viettel Radio)” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành báo chí học
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc nghiên cứu về phát thanh trên điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G là một khía cạnh khá mới mẻ, chưa được nhiều nhà nghiên cứu báo chí đề cập đến Trong quá trình tìm hiểu tư liệu cho luận văn, tác giả nhận thấy có một số đề tài nghiên cứu về phát thanh hiện đại nói chung: Luận văn
của tác giả Nguyễn Thị Thúy Bình (năm 1999) với đề tài: “Ứng dụng truyền
thông đa phương tiện trên báo trực tuyến của các cơ quan phát thanh truyền hình” làm rõ việc ứng dụng truyền thông đa phương tiện trên báo chí trực
tuyến ở Việt Nam, đưa ra một số đề xuất nâng cao chất lượng ứng dụng truyền thông đa phương tiện trên các ấn phẩm báo chí trực tuyến Ngoài ra,
còn có một số luận văn của các tác giả Đồng Mạnh Hùng (năm 2001): “Đổi
mới, nâng cao chất lượng chương trình thời sự đài TNVN”; tác giả Nguyễn
Sơn Minh (năm 2002): “Phát thanh trên mạng Internet”; tác giả Phạm
Trang 1513
Nguyên Long (năm 2009): “Đổi mới và nâng cao chất lượng các chương
trình phát thanh Kinh tế của đài TNVN” Các đề tài đã nghiên cứu và đề xuất
nhiều biện pháp tăng cường hiệu quả các chương trình phát thanh và bước đầu
đề cập đến một số phương thức phát thanh hiện đại…
Với tư cách là người được tham gia vào nhóm Đề án phát thanh – truyền hình trên di động của Viettel từ ngày còn là sinh viên, bản thân tác giả đã mạnh
dạn lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu mô hình phát thanh trên điện thoại di động sử
dụng công nghệ 3G: Nghiên cứu trường hợp Viettel Radio” cho công trình
nghiên cứu khoa học cấp trường đồng thời là khóa luận tốt nghiệp của mình do
TS Đặng Thị Thu Hương trực tiếp hướng dẫn (năm 2011) Đề tài tập trung khảo sát, tìm hiểu về ưu điểm và hạn chế của mô hình phát thanh trên điện thoại di động 3G, từ đó đề xuất những cách thức và biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nội dung, đồng thời đánh giá được giá trị của mô hình phát thanh mới mẻ này đối với người làm báo và giới truyền thông phát thanh Việt Nam
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu phát thanh trên điện thoại di động sử
dụng công nghệ 3G, luận văn thạc sĩ “Xu thế phát triển của phát thanh phi
truyền thống tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp của Viettel Radio và Tuổi
trẻ Online)” (năm 2013) của Phạm Thị Huệ, khoa Báo chí, trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn cũng đã có những khảo sát về nội dung, hình thức của mô hình phát thanh mới – phát thanh trên điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G Từ đó, đề xuất những kiến nghị và giải pháp để đẩy mạnh mô hình phát thanh này ở nước ta
Luận văn thạc sĩ báo chí “Hành vi đọc báo trên điện thoại di động của
công chúng thanh niên tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước hiện nay” của Hoàng Thị Thu Hằng (2014), Học viện Báo chí và tuyên truyền,
nghiên cứu hành vi, tập quán sử dụng thông tin báo chí trên điện thoại di động của công chúng ở hai địa phương, để đo lường mức độ, phạm vi và ảnh hưởng
Trang 1614
của truyền thông kỹ thuật số và đưa ra những căn cứ khoa học xác thực về hình thức tiếp nhận thông tin mới này ở Việt Nam
Tuy nhiên, các đề tài mới chỉ bước đầu mô tả những cái nhìn bao quát
về mô hình phát thanh trên điện thoại di động 3G chứ chưa tập trung đi sâu vào phân tích về quy trình sản xuất, nội dung chương trình, hình thức thể hiện
và công chúng tiếp nhận Đồng thời chưa có những đánh giá, so sánh với phát thanh truyền thống và phát thanh qua mạng Internet Vì vậy, nghiên cứu về phát thanh trên điện thoại di động 3G là vấn đề mới mẻ, cần được khai thác Nghiên cứu này sẽ tập trung làm rõ những đặc trưng, đặc điểm của phát thanh trên điện thoại di động 3G từ nội dung, hình thức, quy trình sản xuất đến công chúng tiếp nhận, so sánh với những mô hình phát thanh trước đó để tìm ra những điểm giống và khác nhau, những ưu thế và hạn chế; nghiên cứu cũng đi sâu tìm hiểu về quá trình phát triển của Viettel Radio (từ 09/2010 đến 09/2014), phân tích những thay đổi về nội dung chương trình, hình thức thể hiện, đối tượng công chúng của Viettel Radio để từ đó để xuất những giải pháp nâng cao chất lượng chương trình và những chiến lược dài hạn cho sự phát triển của mô hình phát thanh mới còn nhiều tiềm năng ở Việt Nam
3 Nội dung và mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, khảo sát các chương trình phát thanh trên điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G của Viettel Radio (2010-2014), luận văn hy vọng sẽ chỉ ra được những đặc điểm của mô hình phát thanh mới này từ tiêu chí lựa chọn thông tin, quy trình sản xuất đến công chúng tiếp nhận Luận văn cũng sẽ có những đánh giá về ưu, nhược điểm, thời cơ cũng như thách thức đặt ra đối với Viettel Radio Qua đó, đi đến đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chương trình cũng như hình thức thể hiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công chúng Đồng thời,
Trang 17Phát thanh trên điện thoại di động 3G không những tăng tính chủ động cho thính giả trong việc lựa chọn thông tin, nghe lúc nào, nghe ở đâu mà còn giúp người làm chương trình phát huy tính sáng tạo, mở rộng nội dung phát sóng, kể cả những nội dung nhạy cảm, thầm kín, những vấn đề khó có thể đưa lên các loại hình báo chí khác, thậm chí phát thanh truyền thống Bởi phát thanh trên điện thoại mang tính cá nhân nhiều hơn, người nghe tiếp nhận chương trình một cách riêng lẻ chứ không theo nhóm Chương trình phát thanh sẽ trở thành người bạn tâm tình thân thiết và gần gũi với từng thính giả
Bởi vậy, nghiên cứu về phát thanh trên điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G nhằm phân tích, đánh giá, tìm ra những đặc điểm, ưu thế, hạn chế và sự khác biệt của Viettel Radio so với phát thanh truyền thống để từ đó
có những giải pháp, chiến lược phát triển dài hạn cho mô hình phát thanh mới
sẽ là mục đích nghiên cứu của luận văn
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề phát thanh trên điện thoại di động thông qua sóng 3G của Viettel Radio Đó là nội dung, hình thức, quy trình sản xuất và công chúng tiếp nhận tác phẩm phát thanh trên điện thoại di động 3G Qua đó, chỉ ra mục đích và ý nghĩa của mô hình phát thanh mới này đối với thị trường phát thanh ở Việt Nam Luận văn cũng phân tích tiêu chí
Trang 1816
lựa chọn thông tin, đối tượng thính giả và các nhóm nội dung mà Viettel Radio sản xuất để tìm ra những đặc điểm chung nhất của mô hình phát thanh mới này…
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung khảo sát các chương trình Radio trên Mobile 3G của Viettel trong 4 năm, từ tháng 09/2010 đến tháng 09/2014 Qua đó, đánh giá từng bước phát triển của Viettel Radio, sự thay đổi của các chương trình/ chuyên mục; sự tăng trưởng của số lượng công chúng/ thuê bao; sự mở rộng của quy mô sản xuất cũng như những biến động về doanh thu mang lại cho Viettel
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó có phương pháp nghiên cứu tài liệu, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu kết hợp các phương pháp so sánh, phân tích, thống kê, tổng hợp…
- Trước tiên, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu: Dựa trên các tài liệu thu được từ các nguồn sách, báo, tạp chí, mạng Internet… để tìm hiểu về lý luận của phát thanh hiện đại, sự ra đời và bùng nổ của công nghệ 3G, ứng dụng công nghệ 3G để phát triển phát thanh trên điện thoại, việc kênh Radio 3G thâm nhập vào đời sống thông tin và nhu cầu giải trí của công chúng
- Phương pháp khảo sát, thống kê, đánh giá: Tiến hành khảo sát các các chương trình phát thanh của Viettel Radio trong thời gian từ 09/2010 đến 09/2014 Thống kê, tổng hợp số liệu để đánh giá về sự thay đổi về quy
mô, số lượng chương trình, hình thức thể hiện cũng như số lượng thuê bao và doanh thu trong từng giai đoạn phát triển Từ đó, so sánh, phân tích về đặc điểm, những ưu thế và hạn chế của Viettel Radio
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Học viên tổng hợp 300 phiếu khảo sát thính giả của Viettel Radio để đưa ra nhận định về nhu cầu của
Trang 196 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đề tài là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên tìm hiểu, nghiên cứu và khảo sát các sản phẩm của Viettel Radio, mô hình phát thanh được phát sóng thông qua công nghệ 3G đến các điện thoại do Viettel cung cấp dịch vụ
Về mặt khoa học, đề tài hệ thống hóa một số vấn đề lý luận của phát thanh hiện đại và phát thanh sử dụng công nghệ 3G Qua việc đưa ra những con số thống kê, đánh giá về thị trường, về công chúng phát thanh tại Việt Nam, luận văn phân tích về xu hướng phát triển của phát thanh Việt Nam, mà việc tích hợp với công nghệ di động sẽ là xu hướng tất yếu Luận văn cũng nêu bật lịch sử phát triển của công nghệ di động từ 1G đến 4G để thấy được
cơ sở hạ tầng kỹ thuật mở đường cho mô hình phát thanh trên Mobile 3G
Về mặt thực tiễn, bằng việc khảo sát, tìm hiểu, phân tích, đánh giá nội dung và hình thức thể hiện các chương trình Radio của Viettel, đề tài sẽ đưa
ra những ý kiến đề xuất nhằm giúp cho công ty Viettel nâng cao chất lượng dịch vụ của mình, có những chiến lược phát triển dài hạn trong những năm tới, đồng thời đề tài cũng có những đóng góp đối với việc phát triển ngành công nghiệp phát thanh Việt Nam hiện nay Những vấn đề rút ra được từ khảo sát hy vọng sẽ trở thành nguồn tư liệu giúp ích cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, người làm báo và đặc biệt là những người làm phát thanh Đồng thời,
Trang 2018
luận văn có thể được dùng làm tư liệu để các giảng viên, sinh viên sử dụng trong quá trình học tập cũng như hoạt động chuyên môn của mình
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của phát thanh trên điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G
Chương 2: Thực trạng các chương trình phát thanh của Viettel Radio
(Khảo sát từ 09/2010 đến 09/2014)
Chương 3: Đề xuất giải pháp và chiến lược phát triển nội dung cho Viettel Radio
Trang 2119
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của phát thanh trên điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G 1.1 Phát thanh hiện đại và thị trường phát thanh Việt Nam
1.1.1 Đặc điểm của phát thanh hiện đại
Phát thanh hiện đại không tự nảy sinh mà là sự kế thừa và phát triển của phát thanh truyền thống Đó là sự thay đổi phương thức trong sản xuất các chương trình phát thanh cho phù hợp với tình hình mới và đáp ứng nhu cầu của công chúng Sự thay đổi của phương thức sản xuất không chỉ dựa trên nền tảng
của công nghệ, kỹ thuật mới mà còn đòi hỏi kỹ năng mới để tạo ra được chất
lượng nội dung và hình thức mới và qua đó có thể hình thành công chúng mới… Trong phương thức sản xuất các chương trình phát thanh hiện đại,
những ưu điểm của phát thanh truyền thống (như: có đối tượng thính giả rộng
rãi; tính tức thời và tỏa khắp; ưu thế chiếm lĩnh không gian và toàn bộ thời gian trong ngày; tính giao tiếp cá nhân; thông điệp len lỏi khắp nơi và có khả năng tác động nhanh; dễ tác động vào tình cảm; sinh động trong cách thể hiện; sự thuyết phục, lôi kéo của lời nói tác động vào thính giác; kích thích trí tưởng tượng, buộc thính giả phải tự hình dung, liên tưởng; thiết bị rẻ tiền, đơn giản, dễ phổ biến…) vẫn tiếp tục được phát huy mạnh mẽ và lại được sự hỗ trợ
đắc lực của công nghệ mới nên càng trở nên hấp dẫn hơn, hiệu quả hơn
Phát thanh hiện đại phải dựa trên nền tảng kỹ thuật cao Đây là yếu tố quan trọng tác động đến sự xuất hiện và phát triển của phương thức sản xuất chương trình phát thanh theo kiểu hiện đại Dù có muốn sản xuất theo phương thức mới nhưng nếu không có yếu tố kỹ thuật hỗ trợ thì phát thanh hiện đại cũng khó mà phát triển Các yếu tố kỹ thuật ở đây được khai thác, sử dụng một cách toàn diện không chỉ trong quá trình sản xuất các chương trình (các thiết bị kỹ thuật số, phần mềm biên tập âm thanh…) mà còn cả trong quá trình
Trang 22nói với ngôn ngữ đời sống bình dị có thể tạo ra cảm giác gần gũi, thân mật
cho thính giả Bên cạnh đó, việc xây dựng các dạng chương trình mở, trong
đó thính giả có thể tham gia trực tiếp vào chương trình (ở những mức độ khác nhau) cũng là những ưu thế của phương thức sản xuất các chương trình phát thanh hiện đại
Thực tế cho thấy, trên nền tảng của công nghệ kỹ thuật số, loại hình báo phát thanh đã có những bước phát triển mới, nhảy vọt Có thể nói, kỹ thuật số đã góp phần quan trọng để thúc đẩy phát thanh truyền thống bước sang thời kỳ hiện đại Phát thanh kỹ thuật số có chất lượng âm thanh tốt như đĩa CD, tín hiệu không còn bị nhiễu hay bị cản trở bởi các yếu tố tự nhiên
Trong thực tế, không chỉ riêng phát thanh mà báo in và truyền hình cũng đang tận dụng tối đa công nghệ và kỹ thuật mới (kỹ thuật số, mạng Internet…) để hiện đại hóa chính mình nhằm tiếp tục thích ứng và phát huy sức mạnh trong bối cảnh mới Riêng với loại hình phát thanh, các phương
thức sản xuất chương trình hiện đại, mới mẻ như phát thanh trên mạng, phát
thanh qua điện thoại… thực sự là một cuộc cách mạng giúp cho nó đổi mới
toàn diện trong việc nỗ lực thích ứng để tồn tại, phát triển
Phương thức sản xuất các chương trình phát thanh hiện đại cũng hạn
chế được những nhược điểm của phát thanh truyền thống (như: công chúng
chỉ tiếp nhận thông tin qua duy nhất một giác quan là tai nghe; nặng tính độc thoại; khó diễn tả được những hình ảnh phức tạp; độ xác thực của thông tin
Trang 2321
không cao; thính giả khó nhớ được toàn bộ thông tin do tính chất hình tuyến; nghe càng nhiều, độ ghi nhớ càng giảm )
Công chúng của phát thanh hiện đại không chỉ nghe mà còn có thể
nhìn (phát thanh có hình), không chỉ nghe một lần một cách bị động mà có thể nghe nhiều lần một cách chủ động (phát thanh qua mạng Internet, phát thanh
qua điện thoại di động); không chỉ tiếp nhận thông tin một chiều mà có thể
trực tiếp tham gia vào các chương trình đang phát sóng (phát thanh tương tác,
phát thanh thực tế) v.v
Nếu ở phát thanh truyền thống “thông tin phụ thuộc vào quy luật thời
gian” người nghe phải theo dõi một cách tuyến tính từ đầu đến cuối thì giờ
đây thính giả có thể hoàn toàn chủ động quyết định nghe lúc nào, nghe ở đâu, nghe nội dung nào
Thay cho việc nghe đài theo lịch phát sóng cố định, thính giả có xu thế nhấn mạnh yếu tố “thời gian theo ý tôi” Vấn đề đặt ra không còn là trực tuyến hay không trực tuyến (online/offline) mà là thời gian thực của tôi với thời gian thực của bạn (my time vs your/real-time)
Theo xu hướng biến đổi của ngôn ngữ truyền thông, ngôn ngữ đa giọng của phát thanh hiện đại phù hợp với tâm lý và nhu cầu hưởng thụ thông tin của công chúng báo chí nhiều hơn Trong cuộc sống hiện đại, tác phong công nghiệp tạo ra áp lực rất lớn về công việc và thời gian cho con người, phát thanh sẽ tạo ra sự thư giãn giải trí cũng như tiếp nhận thông tin tiện lợi bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, kể cả khi đang nghỉ ngơi cũng như đang làm việc mà các loại hình báo chí khác không thể có được Với thế mạnh riêng của mình, phát thanh sẽ không ngừng củng cố vị trí của mình trong hệ thống báo chí, truyền thông
Từ những vấn đề nêu trên, có thể dự đoán trong thế kỷ XXI, báo phát thanh nói chung và phát thanh ở Việt Nam nói riêng sẽ lấy lại vị thế trước đây
Trang 2422
trong hệ thống các phương tiện báo chí, truyền thông đại chúng và sẽ có bước phát triển mạnh cả về bề rộng lẫn chiều sâu trong xu thế đa phương tiện
1.1.2 Thị trường phát thanh tại Việt Nam
Ở thời điểm này, bức tranh chung về hệ thống phát thanh ở Việt Nam vẫn có cả hai gam màu sáng – tối Gam màu tối đó là phát thanh đang đứng trước sự lấn át của truyền hình, báo in, báo mạng Hiện tượng này thể hiện khá phổ biến ở hệ thống các đài phát thanh và truyền hình cấp tỉnh, cấp huyện, thị và cấp xã, phường tại các địa phương trong cả nước, đặc biệt là tại các tỉnh miền núi vốn còn nghèo và tại các vùng sâu, vùng xa…
Gam màu tươi sáng chủ yếu được thể hiện trong sự vận động phát triển của Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) và một số Đài địa phương mạnh như Đài Tiếng nói Nhân dân TP.Hồ Chí Minh, Đài Tiếng nói Nhân dân tỉnh Phú Yên, Đài Phát thanh và Truyền hình các tỉnh Vĩnh Long, Bình Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng v.v Ở các đài này, phát thanh vẫn tiếp tục phát huy hiệu quả và có được lượng công chúng thính giả thường xuyên và đông đảo
Hiện nay, mỗi ngày Đài Tiếng nói Việt Nam phát sóng trên 200 giờ trên 8 hệ phát thanh chủ yếu VOV1 – Hệ thời sự - Chính trị - Tổng hợp, VOV2 – Hệ Văn hóa – Đời sống – Khoa giáo, VOV3 - Hệ âm nhạc – Thông tin – Giải trí, VOV4 – Hệ phát thanh dân tộc, VOV5 – Hệ phát thanh đối ngoại, VOVTV - Kênh truyền hình VOV, VOVQH – Kênh truyền hình quốc hội và VOVGT – gồm Giao thông Hà Nội và Giao thông TP.HCM)
Có thể lấy ví dụ về một kênh phát thanh rất thành công hiện nay của Đài Tiếng nói Việt Nam là Kênh VOV Giao thông phát trên sóng FM 91Mhz Với hơn 40% tổng thời lượng phát sóng trực tiếp, mục đích chính của VOV giao thông FM 91 MHz là Thông tin, Chỉ dẫn tình trạng ùn tắc và tai nạn giao thông tại Hà Nội, TP.HCM Thời lượng còn lại của Kênh sẽ cung cấp cho thính giả những thông tin hết sức bổ ích liên quan đến giao thông, văn hóa
Trang 2523
giao thông, giao thông đô thị, phương tiện giao thông, thời tiết, ảnh hưởng của giao thông đối với môi trường, sức khỏe… Xen kẽ là các thông tin kinh
tế, chính trị, xã hội, thể thao, quốc tế, thương mại, quảng cáo và ca nhạc
Ngay từ khi ra đời, VOV Giao thông lập tức đã trở thành bạn đồng hành thân thiết, là nơi giao lưu, tương tác, trao đổi tình cảm của hàng trăm nghìn người lái xe ô tô - nhất là ở các thành phố lớn như Hà Nội và TP.HCM Chương trình phát thanh hiện đại này vừa là phát thanh trực tiếp, vừa là phát thanh tương tác, phát thanh thực tế và được phát đồng thời trên cả sóng FM và trong chương trình của Hệ phát thanh có hình của Đài TNVN trên mạng Internet
Đài cũng tận dụng sức mạnh công nghệ của Internet để tạo ra những phương thức truyền tải mới đến công chúng phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Đồng thời, đầu tư hiện đại hóa hệ thống trang thiết bị phục vụ biên tập – sản xuất các chương trình phát thanh để cho ra đời các chương trình có chất lượng cao, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và các phương tiện tiếp nhận hiện đại, số hóa như máy tính bảng, điện thoại thông minh…
Trên mạng Internet, báo Điện tử VOV (www.vov.vn) là phương tiện hữu hiệu, vừa làm báo điện tử, vừa truyền – phát, quảng bá các kênh phát thanh, truyền hình của VOV lên mạng trực tuyến Đài TNVN tiếp tục cải tiến, đổi mới Kênh truyền hình VOVTV; Hệ phát thanh đối ngoại VOV5; Báo in VOV; nâng cấp các chuyên trang như www.vovworld.vn bằng 12 thứ tiếng (trong đó có 11 thứ tiếng nước ngoài và tiếng Việt dành cho Việt kiều), xây dựng chuyên trang www.vov4.vov.vn để đưa các ngôn ngữ dân tộc thiểu số lên mạng Internet phục vụ đồng bào
Ngày 13/2/2013, trang thông tin điện tử Radio Việt Nam (Radiovietnam.vn) chính thức ra mắt, đây là một sáng kiến mới về ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động lĩnh vực phát thanh của Đài TNVN, nâng tầm ảnh hưởng của phát thanh trong giai đoạn mới
Trang 2624
Chỉ cần với một chiếc điện thoại di động hay thiết bị cầm tay như Iphone, Ipad hoặc máy vi tính, thính giả trên khắp thế giới, đặc biệt là cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có thể dễ dàng truy cập và theo dõi các thông tin chi tiết của các Hệ phát thanh VOV và của 63 tỉnh, thành Việt Nam trên Radio Việt Nam
Trên cơ sở tích hợp các chương trình của các đài phát thanh, thính giả cũng có thể nghe lại các chương trình mà bản thân quan tâm, yêu thích Sự tiện ích này chính là điều kiện tiên quyết giúp Radio Việt Nam hội nhập và phát triển được trong xu thế báo chí hiện đại hôm nay
Như vậy, trong xu hướng chung của báo chí hiện đại là hội tụ tất cả các phương tiện biểu đạt (lời nói, âm nhạc, tiếng động, hình ảnh, màu sắc, bố cục, giao diện trang báo…), phát thanh ở Việt Nam không đứng ngoài cuộc
và bước đầu đã tìm được cách thích ứng hợp lý
Những người làm phát thanh Việt Nam hiện nay đang cố gắng nâng cao hiệu quả của thông tin phát thanh trong đời sống xã hội, đảm bảo vai trò định hướng và hướng dẫn dư luận xã hội; hoàn thiện và tăng thêm các hệ chương trình phát thanh; chú trọng nâng cao chất lượng nội dung các hệ chương trình, vừa toàn diện vừa chuyên sâu, đáp ứng nhu cầu thông tin của mọi đối tượng thính giả; tăng thời lượng, nâng cao chất lượng nội dung chương trình để đáp ứng nhu cầu thông tin và mục tiêu giáo dục cộng đồng, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tăng cường phát thanh đối ngoại, tập trung vào tuyên truyền đường lối đối ngoại của Việt Nam, phản ánh công cuộc xây dựng phát triển của nhân dân ta; tăng cường hợp tác quốc tế, phát triển có trọng điểm các cơ quan thường trú ở nước ngoài, đảm bảo thông tin quốc tế nhanh nhạy, chính xác, hấp dẫn…
Phát thanh qua mạng Internet đã bước đầu phát triển Có hai hình thức phát thanh I nternet đang tồn ta ̣i ở Viê ̣t Nam Đó là phát trực tuyến các kênh
Trang 27Tháng 11/2003, VTC là đơn vị đầu tiên đi tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ nén chuẩn MPPEG 4 tiên tiến nhất thế giới vào cung cấp di ̣ch
vụ truyền phát trực tuyến các chương trình phát thanh , truyền hình quảng bá trên ma ̣ng Internet phu ̣c vu ̣ nhu cầu thông tin tuyên truyền đối ngoa ̣i dành cho
cô ̣ng đồng người Viê ̣t Nam ở nước ngoài
Đài phát thanh thành phố Hồ Chí Minh (VOH) tuy ra đời sau nhưng lại là trang nghe phát thanh Internet hiê ̣n đa ̣i và tiê ̣n ích nhất Trên trang này, các chương trình phát thanh được ph ân chia thành các chuyên mu ̣c Tài liệu
âm thanh tổng hợp trong các chuyên mu ̣c này được cắt nhỏ từ các chương trình phát thanh của VOH Bằng cách này, thính giả có thể dễ dàng, chủ động tìm kiếm chương trình phát thanh mình yêu thích
Như vậy, VOV, VTC, VOH đều triển khai phát thanh trực tuyến các kênh phát thanh qua Internet Tuy nhiên hầu hết là streamming dữ liệu phát sóng
Hình thức thứ hai là các đơn vị báo chí sản xuất chương trình phát thanh và đăn g tải các file âm thanh này lên trang báo điê ̣n tử của mình Tuy nhiên, trừ Tuổi trẻ online, các trang báo điện tử khác không tập hợp được các file âm thanh này vào mô ̣t chuyên mu ̣c mà chỉ xuất hiê ̣n rải rác , lẻ tẻ Ví dụ như vietnamnet, ngoisao, vnexpress Những file âm thanh này chủ yếu dùng kèm theo bài viết để bổ sung thông tin cho bài viết (như các báo kể trên) hoă ̣c
Trang 28Sự tăng trưởng của điện thoại di động thông minh thúc đẩy tỉ lệ truy cập Internet trên di động tăng vọt Năm 2007, thế giới chỉ có khoảng 400 triệu người truy cập Internet bằng điện thoại nhưng đến năm 2011 thì đã có khoảng
1 tỷ người Tốc độ phát triển số lượng người truy cập Internet bằng di động tăng gấp 2,5 lần trong vòng 5 năm Dự báo con số này tiếp tục tăng lên từ năm 2012-2015, số người truy cập Internet bằng di động sẽ vượt qua số lượng truy cập bằng máy tính vào năm 2014 với con số hơn 1,6 tỷ người
Mặt khác, tại thị trường Việt Nam về phía các nhà cung cấp các phiên bản chạy trên thiết bị di động cũng cho biết, tốc độ phát triển về lượt truy cập cũng như số lượng người truy cập các phiên bản dành cho Mobile của họ cùng tăng cao Tính trong những tháng đầu năm 2012, phiên bản Mobile trên toàn hệ thống các website của Admicro (đơn vị kinh doanh quảng cáo trực tuyến của VC Corp) trung bình thu hút khoảng 9 triệu unique visitor Riêng
Trang 29Tiềm năng như vậy nhưng phát thanh di động ở Việt Nam mới chỉ rất
“sơ khai” Viettel Radio là kênh phát thanh trên điện thoại đầu tiên tại Việt Nam, mở ra một phương tiện tiếp cận thông tin mới cho khách hàng một cách nhanh chóng và chính xác Để nghe chương trình radio này, điện thoại di động cần có hỗ trợ 3G và sử dụng dịch vụ 3G của Viettel Viettel Radio chính thức phát sóng từ tháng 9/2010
Hiện tượng tích hợp công nghệ vừa tạo ra cơ hội, vừa tạo ra thách thức cho các đài phát thanh, truyền hình Vấn đề cốt lõi của phát thanh tương lai chính là sự tiếp cận và tác động tới công chúng chứ không phải là công nghệ Internet và công nghệ viễn thông đã trở thành một cơ sở hạ tầng tốt cho phát thanh Vì vậy, muốn phát thanh duy trì được vai trò cạnh tranh trong kỷ nguyên số ngày nay, cần phải đầu tư và phát huy vào những đặc điểm vốn luôn là thế mạnh của nó Đó là sự gần gũi, thân mật, tính tương tác và tính địa phương hoá
Bước vào thế kỷ XXI, phát thanh Việt Nam đang đứng trước những thử thách lớn lao Trong tình hình đó, việc nghiên cứu để chỉ ra những đặc điểm cơ bản của phương thức sản xuất các chương trình phát thanh hiện đại, khẳng định
xu hướng vận động phát triển của phát thanh Việt Nam và những giải pháp giúp cho hệ thống phát thanh Việt Nam phát triển đúng hướng, phù hợp với hoàn cảnh và những điều kiện cụ thể của Việt Nam đang là một yêu cầu bức xúc đặt ra không chỉ cho thực tiễn mà còn cho cả công tác lý luận báo chí, truyền thông nói chung và lý luận chuyên ngành báo phát thanh ở Việt Nam
Trang 3028
1.2 Phát thanh sử dụng công nghệ 3G
1.2.1 Sự ra đời của phát thanh sử dụng công nghệ 3G
Phát thanh sử dụng công nghệ 3G là một khái niệm còn khá mới mẻ ở Việt Nam Có thể nói, đây là mô hình phát thanh hiện đại, có phương thức phát sóng khác với phát thanh truyền thống, không phát sóng analog, mà phát qua đường truyền mạng 3G tới các thiết bị di động như điện thoại, máy tính bảng
Mô hình phát thanh này là Audio On Demand (AOD), radio theo yêu cầu Nói cách khác, đây là dịch vụ thông tin – giải trí dưới dạng radio trên điện thoại di động, công chúng tiếp nhận phải trả tiền khi sử dụng/ nghe/ tải các dịch vụ này
Do công nghệ ngày càng phát triển với bước chuyển mình nhanh chóng
từ analog sang số, người ta nhận ra rằng có nhiều chức năng của hệ thống phát thanh có thể được thực hiện nhờ các chương trình phần mềm Thay cho việc sử dụng các chi tiết hay các mạch điện tử, phát thanh được xác định bằng phần mềm, dùng các phần mềm có thể tải về trên các bộ xử lý Nhờ vậy, việc thiết kế máy thu trở nên đơn giản và mềm dẻo hơn Hiện nay, công nghệ phát thanh với phần mềm đang tìm kiếm những giải pháp để đảm bảo hài hoà giữa việc đáp ứng các tiêu chuẩn đã có, khả năng nâng cấp và giá thành
Nhiều người tin rằng, trong vài năm tới, thính giả nghe phát thanh sẽ
sử dụng điện thoại di động để nghe nhiều hơn là những người sử dụng các máy thu thanh Xu hướng sắp tới của công nghệ không dây và các dịch vụ giải trí di dộng chắc chắn phải đáp ứng yêu cầu tốc độ bit cao, chất lượng thu
di động ổn định và tốt bên cạnh giá thành hợp lý Qua sự đánh giá các công nghệ khác nhau, ta có thể thấy rằng khó có thể có một thiết bị di động nào có khả năng cung cấp tất cả các dịch vụ khác nhau mà chỉ dựa trên một công nghệ duy nhất Đối với liên lạc dạng điểm tới điểm, mạng điện thoại di động
là sự lựa chọn tốt hơn Nhưng đối với dạng truyền từ một điểm tới nhiều điểm, phát thanh vẫn là giải pháp hữu hiệu nhất Thêm vào đó, các nhà cung
Trang 3129
cấp dịch vụ phát thanh có thể dựa trên ưu điểm của DAB là có khả năng truyền các dữ liệu lớn mà không cần thu thêm phí tải dữ liệu Nó cũng có thể
dễ dàng tích hợp với công nghệ viễn thông để đưa ra các dịch vụ tương tác
Với các điện thoại di động đưa ra thị trường vào đầu những năm 90, người dùng có được một khả năng mới là có thể liên lạc được với nhau ở bất
kỳ đâu và vào bất kỳ lúc nào Sự gia tăng của số lượng thuê bao điện thoại di động trên toàn thế giới trong thập kỷ vừa qua đã chứng tỏ sự tiện lợi và mong muốn của người dùng luôn giữ được liên lạc trong tầm tay Công nghệ viễn thông đã phát triển mạnh mẽ, chuyển mình từ hệ thống analog POTS sang hệ thống di động thế hệ 3- 3G hiện nay Ưu điểm chính của hệ thống 3G là ưu điểm của hệ thống liên lạc hai chiều và khả năng cung cấp tốc độ dữ liệu lên tới 2Mbit/s Khả năng này vượt trên những gì mà hệ thống công nghệ phát thanh số hiện nay có thể cung cấp Về mặt lý thuyết, điều đó có nghĩa là 3G cũng có thể cung cấp các chương trình phát thanh và thêm vào đó một ưu điểm vượt trội là nó có kênh phản hồi liên lạc trở lại từ phía người nghe - một điều không thể thiếu cho các dịch vụ tương tác hai chiều
Trên nền tảng sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thì các nhà mạng
có thể đáp ứng những dịch vụ cho thiết bị di động phong phú, đa dạng hơn Đồng thời, người sử dụng điện thoại di động cũng có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận với những tiện ích giải trí, những tiện ích phục vụ cho công nghệ… phù hợp với nhu cầu cá nhân Sự phát triển của công nghệ viễn thông kết hợp với
số hóa trong công nghệ phát thanh đã mở ra một cơ hội mới cho phát thanh trên điện thoại di động Hình thức phát thanh này đang dần thay thế hình thức phát thanh truyền thống mang tính thụ động và chất lượng âm thanh không cao, khả năng can nhiễu thấp Trong khi các công cụ nghe radio đang dần bị
“tuyệt chủng”, thì chiếc điện thoại di động với khả năng cơ động, nhỏ gọn là giải pháp thay thế hữu hiệu nhất
Trang 3230
1.2.2 Quy trình sản xuất chương trình phát thanh trên điện thoại di động 3G
So với quy trình sản xuất một chương trình phát thanh truyền thống,
để làm ra một sản phẩm phát thanh trên điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G, các bước trong quy trình sản xuất không khác gì mấy, ngoài sự khác biệt
rõ rệt nhất của phương thức phát sóng Điều này sẽ được minh chứng qua sơ
đồ như sau:
Mạng di động 2G/3G
Hệ thống IVR (Interactive Voice Response)
Tổng đài di động MSC Khách hàng 2G
nxE1
Streaming server
Wap/web server
Storage lưu trữ nội dung Radio on Demand
Live Audio Encoder (thu kênh VoV và mã hóa)
Near Live Audio Encoder (phát các đoạn chương trình thành kênh Radio)
Server quản lý hệ thống, quản lý người dùng.
Cung cấp giao diện đưa nội dung lên hệ thống, giao diện với hệ thống
Hình 1.1 Quy trình sản xuất chương trình phát thanh trên điện thoại 3G
(Nguồn: Đề án Viettel Radio)
Mô tả chức năng các phần tử:
- Live Radio encoder: Thực hiện thu các kênh Radio của Đài tiếng nói Việt Nam, mã hóa thành tín hiệu IP để cung cấp cho hệ thống IVR và hệ thống Streaming server
- Near Live Radio: Thực hiện chức năng phát các nội dung sẵn có (tự sản xuất) theo lịch thành một kênh radio
- Storage: Lưu trữ các nội dung Radio on Demand
- IVR (Interactive Voice Response): Hệ thống cung cấp dịch vụ radio cho khách hàng 2G, kết nối với tổng đài thông qua trung kế nxE1
Trang 3331
- Hệ thống Streaming server: Cung cấp dịch vụ cho khách hàng di động qua kết nối chuyển mạch gói, kết nối với mạng chuyển mạch gói của di động (PS)
- Server quản lý hệ thống: Quản lý thuê bao, cung cấp giao diện đưa nội dung, duyệt nội dung và cung cấp giao diện với hệ thống billing phục
vụ cho tính năng tính cước…
Các chức năng chính:
- Nghe kênh radio trực tiếp
- Nghe nội dung radio, âm nhạc, thông tin… theo yêu cầu
- Download các nội dung theo yêu cầu
- Đăng ký, hủy đăng ký dịch vụ qua tin nhắn SMS
- Sử dụng dịch vụ qua truy cập cổng (Wap portal) hoặc client cài sẵn trên máy
- Chức năng tìm kiếm nội dung
- Hỗ trợ các dòng điện thoại thông dụng của Nokia, Samsung, LG, Iphone…
Để hoàn thành một chương trình radio dưới dạng file âm thanh audio hay video đến thiết bị di động thì có thể hiểu nó được truyền dưới dạng sơ đồ như trên
Khi yêu cầu về sử dụng dịch vụ của khách hàng được gửi về hệ thống, các yêu cầu này sẽ được hệ thống trung tâm gửi lại thiết bị di động thông qua các IP (Internet Protocol)
1.3 Sự phát triển của công nghệ di động và sự ra đời của Viettel Radio
1.3.1 Sự phát triển của công nghệ di động
Xét trên tiêu chuẩn về công nghệ, chiếc điện thoại di động có một lịch
sử phát triển khá dài Khởi đầu từ công nghệ 1G và cho đến nay là công nghệ mới xuất hiện 4G
Trang 3432
Việt Nam đang trong quá trình tiến lên và phát triển công nghệ 3G Thế nhưng 3G và các G tiền nhiệm, và các G tương lai là gì thì không phải ai cũng nắm rõ
G là chữ viết tắt của Generation wireless telephone technology: Công
nghệ điện thoại di động (không dây)
Thế hệ thứ nhất (1G): Là hệ thống truyền tín hiệu
Tín hiệu tương tự analog là mạng điện thoại di động đầu tiên của nhân loại, ra đời ở Nhật năm 1979 Những công nghệ chính thuộc thế hệ thứ nhất này có thể kể đến AMPS (Advanced Mobile Phone System), TACS (Total Access Communication System), JTACS (Japan TACS), NMT (Nordic Mobile Telephone) Những điểm yếu của thế hệ 1G là dung lượng thấp, xác suất rớt cuộc gọi cao, khả năng chuyển cuộc gọi không tin cậy, chất lượng âm thanh kém, không có chế độ bảo mật,…
Thế hệ thứ hai (2G) Điểm khác biệt nổi bật giữa 1G và 2G là sự
chuyển đổi từ điện thoại dùng tín hiệu tương tự (analog) sang tín hiệu số (digital) 2G có thể phân ra 2 loại: 2G dựa trên nền TDMA (Time – Division Multiple Access: đa truy cập phân chia theo thời gian) và 2G dựa trên nền CDMA (Code Division Multiple Access: đa truy cập phân chia theo mã) Các chuẩn công nghệ chủ yếu của 2G bao gồm:
- IS – 136 được biết đến với tên D-AMPS (Digital – AMPS), thuộc TDMA
- IS – 95 còn được gọi là CDMA One thuộc CDMA, thường được gọi ngắn là CDMA
- GSM (Global System for Mobile Communication) thuộc TDMA, được sử dụng trên tất cả các quốc gia trên 6 lục địa Ngày nay, công nghệ GSM được sử dụng với 80% điện thoại di động trên thế giới
Trang 3533
Ưu điểm của 2G là chất lượng cuộc gọi thoại và mức độ bảo mật cá nhân cao, được triển khai một số dịch vụ dữ liệu như Email và SMS Hệ thống kỹ thuật số được thiết kế giảm bớt năng lượng sóng radio phát ra từ điện thoại Nhờ vậy, có thể thiết kế điện thoại 2G nhỏ gọn hơn, đồng thời giảm chi phí đầu tư những trạm phát sóng Tuy nhiên, 2G có nhược điểm là ở những nơi dân cư thưa thớt, sóng kỹ thuật số có thể yếu có thể không tới được các trạm phát sóng nên chất lượng truyền sóng cũng như chất lượng cuộc gọi cũng sẽ bị giảm đáng kể
Thế hệ 2,5G: Được dùng miêu tả hệ thống di động 2G được trang bị
hệ thống chuyển mạch gói bên cạnh hệ thống chuyển mạch kênh truyền thống (Chuyển mạch kênh là thiết lập một kênh vật lý từ đầu đến cuối, chẳng hạn như mạng điện thoại cố định Chuyển mạch gói là các dữ liệu cần chuyển được chia nhỏ ra thành các gói (hay khung) có kích thước và định dạng nhất định Mỗi gói như vậy sẽ được chuyển riêng rẽ và có thể dịch chuyển trong cùng thời điểm Khi toàn bộ các gói dữ liệu đã đến nơi nhận thì chúng sẽ được hợp lại thành dữ liệu ban đầu) Chuẩn chính của 2,5G là GPRS (General Packet Radio Service) và EDGE (Enhanced Data Rates for GSM Evolution)
và IS – 95B GPRS là một bước phát triển tiếp theo để cung cấp dịch vụ dữ liệu tốc độ cao cho người dùng GSM và IS – 136
Thế hệ thứ ba (3G) Mạng 3G là tiêu chuẩn
truyền thông di động băng thông rộng thế hệ thứ 3 tuân thủ theo các chỉ định trong IMT-2000 (International Mobile Telecommunications - 2000) của Tổ chức Viễn thông thế giới Công nghệ 3G cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại (tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh ), với cả hai hệ thống là chuyển mạch gói và chuyển mạch kênh Công nghệ 3G lần đầu tiên xuất hiện
Trang 3634
dưới hình thức thương mại tại Nhật Bản vào năm 2001 Năm 2003, dịch vụ 3G bắt đầu có mặt tại châu Âu Tại châu Phi, mạng 3G được giới thiệu đầu tiên ở Ma-rốc vào cuối tháng 3 năm 2007 Tại Việt Nam, sự xuất hiện của 3G còn khá mới mẻ Tuy nhiên, nhu cầu của người dùng về những ứng dụng mà loại công nghệ này mang lại thực sự là rất “nóng”, không chỉ bởi hiệu ứng lan truyền, mà chủ yếu do những lợi ích thực sự nó có thể đem lại cho người sử dụng Các nhà mạng đã nhanh chóng lựa chọn 3G như một công cụ để thâm nhập vào thế giới truyền thông đại chúng, trong đó nổi bật là ứng dụng báo mạng điện tử, truyền hình và phát thanh trên điện thoại di động 3G
Ưu điểm vượt trội của 3G so với các thế hệ băng thông trước, đó là tốc độ cho phép truyền và nhận các dữ liệu, âm thanh, hình ảnh chất lượng cao cho cả thuê bao cố định và thuê bao đang di chuyển ở các tốc độ khác nhau Tốc độ tối thiểu khi đi bộ hoặc đứng yên là 2Mbps, còn khi đang sử dụng phương tiện giao thông là 384Kbps Tốc độ download dữ liệu trên điện thoại di động có thể lên tới 7.2Mbps
Công nghệ 3G hỗ trợ một phạm vi rộng các ứng dụng, dịch vụ trên nền công nghệ di động mà trước đây chỉ có thể khai thác trên máy tính cá nhân Với công nghệ 3G, các nhà cung cấp có thể mang đến cho khách hàng các dịch vụ đa dạng như: âm nhạc chất lượng cao; chất lượng video sắc nét; xem truyền hình số với hàng loạt kênh truyền hình nội địa và quốc tế; gửi và nhận email với file đính kèm dung lượng lớn; điện thoại truyền hình; các dịch
vụ tìm kiếm địa điểm, bản đồ; theo dõi camera an ninh; điều khiển từ xa; chơi games online; mua sắm và thanh toán các giao dịch trực tuyến; dịch vụ định
vị toàn cầu (GPS) Về nguyên tắc, người dùng di động có hỗ trợ công nghệ 3G giờ đây có thể tiếp cận với các ứng dụng giống như trên các máy tính cá nhân Thậm chí, với tính cơ động, tốc độ, và sự linh hoạt cao hơn hẳn
Trang 3735
Trong các dịch vụ của 3G, cuộc gọi video thường được mô tả như một dịch vụ trọng tâm của sự phát triển Công nghệ 3G cho phép truy cập Internet không dây và các cuộc gọi có hình ảnh Hệ thống 3G yêu cầu một mạng truy cập radio hoàn toàn khác so với hệ thống 2G hiện nay Công nghệ của 3G là UMTS (Universal Mobile Telecommunications System) sử dụng kỹ thuật băng rộng W (Wideband) – CDMA, gồm có UMTS – CDMA2000 và TD-SCDMA
Thế hệ 3,5G: 3,5G là những ứng dụng được nâng cấp dựa trên công
nghệ hiện có của 3G Công nghệ của 3,5G chính là HSDPA (Hight Speed Downlink Package Access) Đây là giải pháp mang tính đột phá về mặt công nghệ, được phát triển dựa trên cơ sở của hệ thống 3G W – CDMA
4G - Thế hệ và công nghệ di động tương lai
2G tuy đã được tối ưu hoá cho các dịch vụ
thoại thời gian thực nhưng chúng có khả năng hạn
chế trong việc cung cấp các dịch vụ đa phương tiện
băng rộng bởi tốc độ truyền dữ liệu chậm và màn
hình hiển thị nhỏ 3G – đang trong quá trình phát
triển với tốc độ dữ liệu nhanh hơn và có màn hiển thị tốt hơn các hệ thống 2G Tuy nhiên, khả năng của hệ thống 3G không thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của các dịch vụ truyền thông đa phương tiện dựa trên Internet Điều này đặt ra là phải có một thế hệ tiếp theo của mạng thông tin di động 4G là một giải pháp để vượt lên những giới hạn và những điểm yếu của mạng 3G
Mặc dù thuật ngữ 4G vẫn chưa được bất kỳ một tổ chức chuẩn hóa nào định nghĩa một cách rõ ràng, tuy nhiên mạng 4G được kỳ vọng với các đặc điểm nổi bật nhất là cung cấp khả năng kết nối ABC (Always Best Connected – luôn luôn được kết nối tốt nhất) Một kết nối vô tuyến đúng nghĩa: rộng khắp, mọi lúc, mọi nơi, không kể mạng thuộc nhà cung cấp nào, không kể người dùng điện thoại di động gì Với 4G, tốc độ Internet không dây
Trang 38Trên nền tảng sự phát triển vượt trội của công nghệ thì các nhà mạng
có thể đáp ứng những dịch vụ cho thiết bị di động phong phú, đa dạng hơn Đồng thời, người sử dụng điện thoại di động cũng có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận với những tiện ích giải trí, những tiện ích phục vụ cho công nghệ… phù hợp với nhu cầu cá nhân
1.3.2 Sự ra đời của Viettel Radio
Để cho sự ra đời một sản phẩm báo chí mới dựa trên những ứng dụng công nghệ, nhóm nghiên cứu Viettel Radio đã dựa trên những vấn đề mấu chốt, đó là:
Theo quy hoạch của chính phủ đến năm 2015 toàn quốc sẽ chuyển sang phát thanh số chứ không truyền phát Analog như trước nữa Nếu đầu tư cho mô hình truyền hình cáp, truyền hình vệ tinh thì yêu cầu chi phí rất tốn kém, khả năng thu hồi vốn rất lâu Trong khi đó, chi phí đầu tư cho Radio lại
ít hơn rất nhiều Khi phân tích chiều hướng phát sóng của VTC cũng như
Trang 3937
truyền hình cáp Việt Nam, nhóm nghiên cứu của Viettel nhận ra có những điểm tương đồng như truyền qua trục cáp quang Họ nhận thấy điện thoại di động hoàn toàn có thể truyền tải được âm thanh và hình ảnh Nhóm nghiên cứu đã phối hợp với Viện Nghiên cứu của Viettel để đưa ra một mô hình phát sóng phù hợp với điều kiện cơ sở hạ tầng sẵn có Mặt khác, sóng điện thoại của Viettel lại có thể truyền tải âm thanh chất lượng cao Đó là một lợi thế mà không phải bất cứ công ty viễn thông nào cũng có
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu nhận thấy mặc dù, cả nước có 288 trạm phát sóng FM, 11 trạm phát sóng Đài phát cấp phường, xã, thế nhưng chỉ có 36% dân số ở 6 thành phố lớn nghe đài hằng ngày Trong khi đó, mạng viễn thông Viettel hiện nay phủ sóng khắp cả nước, tới cả những vùng xa xôi, biên giới, hải đảo… Toàn bộ người dân ở bất kỳ đâu cứ có sóng điện thoại là có thể nghe được Radio
Vấn đề cần tìm lời giải là tại sao hiện nay ở nước ta có rất nhiều kênh phát thanh với các sự lựa chọn khác nhau như Đài tiếng nói Việt Nam, các đài phát thanh địa phương, đến các kênh phát thanh qua mạng Internet… nhưng chưa thể đáp ứng được nhu cầu thông tin của công chúng, chưa thu hút được đông đảo thính giả, chưa tạo ra được sự hứng thú, thói quen cho người nghe
Cửa ngõ phát thanh trên điện thoại di động 3G có rất nhiều tiềm năng
mà chưa nhà mạng nào khai thác Đó chính là con đường tất yếu cho Viettel Radio ra đời Trải qua một quá trình thai nghén và chuẩn bị lâu dài, chương trình đầu tiên của Viettel Radio đã được phát sóng vào ngày 02/09/2010, đánh dấu sự xuất hiện của kênh phát thanh trên điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G đầu tiên tại Việt Nam
Viettel Radio do Ban dự án phát thanh – truyền hình Viettel (thuộc phòng chiến lược kinh doanh – Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel) đầu tư thực hiện và trực tiếp quản lý trong thời gian thử nghiệm Sau khi thử nghiệm
Trang 4038
thành công, chuyển sang giai đoạn kinh doanh, toàn bộ nội dung, đội ngũ nhân viên và hạ tầng kỹ thuật được chuyển giao cho Trung tâm phát triển nội dung Viettel nay là Trung tâm Media tiếp quản Viettel Radio đã trải qua 3 tháng thử nghiệm và quá trình hơn 5 năm phát sóng kinh doanh
1.3.3 Các giai đoạn phát triển của Viettel Radio
Giai đoạn thử nghiệm (09-2010 đến 11-2010)
Do tính chất, mục đích của việc làm phát thanh là để kinh doanh và thu lợi nhuận nên Viettel Radio chỉ được đầu tư và phát sóng thử nghiệm (miễn phí) trong khoảng thời gian 3 tháng (từ 2/9/2010 đến hết tháng 11/2010) Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về vốn, cơ sở hạ tầng vật chất
kỹ thuật cũng như nhân lực, lại đối mặt với những thách thức về việc làm sao
để thu hút thính giả và tạo chỗ đứng, Viettel Radio đã tập trung sản xuất 5 chuyên mục lớn bao gồm Bản tin tổng hợp, Hộp âm nhạc, Sách nói, Radio Blog và Diễn đàn theo một fomat riêng và hoàn toàn khác biệt Sở dĩ, Viettel Radio lựa chọn những chuyên mục này bởi đây là những nội dung phổ biến, được nhiều người quan tâm nhưng lại chưa có kênh phát thanh nào thể hiện theo phương thức mới Trong quá trình sản xuất, phát sóng do nhu cầu của thính giả cũng như đánh giá hiệu quả mang lại, Viettel Radio đã có những thay đổi, điều chỉnh về nội dung như thay đổi tên chuyên mục, bổ sung thêm các chương trình/chuyên mục mới, trong đó có chuyên mục “Tình yêu giới tính”, và dừng sản xuất những chuyên mục không phát triển (Diễn đàn)
Sau khi ra đời, cũng do vấn đề kinh phí, thời gian đầu tiên các chương trình của Viettel Radio được đặt nhờ trên trang chủ MobiTv.vn, (wap site xem truyền hình trên điện thoại di động 3G của Viettel) với một đường link có tên Mobitv.vn/Radio Đây là sợi dây đầu tiên báo hiệu sự xuất hiện của Viettel Radio, cũng là đầu mối duy nhất để thính giả biết đến