Tăng trưởng kinh tế một mặt góp phần tích cực cho sự phát triển của đất nước, mặt khác đã làm phát sinh lượng CTR ngày càng lớn từ quá trình sản xuất, kinhh doanh, dịch vụ, trong đó có c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯƠNG THÚY MAI
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI Ở VIỆT NAM:
TRƯỜNG HỢP CHẤT THẢI BÓNG ĐÈN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội – Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯƠNG THÚY MAI
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI Ở VIỆT NAM:
TRƯỜNG HỢP CHẤT THẢI BÓNG ĐÈN
Chuyên ngành: Môi trường trong Phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRẦN YÊM
Hà Nội – Năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc, các thầy giáo, cô giáo tại Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện và nghiên cứu vừa qua Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS.TS Trần Yêm, thầy đã luôn quan tâm hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này Ngoài ra, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu là của riêng cá nhân tác giả; các số liệu là trung thực, không sử dụng số liệu của các tác giả khác chưa được công bố; và các kết quả nghiên cứu của tác giả chưa từng được công bố
Hà nội, ngày 15 tháng 12 năm 2015 Học viên
Trương Thúy Mai
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan về chất thải nguy hại 4
1.1.1 Khái niệm về chất thải và chất thải nguy hại 4
1.1.2 Các tính chất của chất thải nguy hại 5
1.1.3 Phân loại chất thải nguy hại 6
1.1.4 Mối nguy hại của chất thải nguy hại với môi trường và con người 8
1.1.5 Tổng quan về tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam 10
1.2 Bóng đèn thải bỏ - Một loại chất thải nguy hại 18
1.2.1 Các loại bóng đèn 18
1.2.2 Các vấn đề về sức khỏe và an toàn liên quan đến thủy ngân trong bóng đèn 23
1.2.3 Vòng đời của bóng đèn 24
1.2.4 Thị trường bóng đèn hiện nay tại Việt Nam 27
1.2.5 Nguồn phát sinh chất thải bóng đèn 28
1.2.6 Sự cần thiết của việc thu hồi, xử lý và tái chế bóng đèn 29
1.2.7 Tình hình thu gom và xử lý bóng đèn thải bỏ tại Việt Nam 30
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 32
2.2.2 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin 33
2.2.3 Phương pháp chuyên gia 34
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 34
Trang 6CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Chính sách, pháp luật về thu hồi và xử lý các sản phẩm thải bỏ trong đó có bóng đèn tại Việt Nam 34
3.2 Hiện trạng công nghệ xử lý bóng đèn thải 42
3.2.1 Khái quát công nghệ xử lý chất thải nguy hại ở Việt Nam 42
3.2.2 Danh sách, kết quả điều tra khảo sát công nghệ xử lý bóng đèn CFL tại một số cơ sở xử lý chất thải nguy hại 43
3.2.3 Hiện trạng công nghệ xử lý bóng đèn của các cơ sở điều tra, khảo sát
52
3.2.4 Đánh giá ưu, nhược điểm của các công nghệ xử lý bóng đèn thải đang áp dụng 66
3.2.5 Đánh giá hiệu quả của các công nghệ xử lý bóng đèn đang áp dụng 70
3.3 Thị trường tái chế và xử lý chất thải nguy hại trong đó có bóng đèn thải bỏ ở Việt Nam 71
3.3.1 Thực trạng thị trường tái chế, xử lý bóng đèn thải bỏ 71
3.3.2 Năng lực nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và chế tạo thiết bị trong hoạt động tái chế chất thải của Việt Nam 72
3.4 Đánh giá chung 74
3.5 Đề xuất cơ chế thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất trong thu hồi, xử lý bóng đèn thải bỏ 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 87
PHỤ LỤC 1 DANH SÁCH DOANH NGHIỆP XỬ LÝ CHẤT THẢI
BÓNG ĐÈN 87
PHỤ LỤC 2 MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA 102
Trang 7PHỤ LỤC 3 PHIẾU TRẢ LỜI CỦA DOANH NGHIỆP ĐIỀU TRA Error!
Bookmark not defined.
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
BVMT Bảo vệ môi trường
CTR Chất thải rắn
CFL Bóng đèn compact huỳnh quang CTNH Chất thải nguy hại
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
KCN Khu công nghiệp
SXKD Sản xuất kinh doanh
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TNMT Tài nguyên và Môi trường
URENCO Công ty Môi trường đô thị
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Mối nguy hại của CTNH đối với môi trường và con người 9
Bảng 1.2 Khối lượng chất thải nguy hại được thu gom, xử lý trên toàn quốc năm 2012 - 2014 16
Bảng 1.3 Tóm tắt các đặc điểm của đèn sợi đốt 19
Bảng 1.4 Tóm tắt các đặc điểm của đèn Halogen Vonfram 20
Bảng 1.5 Tóm tắt các đặc điểm của đèn CFL 21
Bảng 1.6 Tóm tắt các đặc điểm của đèn LED 22
Bảng 1.7 So sánh các loại đèn: Các thông số về giá, tuổi thọ và sản xuất 22
Bảng 3.1 Một số công nghệ xử lý CTNH phổ biến ở Việt Nam 42
Bảng 3.2 Kết quả điều tra khảo sát công nghệ xử lý bóng đèn CFL tại một số cơ sở xử lý CTNH 45
Bảng 3.3 Các thiết bị trong dây chuyền xử lý bóng đèn của Công ty Lilama 52
Bảng 3.4 Thông số kỹ thuật của hệ thống xử lý bóng đèn của Công ty Thanh Tùng 2 54
Bảng 3.5 Danh mục thiết bị của hệ thống xử lý bóng đèn của
công ty Thuận Thành 60
Bảng 3.6 Danh mục thiết bị của hệ thống xử lý bóng đèn của công ty Việt Khải 64
Bảng 3.7 So sánh các công nghệ xử lý bóng đèn hiện nay tại Việt Nam 67
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ Vòng đời sản phẩm 25
Hình 3.1 Sơ đồ quy trình công nghệ hệ thống xử lý đèn huỳnh quang 51
Hình 3.2 Sơ đồ quy trình công nghệ quy trình hệ thống xử lý bóng đèn của Công ty Thanh Tùng 2 54
Hình 3.3 Sơ đồ quy trình công nghệ xử lý bụi và hơi thủy ngân của Công ty Thanh Tùng 2 56
Hình 3.4 Sơ đồ xử lý bóng đèn của Công ty Sao Việt 58
Hình 3.5 Sơ đồ công nghệ xử lý bóng đèn thải bỏ của Công ty Thuận Thành 59
Hình 3.6 Quy trình công nghệ xử lý bóng đèn tại Công ty Tân Thuận Phong 61
Hình 3.7 Quy trình công nghệ xử lý bóng đèn tại Công ty MT đô thị TP.HCM 62
Hình 3.8 Quy trình công nghệ xử lý bóng đèn tại Công ty Việt Khải 64
Hình 3.9 Hệ thống phân phối đảo ngƣợc đơn giản hóa 76
Hình 3.10 Hệ thống dựa trên các cơ sở thu gom chuyên nghiệp 77
Hình 3.11 Hệ thống thu gom đƣợc hỗ trợ bởi nhà sản xuất 78
Hình 3.12 Hệ thống phân phối đảo ngƣợc hoàn chỉnh 79
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, với
sự hình thành, phát triển của các ngành nghề sản xuất, sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu, năng lượng làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước Tuy nhiên, đi kèm với đó là nỗi lo về môi trường, đặc biệt là vấn đề chất thải rắn (CTR) như chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp, chất thải y tế, chất thải xây dựng Hiện nay, việc thu gom, xử lý các sản phẩm thải bỏ do các cơ sở thu gom của Nhà nước và tư nhân cùng các hộ gia đình, cá nhân tại các làng nghề tái chế thực hiện Thực tế cho thấy các hoạt động này đã và đang bộc lộ nhiều rủi ro tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu ý thức, thiếu các kiến thức về quản lý môi trường, chỉ quan tâm đến các lợi ích kinh tế trước mắt, bỏ qua các lợi ích môi trường Bởi vậy, ô nhiễm môi trường đang ngày càng xảy ra nghiêm trọng tại các làng nghề, các cơ sở tái chế ở nước ta hiện nay Một trong những nguyên nhân nữa là hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) của Việt Nam vẫn còn chưa đồng bộ, chưa có các chính sách, công cụ kinh tế phù hợp để gắn trách nhiệm các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong hoạt động thu hồi và xử lý các sản phẩm hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ
Tăng trưởng kinh tế một mặt góp phần tích cực cho sự phát triển của đất nước, mặt khác đã làm phát sinh lượng CTR ngày càng lớn từ quá trình sản xuất, kinhh doanh, dịch vụ, trong đó có chất thải nguy hại (CTNH) liên quan đến bóng đèn Tại Việt Nam, sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất bóng đèn cũng nằm trong xu hướng phát triển chung của thế giới và lượng chất thải phát sinh theo
đó cũng ngày một tăng, nguy cơ bùng nổ chất thải bóng đèn là không tránh khỏi Tuy nhiên, việc quản lý chất thải nguy hại trong nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện, đặc biệt là chất thải bóng đèn vẫn chưa thực sự được quan tâm và có các biện pháp quản lý và xử lý phù hợp
Trang 12Nhận thấy vai trò quan trọng của công tác quản lý CTNH và trên cơ sở ứng
dụng các phương pháp nghiên cứu, Luận văn “Nghiên cứu, đánh giá chính sách
quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam: trường hợp chất thải bóng đèn” được
thực hiện nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về việc thực hiện chính sách quản lý CTNH ở Việt Nam, trên cơ sở đó bước đầu đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chất thải nguy hại với trường hợp cụ thể là bóng đèn thải
bỏ, trọng tâm là bóng đèn compact huỳnh quang - loại bóng đèn nguy hại nhất
2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá công tác quản lý bóng đèn thải ở Việt Nam;
Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý chất thải nguy hại (trường hợp bóng đèn thải bỏ)
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu, đánh giá chính sách quản lý chất thải nguy hại và bóng đèn thải bỏ tại Việt Nam (tính đến 31/12/2014), trong đó, trọng tâm là bóng đèn compact huỳnh quang - loại bóng đèn nguy hại nhất
3 Nội dung nghiên cứu và Cấu trúc luận văn
3.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1:
Tổng quan hệ thống chính sách pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
ở Việt Nam
Nội dung 2:
Trang 13 Rà soát và đánh giá tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về mở rộng trách nhiệm của nhà sản xuất trong việc thu hồi và xử lý các sản phẩm thải bỏ, trong đó có bóng đèn ở Việt Nam
Đánh giá khó khăn, bất cập đối với đơn vị xử lý chất thải bóng đèn;
Thực trạng thị trường tái chế, xử lý và cơ hội phát triển dịch vụ xử lý chất thải bóng đèn cho Việt Nam
Nội dung 5:
Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý bóng đèn thải bỏ
3.2 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, cấu trúc của Luận văn gồm 3 Chương:
Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về chất thải nguy hại
1.1.1 Khái niệm về chất thải và chất thải nguy hại
Chất thải
Theo định nghĩa của Công ước Basel [1989] về Kiểm soát Chất thải Xuyên biên giới và việc Tiêu hủy chúng (gọi tắt là Công ước Basel): chất thải là “Những chất hoặc vật thể bị thải bỏ, hoặc chuẩn bị bị thải bỏ hoặc bị các điều khoản của luật pháp quốc gia yêu cầu phải thải bỏ”
Theo Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2014, “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” [10]
Chất thải nguy hại
Công ước Basel [1989] không đưa ra một định nghĩa cụ thể về CTNH mà đưa ra các phụ lục trong Công ước, trong đó xác định những chất thuộc Phụ lục 1 và
có ít nhất một thuộc tính trong Phụ lục 3, hoặc các chất do nước sở tại quy định trong luật pháp của nước đó, được coi là CTNH
Theo Luật BVMT năm 2014: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố
độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác” [10] Định nghĩa về CTNH trong Luật BVMT nhìn chung là
đầy đủ và phù hợp trong điều kiện bối cảnh nghiên cứu là Việt Nam, vì vậy, tác giả thống nhất sử dụng định nghĩa này làm định nghĩa chung cho CTNH trong luận văn Trong phạm vi của luận văn, CTNH được đề cập là CTNH dạng rắn
Theo thông tư 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 Quy định về quản lý chất thải nguy hại (được thay thế bằng Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT, tuy nhiên tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT đã bỏ mục Giải thích từ ngữ, trong đó có khái niệm Quản lý CTNH) [6]:
Quản lý CTNH là các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu,
phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH
Trang 15Vận chuyển CTNH là quá trình chuyên chở CTNH từ nơi phát sinh đến nơi
xử lý, có thể kèm theo việc thu gom, đóng gói, bảo quản, lưu giữ tạm thời, trung chuyển, sơ chế CTNH
Xử lý CTNH là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật nhằm biến đổi, loại bỏ, cách ly, tiêu huỷ hoặc phá huỷ tính chất, thành phần nguy hại của CTNH (kể cả việc tái chế, tận thu, thiêu đốt, đồng xử lý, cô lập, chôn lấp) với mục đích cuối cùng là không gây tác động xấu đến môi trường và sức khoẻ con người
Sơ chế CTNH là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật cơ-lý đơn thuần nhằm thay đổi tính chất vật lý như kích thước, độ ẩm, nhiệt độ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển, xử lý hoặc nhằm phối trộn hoặc tách riêng các thành phần của CTNH cho phù hợp với các phương pháp xử lý khác nhau
Tái sử dụng trực tiếp CTNH là việc trực tiếp sử dụng lại các CTNH có
nguồn gốc là các phương tiện, thiết bị, sản phẩm hoặc vật liệu, hoá chất đã qua sử dụng thuộc danh mục quy định tại Phụ lục 8 kèm theo Thông tư này theo đúng mục đích sử dụng ban đầu của phương tiện, thiết bị, sản phẩm hoặc vật liệu, hoá chất đó
mà không qua bất kỳ khâu xử lý hay sơ chế nào
1.1.2 Các tính chất của chất thải nguy hại
Tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Quản lý Chất thải nguy hại, các tính chất nguy hại chính được tóm tắt như sau [7]:
- Dễ nổ (N): Các chất thải ở thể rắn hoặc lỏng mà bản thân chúng có thể nổ do kết quả của phản ứng hoá học (tiếp xúc với ngọn lửa, bị va đập hoặc ma sát), tạo ra các loại khí ở nhiệt độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trường xung quanh
- Dễ cháy (C): Các chất thải dễ cháy được định nghĩa bao gồm:
Chất thải lỏng dễ cháy: là các chất lỏng, hỗn hợp chất lỏng hoặc chất lỏng chứa chất rắn hoà tan hoặc lơ lửng có nhiệt độ chớp cháy không quá 550°C;
Chất thải rắn dễ cháy: là các chất rắn có khả năng sẵn sàng bốc cháy hoặc phát lửa do bị ma sát trong các điều kiện vận chuyển;
Chất thải có khả năng tự bốc cháy: là chất rắn hoặc lỏng có thể tự nóng lên trong điều kiện vận chuyển bình thường, hoặc tự nóng lên do tiếp xúc với không khí và có khả năng bắt lửa
Trang 16- Ăn mòn (AM): Các chất thải, thông qua phản ứng hoá học, sẽ gây tổn thương nghiêm trọng các mô sống khi tiếp xúc, hoặc trong trường hợp rò rỉ sẽ phá huỷ các loại vật liệu, hàng hoá và phương tiện vận chuyển Thông thường đó là các chất hoặc hỗn hợp các chất có tính axit mạnh (pH nhỏ hơn hoặc bằng 2), hoặc kiềm mạnh (pH lớn hơn hoặc bằng 12,5)
- Oxi hoá (OH): Các chất thải có khả năng nhanh chóng thực hiện phản ứng oxy hoá toả nhiệt mạnh khi tiếp xúc với các chất khác, có thể gây ra hoặc góp phần đốt cháy các chất đó
- Gây nhiễm trùng (NT): Các chất thải chứa các vi sinh vật hoặc độc tố được cho là gây bệnh cho con người và động vật
- Có độc tính (Đ): Các chất thải có độc tính bao gồm:
Độc tính cấp: Các chất thải có thể gây tử vong, tổn thương nghiêm trọng hoặc có hại cho sức khoẻ qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua da;
Độc tính từ từ hoặc mãn tính: Các chất thải có thể gây ra các ảnh hưởng
từ từ hoặc mãn tính, kể cả gây ung thư, do ăn phải, hít thở phải hoặc ngấm qua da
- Có độc tính sinh thái (ĐS): Các chất thải có thể gây ra các tác hại ngay lập tức hoặc từ từ đối với môi trường, thông qua tích luỹ sinh học và/ hoặc tác hại đến các hệ sinh vật
Những tính chất được liệt kê ở đây cũng tương đồng với những tính chất được liệt kê ở Phụ lục 3 của Công ước Basel
1.1.3 Phân loại chất thải nguy hại
CTNH có thể được phân loại theo 2 cách cơ bản là theo đặc tính và theo nguồn phát sinh Tuy nhiên, việc phân loại theo đặc tính gặp nhiều khó khăn bởi một CTNH có thể có nhiều hơn một đặc tính nguy hại Do đó, cách thức phân loại theo nguồn phát sinh (theo danh mục) là cách thức phổ biến hơn trên thế giới
Tại Hoa Kỳ, CTNH được phân thành các loại sau [17]:
CTNH đã được đưa vào danh mục: những chất thải đã được Cục Bảo vệ môi trường (EPA) xác định là CTNH, được đưa vào danh mục và công bố rộng rãi Các danh mục bao gồm:
Trang 17 Danh mục F (CTNH từ những nguồn không đặc thù): danh mục này nhằm giúp xác định CTNH từ các quá trình công nghiệp và sản xuất thông thường, ví dụ như dung môi đã sử dụng để tẩy rửa hoặc khử dầu mỡ Do các quá trình làm phát sinh ra các chất thải này có thể diễn ra trong nhiều ngành khác nhau nên các CTNH thuộc danh mục F còn được gọi là chất thải từ những nguồn không đặc thù
Danh mục K (CTNH từ những nguồn đặc thù): danh mục này nhằm giúp xác định CTNH từ các ngành công nghiệp đặc thù như lọc dầu hoặc sản xuất thuốc BVTV CTNH thuộc danh mục này có thể là một số loại bùn và nước thải từ các quá trình sản xuất và xử lý thuộc các ngành công nghiệp đặc thù này
Danh mục U (các sản phẩm hóa chất thương mại bị thải bỏ): danh mục này bao gồm các sản phẩm hóa chất thương mại đặc thù khi được đưa vào tình trạng không sử dụng Một số loại thuốc BVTV hoặc dược phẩm có thể trở nên nguy hại khi bị thải bỏ
CTNH đặc tính: các chất thải không nằm trong các danh sách nêu trên nhưng thể hiện một hoặc hơn một tính chất nguy hại như là dễ cháy, ăn mòn, phản ứng hoặc độc
CTNH được công nhận rộng rãi: ắc quy, thuốc bảo vệ thực vật, thiết bị chứa thủy ngân (như nhiệt kế) và các loại bóng đèn (như là đèn compact huỳnh quang)
CTNH hỗn hợp: những chất thải vừa có tính phóng xạ vừa có các tính chất nguy hại
Đối với Liên minh châu Âu (EU), việc phân loại CTNH được dựa trên Catalô Chất thải châu Âu, được chỉnh sửa mới nhất vào năm 2009 [13], trong đó chất thải (và CTNH) được chia thành các nhóm ký hiệu từ 01 đến 20 dựa theo nguồn phát sinh Đây là cách tiếp cận được Việt Nam áp dụng để xây dựng danh mục CTNH (ban hành theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT, Phụ lục 1, mục B), trong đó CTNH có thể phân loại thành các nhóm như sau [7]:
01 Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí và than
02 Chất thải từ ngành sản xuất hoá chất vô cơ
Trang 1803 Chất thải từ ngành sản xuất hoá chất hữu cơ
04 Chất thải từ nhà máy nhiệt điện và các quá trình nhiệt khác
05 Chất thải từ quá trình luyện kim
06 Chất thải từ quá trình sản xuất thuỷ tinh và vật liệu xây dựng
07 Chất thải từ quá trình xử lý, che phủ bề mặt, tạo hình kim loại và các vật liệu khác
08 Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng và sử dụng các sản phẩm che phủ (sơn, véc ni, men thuỷ tinh), keo, chất bịt kín và mực in
09 Chất thải từ ngành chế biến gỗ, sản xuất các sản phẩm gỗ, giấy và bột giấy
10 Chất thải từ ngành da, lông và dệt nhuộm
11 Chất thải xây dựng và phá dỡ (kể cả đất đào từ các khu vực bị ô nhiễm)
12 Chất thải từ các cơ sở quản lý chất thải, xử lý nước thải tập trung, xử lý nước cấp sinh hoạt và công nghiệp
13 Chất thải từ ngành y tế và thú y
14 Chất thải từ các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
15 Chất thải từ hoạt động phá dỡ thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã hết hạn sử dụng
16 Chất thải hộ gia đình và chất thải sinh hoạt từ các nguồn khác
17 Dầu thải, chất thải từ nhiên liệu lỏng, chất thải dung môi hữu cơ, môi chất lạnh và chất đẩy
18 Các loại chất thải bao bì, chất hấp thụ, giẻ lau, vật liệu lọc và vải bảo vệ
19 Các loại chất thải khác
Theo danh mục này, CTNH có thể được tiếp tục chia ra thành các nhóm phụ
từ các nhóm nêu trên
1.1.4 Mối nguy hại của chất thải nguy hại với môi trường và con người
Mối nguy hại của CTNH đối với môi trường và con người được tổng hợp dưới bảng sau:
Trang 19Bảng 1.1 Mối nguy hại của CTNH đối với môi trường và con người
cháy Chất nổ, gây bỏng, tử vong
Chất gây ô nhiễm không khí
từ nhẹ đến nặng, chất gây ô nhiễm nước nghiêm trọng
4 Chất rắn dễ cháy Hỏa hoạn, gây bỏng, tử
vong
Thường giải phóng các sản phẩm cháy độc hại
5 Tác nhân oxy
hóa
Các phản ứng hóa học gây hỏa hoạn, cháy nổ, ảnh hưởng da, tử vong
Chất gây ô nhiễm không khí, chất có khả năng gây nhiễm độc cho nước
6 Chất độc
Chất độc Ảnh hưởng mãn tính và cấp
tính đến sức khỏe
Chất gây ô nhiễm nước nghiêm trọng
Trang 20TT Tên nhóm Nguy hại đối với người
tiếp xúc
Nguy hại đối với môi trường
Chất lây nhiễm Lan truyền bệnh
Một vài hậu quả môi trường gây ra hình thành nguy cơ lan truyền bệnh
7 Chất phóng xạ
Tổn thương các tổ chức máu, gây các bệnh về máu, viêm da, hoại tử xương, đột biến gen,.v.v
Gây ô nhiễm đất, mức phóng xạ tăng và các hậu quả
8 Chất ăn mòn Ăn mòn, cháy da, ảnh
hưởng phổi và mắt
Ô nhiễm nước và không khí, gây hư vật liệu
Nguồn: [Nguyễn Đức Khiển, 2012]
Các khái niệm và đặc tính nêu trên là các thông tin cơ bản nhất về chất thải
nguy hại, ngoài ra nó còn là căn cứ quan trọng cho việc xác định, phân loại chất thải
nguy hại Đây là một phần của công tác quản lý chất thải nguy hại ngay tại các cơ
sở phát sinh, góp phần thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường nói chung cũng như
công tác quản lý chất thải nguy hại nói riêng
1.1.5 Tổng quan về tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
1.1.5.1 Một số văn bản pháp luật liên quan đến quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014
- Nghị định số số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính
phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường
- Nghị định số 59/2007/ND-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ
ban hành quy định về hoạt động quản lý chất thải rắn, quyền hạn và trách nhiệm của
các cá nhân, tổ chức liên quan đến quản lý chất thải rắn
- Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ
về phí BVMT đối với chất thải rắn
Trang 21- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu
- Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10 tháng 7 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý CTR tại các KCN và khu đô thị đến năm 2020
- Quyết định 60/2002/QD-BKHCNMT ngày 7 tháng 8 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường về việc ban hành hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp CTNH
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế
- Quyết định số 1440/2008/QĐ-TTg ngày 6 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Kế hoạch các cơ sở xử lý chất thải tại ba vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc, Trung, Nam đến năm 2020
- Quyết định số 2149/2009/QD-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm
- Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg ngày 21 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh công tác quản lý CTR tại các khu đô thị và công nghiệp
Trang 22- Thông tư liên Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường và Bộ Xây dựng số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày 18 tháng 1 năm 2001 hướng dẫn các quy định về bảo vệ môi trường đối với việc chọn lựa địa điểm, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn
- Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số điều của Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn
- Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho quản lý CTR
- Thông tư số: 82/2015/TT-BTC ngày 28/5/2015 của Bộ Tài chính về Bãi bỏ Thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày 19/5/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất rắn
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 30/6/2015 về quản lý chất thải nguy hại
- Thông tư số 41/2015/TT-BTNMT, ngày 09/9/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
- TCXDVN 261:2001 - Bãi chôn lấp - Tiêu chuẩn thiết kế
- TCVN 7380:2004 - Lò đốt CTR y tế - Yêu cầu kỹ thuật
- TCVN 7381:2004 - Lò đốt CTR y tế - Phương pháp đánh giá và thẩm định
- TCXDVN 320:2004 - Bãi chôn lấp CTNH - Tiêu chuẩn thiết kế
- TCVN 6696:2009 - Chất thải rắn Bãi chôn lấp hợp vệ sinh Yêu cầu chung
về bảo vệ môi trường
- TCVN 6705:2009 - Chất thải rắn thông thường Phân loại
- TCVN 6706:2009 – Chất thải nguy hại Phân loại
- TCVN 6707:2009 - Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa CTNH
- QCVN 07:2009/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡ ng chất thải nguy hại
Trang 23- QCVN 25:2009 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải của bãi chôn lấp chất thải rắn đô thị
- QCVN 07:2010/BXD - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia các công trình hạ tầng
kỹ thuật đô thị, Chương 9 Hệ thống thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý CTR và nhà vệ sinh công cộng
- QCVN 41: 2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đồng xử lý chất thải nguy hại trong lò nung xi măng
- QCVN 02:2012/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt CTR y tế
- QCVN 30:2012/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải công nghiệp
- QCVN 56:2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tái chế dầu thải
1.1.5.2 Thực trạng quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
a Hiện trạng phát sinh chất thải nguy hại
Theo báo cáo môi trường Quốc gia 2011, CTNH chiếm khoảng 15 – 20% lượng chất thải rắn, đây là nguồn ô nhiễm tiềm tàng rất đáng lo ngại cho môi trường
và sức khỏe cộng đồng CTNH phát sinh từ các khu công nghiệp của khu vực phía Nam khoảng 82.000 – 134.000 tấn/năm gấp 3 lần miền Bắc và khoảng 20 lần miền Trung [4] Thực tế, lượng phát sinh CTNH này có thể lớn hơn do chưa được quản lý đúng cách và thống kê đầy đủ Nhiều loại CTNH được thu gom cùng chất thải sinh hoạt rồi đổ tập trung vào bãi rác công cộng
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế (2013), hiện cả nước có 13.511 cơ sở y tế các loại bao gồm: 1.361 cơ sở khám, chữa bệnh thuộc các tuyến Trung ương, tỉnh, huyện, bệnh viện ngành và bệnh viện tư nhân; 789 cơ sở thuộc hệ dự phòng tuyến Trung ương, tỉnh và huyện; 77 cơ sở đào tạo y dược tuyến Trung ương, tỉnh; 180 cơ
sở sản xuất thuốc và 11.104 trạm y tế xã Tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các
cơ sở y tế vào khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có 47 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại phải được xử lý bằng những biện pháp phù hợp Tổng lượng nước thải y tế phát sinh tại các cơ sở khám, chữa bệnh cần xử lý khoảng 125.000 m3/ngày chưa kể
Trang 24lượng nước thải của các cơ sở y tế thuộc hệ dự phòng, các cơ sở đào tạo y dược, sản xuất thuốc và cơ sở y tế thuộc Bộ, ngành, chất thải trong đó từ 10 - 15% là chất thải độc hại, dễ gây nguy hiểm cần được xử lý theo quy định đặc biệt, bao gồm các chất tiết dịch, bông băng, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất, các chất phóng xạ và cả các bộ phận của cơ thể người bị cắt bỏ sau phẫu thuật [11]
b Hiện trạng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại
Tình hình thu gom:
Thu gom từ nguồn thải công nghiệp tại một số tỉnh, thành phố
Việc thu gom chất thải ở Việt Nam chủ yếu do các Công ty Môi trường đô thị cấp tỉnh/thành phố thực hiện, có trách nhiệm thu gom và xử lý rác đô thị, bao gồm chất thải công nghiệp và chất thải rắn nguy hại Công ty Môi trường đô thị (URENCO) Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và CITENCO Hồ Chí Minh đã được cấp phép để thu gom và vận chuyển chất thải công nghiệp nguy hại Lượng CTNH còn lại do các công ty/doanh nghiệp tư nhân được cấp phép đảm trách việc thu gom, vận chuyển
Một số KCN có cơ sở hạ tầng và công ty dịch vụ thuộc Ban quản lý các KCN phụ trách công tác thu gom chất thải Tỷ lệ thu gom chất thải công nghiệp trung bình đang tăng lên cả ở trong và ngoài KCN, nhưng vẫn còn thấp ở một số thành phố Chưa có số liệu đầy đủ về tỷ lệ thu gom chất thải công nghiệp ở từng thành phố của Việt Nam Tỷ lệ thu gom tại các KCN tương đối cao hơn so với bên ngoài KCN
Thu gom từ nguồn thải nông nghiệp
Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành nông nghiệp, công nghiệp… vấn đề ô nhiễm môi trường do sử dụng tùy tiện các loại hóa chất bảo vệ thực vật đang trở nên nghiêm trọng Trong thời gian qua công tác tổ chức thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý các loại hóa chất, vỏ bao bì hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu đã bị cấm sử dụng, quá hạn và hỏng đã được nhiều tỉnh, thành phố thực hiện như: Nghệ An, Tuyên Quang, Vĩnh Long [8]
Thu gom từ nguồn thải y tế
Theo thống kê của Bộ Y tế, có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải y tế và 90,9% bệnh viện thực hiện thu gom hàng ngày [4]
Trang 25Chất thải y tế phải được chứa trong các thùng đựng chất thải nhưng chỉ có một số ít bệnh viện đáp ứng được quy định này Kết quả điều tra của Bộ Y tế cho thấy có 53% bệnh viện có xe vận chuyển chất thải y tế có nắp đậy, 53,4% bệnh viện
có nơi lưu giữ chất thải y tế có mái che, trong đó chỉ có 45,3% là đạt yêu cầu theo quy chế [8]
Đối với công tác thu gom chất thải y tế, hầu hết các bệnh viện sử dụng thùng nhựa có bánh và/hoặc xe tay để thu gom và vận chuyển chất thải tại chỗ Xe tay và thùng có bánh có thể được sử dụng đồng thời tại một số bệnh viện Chất thải được lưu giữ trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên ngoài bệnh viện Theo kết quả khảo sát của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đối với 172 bệnh viện trong cả nước năm 2010 cho thấy chỉ gần 1/3 các bệnh viện có khu vực lưu giữ được trang bị điều hoà và hệ thống thông gió theo quy định, 31 bệnh viện sử dụng phòng chung để lưu giữ chất thải tạm thời và 45 bệnh viện sử dụng phòng không có
hệ thống điều hoà và thông gió Đáng chú ý hơn là 30 bệnh viện không có phòng lưu giữ chất thải riêng cho chất thải y tế Đặc biệt, một nửa trong số bệnh viện tại Thừa Thiên Huế không có khu vực lưu giữ chất thải y tế [8] Kết quả này cho thấy mặc dù việc phân loại rác tại nguồn tương đối tốt, nhưng bước quản lý tại chỗ tiếp theo như thu gom và lưu giữ còn bộc lộ nhiều hạn chế tại các bệnh viện
Hiện tại, hầu hết các bệnh viện trong cả nước đều ký hợp đồng xử lý chất thải y tế với các công ty môi trường đô thị của tỉnh/thành phố từ khâu vận chuyển đến xử lý cuối cùng
Tình hình xử lý
Theo Báo cáo Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ IV (tháng 9/2015), tính đến tháng 6 năm 2015, trên cả nước có 83 doanh nghiệp với 56 đại lý có địa bàn hoạt động từ hai tỉnh trở lên được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép xử lý chất thải nguy hại; khoảng 130 đơn vị, chủ yếu là đơn vị vận chuyển chất thải nguy hại
do các địa phương cấp phép đang hoạt động Các cơ sở xử lý chất thải nguy hại là doanh nghiệp tư nhân chiếm 97% tổng số doanh nghiệp xử lý chất thải do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép hoạt động Công suất xử lý của các cơ sở được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép là khoảng 1.300 tấn/năm, đóng vai trò chính
Trang 26trong việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại trên phạm vi cả nước [5] Việc phát triển các doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo cơ chế thị trường giúp cho hoạt động quản lý chất thải có tính cạnh tranh cao, tạo điều kiện cho các chủ nguồn thải chất thải nguy hại cần chuyển giao có thể chọn lựa doanh nghiệp xử lý
có kinh nghiệm và dịch vụ phù hợp, tránh tình trạng độc quyền và ép giá xử lý
Bảng 1.2 Khối lượng chất thải nguy hại được thu gom, xử lý trên toàn quốc năm
đã đạt xấp xỉ 40% tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh của cả nước, cho thấy việc quản lý chất thải nguy hại thông qua kiểm soát nguồn phát thải, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý đang tốt hơn qua các năm
Xử lý chất thải công nghiệp nguy hại
Hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 80 doanh nghiệp hành nghề quản lý chất thải nguy hại Các doanh nghiệp này được Bộ TNMT hoặc Sở TNMT cấp tỉnh cấp giấy phép hoạt động Hầu hềt các doanh nghiệp thu gom và xử lý chất thải đều tập trung ở phía Nam [4]
Công nghệ xử lý CTNH của Việt Nam trong những năm vừa qua, đặc biệt sau khi có sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trường 2005 và các văn bản dưới Luật như Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp
Trang 27phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại và Quyết định số BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục chất thải nguy hại đã có những bước phát triển đáng kể (hai văn bản pháp quy nêu trên nay đã được thay thế bằng Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Quản lý chất thải nguy hại)
Nhìn chung, các công nghệ hiện có còn chưa thực sự hiện đại, sử dụng các công nghệ đa dụng cho nhiều loại CTNH và thường ở quy mô nhỏ, nhưng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu xử lý CTNH của Việt Nam
Xử lý chất thải nông nghiệp nguy hại:
Ngày 22 tháng 4 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 64/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Đến năm 2011 đã có 12/15 kho thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng đã được xử lý không còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chiếm 80%, 03 kho thuốc bảo vệ thực vật đang triển khai xử lý ô nhiễm triệt để, chiếm 20% [4] Tuy nhiên trên thực tế cho thấy nhiều kho chứa thuốc bảo vệ thực vật tuy
đã được xử lý, xây hầm bê tông chôn thuốc tồn lưu, nhưng nhiều điểm có hiện tượng lún sụt, mùi thuốc bảo vệ thực vật bốc lên khi thời tiết thay đổi gây ô nhiễm môi trường Số lượng các kho thuốc bảo vệ thực vật được xử lý chỉ chiếm 5% trong tổng số 240 điểm hóa chất tồn lưu cần được ưu tiên xử lý tới năm 2015, số lượng còn lại tiếp tục phát tác, gây ô nhiễm nặng tới môi trường sống và sức khỏe của người dân
Xử lý chất thải y tế nguy hại
Theo thống kê có 73,3% bệnh viện xử lý chất thải rắn y tế nguy hại bằng phương pháp thiêu đốt trong các lò đốt chuyên dụng, còn lại 26,7% bệnh viện thiêu đốt thủ công ở ngoài trời hoặc thực hiện phương pháp chôn lấp [4] Hiện nay, tại Việt Nam tồn tại một số mô hình xử lý chất thải rắn y tế nguy hại như sau:
- Thiêu đốt;
- Chôn lấp;
Trang 28- Chôn lấp sau khi đóng gói;
- Hóa rắn
Công nghệ phổ biến để xử lý chất thải rắn y tế nguy hại tại Việt Nam là thiêu đốt Có khoảng 73,3% bệnh viện tuyến tỉnh, huyện đã xử lý chất thải bằng lò đốt tại chỗ hoặc lò đốt tập trung cho cụm bệnh viện hoặc cả thành phố, tuy nhiên, chỉ có 42,7% bệnh viện có lò đốt 2 buồng đạt tiêu chuẩn về kỹ thuật và môi trường [4]
1.2 Bóng đèn thải bỏ - Một loại chất thải nguy hại
1.2.1 Các loại bóng đèn
Theo nguồn chiếu sáng (các thành phần của bóng đèn mà phát ra ánh sáng), các loại bóng đèn nằm trong ba nhóm chính sau:
- Bóng đèn dây tóc kim loại (đèn sợi đốt và đèn Halogen Vonfram);
- Dẫn khí (đèn compact huỳnh quang -CFL);
- Trạng thái rắn (đèn điôt phát sáng -LED)
Theo quy định của Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm
2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại, bóng đèn huỳnh quang thải bỏ được áp mã 16 01 06 và là chất thải có ngưỡng nguy hại ** (Là CTNH trong mọi trường hợp)
a) Đèn sợi đốt
Đèn sợi đốt là loại đèn đã có 130 năm tuổi thọ công nghệ Đèn tạo ra ánh sáng bằng cách đốt cháy một dây tóc kim loại đến một nhiệt độ đủ cao để phát ra bức xạ khả kiến Bóng đèn sợi đốt là đèn hiệu suất thấp – gần 90% năng lượng điện chuyển thành nhiệt năng và lãng phí dưới dạng nhiệt Dây tóc kim loại nằm trong không khí sẽ cháy nhanh chóng vì thế nó được bảo vệ bởi một bóng thủy tinh hút sạch không khí và thay bằng khí trơ Chân đèn được gắn với đui kim loại để chống
va đập cơ học cho bóng đèn và tiếp xúc điện
Đèn sợi đốt được sản xuất với nhiều kích cỡ, công suất, và mức điện áp Đèn sợi đốt có giá thành sản xuất và bán ra không đắt, nhưng chi phí trong quá trình sử dụng cao So sánh với các loại đèn khác như CFL và LED, đèn sợi đốt có tuổi thọ ngắn và công suất chiếu sáng thấp Đối với đèn sợi đốt, công suất chiếu sáng phụ thuộc vào điện áp (cụ thể 120V hoặc 230V) và lượng điện tiêu thụ, đối với khu dân
cư, vào khoảng 15W và 200W
Trang 29Các tác động đối với môi trường của quá trình sản xuất loại bóng đèn này chủ yếu được xác định bởi lượng năng lượng cần thiết để sản xuất và tạo hình bóng đèn thủy tinh Các vấn đề về sức khỏe trong lao động chủ yếu có liên quan đến rủi
ro như bỏng hay an toàn trong quá trình sử dụng máy móc
Bảng 1.3 Tóm tắt các đặc điểm của đèn sợi đốt
Chi phí ban đầu (giá khi đến người
dùng)
Rất thấp
Tuổi thọ trung bình và khấu hao
lượng ánh sáng theo thời gian
Ngắn (<1000 giờ) Khấu hao không đáng kể lượng ánh sáng theo thời gian
Hiệu quả chiếu sáng Thấp (<12 lm/W)
Chi phí vận hành bao gồm việc
thay thế bóng đèn đã qua sử dụng
Chi phí ban đầu của đèn thấp, nhưng chi phí vận hành rất cao và bóng đèn phải được thay thường xuyên
Vấn đề quản lý môi trường Có bọc chì trong mối hàn,
Nguy cơ vỡ bóng thủy tinh
Nguồn: [UNEP, 2012] b) Đèn Halogen Vonfram
Đèn Halogen Vonfram thông dụng tương tự như đèn sợi đốt, nó đốt cháy một sợi dây tóc kim loại để tạo ra ánh sáng Tuy nhiên khác nhau ở điểm bóng đèn Halogen Vonfram chứa khí Halogen (thường là Brom hoặc Iốt hoặc hỗn hợp các khí) chứ không chứa khí trơ Các khí Halogen khiến quá trình hóa học hoàn lại kim loại cho dây tóc trong quá trình vận hành, do đó giúp ngăn chặn sự bốc hơi và tích
tụ kim loại bên trong bóng đèn Quá trình này cho phép đèn Halogen Vonfram hoạt động ở các nhiệt độ cao hơn đèn sợi đốt tiêu chuẩn và giúp giảm đáng kể kích thước bóng đèn so với đèn sợi đốt với cùng lượng ánh sáng, dẫn đến hiệu suất cao hơn và kéo dài tuổi thọ hơn so với đèn sợi đốt tiêu chuẩn
Nhìn chung, giá của đèn Halogen Vonfram lớn hơn so với đèn sợi đốt, nhưng đèn Halogen Vonfram cho tuổi thọ dài hơn và hiệu suất chiếu sáng lớn hơn đèn sợi đốt Hiệu suất chiếu sáng của đèn Halogen Vonfram có thể được tăng lên nhờ thay thế một lượng nhỏ khí Halogen bằng khí Xenon Việc thêm vào khí Xenon tạo nên
Trang 30ánh sáng trắng lạnh hơn so với đèn Halogen Vonfram thông thường; giúp làm giảm
sự tích tụ trên bề mặt trong của bóng đèn; và tăng lượng ánh sáng phát ra lên tới 25% so với lượng ánh sáng phát ra từ đèn sợi đốt tiêu chuẩn
Các tác động đối với môi trường của quá trình sản xuất loại bóng đèn Halogen Vonfram tương tư như của bóng đèn sợi đốt
Bảng 1.4 Tóm tắt các đặc điểm của đèn Halogen Vonfram
Chi phí ban đầu (giá khi đến người
dùng)
Thấp đến trung bình, nhưng cao hơn đèn sợi đốt
Tuổi thọ trung bình và khấu hao lượng
ánh sáng theo thời gian
Ngắn, nhưng dài hơn đèn sợi đốt (<4000 giờ) Khấu hao không đáng kể lượng ánh sáng theo thời gian
Hiệu quả chiếu sáng Thấp (<15lm/W), nhưng cao hơn đèn sợi
đốt Chi phí vận hành bao gồm việc thay thế
bóng đèn đã qua sử dụng
Giá thành ban đầu thấp, nhưng chi phí vận hành cao và đèn phải được thay thường xuyên
Vấn đề quản lý môi trường Có bọc chì trong mối hàn,
Nguy cơ vỡ bóng thủy tinh
Nguồn: [UNEP, 2012] c) Đèn compact huỳnh quang (CFL)
CFL được làm bằng thủy tinh hoặc kim loại (Nhôm, Niken, Sắt, Vonfram, đôi khi là Chì), Nhựa, Hóa chất chống cháy và Phốt pho
Ánh sáng của CFL phát ra khi hơi thủy ngân bị kích hoạt bởi dòng điện chạy giữa hai điện cực giữa các đui đèn Hơi thủy ngân phát ra ánh sáng tia cực tím (UV), từ đó kích thích lớp phủ phốt pho bên trong của ống, phát ra bức xạ khả kiến (ánh sáng thường) Việc sử dụng thủy ngân trong CFL là bắt buộc để có thể tạo ra tia cực tím Thủy ngân được bơm vào dưới dạng lỏng tinh khiết, bằng một thiết bị định lượng
Ống đèn CFL được gấp hoặc xoắn để phù hợp với không gian giống như đèn sợi đốt Một số đèn CFL có dạng ống trần Những loại khác được trang bị ống thủy
Trang 31tinh hoặc nhựa bên ngoài nhằm mục đích trang trí và bảo vệ Việc trang bị thêm này sẽ làm hiệu quả chiếu sáng của đèn bị giảm, tuy nhiên đảm bảo an toàn hơn trong quá trình sử dụng nếu bóng đèn bị vỡ, tránh ảnh hưởng bởi thủy ngân có trong bóng
CFL có tuổi thọ sử dụng dài hơn và hiệu quả chiếu sáng cao hơn bosngt đèn sợi đốt Nhìn chung, CFL sử dụng điện năng ít hơn 80% so với đèn sợi đốt với cùng lượng ánh sáng phát ra
Bảng 1.5 Tóm tắt các đặc điểm của đèn CFL
Chi phí ban đầu (giá khi đến người
Tuổi thọ trung bình và khấu hao lượng
ánh sáng theo thời gian
Dài (<20.000 giờ) Khấu hao đáng kể lượng ánh sáng theo thời gian
Hiệu quả chiếu sáng Cao(<70 lm/W) CFL với kiểu bóng nhựa
hoặc thủy tinh giảm hiệu quả chiếu sáng
Chi phí vận hành bao gồm việc thay thế
bóng đèn đã qua sử dụng Thấp
Vấn đền quản lý môi trường
Có chứa thủy ngân,
Có bọc chì trong mối hàn, Nguy cơ vỡ bóng thủy tinh
Nguồn: [UNEP, 2012] d) Đèn điôt phát sáng (LED)
Điốt là thiết bị điện dạng bán dẫn chỉ cho phép dòng điện dịch chuyển theo một chiều nhất định Đèn điốt phát sáng (LED) là một điốt tạo ra ánh sáng với màu sắc đặc trưng Đèn LED có tuổi thọ rất dài lên đến 50.000 giờ Sử dụng đèn LED để thay thế đèn sợi đốt giúp giảm năng lượng tiêu thụ đến 90%
Sản xuất các loại đèn LED liên quan đến sự kết hợp của các công nghệ khác nhau Các chip của đèn LED được sản xuất bởi ngành công nghiệp bán dẫn, sử dụng nhiều hóa chất trong một quy trình khép kín, tại đó, việc bảo đảm phơi nhiễm thấp
Trang 32nhất cho người lao động luôn là yêu cầu đầu tiên Đây là giai đoạn tốn kém nhất trong quá trình sản xuất đèn LED, khiến nó có mức giá cao hơn so với CFL
Ngoài ra, việc sản xuất sản phẩm đèn LED sử dụng nhiều hơn khoảng ba lần năng lượng so với sản xuất của một đèn CFL với lượng ánh sáng phát ra tương đương [15]
Có thể thấy, nhược điểm chủ yếu của LED hiện nay là chi phí ban đầu còn cao, tuy nhiên xét về dài hạn, với tuổi thọ dài cao hơn, LED sẽ đem lại nhiều lợi ích
về kinhh tế và môi trường
Bảng 1.6 Tóm tắt các đặc điểm của đèn LED
Chi phí ban đầu (giá khi đến người
dùng)
Trung bình đến rất cao
Tuổi thọ trung bình và khấu hao lượng
ánh sáng theo thời gian
Rất dài (< 50.000 giờ)
Hiệu quả chiếu sáng Cao (< 120 lm/W) Khấu hao có thể đáng
kể lượng ánh sáng theo thời gian
Chi phí vận hành bao gồm việc thay thế
Bảng 1.7 So sánh các loại đèn: Các thông số về giá, tuổi thọ và sản xuất
Halogen
Compact
Giá ban đầu Rất thấp Thấp đến trung
bình
Thấp đến trung bình
Cao đến rất cao
Trang 33Nội dung Sợi đốt Vonfram
1.2.2 Các vấn đề về sức khỏe và an toàn liên quan đến thủy ngân trong bóng đèn
Theo Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại đã liệt kê thủy ngân là một loại chất thải nguy hại Thủy ngân là một hóa chất có đặc tính bền vững trong môi trường nhân sinh và có khả năng tích tụ sinh học gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến sức khỏe con người và môi trường
Thủy ngân trong một bóng đèn CFL còn nguyên vẹn không gây ra tác hại cho người tiêu dùng Tác hại chỉ xảy ra khi bóng đèn bị hỏng và thủy ngân được giải phóng Các yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến tác hại từ việc đèn CFL bị vỡ bao gồm: hàm lượng thủy ngân chứa trong đèn; dạng hóa học và vật lý của thủy ngân; phần thủy ngân thoát ra tại chỗ vỡ; độ thấm hút của bề mặt mà thủy ngân bị
rò rỉ; thời gian tồn tại của thủy ngân trong hoặc xung quanh chỗ vỡ; yếu tố môi trường như nhiệt độ, diện tích phòng, tốc độ và thời gian của hệ thống thông gió (nếu có); và quan trọng nhất là cách lau dọn của người dùng (người tiếp xúc trực tiếp hoặc hít phải) Một đèn CFL bị vỡ có thể sinh ra hơi thủy ngân, việc này trở nên nghiêm trọng nếu xảy ra trong không gian khép kín không có thông gió
Ở dạng nguyên chất, mức độc của thủy ngân chỉ ở dạng trung bình vì nó lưu chuyển nhanh trên cơ thể khiến cho ít bộ phận kịp có thời gian để hấp thu Tuy nhiên, thủy ngân trở nên nguy hiểm hơn khi chuyển thành dạng methyl thuỷ ngân, bền vững và bám dính trong quá trình chuyển hóa của cơ thể trong một thời gian dài Methyl thuỷ ngân là chất độc thần kinh cực mạnh Người bị nhiễm độc thuỷ ngân thường có những triệu chứng lâm sàng như:
Trang 34 Thể nhẹ: nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi, khó ngủ, tanh mùi kim loại ở miệng, khó thở, đau thắt ngực Khám thấy: viêm lợi, mi mắt co giật liên tục, tính tình cáu gắt, hưng phấn khác thường
Thể vừa: Tổn thương viêm tủy sống hay các dây thần kinh, nếu nặng sẽ bị viêm não, viêm tủy sống, viêm dây thần kinh, có khi liệt tứ chi Trí nhớ bị giảm sút, tập trung tư tưởng kém, lao động suy yếu, ăn mất ngon, không ngủ được Cuối cùng dẫn tới hội chứng bệnh não
Thể mạnh: Rối loạn thần kinh thực vật và tim mạch Chức năng chống độc của gan giảm, hàm lượng thủy ngân trong nước tiểu tăng: 0,04 - 0,10mg/l
Thuỷ ngân còn ảnh hưởng rõ rệt đến thai nhi: mù, điếc, dị dạng, trí thông minh giảm sút
Cho đến nay vẫn chưa có chất nào thay thế được các đặc tính hiệu quả của thủy ngân để phát sáng đối với bóng đèn do vậy mà lượng thủy ngân thải ra trong quá trình thải bỏ bóng đèn sẽ tăng lên đáng kể theo thời gian Chính vì vậy việc xử
lý hay tái xử lý, tái chế bóng đèn là một vấn đề rất đáng quan tâm
Trang 35Hình 1.1 Sơ đồ Vòng đời sản phẩm
So với các cách tiếp cận trước đây, cách tiếp cận theo vòng đời sản phẩm mở
ra cơ hội xem xét vấn đề môi trường tại tất cả các giai đoạn của vòng đời sản phẩm, chứ không chỉ giới hạn trong quá trình sản xuất
Đánh giá vòng đời sản phẩm là một công cụ nhằm xem xét, đánh giá tác động của một sản phẩm, dịch vụ lên môi trường trong suốt vòng đời của chúng Quản lý vòng đời sản phẩm là áp dụng các kiến thức về vòng đời sản phẩm trong các hoạt động của doanh nghiệp nhằm hạn chế tối đa việc sử dụng năng lượng, nguyên vật liệu cho sản phẩm, làm giảm các tác động tiêu cực lên môi trường, đồng thời kéo dài vòng đời của sản phẩm
Khi quản lý vòng đời được áp dụng cho sản phẩm là bóng đèn, có thể xem xét ở 3 giai đoạn sau:
Thiết kế, sản xuất
Sử dụng dụng
Trang 36Tại Việt Nam, thông thường các loại bóng đèn ở văn phòng có tuổi thọ khoảng 2-3 năm Tuy nhiên, đối với hộ gia đình, bóng đèn có thể được sử dụng từ 3-5 năm Trong đó , các loại bóng đèn có thời gian sử dụng ngắn đối với các gia đình ở các khu vực đô thị do mức thu nhập ca o, tâm lý tiêu dùng thay đổi Ngoài ra, tuổi thọ bóng đèn sử dụng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: sự ổn định điện năng, cách sử dụng của người dùng,… Như vậy có thể thấy việc đánh giá chính xác tuổi thọ của bóng đèn là rất khó trong thực tế do ph ụ thuộc vào hành vi của người tiêu dùng
Việc loại bỏ dần bóng đèn sợi đốt, thay thế bằng đèn CFL và LED làm giảm đáng kể lượng thủy ngân và khí CO2 phát sinh từ việc đốt nguyên liệu hóa thạch, giảm tiêu thụ năng lượng, chống biến đổi khí hậu Tuy nhiên, đối với bóng đèn CFL
có chứa thủy ngân cần phải có cách tiếp cận chính sách đầy đủ và phù hợp theo nguyên tắc phòng ngừa ô nhiễm và quản lý môi trường Cách tiếp cận này bao gồm việc tối đa hóa tiết kiệm năng lượng và tuổi thọ của bóng đèn, giảm đến mức tối thiểu chất độc hại ở giai đoạn thiết kế và sản xuất, đồng thời thiết lập hệ thống quản
lý hiệu quả, bền vững đối với bóng đèn đã sử dụng Cụ thể đối với với 3 giai đoạn của bóng đèn:
- Giai đoạn sản xuất: nghiên cứu, phát triển công nghệ sản xuất từng loại bóng
đèn khác nhau, xác định các chất độc hại được sử dụng, can thiệp bằng các quy định cụ thể đối với chất độc hại trong vòng đời sản phẩm Đối với đèn CFL, việc quy định mức độ thủy ngân là rất quan trọng
- Giai đoạn sử dụng: phụ thuộc nhiều vào người dùng bóng đèn Giai đoạn
này cần tập trung chú ý tới các tác động đối với môi trường của bóng đèn trong giai đoạn sử dụng (tiêu thụ năng nguyên liệu) và các mặt về sức khỏe
và an toàn của chiếu sáng (phơi nhiễm tia tử ngoại UV), trong đó bao gồm việc hướng dẫn thao tác cần thiết để xứ lý trong trường hợp bóng đèn bị vỡ
- Giai đoạn xử lý bóng đèn đã sử dụng: tập trung vào hệ thống chính sách
quản lý bóng đèn thải bỏ; năng lực của các cơ sở thu gom, xử lý và tái chế; vai trò của nhà sản xuất và người sử dụng bóng đèn
Trang 37Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu Giai đoạn xử lý bóng đèn đã sử dụng
1.2.4 Thị trường bóng đèn hiện nay tại Việt Nam
Thị trường bóng đèn tại Việt Nam hiện nay cung cấp cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau bao gồm trụ sở của các cơ quan, tổ chức từ trung ương đến các địa phương; các hộ gia đình từ thành thị đến nông thôn, trong đó nông thôn chiếm khoảng 67% dân số, dân số thành thị chiếm khoảng 33% dân số trong cả nước [Tổng cục Thống kê, 2015]; các ngành sản xuất, kinh doanh; chiếu sáng công cộng phục vụ cho các phương tiện giao thông của trên 755 đô thị từ loại đặc biệt, loại 1, loại 2, loại 3, loại 4 và loại 5 trong cả nước của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Tính đến 31/12/2010 nước ta có 11.112 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm
1403 phường, 624 thị trấn và 9085 xã
Trong năm 2011, tổng số bóng đèn sản xuất ra của các nhà sản xuất trong nước và các nhà nhập khẩu chính ngạch, không kể nhập khẩu tiểu ngạch, trên thị trường Việt Nam khoảng 408 triệu bóng đèn Trong đó sản xuất trong nước khoảng
374 triệu bóng đèn và nhập khẩu chính ngạch khoảng 34 triệu bóng đèn [9]
Số lượng bóng đèn được sử dụng trong hộ gia đình chiếm tỉ lệ rất cao Việt Nam có khoảng 25 triệu hộ gia đình bao gồm cả nông thôn và thành thị (trong đó khoảng 18 triệu hộ gia đình nông thôn, 7 triệu hộ gia đình ở thành thị) Số bóng đèn trung bình 1 hộ dùng khoảng 14-15 bóng, tổng số bóng đèn các loại đang được sử dụng trong chiếu sáng ở các hộ gia đình vào khoảng 359 triệu bóng đèn Bên cạnh
đó khoảng 25 triệu bóng đèn khác đang được sử dụng tại gần 1 triệu doanh nghiệp,
cơ quan, tổ chức hoạt động trong tất cả các lĩnh vực khác nhau [9]
Hiện nay, vẫn có khoảng 60% hộ gia đình còn sử dụng bóng đèn sợi đốt với
số bóng trung bình vào khoảng 2-3 bóng/hộ, trong đó khoảng 9,6% với các loại bóng có công suất trên 60W Tổng số lượng bóng đèn sợi đốt trên thị trường vào khoảng 34,5 triệu bóng và xu hướng trong tương lại sẽ giảm bởi có nhiều sản phẩm tiết kiệm năng lượng thay thế và phổ thông hơn [9]
Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã được ban hành trong thời gian qua Đặc biệt phải kể đến Quyết
Trang 38định số 51/2011/QĐ-TTg ngày 12 tháng 9 năm 2011 về “Quy định danh mục, phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng, áp dụng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu và lộ trình thực hiện”, đã quy định kể từ ngày 01/01/2013 cấm sản xuất, nhập khẩu và lưu thông các loại bóng đèn sợi đốt có công suất lớn hơn 60W Như vậy, các nhà sản xuất bóng đèn sẽ phải chuyển đổi sản xuất bóng đèn sợi đốt sang sản xuất các loại bóng đèn tiết kiệm điện như bóng đèn compact huỳnh quang và LED
Từ một số khái quát nêu trên, có thể nhận thấy thị trường bóng đèn chiếu sáng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội của nước ta là khá lớn, bao gồm thị trường kinh doanh bóng đèn, thiết bị chiếu sáng công cộng các đô thị, các cơ quan, tổ chức, các hộ gia đình ở các thành thị và nông thôn rộng lớn của nước ta cũng như hoạt động xuất nhập khẩu các nguồn sáng và các thiết bị chiếu sáng Thị trường sẽ chuyển hướng theo hướng loại bỏ các nguồn sáng hiệu suất thấp trong đó có bóng đèn sợi đốt có công suất lớn hơn 60 W sang thị trường chiếu sáng hiệu suất cao hiệu quả, tiết kiệm điện Hiện nay, do giá thành và chất lượng phù hợp, bóng đèn CFL đang có xu hướng được lựa chọn sử dụng nhiều hơn so với bóng đèn sợi đốt và LED Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sẽ tập trung vào đối tượng chất thải nguy hại là bóng đèn CFL thải bỏ
1.2.5 Nguồn phát sinh chất thải bóng đèn
a) Phát sinh từ quá trình sinh hoạt
Hiện nay CTR sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn, CTNH trong đó có bóng đèn thải được thu gom lẫn với chất thải sinh hoạt thông thường Việc thu gom chất thải sinh hoạt đạt hiệu quả thấp là do hệ thống phân loại và tái chế chất thải hoạt động chưa tốt hoặc chưa có, các loại CTNH vẫn xuất hiện tại các bãi chôn lấp Đối với các loại bóng đèn thải bỏ, lượng phát sinh từ nguồn sinh hoạt chiếm tỉ lệ lớn
Những bãi rác lộ thiên, không được xử lý hợp vệ sinh là nơi ẩn chứa những nguy cơ lớn về sức khỏe và môi trường Khí thải từ các bãi rác này được đưa vào không khí một cách tự nhiên Những chất độc trong khí thải từ bãi rác có thể qua phổi, qua các tuyến nhờn và qua da đi vào cơ thể con người, có thể gây ngộ độc trực tiếp hoặc gây bệnh ngoài da và bên trong cơ thể Nước rỉ rác chảy xuống ao hồ, làm
Trang 39ô nhiễm nguồn nước Các chất độc hại trong nước sẽ tích lũy trong thực phẩm như: rau, tôm, cá sẽ gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người
Chất thải sinh hoạt hữu cơ như rau, củ quả, thức ăn thừa, giấy…được thu gom với các loại rác vô cơ khác như túi nilon, gạch đá, sành, sứ, thủy tinh, sắt vụn
và các loại chất thải nguy hại như: bóng đèn huỳnh quang, bình ắc quy hỏng, pin các loại, dược phẩm, mỹ phẩm hết hạn sử dụng… sẽ là nguy cơ gây những vấn đề môi trường lớn hơn nhiều khi chúng được thu gom riêng rẽ Những chất ô nhiễm có trong các loại rác thải sẽ tác dụng với nhau và sinh ra một chất mới có khả năng gây độc hơn nhiều so với chất ô nhiễm ban đầu, hoặc làm gia tăng mức độ phát sinh khi thải từ các bãi tập kết rác tập trung
b) Phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp
Do chưa có một điều tra cụ thể nào về lượng CTR bóng đèn phát sinh tại hoạt động công nghiệp nên chưa có số liệu thống kê về chất thải bóng đèn Có thể nói chất thải bóng đèn phát sinh từ nguồn sản xuất công nghiệp bao gồm bóng đèn hỏng, vỡ trong quá trình sản xuất, bóng đèn thải từ hệ thống chiếu sáng của các nhà máy, Ngoài ra, trong quá trình sản xuất sản phẩm bóng đèn còn phát sinh thêm các loại CTR như các đầu mẩu nhựa và kim loại, các đoạn dây, phế liệu, các vật liệu vụn, chất thải trong quá trình hàn điện, vỏ nhựa vỡ hỏng, và bùn thải chứa kim loại nặng của hệ thống xử lý nước thải (tùy theo doanh nghiệp sản xuất)
Do lượng phát sinh CTNH trong đó có bóng đèn thải bỏ ngày càng gia tăng, nếu không có các biện pháp quản lý phù hợp sẽ dẫn đến nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng bắt nguồn từ các hoạt động không kiểm soát như vận chuyển trái phép hoặc xử lý không an toàn về môi trường
1.2.6 Sự cần thiết của việc thu hồi, xử lý và tái chế bóng đèn
Thủy ngân trong bóng CFL là thành phần bắt buộc trong cấu tạo đèn Quá trình thu gom, lưu trữ, vận chuyển hoặc xử lý CFL thải bỏ không đúng có thể dẫn đến rò rỉ thủy ngân
Khi thủy ngân phát sinh trong môi trường, nó có thể tồn tại trong khí quyển (như hơi thủy ngân), trong đất (như thủy ngân ion) và nước (như methyl thủy ngân)
Trang 40Một số dạng thủy ngân có thể đi vào chuỗi thực phẩm thông qua tích lũy sinh học và khuếch đại sinh học Trong quá trình xử lý, thủy ngân từ đèn CFL bị nứt hoặc vỡ có thể gây ra ảnh hưởng đối với sức khỏe và môi trường nếu các loại đèn được xử lý sai và tập trung với số lượng lớn Chất thải có chứa thủy ngân nên được xử lý để thu hồi thủy ngân hoặc để cố định trong điều kiện thân thiện môi trường Bởi vậy, quá trình thu gom
và xử lý đèn CFL trở nên rất quan trọng Nó thúc đẩy việc thu hồi các vật liệu khác được tìm thấy trong bóng đèn thải có chứa thủy ngân như thủy tinh, kim loại chứa sắt hoặc không chứa sắt, phốt pho,… Các vật liệu này có thể được bán cho nơi sản xuất đèn và thủy tinh Thủy tinh chứa tạp chất được sử dụng trực tiếp hoặc sau khi xử lý thích hợp sẽ cho các sản phẩm thủy tinh mới với các yêu cầu độ tinh khiết thấp hơn, hoặc như một vật liệu tổng hợp trong các quá trình công nghiệp Ngoài ra, đèn LED đã qua sử dụng cũng chứa chất thải điện tử và các thành phần khác cũng cần phải được thu gom và xử lý bền vững với môi trường
Từ những phân tích ở trên cho thấy việc thu hồi, xử lý và tái chế bóng đèn là việc làm cần thiết, góp phần loại bỏ các thành phần nguy hại đồng thời sẽ giảm thiểu lượng chất thải phát sinh, từ đó hạn chế tác động tiêu cực tới sức khỏe con người và môi trường
1.2.7 Tình hình thu gom và xử lý bóng đèn thải bỏ tại Việt Nam
Năm 2014, tỷ lệ CTNH được thu gom, xử lý đạt khoảng 40%, như vậy, vẫn còn tỷ
lệ không nhỏ CTR nguy hại trong đó có bóng đèn thải bỏ chưa được thu gom, xử lý, là nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến tháng 6/2015, trên cả nước đã có 83 doanh nghiệp với 56 đại lý có địa bàn hoạt động từ hai tỉnh trở lên được cấp phép xử lý chất thải nguy hại Trong các doanh nghiệp đang hoạt động này có 24 doanh nghiệp có trang bị thiết bị xử lý bóng đèn huỳnh quang thải bỏ Các đơn vị này giữ vai trò chủ đạo trong công tác quản lý CTNH nói chung và bóng đèn thải nói riêng trên toàn quốc Theo Tổng cục Môi trường (2012), tổng khối lượng bóng đèn compact huỳnh quang được thu gom, quản lý của 06 đơn vị xử lý CTNH khu vực phía Bắc (URENCO Hà Nội, Công ty Hòa Bình, Công ty TNHH Môi trường xanh - Hải