So với tội trộm cắp tài sản do một người thực hiện, đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản thường nguy hiểm hơn vì khi một nhóm người cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội, tính nguy hiểm c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ QUí
ĐồNG PHạM TRONG TộI TRộM CắP TàI SảN
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ QUí
ĐồNG PHạM TRONG TộI TRộM CắP TàI SảN
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN KHẮC HẢI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Quý
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỒNG PHẠM TRONG TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8
1.1 Khái niệm đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản 8
1.1.1 Khái niệm đồng phạm 8
1.1.2 Khái niệm tội trộm cắp tài sản 9
1.1.3 Khái niệm đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản 11
1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản có đồng phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 13
1.2.1 Khách thể của tội trộm cắp tài sản có đồng phạm 13
1.2.2 Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản có đồng phạm 16
1.2.3 Chủ thể của tội trộm cắp tài sản có đồng phạm 19
1.2.4 Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản có đồng phạm 20
1.3 Trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản 21
Chương 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN CÓ ĐỒNG PHẠM TẠI HÀ GIANG 29
2.1 Một vài nét về tình hình kinh tế chính trị ảnh hưởng tới diễn biến tội trộm cắp tài sản có đồng phạm trên địa bàn tỉnh Hà Giang 29
2.2 Tình hình giải quyết và những kết quả đạt được trong công tác xét xử các vụ án trộm cắp tài sản có đồng phạm tại tỉnh Hà Giang 31
2.3 Một số tồn tại, hạn chế trong việc giải quyết các vụ án trộm cắp tài sản có đồng phạm tại tỉnh Hà Giang 47
Trang 52.4 Một số nguyên nhân của tồn tại, hạn chế ảnh hưởng đến thực tiễn
xét xử tội trộm cắp tài sản có đồng phạm tại Hà Giang 68
2.4.1 Nguyên nhân về pháp luật 68 2.4.2 Nguyên nhân về áp dụng pháp luật 76
GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ ĐỒNG PHẠM ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 79
quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về đồng phạm đối với tội trộm cắp tài sản 79
Nam về đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản 88 KẾT LUẬN 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự HĐXX: Hội đồng xét xử
TAND: Toà án nhân dân TNHS: Trách nhiệm hình sự UBND: Ủy ban nhân dân VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng so sánh các vụ án xét xử sơ thẩm đối với tội trộm
cắp tài sản từ năm 2010 -2015 trên địa bàn tỉnh Hà Giang 32 Bảng 2.2 Bảng so sánh các vụ án xét xử sơ thẩm đối với tội trộm
cắp tài sản có đồng phạm từ năm 2010 -2015 trên địa bàn
Bảng 2.3 Bảng những loại người đồng phạm trong tội trộm cắp
Bảng 2.4 Bảng áp dụng hình phạt đối với các bị cáo đồng phạm
trong tội trộm cắp tài sản 39 Bảng 2.5 Bảng kết quả xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo trong
các vụ án trộm cắp tài sản có đồng phạm 44
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trộm cắp tài sản là tội rất phổ biến trên địa bàn cả nước, trong đó có tỉnh Hà Giang Trộm cắp tài sản có thể do một người thực hiện, cũng có thể do nhiều người thực hiện Khi tội trộm cắp tài sản có sự tham gia thực hiện bởi nhiều người và những hành vi này có sự liên hệ mật thiết, tác động lẫn nhau thì trường hợp đó được gọi là đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản Đồng phạm nói chung và đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản nói riêng là hình thức phạm tội “đặc biệt”, đòi hỏi những điều kiện riêng, khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ (về số lượng người tham gia phạm tội, mối liên hệ giữa các đối tượng trong cùng vụ án cũng như tội phạm mà cả nhóm hướng tới thực hiện) So với tội trộm cắp tài sản do một người thực hiện, đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản thường nguy hiểm hơn vì khi một nhóm người cùng
cố ý thực hiện hành vi phạm tội, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội sẽ tăng lên đáng kể, nhất là khi có sự câu kết chặt chẽ về tổ chức và cách thức thực hiện, phát triển thành “phạm tội có tổ chức”, do đó việc xác định trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản có một số điểm khác với những trường hợp phạm tội trộm cắp do một cá nhân thực hiện
Trong khoa học Luật hình sự, căn cứ vào các đặc điểm về mặt chủ quan và khách quan của tội trộm cắp tài sản, đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản có thể chia ra nhiều hình thức: đồng phạm có thông mưu trước trong tội trộm cắp tài sản, đồng phạm không có thông mưu trước trong tội trộm cắp tài sản; đồng phạm giản đơn trong tội trộm cắp tài sản và đồng phạm phức tạp trong tội trộm cắp tài sản Ngoài ra còn có một trường hợp đặc biệt về đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản,
đó là trộm cắp tài sản có tổ chức Trong các hình thức đồng phạm trộm cắp tài sản thì chỉ trộm cắp tài sản có tổ chức là tình tiết tăng nặng và tình tiết định khung hình phạt Chỉ trên cơ sở nắm vững về các vấn đề lý luận như hình thức đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản, đặc điểm đồng phạm trộm cắp tài sản, cũng như hiểu sâu sắc các quy định của Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn về đồng
Trang 9phạm và tội trộm cắp tài sản thì mới vận dụng tốt khi giải quyết các vụ án trộm cắp tài sản có đồng phạm
Tuy nhiên thực tiễn công tác điều tra, truy tố và xét xử cho thấy nhận thức về đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản hiện nay chưa được thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, vẫn còn nhiều quan điểm và ý kiến trái ngược nhau Những
ý kiến khác nhau này đã gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án trộm cắp tài sản có đồng phạm Do quy định của pháp luật về chế định đồng phạm chưa được hoàn thiện, nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng về đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản còn hạn chế nên việc phân định giữa các hình thức đồng phạm, xác định vai trò, tính chất, mức độ tham gia của từng người đồng phạm còn chưa thống nhất, chính xác, ảnh hưởng đến công tác xét xử của một số Tòa án tại tỉnh Hà Giang Những tồn tại, hạn chế này còn do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, song việc xác định, đánh giá đồng phạm trong các vụ án trộm cắp tài sản thiếu chính xác sẽ dẫn đến việc định tội danh, phân hóa trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đối với các người đồng phạm nhiều khi bị đánh đồng, chưa lượng hóa được hình phạt phù hợp với vai trò và các tình tiết của vụ án đối với họ
Những luận điểm nêu trên đã chứng tỏ lý do nghiên cứu đề tài “Đồng phạm
trong tội trộm cắp tài sản theo luật hình sự Việt Nam” (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang) là quan trọng và cấp thiết trong việc hoàn thiện và áp dụng
đúng pháp luật hình sự nhằm bảo đảm xét xử vụ án hình sự được nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
2 Tình hình nghiên cứu
Đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản là những vấn đề có nội dung phong phú và phức tạp được các luật gia và các nhà nghiên cứu luật quan tâm chú ý và đề cập đến trong những công trình nghiên cứu của mình dưới góc độ luật hình sự, tội phạm học hoặc xã hội học pháp luật Hiện nay, ở nước ta có rất nhiều cách tiếp cận, nghiên cứu vấn đề đồng phạm nói chung và đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản nói riêng dưới các góc độ khác nhau ở mức chuyên sâu hoặc khái quát hóa đã được công bố trên các sách, tạp chí, luận văn luận án, nhưng tựu chung lại thì các nghiên
Trang 10cứu chủ yếu theo ba xu hướng đó là: tiếp cận dưới góc độ tội phạm học, luật hình sự
và theo sự xuất hiện các vấn đề mới của xã hội Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản như: tiếp cận dưới góc độ tội phạm học, luật hình sự và theo sự xuất hiện các vấn đề mới của xã hội Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản như: Lê Văn Cảm
(2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Sách
chuyên khảo sau đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Lê Cảm và Trịnh Quốc
Toản (2011), Định tội danh: lý luận, lời giải mẫu và 500 bài tập, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Ngọc Hòa (2005), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội; TS.Trần Quang Tiệp (2007), Đồng phạm trong luật Hình sự
Việt Nam, Nxb Tư Pháp, Hà Nội; Đặng Xuân Mai (1989), Làm gì để phòng chống tội phạm, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội; Nguyễn Đức Mai (2010), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 phần các tội phạm,
Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội; Đinh Văn Quế (2001), Bình luận khoa học BLHS
phần các tội phạm, Tập 2, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh;Viện nghiên cứu khoa học
pháp lý (1993), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Văn Hảo (1962), Bộ luật hình sự Việt Nam, Bộ Tư Pháp, Sài Gòn; Phạm Văn Beo (2009), Luật hình sự Việt Nam, (Quyển I – Phần chung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật hình sự
Việt Nam, tập thể tác giả, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội…
Ngoài ra, còn phải kể đến một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Luật học chuyên ngành Tư pháp hình sự nghiên cứu có liên quan đến đồng phạm trong tội
trộm cắp tài sản như: Hoàng Văn Hùng (2007), Tội trộm cắp tài sản và đấu tranh
phòng chống tội phạm này ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội; Lê Thị
Khanh (2002), Đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa", Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân,
Hà Nội; Phí Thành Trung (2010), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định
hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn
thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội; Trần Thị Phương
Trang 11(2011), Định tội danh đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu tại tỉnh Bình Định giai
đoạn 2006-2010, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại Học Quốc Gia Hà Nội,
Hà Nội… và một số bài viết, nghiên cứu khác có liên quan như: Lê Văn Cảm (2005)
“Những vấn đề lý luận về bốn yếu tố cấu thành tội phạm”, Tạp chí TAND; Lê Thúy
Phượng (1999), “Vấn đề định lượng tài sản bị chiếm đoạt trong bộ luật hình sự năm
1999”, Tạp chí TAND; Lê Thị Sơn (2004), “Về dấu hiệu định lượng trong BLHS”,
Tạp chí luật học; Bùi Đăng Hiếu (2005), “Tiền một loại tài sản trong quan hệ pháp
luật hình sự”, Tạp chí Luật học; Bộ Tư pháp (1998),“Luật hình sự của một số nước trên thế giới”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Số chuyên đề; TS.Nguyễn Khắc Hải
(2007) “Đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức theo pháp luật hình sự Liên bang
Nga”, Tạp chí Khoa học – ĐHQG Hà Nội, Số 23/2007, “Nhận diện tội phạm có tổ chức”, Kỷ yếu hội thảo khoa học về sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999…
Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã đề cập trên một số góc độ về trường hợp đồng phạm hoặc tội trộm cắp tài sản, nhưng chưa công trình nào đi sâu vào các khía cạnh đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản cả về phương diện lý luận
và thực tiễn tại tỉnh Hà Giang
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích cơ bản của đề tài là làm sáng tỏ một số vấn đề mặt lý luận và thực tiễn tại tỉnh Hà Giang về đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản, phân tích một cách khoa học và có căn cứ một số vấn đề có liên quan đến đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản để qua đó có được cái nhìn thống nhất, tương đối đầy đủ và đóng góp về mặt khoa học để góp phần giải quyết những vướng mắc đang được đặt ra khi xác định giải quyết các vụ án trộm cắp tài sản có đồng phạm
4 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử về đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Giang
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích luận văn nghiên cứu những vấn đề sau:
Trang 12- Khái niệm đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản
- Các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản
- Trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản
- Thực tiễn xét xử và một số tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân đối với việc giải quyết các vụ án trộm cắp tài sản có đồng phạm tại tỉnh Hà Giang
6 Phạm vi nghiên cứu
Về giới hạn vấn đề nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về đồng phạm theo quy định của Luật hình sự Việt Nam trong một tội phạm cụ thể đó là tội trộm cắp tài sản
Về giới hạn không gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu việc áp dụng các quy định của pháp luật đồng phạm trong việc xét xử tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Về giới hạn thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu trong giai đoạn 6 năm từ 2010 - 2015
7 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài nêu trên là thành tựu từ các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lịch sử nhà nước và pháp luật, lý luận về pháp luật, xã hội học pháp luật, pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, tội phạm học, lĩnh vực triết học, thành tựu từ các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án, sách chuyên khảo cũng như các bài đăng trên tạp chí và các báo của các nhà khoa học – luật gia trong nước
và quốc tế Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các văn bản pháp luật của Nhà nước trong việc giải thích thống nhất các trường hợp cụ thể trong thực tiễn xét xử có liên quan đến trường hợp trên trong các văn bản thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự do các
cơ quan bảo vệ pháp luật ban hành ở các mức độ khác nhau
Phương pháp luận được sử dụng để làm sáng tỏ các vấn đề được đặt ra trong nghiên cứu là: phương pháp chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật chủ nghĩa Mác – Lê Nin Để từ đó xây dựng, đề cập đến những vấn đề tương ứng trong các quan điểm về tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp, củng cố pháp chế và bảo vệ các quyền con người
Trang 13Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả còn đồng thời sử dụng các phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt khoa học từ vấn đề được đặt ra Các phương pháp tiếp cận được sử dụng đó là: phương pháp phân tích – chứng minh, logic, phương pháp thống kê hình sự, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp lịch sử, liệt kê, Đặc biệt trong đó tác giả nhấn mạnh chú ý tới các phương pháp tổng hợp – hệ thống, đối chiếu so sánh, lịch
sử phân tích, thống kê, khảo sát thực tiễn, phương pháp xã hội học, để qua đó đưa
ra được những kết luận khoa học mang tính thuyết phục cao, đề xuất các phương án
cụ thể sao cho phù hợp nhằm hoàn thiện và hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật hình sự có liên quan đến vấn đề đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản
8 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp xác định được khái
niệm, các đặc điểm của đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản; Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản có đồng phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999; Trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản từ đó đưa ra những kiến nghị về mặt lập pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện quy định về đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản Việc xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp, đầy đủ, có hệ thống sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết vấn
đề đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu một cách khá toàn diện và có hệ thống về việc
áp dụng các quy định pháp luật về đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Giang, phân tích những vấn đề chung về giải quyết vấn đề đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh, từ đó tìm ra những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong việc giải quyết vấn đề đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản trên địa bàn, nêu lên những điểm bất cập trong các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về vấn đề này, đồng thời đưa ra những giải pháp, kiến giải để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản theo Luật hình sự Việt Nam và trong thực tiễn áp dụng những quy định này trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Trang 149 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên, có tính
hệ thống và tương đối toàn diện về thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về đồng phạm trong vụ án trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Giang ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học với những đóng góp về mặt khoa học đã nêu trên
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp các cơ quan tiến
10 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản
theo Luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn xét xử tội trộm cắp tài sản có đồng phạm tại Hà Giang Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự và giải pháp bảo đảm
áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về đồng phạm đối với tội trộm cắp tài sản
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỒNG PHẠM TRONG
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản
1.1.1 Khái niệm đồng phạm
“Đồng” theo Từ điển tiếng Việt nghĩa là cùng như nhau, không thể khác được “Phạm” là làm tổn hại đến cái cần tôn trọng, mắc phải điều cần tránh Đồng phạm nghĩa là cùng phạm tội hiểu theo nghĩa của luật hình sự” [3, tr 245]
Nghiên cứu pháp luật hình sự các nước, chúng ta thấy quan niệm không giống nhau về khái niệm đồng phạm Điểm qua quy định của một số nước trên thế giới quy định về khái niệm đồng phạm thấy rằng:
Bộ luật hình sự (BLHS) Thụy Điển quy định về người đồng phạm là người phối hợp với người khác cùng thực hiện một hành vi phạm tội hoặc một người tìm cách xúi giục người khác phạm tội hoặc đề nghị người khác phạm tội “Khi xét xử từng người đồng phạm phải căn cứ vào việc người đó tham gia thực hiện tội phạm
do cố ý hay vô ý” (Điều 4 – Chương 23) Như vậy, luật hình sự một số nước quan niệm đồng phạm có cả trong những tội phạm thực hiện do lỗi vô ý
BLHS Pháp cũng quy định về chính phạm và đồng phạm (tòng phạm) Theo
đó, chính phạm là người thực hiện các hành vi bị coi là tội phạm hoặc chuẩn bị thực hiện một trọng tội hoặc khinh tội trong trường hợp luật quy định (Điều 121.4) Người có ý thức giúp đỡ hoặc trợ lực và đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc chuẩn
bị hoặc thực hiện tội phạm bị coi là đồng phạm của một trọng tội hoặc khinh tội Người dùng tặng vật, hứa hẹn, đe dọa, dùng mệnh lệnh, lạm dụng chức vụ hoặc quyền hạn để xúi giục hoặc có các chỉ dẫn để cho người khác thực hiện tội phạm cũng bị coi là đồng phạm (Điều 121.7)
BLHS của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1979 tại Điều 22 quy định:
“Hai hay nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm” Theo Điều
33 BLHS của Liên Bang Nga cũng có quy định: “Hai hay nhiều người cùng cố ý
Trang 16thực hiện một tội cố ý là đồng phạm” Như vậy pháp luật hình sự của các nước trên
thế giới có những quy định rất đa dạng về đồng phạm
Tại Việt Nam, trước khi ban hành BLHS năm 1985 thì chưa có một văn bản pháp luật hình sự nào quy định thống nhất về khái niệm đồng phạm đối với tội phạm nói chung Để có cơ sở pháp lý thống nhất cho việc xử lý về hình sự đối với những trường hợp nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm, BLHS đã có điều luật riêng quy định về đồng phạm Khoản 1 Điều 20 Bộ luật hình sự 1999 quy định đồng phạm là trường hợp “có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”
Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học luật hình sự, có thể đưa ra định nghĩa khoa
học về khái niệm đồng phạm như sau:“Đồng phạm là hình thức phạm tội do cố ý
được thực hiện với sự tham gia của 2 người trở lên” [5, tr 458]
1.1.2 Khái niệm tội trộm cắp tài sản
Tội trộm cắp tài sản là một loại tội xâm phạm quyền sở hữu có tính chất phổ biến trong xã hội Hiện nay trên thế giới tồn tại hai khuynh hướng khi quy định về tội trộm cắp tài sản trong văn bản pháp luật hình sự Khuynh hướng thứ nhất không đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm tội trộm cắp tài sản mà mặc nhiên thừa nhận nó Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là điển hình cho khuynh hướng này, Điều
264 Bộ luật hình sự nước này quy định: “Người nào trộm cắp tài sản, tiền bạc công
hoặc tư, thì bị phạt đến ba năm tù”
Khuynh hướng thứ hai có quy phạm định nghĩa về khái niệm tội trộm cắp tài sản Các nước như Liên bang Nga, Cộng hòa liên băng Đức, Nhật Bản, Malaixia, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào… đều thuộc khuynh hướng này Điều 158 Liên
bang Nga năm 1986 quy định: “Trộm cắp là (hành vi) bí mật chiếm đoạt tài sản của
người khác” [2, tr 32] Dựa trên cơ sở khái niệm này có thể xác định dấu hiệu cơ
bản của tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản; sự chiếm đoạt tài sản được thể hiện một cách bí mật; tài sản bị chiếm đoạt phải là tài sản của người khác Điều 142 BLHS của Cộng hòa liên băng Đức được ban hành năm 1871 và được sửa đổi bổ sung nhiều lần phù hợp với sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội đưa ra khái niệm của tội trộm cắp tài sản: “Người nào lấy đi vật là động sản của người khác, với
Trang 17mục đích chiếm đoạt vật này, thì bị phạt tù đến năm năm hoặc phạt tiền” Khái niệm này cho thấy đối tượng của tội trộm cắp tài sản phải là động sản, bất động sản không thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Điều 253 BLHS Nhật Bản
ban hành năm 1907 đã sửa đổi bổ sung nhiều lần cũng quy định: “Người nào lấy
cắp tài sản của người khác thì bị phạt tù đến 10 năm” Như vậy, bộ luật chỉ xác
định đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tài sản của người khác, không
mô tả thêm bất kỳ dấu hiệu pháp lý nào khác của tội phạm Từ những dẫn chứng trên ta thấy rõ một số nét tương đồng cơ bản trong pháp luật hình sự ở một số nước
Sự khác biệt xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống lập pháp hình sự
và kinh nghiệm đấu tranh phòng chống tội phạm của từng nước
Tại Việt Nam, trong các bộ luật phong kiến trước đây đều đã từng thể hiện rõ
cả hai khuynh hướng này Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long tuy có quy định nhiều về tội trộm cắp cụ thể nhưng không có quy phạm định nghĩa về tội này Ngược lại, Hình Luật Canh Cải và Hoàng Việt Luật Lệ lại có quy định về khái niệm
tội trộm cắp tài sản Ví dụ Điều 381 Hình Luật Canh Cải quy định: “Người nào
dùng sự gian mà lấy đồ (vật) của người ta, thì phạm tội ăn trộm” [13, tr 141-149]
Các văn bản pháp luật hình sự của nhà nước ta sau Cách mạng Tháng 8 lại thể hiện khuynh hướng thứ nhất, không có quy phạm định nghĩa về tội trộm cắp tài sản, chỉ quy định tội danh một cách đơn giản Cách quy định này thể hiện rõ trong các Điều
132, 155 Bộ luật hình sự năm 1985 và Điều 138 BLHS năm 1999
Giáo trình trường Đại học luật Hà Nội đưa ra định nghĩa về tội trộm cắp tài
sản: “Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có chủ” [69, tr 383]; Bình luận khoa học BLHS phần các tội phạm, Tập 2 – Đinh Văn Quế “Trộm cắp tài
sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác” [25, tr 196] Khái niệm
trên không thể hiện rõ một số dấu hiệu pháp lý khác của tội trộm cắp tài sản như dấu hiệu về lỗi, dấu hiệu về độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể tội phạm
Để đưa ra được khái niệm về tội trộm cắp tài sản, trước hết cần khẳng định tội trộm cắp tài sản phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm mà theo TSKH.PGS Lê Cảm là phải thể hiện ba bình diện với năm đặc điểm của nó là:
Trang 18a) bình diện khách quan – tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội; b) bình diện pháp lý – tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c) bình diện chủ quan- tôi phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [4, tr.105]
Tổng kết các quan điểm trên ta có thể đưa ra một khái niệm về tội trộm cắp
tài sản như sau: Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc
quyền sở hữu của người khác, do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý
1.1.3 Khái niệm đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản
Tội phạm nói chung cũng như tội trộm cắp tài sản nói riêng không chỉ thực hiện bởi một người mà có thể được thực hiện bởi nhiều người mà giữa họ đã có sự thống nhất ý chí cùng thực hiện một tội phạm, trường hợp phạm tội đặc biệt này trong khoa học luật hình sự gọi là đồng phạm
“Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội
phạm” (Điều 20 BLHS), do đó đồng phạm trộm cắp tài sản là trường hợp có hai
người trở lên cố ý cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản
Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự của nước ta, chúng ta thấy vấn đề đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản đã được luật hình sự Việt Nam quy định từ rất sớm Trong thời kỳ phong kiến, Bộ luật Gia Long đã có quy định về trường hợp đồng
phạm trong tội trộm cắp tài sản tại Điều 238: “10 người cùng ăn trộm của cải một
nhà, tính tang của (giá trị tang vật) đến 40 lạng bạc dẫu chia nhau, mỗi người được 4 lạng, nhưng mà tính gộp một chỗ thì 10 người đều phải ăn trộm 40 lạng” nghĩa là đối
với giá trị tài sản bị chiếm đoạt được tính gộp lại và những người đồng phạm đều phải chịu trách nhiệm chung về tội phạm Ở thời Pháp thuộc, Hình Luật Canh Cải bên cạnh việc đưa ra quy định về khái niệm tội trộm cắp tài sản tại Điều 379 còn quy định
về trường hợp “Trộm cắp tài sản có từ hai người trở lên tham gia” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của Tội trộm cắp tài sản Sau này trong Hình luật An Nam
và Hoàng Việt Luật Lệ cũng sao chép lại quy định này từ Hình Luật Canh Cải
Trang 19Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, pháp luật hình sự nước ta đã có sự phân biệt giữa các hình thức đồng phạm khác như: “Trộm cắp phạt tù từ ba tháng
đến ba năm; cướp đường hay trộm có tổ chức, có bạo lực, có dùng vũ khí để dọa
nạt thì phạt tù từ ba đến mười năm” (Thông tư 442 – TTg của Thủ Tướng Chính Phủ ngày 19/01/1955 về trừng trị một số tội phạm) để phân biệt với các hình thức đồng phạm đơn giản, “phạm tội có tổ chức” trở thành tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Tinh thần này vẫn được Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình
Đồng phạm phức tạp là hình thức đồng phạm có sự phân công vai trò của những người cùng tham gia thực hiện tội phạm, trong đó ngoài một hoặc một số người có vai trò là người thực hành, còn có sự tham gia của những người đồng phạm khác như người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức Ở hình thức đồng phạm phức tạp chỉ có một hoặc một số người đồng phạm (người đồng thực hành) thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm
Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999)
Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999 thì trong đồng phạm có
tổ chức, giữa những người cùng thực hiện tội phạm phải có sự câu kết chặt chẽ với nhau, có sự phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể, có sự tính toán và chuẩn bị kỹ càng, chu đáo trong việc cùng tham gia thực hiện tội phạm
Theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16/11/1988 hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số
Trang 2002/HĐTP ngày 05/01/1986 khi giải thích khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999 về
"Phạm tội có tổ chức" thì phạm tội có tổ chức phải có sự câu kết chặt chẽ giữa
những người cùng thực hiện tội phạm, sự câu kết này, theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có thể thể hiện dưới các dạng sau:
a) Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như đảng phái, hội đoàn phản động, băng, ổ trộm, cướp… có những người chỉ huy, cầm đầu Tuy nhiên, cũng có khi tổ chức phạm tội không có tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập trung những người chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội;
b) Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước;
c) Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch đã được tính toán kỹ càng, chu đáo, có sự chuẩn
bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm
Chính vì tính nguy hiểm cao hơn của hình thức đồng phạm này so với hình thức đồng phạm thông thường nên Điều 138 BLHS năm 1999 quy định tình tiết “phạm tội
có tổ chức” là tình tiết định khung tăng nặng (điểm a Khoản 2 Điều 138 BLHS)
Ngoài ra, đối với đồng phạm trộm cắp tài sản, không chỉ có đồng phạm hành động mà còn có đồng phạm không hành động, đó là trường hợp những người đồng phạm trộm cắp tài sản không hành động phạm tội, ví dụ: A đã thỏa thuận với B là bảo vệ của cơ quan không khóa cửa kho để đến đêm A vào kho lấy trộm tài sản của
cơ quan Trong trường hợp này A và B là đồng phạm trộm cắp tài sản, A là người thực hành còn B là người giúp sức (không hành động)
Với các phân tích trên cho thấy đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản là việc
hai hay nhiều người cố ý cùng lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác
1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản có đồng phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
1.2.1 Khách thể của tội trộm cắp tài sản có đồng phạm
Luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ sở hữu, quyền và lợi ích hợp pháp
Trang 21của các tổ chức và của công dân trong xã hội, chống lại mọi hành vi phạm tội Tội trộm cắp tài sản xâm phạm đến quyền sở hữu của tổ chức và của công dân, đó là các quyền được bảo hộ trong Hiến pháp và pháp luật Bên cạnh việc xâm phạm quyền
sở hữu, tội phạm còn gây nguy hại đến trật tự công cộng Khi tội trộm cắp tài sản xảy ra thì không chỉ người chủ sở hữu mất tài sản mà các hoạt động khác như sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt bình thường của chủ sở hữu cũng có thể bị ảnh hưởng
và mất trật tự an toàn xã hội nơi xảy ra tội phạm [20, tr 63]; [22, tr 20]; [32, tr 47]
Luật dân sự quy định rõ, trong nội dung quyền sở hữu gồm ba quyền là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Khi xâm phạm đến quyền sở hữu của chủ tài sản, tội trộm cắp tài sản đồng thời xâm phạm đến cả ba quyền trên hoặc một trong ba quyền trên Quyền sở hữu về tài sản được nhà nước bảo vệ thông
qua các quy định của Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác Do vậy, khách thể
của tội trộm cắp tài sản chính là sự xâm phạm vào quyền sở hữu hợp pháp của nhà nước, cơ quan, tổ chức, công dân Tùy theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của sự chiếm đoạt mà có các hình thức xử lý khác nhau về chế tài hình sự Khi có hành vi
trộm cắp tài sản (hành vi chiếm đoạt tài sản) làm cho chủ sở hữu tài sản không có khả năng thực hiện được các quyền năng đó của mình trên thực tế, nghĩa là quyền
sở hữu tài sản của họ bị xâm phạm
Điều 105, Bộ luật dân sự Việt Nam quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền,
giấy tờ có giá và các quyền tài sản”
Vật là một hình thức tài sản và có thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Khi là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản, vật phải nằm trong sự chiếm hữu của con người Đối với trường hợp người chủ sở hữu chủ động từ bỏ quyền sở hữu của mình và dịch chuyển tài sản ra khỏi phạm vi quản
lý, thì tài sản này được coi là tài sản vô chủ, hành vi lấy đi loại tài sản này không
bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản [18, tr 25] Hành vi lấy đi tài sản của mình,
do mình quản lý hoặc tài sản không còn nằm trong sự quản lý của chủ tài sản như tài sản bị bỏ quên, đánh rơi, tài sản vô chủ thì không phải là hành vi trộm cắp tài sản Các hành vi này có thể cấu thành tội khác như tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141 BLHS)
Trang 22Tài sản là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản còn có thể là tiền, các loại giấy tờ trị giá được bằng tiền Tiền bao gồm tiền Việt Nam và tiền nước ngoài Những loại tiền cũ có giá trị văn hóa [14, tr 37]
“giấy tờ có giá”, chỉ có giấy tờ có giá vô danh mới có thể trở thành đối
tượng tác động của tội trộm cắp tài sản vì khi lấy nó người phạm tội mới thực hiện được quyền của chủ sở hữu, còn với giấy tờ có giá ghi danh chỉ có chủ sở hữu mới
có thể thực hiện được quyền sở hữu của mình nó không thể bị dịch chuyển một cách
trái phép bởi hành vi chiếm đoạt Đối với tài sản là “quyền tài sản” như quyền đòi
nợ , nó tồn tại dưới dạng vô hình không nhìn thấy sờ thấy nó gắn liền với một chủ thể nhất định, trình tự xác lập thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản đó tuân theo quy định pháp luật và không thể bị dịch chuyển trái phép bởi hành vi chiếm đoạt
nên “quyền tài sản” cũng không phải là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản
Tài sản là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản phải tồn tại dưới dạng một động sản theo quy định của BLDS Những tài sản thuộc loại bất động sản có tính chất vật lý cố định không di dời được như đất đai, nhà cửa không là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Tuy nhiên có một số tài sản nếu tách riêng thì nó
là động sản nhưng luật dân sự quy định là bất động sản do công dụng của nó như cánh cửa gắn liền với ngôi nhà, cây cối trồng trên đất vẫn có thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Đối với tài sản đặc thù pháp luật có quy định riêng như: tàu bay, tàu thuỷ, vũ khí quân dụng, phương tiện kĩ thuật quân sự, đất đai, chiến lợi phẩm không thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản dù nó có
bị hành vi phạm tội xâm hại tới, mà nó sẽ là đối tượng tác động của các tội phạm khác như tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ (Điều 221 BLHS), tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng phương tiện kĩ thuật quân sự (Điều 230 BLHS)
Đối với tội trộm cắp tài sản, hành vi phạm tội là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, đó là sự dịch chuyển một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình làm biến đổi tình trạng bình thường của tài sản Tài sản có thể thuộc quyền sở hữu của công dân Việt Nam, của người nước ngoài của các tổ chức trong nước và quốc tế tại Việt Nam, của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Trang 23Việt Nam cũng như của các nước khác tại Việt Nam đều được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ
Đối với hành vi trộm cắp tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản thì khách thể của tội trộm cắp tài sản là quan hệ sở hữu tài sản, đối với những tài sản không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản như: tài sản do chiếm hữu bất hợp pháp, tài sản do phạm tội mà có trong trường hợp này khách thể của tội trộm cắp tài sản là quan hệ xã hội liên quan đến trật tự an toàn xã hội Hành vi lén lút lấy đi tài sản của người khác với mục đích chiếm đoạt và tài sản này là bất hợp pháp thì về tính chất pháp lý hành vi trên vẫn cấu thành tội trộm cắp tài sản và người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Các quan hệ sở hữu tài sản, quan hệ xã hội liên quan đến trật tự an toàn xã hội (đối với những tài sản không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản) chính là khách thể trong vụ án trộm cắp tài sản có đồng phạm bị người thực hành xâm hại Do đó khách thể của tội trộm cắp tài sản (có nhiều người tham gia) cũng chính là khách thể của tội trộm cắp tài sản (do một người thực hiện)
1.2.2 Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản có đồng phạm
Nghiên cứu mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản, chúng ta lần lượt nghiên cứu về hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắp tài sản
Thứ nhất, hành vi khách quan đặc trưng của tội trộm cắp tài sản Điều 138 Bộ
luật hình sự không mô tả thế nào là hành vi trộm cắp tài sản mà chỉ quy đinh: Người
nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ… thì… Như vậy, hành vi khách
quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi trộm cắp, biểu hiện cơ bản nhất trong mặt khách quan của tội phạm Hành vi khách quan đặc trưng của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy đi tài sản của người khác với mục đích chiếm đoạt tài sản của người đó Lén lút có nghĩa là người phạm tội có ý thức che giấu hành vi phạm tội của mình đối với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản khi phạm tội Trường hợp người lấy tài sản chỉ che giấu hành vi phạm tội của mình đối với người chủ sở hữu hoặc
Trang 24người quản lý, bảo vệ tài sản nhưng lại để người khác thấy được hành vi phạm tội của
mình thì vẫn phạm tội trộm cắp tài sản [70, tr 176] Trong nhiều trường hợp, người
phạm tội có ý định trộm cắp tài sản và khi đang thực hiện tội phạm đó thì bị phát hiện, người phạm tội không thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách lén lút nữa
mà thực hiện hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn khác thì hành vi phạm tội có thể cấu thành các tội khác như tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 BLHS), tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137 BLHS)…
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác phải do hai người trở lên cùng tham gia thực hiện thì mới được coi là đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản
Họ có thể tham gia tội trộm cắp tài sản với một trong các hành vi sau: hành vi thực hành tội trộm cắp tài sản, người có hành vi này gọi là người thực hành; hành vi tổ chức việc thực hiện tội trộm cắp tài sản, người có hành vi này gọi là người tổ chức; hành vi xúi giục người khác thực hiện tội trộm cắp tài sản, người có hành vi này gọi
là người xúi giục; hành vi giúp người khác thực hiện tội trộm cắp tài sản, người có hành vi này gọi là người giúp sức, ví dụ: A có ý định trộm cắp tài sản nên bàn với B
và nhờ B đánh hộ chìa khóa để mở cửa vào nhà người khác trộm cắp tài sản Trong trường hợp này A và B là đồng phạm trộm cắp tài sản, A là người thực hành còn B
là người giúp sức
Vấn đề phạm tội có tổ chức là trường hợp đặc biệt của đồng phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn trường hợp phạm tội thông thường vì chúng thể hiện sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm Về mặt khách quan thì phạm tội có tổ chức thường có một số đông người tham gia thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, có sự phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể, có sự tính toán và chuẩn bị kỹ càng, chu đáo trong hoạt động phạm tội
Thứ hai, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của trộm cắp tài sản là những thiệt hại do người phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra do khách thể của tội phạm Tội trộm cắp tài sản xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu của người chủ tài sản, đó là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản
Những hành vi chỉ được coi là phạm tội trộm cắp tài sản trong những trường
Trang 25chiếm đoạt dưới hai triệu đồng thì phải thỏa mãn một trong những điều kiện là gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị sử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã
bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Tội trộm cắp tài sản chỉ coi là hoàn thành khi người thực hiện hành vi trộm cắp đã chiếm đoạt được tài sản, còn khi họ chưa chiếm đoạt được tài sản thì hành vi của họ chưa cấu thành tội phạm
Phạm tội trộm cắp tài sản do chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai triệu đồng trở lên là trường hợp người phạm tội một lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị từ hai triệu đồng trở lên
Trường hợp một người thực hiện nhiều lần hành vi trộm cắp tài sản, nhưng mỗi lần giá trị tài sản dưới hai triệu đồng và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử phạt hành chính, đã bị kết án nhưng chưa xóa án tích ), đồng thời trong các hành vi trộm cắp đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, thì người thực hiện nhiều lần hành vi trộm cắp tài sản phải bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội trộm cắp tài sản theo tổng số giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm, nếu thuộc một trong các trường hợp: các hành vi trộm cắp tài sản được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian, việc thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản có tính chuyên nghiệp, lấy tài sản do việc xâm phạm sở hữu làm nguồn sống chính, với mục đích trộm cắp tài sản, nhưng do điều kiện hoàn cảnh khách quan nên việc trộm cắp tài sản phải thực hiện trong nhiều lần cho nên giá trị tài sản bị xâm phạm mỗi lần dưới hai triệu đồng Trong các trường hợp nêu trên, nếu chỉ căn cứ vào các hành vi vi phạm nhiều lần, thì không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự (TNHS) (phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội nhiều lần) quy định tại các điểm b và g khoản 1 Điều 48 BLHS hiện hành [21, tr.217]
Ngoài dấu hiệu hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản còn dấu hiệu thứ ba, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội
của tội phạm [4, tr.11-14]
Trang 26Trong mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản cần chứng minh hậu quả gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu phải là kết quả của hành vi lét lút chiếm đoạt tài sản của người khác, và trong trường hợp đồng phạm phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của mỗi người đồng phạm và hậu quả chung do hành vi đó gây nên Nhưng trong thực tiễn người chủ sở hữu có thể bị mất tài sản do nhiều nguyên nhân khác nhau và chỉ khi hiện tượng mất tài sản bằng hành vi trộm cắp tài sản thì mới có cơ sở khẳng định sự tồn tại của mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và hành vi phạm tội Nếu nguyên nhân đưa đến hậu quả này xuất phát từ một tội xâm phạm sở hữu khác thì người phạm tội sẽ chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này Quan hệ nhân quả có 2 dạng chính là quan hệ nhân quả đơn trực tiếp và quan hệ nhân quả kép trực tiếp Trường hợp trộm cắp tài sản chỉ do một người phạm tội gây ra thì đó là quan hệ nhân quả đơn trực tiếp, trường hợp nhiều người tham gia vào việc phạm tội thì quan hệ là quan
hệ nhân quả kép trực tiếp [15, tr 77]
Khi xác định quan hệ nhân quả trong mặt khách quan của tội phạm cần thiết phải phân biệt nguyên nhân và điều kiện gây ra hậu quả của tội trộm cắp tài sản để xác
định chính xác trách nhiệm hình sự của người phạm tội trộm cắp tài sản [18, tr 44]
1.2.3 Chủ thể của tội trộm cắp tài sản có đồng phạm
Theo luật hình sự Việt Nam, chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sư và đạt đến độ tuổi luật định khi thực hiện hành vi phạm tội Đây là dấu hiệu về chủ thể của tội phạm nói chung và của tội trộm cắp tài sản nói riêng
Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng của một người vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội có thể nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và điều khiển được hành vi đó Người phạm tội trộm cắp tài sản khi thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác họ nhận thức được rằng hành vi của họ nằm ngoài chuẩn mực xã hội, trái pháp luật và sẽ bị xã hội lên án Họ cũng nhận thức được tài sản bị chiếm đoạt là tài sản của người khác
và thông qua hành vi phạm tội của họ thì họ tuy có được tài sản nhưng cũng làm mất đi tài sản của người khác
Trang 27Khi thực hiện tội trộm cắp tài sản bằng hình thức đồng phạm thì người phạm tội không những thấy hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội họ còn thấy hành
vi của những đồng phạm khác cũng gây nguy hiểm cho xã hội và có quan hệ chặt chẽ với hành vi của họ, cùng góp phần gây thiệt hại cho chủ tài sản
Năng lực TNHS của một người không có ngay khi người đó sinh ra mà cùng với sự phát triển về thể chất, trí tuệ sự giáo dục và tích lũy kinh nghiệm sống của mỗi người và đạt đến độ tuổi nhất định người ta mới có thể nhận thức được đòi hỏi của chuẩn mực xã hội khi đó họ mới có khả năng điều khiển được hành vi của mình
theo chuẩn mực xã hội đó Điều 12 BLHS năm 1999 qui định: "Người từ đủ 16 tuổi
trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng"
Khi một người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ở đủ 16 tuổi thì được coi là
có năng lực TNHS và sẽ bị truy cứu TNHS về tội phạm này Ở trong độ tuổi từ đủ
14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi được coi là người có năng lực TNHS hạn chế, họ phải chịu TNHS khi họ thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Trộm cắp tài sản là loại tội thực hiện với lỗi cố ý, căn cứ vào cách phân loại tội phạm quy định tại Điều 8 BLHS thì trường hợp phạm tội trộm cắp tài sản thuộc khoản 3, 4 Điều 138 BLHS năm 1999 là trương hợp phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng Do đó những người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản theo khoản 3, 4 Điều 138 BLHS
1.2.4 Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản có đồng phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là một trong các yếu tố của tội phạm, thể hiện diễn biến tâm lý của người phạm tội, được đặc trưng bởi dấu hiệu lỗi, động cơ và mục đích phạm tội Trước hết lỗi của những người đồng phạm trộm cắp tài sản là lỗi cố ý, mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những người đồng phạm khác Về lý trí, mỗi người đồng phạm biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết những
Trang 28người khác cũng có hành vi nguy hiểm cùng với mình, mỗi người đồng phạm còn thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi mình gây ra và hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện Về ý chí, những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hậu quả xảy ra
Về mục đích và động cơ phạm tội trong mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản Mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội trộm cắp tài sản nhưng có mối quan hệ với yếu tố lỗi
Mục đích phạm tội được hiểu là cái đích đạt được trong ý thức chủ quan của người phạm tội để hành vi phạm tội hướng tới Mục đích có trước cả hành vi khách quan, có nghĩa là trước khi thực hiện hành vi khách quan, người phạm tội đã có sẵn trong ý thức một mục đích cụ thể, hình dung về hành vi mà mình sẽ thực hiện và hậu quả mong muốn đạt được Mục đích của những người đồng phạm khi thực hiện tội trộm cắp tài sản là mục đích chiếm đoạt tài sản
Động cơ phạm tội được hiểu là động lực thúc đẩy người phạm tội hình thành
ý định phạm tội cụ thể và thực hiện hành vi phạm tội Trong trộm cắp tài sản, tuy động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng có ý nghĩa quan trọng trong xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và phân hóa TNHS những người đồng phạm Động cơ trong tội trộm cắp tài sản là tư lợi, người phạm tội bị thúc đẩy bởi mong muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để thỏa mãn ý định của mình
1.3 Trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản
Đồng phạm là trường hợp nhiều người cùng cố ý thực hiện một tội phạm Hành động của những người tham gia thực hiện tội phạm là hành động liên hiệp Hành vi của người này là tiền đề, điều kiện cho hành vi của những người đồng phạm khác và là khâu cần thiết cho hoạt động tội phạm chung Hậu quả phạm tội
là kết quả chung do hoạt động của tất cả những người tham gia đưa lại Do vậy, những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm đã thực hiện Đồng thời, những người đồng phạm cũng phải cùng chịu về các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt, nếu họ đều biết, tức là đối với những tình
Trang 29tiết này họ cùng bàn bạc với nhau hoặc mọi người đều nhận thức và biết rõ về những tình tiết đó hoặc tuy không từng bàn bạc nhưng họ buộc phải thấy trước
và có thể thấy trước tình tiết đó
Việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản có đồng phạm vừa phải tuân thủ quy định chung của chế định TNHS và quyết định hình phạt, vừa phải tuân thủ quy định đặc thù của trường hợp đồng phạm Các nguyên tắc đó bao gồm: nguyên tắc tất cả những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm đã thực hiện; nguyên tắc mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện vụ đồng phạm; nguyên tắc cá thể hòa hình phạt của những người đồng phạm
Khi định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản có đồng phạm, chủ thể định tội danh phải căn cứ chủ yếu vào quy định của Điều 138 và Điều 20 Bộ luật hình sự Hai điều luật này là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác xác định hành vi chiếm đoạt tài sản
thuộc quyền sở hữu của người khác được thực hiện bởi sự tham gia của từ hai người
trở lên xảy ra trên thực tế có cấu thành tội trộm cắp tài sản trong trường hợp đồng phạm hay không; nếu phạm tội thì thuộc khoản cụ thể nào của điều luật đó Cùng với quy định của Bộ luật hình sự, quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành
Bộ luật hình sự cũng có ý nghĩa quan trọng trong định tội danh
Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội thì về nguyên tắc phải tuân thủ nghiêm chỉnh vào những quy định chung về quyết định hình phạt Tuy nhiên đồng phạm là một chế định bổ sung cho chế định tội phạm, nó có những đặc điểm đặc thù riêng nên khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm Tòa án còn cần phải căn cứ vào những quy định bổ sung tại Điều 53 BLHS:
Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Toà án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó
Trang 30Trong vụ án trộm cắp tài sản có đồng phạm, tuy mỗi người cố ý cùng tham gia thực hiện một tội phạm, nhưng tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người lại khác nhau, nên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mỗi người đồng phạm cũng không giống nhau
Vì lẽ đó, khi xác định TNHS và hình phạt đối với mỗi người đồng phạm, Tòa
án phải xét đến:
- Tính chất của đồng phạm: Đây là căn cứ mà Tòa án cần cân nhắc vì nó ảnh hưởng đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chung mà cả bọn cùng thực hiện
- Tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm:
Trong một vụ đồng phạm, những người tham gia tuy phạm cùng một tội, nhưng tính chất và mức độ tham gia của mỗi người có khác nhau, do vậy tính chất
và mức độ nguy hiểm của hành vi của mỗi người cũng khác nhau Nếu chỉ dựa vào tính chất của đồng phạm để quyết định hình phạt thì tòa án mới chỉ xác định được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội chung trong hành vi phạm tội của tất cả những người tham gia đồng phạm Nhưng trong luật hình sự Việt Nam quy định trách nhiệm hình sự là trách nhiệm cá nhân cho nên khi xác định trách nhiệm hình
sự cụ thể để quyết định hình phạt cho từng người đồng phạm vẫn phải dựa trên cơ
sở hành vi cá nhân mỗi người đồng phạm Do vậy, căn cứ tiếp theo để tòa án quyết định hình phạt là phải cân nhắc tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm
Tính chất tham gia vào việc phạm tội được quyết định bởi vai trò mà người đồng phạm thực hiện, bởi tính đặc thù của chức năng, nhiệm vụ cũng như tác dụng của người đó trong hoạt động phạm tội chung Làm sáng tỏ tính chất tham gia vào việc cùng chung phạm tội có nghĩa là phải xác định được người phạm tội đó là ai,
họ là người thực hành, người tổ chức, người xúi giục hay là người giúp sức Thông thường người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực là những người có vai trò nguy hiểm cao hơn những người đồng phạm khác Chính vì lẽ đó nên Điều 3 BLHS quy định: “Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống
Trang 31đối…” Việc đánh giá tính chất tham gia của từng người đồng phạm phải tùy thuộc vào tính chất đồng phạm, vào các tình tiết khách quan, chủ quan cụ thể có trong vụ
án, và đặc điểm nhân thân của từng người đồng phạm
Mức độ tham gia của người đồng phạm được xác định bởi mức độ đóng góp thực tế của mỗi người đồng phạm vào việc thực hiện tội phạm và hậu quả chung của tội phạm Trong thực tế, để xác định mức độ tham gia của mỗi người đồng phạm tòa
án phải dựa vào các dấu hiệu như: phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm, mức
độ quyết tâm phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội, hiệu quả của hành vi phạm tội của người đó trong hoạt động phạm tội chung…
Khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, tòa án phải đánh giá tổng hợp cả tính chất và mức độ tham gia phạm tội của mỗi người đồng phạm Trong đó, tính chất tham gia phạm tội nói lên đặc tính về chất còn mức độ tham gia phạm tội nói lên đặc tính về lượng của hành vi phạm tội của mỗi người đồng phạm
- Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ TNHS thuộc người đồng phạm, thì chỉ áp dụng đối với người đó Đây có thể là những tình tiết thuộc về phương diện khách quan hoặc chủ quan của tội phạm, hoặc đó là những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội
Đối với tội trộm cắp tài sản, dựa vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, điều 138 BLHS 1999 đã chia thành bốn khung hình phạt, trong đó mức độ thiệt hại về tài sản là một căn cứ để phân chia thành các khung hình phạt:
Thứ nhất, người phạm tội trộm cắp tài sản bị truy cứu TNHS theo khoản 1 Điều 138 BLHS sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Trường hợp 1: Tài sản trộm cắp có giá trị từ hai triệu đồng trở lên đến dưới năm mươi triệu đồng
Những trường hợp trộm cắp tài sản dưới hai triệu đồng và không có tình tiết nào khác làm cho tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi tăng lên, thì không bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản, chúng chỉ được coi là vi phạm hành chính hoặc vi phạm kỷ luật
Trang 32Trường hợp 2: Tài sản có giá trị dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng
Đây là trường hợp người phạm tội đã chiếm đoạt tài sản dưới hai triệu đồng
và bên cạnh đó lại gây ra hậu quả nghiêm trọng khác Có thể là thiệt hại về sức khỏe, tài sản hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của chủ tài sản
Trường hợp 3: Tài sản trộm cắp có giá trị dưới hai triệu đồng nhưng người phạm tội trước đó đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt
Đối với những trường hợp chiếm đoạt tài sản chưa cấu thành một trong những tội chiếm đoạt tài sản được quy định trong BLHS năm 1999, theo pháp luật
xử lý vi phạm hành chính người đó sẽ bị xử phạt hành chính
Theo Điều 8 BLHS 1999 qui định:” Những trường hợp tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng biện pháp khác”
Trường hợp thứ 4: tài sản có giá trị dưới hai triệu đồng nhưng người phạm tội trước đó đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án tích
Trong chương “các tội xâm phạm sở hữu” BLHS 1999 có đề cập về các tội chiếm đoạt tài sản được quy định từ Điều 133 đến 145 Trường hợp người phạm tội
đã bị kết án về một trong các tội chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án theo qui định từ Điều 63 đến Điều 67 của BLHS năm 1999, lại có hành vi trộm cắp tài sản, thì dù giá trị tài sản chiếm đoạt trong trường hợp này chưa đến hai triệu đồng, hành
vi của họ vẫn CTTP Tính chất nguy hiểm cho xã hội của trường hợp chiếm đoạt tài sản này không chỉ dựa vào giá trị tài sản đã chiếm đoạt, còn dựa vào nhân thân người phạm tội Người phạm tội đã bị kết án, chịu sự giáo dục của Nhà nước đối với họ thông qua việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự, nhưng họ vẫn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong thời hạn chưa được xóa án tích thì dù giá trị tài sản dưới hai triệu đồng vẩn cần thiết phải truy cứu TNHS
Thứ hai, hình phạt trong cấu thành tội phạm tăng nặng theo khoản 2 Điều
138 BLHS Khoản 2 Điều 138 BLHS quy định, người thỏa mãn các dấu hiệu phạm tội trộm cắp mà phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
Trang 33dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát; tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng và gây hậu quả nghiêm trọng
Tình tiết định khung Có tổ chức là trường hợp phạm tội có tổ chức được quy định tại Khoản 3 Điều 20 Bộ luật hình sự về đồng phạm: Phạm tội có tổ chức là hình
thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm
Tình tiết định khung Có tính chất chuyên nghiệp, tức là phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp Theo Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS: Chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
a Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã
bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích;
b Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết
quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính
Tình tiết định khung Tái phạm nguy hiểm được quy định tại khoản 2 Điều 49
BLHS: Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm: Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; hoặc đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý
Tình tiết định khung Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm chưa được giải thích của cơ quan có thẩm quyền Tuy nhiên, Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm
được hiểu là người phạm tội trộm cắp thực hiện hành vi phạm tội một cách nhanh chóng chiếm đoạt tài sản bằng hình thức dễ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người phạm tội
Tình tiết định khung Hành hung để tẩu thoát là trường hợp người phạm tội
có hành vi dùng sức mạnh chống lại sự truy đuổi của người khác để tẩu thoát chứ không phải để chiếm đoạt cho được tài sản Trong trường hợp để chiếm đoạt bằng được tài sản thì hành vi hành hung này chuyển sang tội cướp tài sản
Trang 34Tình tiết định khung: chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng
đến dưới hai trăm triệu đồng là trường hợp tài sản trộm cắp có giá trị từ năm mươi
triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng
Tình tiết định khung Gây hậu quả nghiêm trọng trong tội trộm cắp tài sản
không phải là hậu quả về tính mạng sức khỏe Hậu quả nghiêm trọng về tội này có thể là gây nên tình hình an ninh, trật tự phức tạp, ảnh hưởng đến chính trị
Thứ ba, hình phạt trong cấu thành tội phạm tăng nặng và đặc biệt tăng nặng theo khoản 3, khoản 4 Điều 138 BLHS năm 1999
Khoản 3 Điều 138 quy định, người thỏa mãn các dấu hiệu phạm tội trộm cắp
mà phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng
Khoản 4 Điều 138: người thỏa mãn các dấu hiệu phạm tội trộm cắp mà phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; hoặc Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
Theo Tiến sĩ Hoàng Văn Hùng cho rằng:
Khi áp dụng các tình tiết tăng nặng định khung được quy định tại Điều 138 BLHS năm 1999 để quyết định hình phạt đối với trường hợp phạm tội trộm cắp tài sản thực tiễn cho thấy việc xác định giá trị tài sản trong tội trộm cắp tài sản nói riêng và trong các tội xâm phạm sở hữu tài sản nói chung rất khó khăn vì tài sản này nhiều khi không còn tồn tại trên thực tế do nhiều nguyên nhân khách nhau hoặc nếu tài sản tồn tại thì cũng thuộc nhiều chủng loại và trong những trạng thái khác nhau như thật giả,
cũ, mới và tài sản này có giá trị khác nhau trong các thời điểm [18, tr 59]
Vì vậy, để xác định đúng giá trị tài sản, cần nghiên cứu hướng dẫn tương ứng trong Thông tư 02/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001: “Giá trị tài sản bị chiếm đoạt được xác định theo giá thị trường của tài sản đó tại địa phương vào thời điểm tài sản bị chiếm đoạt”
Trang 35Việc quyết định hình phạt trong trường hợp người phạm tội trộm cắp tài sản
có nhiều tình tiết định khung tăng nặng Hiện tồn tại nhiều quan điểm khác nhau như: phải chuyển khung hình phạt nặng hơn; xử phạt người phạm tội ở mức cao trong khung hình phạt đã quy định Xuất phát từ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa tôi đồng tình với quan điểm thứ hai, phải xử lý người phạm tội trong khung
đó nhưng ở mức án cao chứ không thể chuyển khung hình phạt
Thứ tư, hình phạt bổ sung đối với tội trộm cắp tài sản Tại Khoản 5 Điều 138
BLHS năm 1999 qui định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu
đồng đến năm mươi triệu đồng” Hình phạt tiền có thể áp dụng đối với người phạm
tội trộm cắp tài sản với tính chất là hình phạt bổ sung bên cạnh hình phạt chính khác
để đảm bảo mục đích của hình phạt
Trang 36Chương 2 THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN CÓ ĐỒNG PHẠM
TẠI HÀ GIANG
2.1 Một vài nét về tình hình kinh tế chính trị ảnh hưởng tới diễn biến tội trộm cắp tài sản có đồng phạm trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Hà Giang là một tỉnh miền núi nghèo nằm ở biên giới cực bắc của Tổ quốc,
có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng Phía bắc và tây có đường biên giới giáp với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dài 274 km; phía đông giáp tỉnh Cao Bằng; phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang; phía tây và tây nam giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái
Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.914,9 km2 nằm trong khu vực địa bàn vùng núi cao phía bắc lãnh thổ Việt Nam, địa hình hiểm trở, có độ cao trung bình từ
800 m đến 1.200 m so với mực nước biển Tính đến nay Hà Giang có 01 thành phố,
10 huyện, 05 phường, 13 thị trấn và 177 xã, 2.069 thôn bản, tổ dân phố, có 07 huyện biên giới với 34 xã, thị trấn nằm dọc tuyến biên giới Việt - Trung Dân số tỉnh Hà Giang là 771.200 người bao gồm 22 dân tộc khác nhau như Mông (chiếm 32%), Dao (chiếm 15,1%), Kinh (chiếm 11%), Tày (chiếm 23,3%), Nùng (chiếm 9,9%), ngoài ra là các dân tộc khác như Pu Péo, Cờ Lao, La Chí, Bố Y… nhìn chung trình độ văn hóa, trình độ nhận thức về pháp luật giữa các vùng, miền, giữa các dân tộc còn nhiều chênh lệch, đặc biệt là các khu dân cư ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa Hiện nay, chỉ có 11,9% dân số Hà Giang sống ở các thị xã, thị trấn, còn lại phần lớn dân số vẫn tập trung ở nông thôn và vùng núi cao Trình độ học vấn và lao động của toàn tỉnh còn khá thấp, trên 80% dân số trong độ tuổi lao động nhưng có tới trên 15% lao động chưa biết chữ, số lao động tốt nghiệp trung học phổ thông và trung cấp chỉ hơn 7% Trình độ dân trí chưa cao, hiểu biết pháp luật còn hạn chế giữa thành thị và nông thôn và giữa các dân tộc Việc tuyên truyền pháp luật còn khó khăn, nhiều người dân còn không biết nói tiếng phổ thông
Trong những năm qua, được sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước,
Trang 37các bộ, ngành Trung ương và sự tập trung lãnh chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, cùng sự phấn đấu, nỗ lực của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, nên nền kinh
tế, xã hội của tỉnh đã từng bước phát triển, quốc phòng - an ninh được củng cố vững chắc Đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao.Tuy nhiên, do điểm xuất phát thấp nên đến nay Hà Giang hiện vẫn là một tỉnh nghèo, đặc biệt khó khăn, nền kinh tế còn nhỏ lẻ, mức thu nhập bình quân đầu người thấp Hiện còn 6/11 huyện, thành phố được hưởng chính sách theo Nghị quyết 30a của Chính phủ gồm: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, Hoàng
Su phì và Xín Mần [34]
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được không thể không nói đến những khó khăn, thách thức đang đặt ra, mặt trái của nền kinh tế thị trường kéo theo không ít những tệ nạn tiêu cực ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh trận tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Tình hình một số tội phạm trên địa bàn tỉnh Hà Giang đang diễn biến tương đối phức tạp, đặc biệt trong đó có tội trộm cắp tài sản được thực hiện dưới hình thức đồng phạm Tội trộm cắp tài sản diễn ra thường xuyên ngày càng gia tăng
về số lượng và tính chất, mức độ nguy hiểm ngày càng cao, số vụ án trộm cắp tài sản có nhiều người tham gia ngày càng nhiều, đặc biệt xuất hiện các vụ án có sự tham gia của nhiều trẻ vị thành niên và nữ giới Tuy chưa có những băng nhóm trộm cắp chuyên nghiệp có tổ chức chặt chẽ nhưng đã hình thành những nhóm tội phạm lôi kéo nhiều đối tượng tham gia, với hành vi thủ đoạn ngày càng tinh vi nguy hiểm, có sự tham gia của những kẻ lưu manh côn đồ, tái phạm, tái phạm nguy hiểm,
đã xuất hiện một số vụ án có hành vi táo bạo hành hung để tẩu thoát, có sự cấu kết với các phần tử ở các tỉnh lân cận trong quá trình thực hiện, chỉ điểm, dẫn đường, tẩu tán và tiêu thụ tài sản Tài sản bị trộm cắp có giá trị lớn ngày càng tăng, kẻ phạm tội không chỉ nhằm vào sự sơ hở của người dân trong tỉnh mà còn nhằm vào du khách đến tham quan, chúng không chỉ thực hiện ở thành thị mà còn thực hiện cả ở vùng nông thôn, chúng không chỉ thực hiện ban đêm mà còn thực hiện cả ban ngày, càng gần đây số vụ hoạt động vào ban ngày càng gia tăng thường là các vụ đồng phạm có thông mưu trước thực hiện bằng những hành vi táo bạo, có sự phối hợp
Trang 38của nhiều người, có sự phân công cảnh giới, đảm nhiệm vai trò nhất định trong vụ
án, nhằm vào những chỗ đông người mất cảnh giác như cổng bệnh viện, ký túc xá, trước quán ăn…, những lúc buổi trưa mọi người ngủ trưa, những lúc chủ tài sản lơ
là trong việc bảo vệ tài sản
Tội trộm cắp tài sản là một trong các loại tội phạm chiếm tỷ lệ cao nhất trong trong cơ cấu các vụ án hình sự tại Hà Giang, số lượng vụ án trộm cắp tài sản được thực hiện dưới hình thức đồng phạm chiếm một tỷ lệ đáng kể, đây là một trong những vấn đề tội phạm còn nhức nhối mà đang cần các cấp các ngành vào cuộc nhằm góp phần đẩy lùi tình trạng gia tăng và phức tạp của loại tội phạm này góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân phục vụ tích cực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
2.2 Tình hình giải quyết và những kết quả đạt được trong công tác xét
xử các vụ án trộm cắp tài sản có đồng phạm tại tỉnh Hà Giang
Tội trộm cắp tài sản được thực hiện dưới hình thức đồng phạm trên địa bàn tỉnh Hà Giang tuy chủ yếu được thực hiện dưới hình thức đồng phạm giản đơn nhưng có xu hướng ngày càng gia tăng, các vụ đồng phạm phức tạp, có thông mưu trước tuy ít nhưng ngày càng nhiều, dẫn đến tình hình tội phạm ở Hà Giang trở nên ngày càng phức tạp hơn, nó xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu của của nhà nước, tập thể, tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh Trên cơ sở nhận thức được tình hình diễn biến của tội trộm cắp tài sản TAND các cấp đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn, dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu giải quyết loại tội phạm này góp phần đưa chỉ tiêu công tác của ngành được hoàn thành vượt mức, chất lượng xét xử được nâng cao, về cơ bản đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế những sai sót, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp về tải sản của nhà nước, tập thể, tổ chức và công dân, nhận được sự đồng tình, ủng hộ của chính quyền
và nhân dân, đem lại nhiều kết quả đáng ghi nhận
Tìm hiểu và nghiên cứu tình hình tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản nói chung trên địa bàn tỉnh Hà Giang tác giả có được con số thống kê: Từ năm 2010
Trang 39đến năm 2015 trong tổng số 1.772 vụ án hình sự được TAND các cấp tỉnh Hà Giang đưa ra xét xử sơ thẩm và phúc thẩm thì có 656 vụ án thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, số vụ án trộm cắp tài sản là 470 vụ án chiếm 26,5% các vụ án hình sự và chiếm 71,7% các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt; Trong tổng số 3159 bị cáo bị đưa ra xét xử hình sự sơ thẩm và phúc thẩm thì
có 1065 bị cáo thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, số bị cáo trộm cắp tài sản là 753 bị cáo chiếm 23,8% các bị cáo bị xét xử hình sự và chiếm 70,7% các bị cáo thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Điều này chứng tỏ số vụ án và số bị cáo trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt chủ yếu là tội trộm cắp tài sản và đây đang là vấn đề nổi cộm cần phải được ngăn chặn và đẩy lùi [58]
Bảng số liệu dưới đây thể hiện sự gia tăng và phức tạp của loại tội phạm trộm cắp tài sản tại tỉnh Hà Giang
Bảng 2.1 Bảng so sánh các vụ án xét xử sơ thẩm đối với tội trộm cắp tài sản từ
năm 2010 -2015 trên địa bàn tỉnh Hà Giang
vụ trộm
cắp tài sản
Số vụ có đồng phạm
Chiếm tỷ lệ (%) Tổng số bị cáo
trong tội trộm cắp tài sản
Số bị cáo đồng phạm
(Nguồn: Số liệu thống kê của TAND tỉnh Hà Giang năm 2010 – 2015)
Tìm hiểu về tình hình tội trộm cắp tài sản được thực hiện dưới hình thức đồng phạm trên địa bàn tỉnh Hà Giang ta thấy, ở vùng nông thôn bọn tội phạm thường hướng tới tài sản là xe máy, máy nông cụ, trâu, bò, dê và một số tài sản gia
Trang 40đình có giá trị… Ở các khu vực đô thị như thành phố Hà Giang và các thị trấn ở các huyện, những kẻ phạm tội thường trộm cắp những tài sản tương đối có giá trị như
xe máy, phụ tùng ô tô, máy vi tính, máy chiếu, tiền mặt, vàng bạc…chúng thực hiện tại các địa bàn như nhà trường, cơ quan, bệnh viện, trong khu dân cư, khu nhà trọ của sinh viên Số vụ án đồng phạm trộm cắp tài sản diễn ra ở thành thị là chủ yếu vì thành thị là vùng có kinh tế phát triển hơn có nhiều tài sản đáng có giá trị, có nhiều người không công ăn việc làm lêu lổng nghiện hút họ thường xuyên đàn đúm tụ tập,
rủ rê nhau cùng thực hiện tội phạm Ở thành thị với số lượng dân cư đông có sự quan sát của nhiều người xung quang, người dân có ý thức cảnh giác và bảo vệ tài sản cẩn thận hơn do vậy chúng càng cần có sự chuẩn bị chu đáo và phối hợp cao, chúng cần có kẻ chủ mưu vạch ra kế hoạch cẩn thận, cần có kẻ giúp sức đắc lực đắc lực để hành động dễ dàng, cần có sự phối hợp để thực hiện thành công tội phạm Mặt khác đây là khu vực tập trung đông các hàng quán, các công sở lại không có người quản lý trông coi, lợi dụng yếu điểm đó các đối tượng này thường đóng giả khách hàng của quán nhân lúc không để ý của mọi người rồi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản Những năm gần đây đối tượng trộm cắp là xe máy gia tăng, một phần
do nó có giá trị tương đối lớn, mặt khác loại tài sản này hiện nay có rất nhiều, người dân rất chủ quan trong việc quản lý loại tài sản (thường chỉ khóa điện không khóa
cổ, không khóa càng, buổi trưa thường để xe máy ngoài hiên, ngoài đường) Đặc biệt gần đây chúng đã nhằm tới tài sản là phụ kiện ô tô, xe máy, đồ tư trang của du khách đến tham quan tại tỉnh nhà
Từ năm 2010 đến năm 2015 số vụ án trộm cắp tài sản đã xét xử sơ thẩm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm là 181 vụ chiếm 38,6%, có 471 bị cáo đồng phạm bị đưa ra xét xử chiếm 62,5% Tỷ lệ số vụ trộm cắp tài sản và số bị cáo được thực hiện dưới hình thức đồng phạm tuy không cao nhưng cũng chiếm tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu tội trộm cắp tài sản, điều đáng chú ý là những vụ án đồng phạm, những bị cáo đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản năm sau cao hơn năm trước điều đó chứng tỏ tình hình tội trộm cắp tài sản được thực hiện dưới hình thức đồng phạm đang có xu hướng gia tăng thể hiện tích nguy hiểm của hành vi và quy