NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỚI DỊCH VỤ Y TẾ CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ THUỶ VÂN, HUYỆN HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Nguyễn Mậu Duyên*, Nguyễn Hoàng Lan**, Trạm Y tế xã Thủy Vân, Hươ
Trang 1NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỚI DỊCH VỤ Y TẾ
CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ THUỶ VÂN, HUYỆN HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Nguyễn Mậu Duyên*, Nguyễn Hoàng Lan**, Trạm Y tế xã Thủy Vân, Hương Thủy
* Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên Huế
** Khoa Y tế Công cộng - Đại học Y Dược Huế
TÓM TẮT
Việt Nam là một nước có thu nhập thấp nhưng đã đạt được những thành tích lớn trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân Mặc dù nguồn lực của nhà nước dành cho chi tiêu công nói chung và cho ngành y tế nói riêng còn hạn hẹp nhưng nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ tài chính cho người nghèo khi sử dụng các dịch vụ y tế Tuy nhiên vẫn có tình trạng thiếu công bằng trong chăm sóc sức khoẻ và khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế giữa các tầng lớp dân cư Đây là vấn đề
mà Nhà nước và ngành Y tế đang quan tâm Nghiên cứu này được thực hiện ở một xã ở Thừa Thiên Huế nhằm tìm hiểu những vấn đề chăm sóc sức khỏe, chi phí cho y tế từ khía cạnh hộ gia đình nhằm phát hiện một số tồn tại để góp phần bổ sung cho chính sách chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng công bằng và hiệu quả hơn
Qua nghiên cứu định lượng được tiến hành bằng phương pháp mô tả, cắt ngang, đã phỏng vấn 200 hộ gia đình có người ốm trong năm 2008 tại xã Thuỷ Vân, huyện Hương Thuỷ, Thừa Thiên Huế cho thấy:
- Tỷ lệ các hộ gia đình sử dụng dịch vụ KCB ngoại trú nhiều nhất ở TYT (81,8%)
- Tỷ lệ các hộ gia đình sử dụng dịch vụ điều trị nội trú vượt tuyến đến bệnh viện trung ương Huế chiếm đến 72%
- Gánh nặng tài chính y tế của các hộ gia đình nghèo và cận nghèo lớn hơn so với các hộ gia đình có mức sống giàu, đặc biệt trong dịch vụ chữa bệnh nội trú: chi tiêu cho y tế chiếm 119,3% tổng thu nhập ở hộ nghèo, so với chỉ 0,6% ở các hộ giàu Khoản chi lớn nhất của các hộ gia đình cho y tế là thuốc, bình quân 44.935 đồng cho khám chữa bệnh ngoại trú và 322.025 đồng cho điều trị nội trú
Để tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế giữa các tầng lớp dân cư, đặc biệt dân cư nghèo, chúng tôi nhận thấy cần phải tiếp tục tăng cường đầu tư đồng bộ cho tuyến y tế cơ sở bao gồm cả TYT xã, phòng khám đa khoa khu vực và bệnh viện tuyến huyện để đảm bảo cung cấp các dịch
vụ y tế chất lượng hiệu quả Cần tăng cường quản lý giá thuốc và xây dựng danh mục thuốc hợp
lý và ưu tiên đầu tư cho các hoạt động điều trị nội trú Chính phủ cần tiếp tục tăng cường các chính sách hỗ trợ người nghèo như cấp thẻ BHYT cho người nghèo, hỗ trợ đối tượng cận nghèo
có chi phí KCB quá cao
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một nước thuộc nhóm có thu nhập thấp của thế giới, nguồn lực của nhà nước dành cho chi tiêu công nói chung và cho ngành y tế nói riêng còn nhiều hạn hẹp Trong khi đó tỉ
lệ chi phí cho y tế của các hộ gia đình trong tổng chi phí y tế của Việt Nam chiếm đến 72%, đứng hàng thứ ba ở Châu Á, sau Campuchia và Ấn độ [4] Chi phí của các hộ gia đình tăng không chỉ
từ việc tăng sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế tư nhân mà còn từ các khỏan viện phí và chi phí thuốc từ các cơ sở y tế công Để đảm bảo công bằng trong y tế, chăm sóc sức khoẻ (CSSK) cho người nghèo luôn luôn là mối quan tâm của Đảng và nhà nước ta Trong thời gian qua đã có rất nhiều chính sách, giải pháp để hỗ trợ cho người nghèo trong CSSK được ban
Trang 2hành như: chính sách tăng đầu tư cho y tế, trong đó chú trọng ưu tiên kinh phí CSSK cho người dân ở các vùng khó khăn, vùng dân tộc ít người, tăng kinh phí để phát triển mạng lưới y tế cơ sở, miễn giảm phí dịch vụ y tế cho người nghèo, mở rộng bảo hiểm y tế (BHYT) [3] Tuy nhiên sự tiếp cận với các dịch vu y tế của các hộ gia đình nghèo ở khu vực nông thôn Việt Nam còn nhiều hạn chế [1] Nghiên cứu này được thực hiện ở một xã ở Thừa Thiên Huế nhằm tìm hiểu sự tiếp cận của người dân đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chi phí cho y tế từ khía cạnh hộ gia đình nhằm phát hiện một số tồn tại để góp phần bổ sung cho chính sách chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng công bằng và hiệu quả hơn
Mục tiêu nghiên cứu
1 Nghiên cứu tình hình sử dụng dịch vụ y tế của các hộ gia đình ở xã Thuỷ Vân, huyện Hương Thuỷ
2 Tìm hiểu về chi phí của hộ gia đình, người dân trong sử dụng các dịch vụ y tế để chăm sóc sức khỏe
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ gia đình có người ốm trong năm 2008 tại xã Thuỷ Vân, huyện Hương Thuỷ, Thừa Thiên Huế
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng được tiến hành theo phương pháp mô tả, cắt ngang Thông tin được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp dựa vào bảng câu hỏi được thiết kế sẵn
- Phỏng vấn những trường hợp ốm đau trong 4 tuần kể từ ngày điều tra trở về trước
- Phỏng vấn những trường hợp sử dụng dịch vụ nội trú trong 12 tháng kể từ ngày điều tra trở về trước
2.3 Cỡ mẫu:
Áp dụng công thức: n = 4 x trong đó: P= 3%; d= 0,65; n= 198
2.4 Phương pháp chọn mẫu:
- Y tế thôn liệt kê danh sách các hộ gia đình trong thôn có người ốm, tổng cộng có 200 hộ
- Dựa vào danh sách được cung cấp, nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn người đại diện hộ gia đình
2.5 Phân tích và xử lý số liệu: Số liệu được xử lý và phân tích theo chương trình SPSS.
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 3.1 Tình hình sử dụng dịch vụ y tế của người dân xã Thuỷ Vân
3.1.1 Lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh khi ốm đau trong 4 tuần
Bảng 1 Tỉ lệ hộ gia đình chọn nơi khám chữa bệnh khi ốm đau trong 4 tuần
Loại hình
KCB
Cơ sở y tế
Tổng cộng Trạm y
tế
BV giao thông vận tải
BV thành phố
BV Trung ương
Bác sĩ tư Tự
điều trị Nội trú
Tỉ lệ %
Ngoại trú
Tỉ lệ %
P (1-P)
d2
Trang 3(p= 0,000) Bảng 1 cho thấy khi ốm đau trong vòng 4 ngày trước điều tra, hầu hết gia đình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) ngoại trú; trong đó trạm y tế được đến nhiều nhất với 39,3% số
hộ gia đình với lí do bắt buộc (do nơi đăng ký BHYT 81,8%) Tự điều trị và bác sĩ tư nhân cũng được các hộ gia đình chọn với tỉ lệ tương đối cao (30,5%; 21,5%) Đây là hiện tượng phổ biến ở Việt Nam theo điều tra y tế quốc gia 2001-2002, vì “nhanh, thuận tiện, không phải mất thời gian, đặc biệt không mất chi phí khám bệnh trong trường hợp tự điều trị Trường hợp này gặp nhiều hơn ở những hộ gia đình nghèo 16,5% so với 1,4% người giàu” [2], điều này khiến chi phí cho bệnh tật tăng cao ở các hộ nghèo
Bảng 2 Lí do chọn nơi KCB ngoại trú theo cơ sở y tế công (Đơn vị: %)
Thông Vận Tải
BV thành phố Huế
BV trung ương Huế
(p=0,806) Kết quả bảng 2 cho thấy lí do để lựa chọn cơ sở y tế công khi KCB ngoại trú đều với lí do bắt buộc, không một cơ sở y tế nào được các hộ gia đình đánh giá dịch vụ KCB ngoại trú có chất lượng hay thuận lợi về mặt thời gian Với các bệnh viện tuyến trên như bệnh viện trung ương đây
là một kết quả không mong đợi, có lẽ người bệnh mong muốn được phục vụ nhiều hơn khi họ phải đóng viện phí hay vượt tuyến điều trị
3.1.2 Lựa chọn dịch vụ KCB nội trú tại các cơ sở y tế ở các trường hợp bệnh mạn tính
Bảng 3 Tỉ lệ các hộ gia đình chọn cơ sở y tế khi sử dụng dịch vụ điều trị nội trú / năm
khu vực
BV GTVT
BV thành phố
BV trung ương
Không điều trị
Tổng cộng
Kết quả bảng 3 cho thấy có 72% các hộ gia đình chọn bệnh viện trung ương là nơi điều trị nội trú khi bệnh quá nặng, mặc dù chỉ có 5,6% hộ gia đình vì đăng ký BHYT ở đó Hầu hết các
hộ gia đình tự đến vì đây là tuyến điều trị cao nhất, trang thiết bị hiện đại và đầy đủ nhất trong hệ thống các bệnh viện trong tỉnh Kết quả này cũng phù hợp với điều tra y tế quốc gia 2001-2002, việc khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế tuyến trên do vượt tuyến cũng là nguyên nhân làm gia tăng chi phí y tế cho các hộ gia đình Đáng chú ý có 5% tổng số hộ gia đình không sử dụng dịch
vụ nội trú khi ốm trong vòng 12 tháng trước ngày điều tra, đây là hiện tượng hay gặp ở những hộ gia đình nghèo ở nông thôn có thể do bệnh có thể chờ tự khỏi hay vì ở xa cơ sở y tế hoặc vì lí do kinh tế [1] Hậu quả của những trường hợp này dẫn đến bệnh tật không được điều trị kịp thời đến khi bệnh trở nên nguy kịch thì điều trị càng khó khăn và tốn kém hơn
Trang 4Bảng 4 Phân bố lí do sử dụng dịch vụ y tế nội trú theo cơ sỏ y tế công (Đơn vị: %)
khu vực GTVT BV thành phố BV trung ương BV
(p= 0,000) Kết quả ở bảng 4 cho thấy TYT xã, phòng khám khu vực, bệnh viện thành phố và bệnh viện giao thông vận tải được các hộ gia đình chọn khi phải điều trị nội trú là do đó là nơi đăng ký BHYT (80%; 100%; 63,6% và 81,1%), hoặc là do chuyển tuyến như bệnh viện thành phố (27,3%) và bệnh viện GTVT (18,9%) Khi thấy bệnh quá nặng các hộ gia đình tự đến bệnh viện trung ương Huế (40,6%)
3.2 Gánh nặng tài chính y tế của các hộ gia đình
3.2.1 Tỉ lệ chi phí của các hộ gia đình khi sử dụng dịch vụ y tế ngoại trú
Hình 1 Tỉ lệ chi phí y tế của các hộ gia đình trong 4 tuần so với thu nhập
(p=0,386) Hình 1 cho thấy chi tiêu cho y tế trong 4 tuần trước khi điều tra ở các hộ nghèo, cận nghèo và trung bình chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều so với các hộ có mức sống khá và giàu (0,28; 0,29% so với 0,1% và 0,02%)
3.2.2 Tỉ lệ chi phí của các hộ gia đình khi sử dụng dịch vụ nội trú
Bảng 5 Tỉ lệ chi phí cho y tế khi sử dụng dịch vụ nội trú trong vòng 12 tháng
Tỉ lệ chi tiêu
(p=0,419) Bảng 5 cho thấy ở các hộ gia đình có mức sống nghèo khoảng chi phí khi phải nằm điều trị tại cơ sở y tế lớn nhất, trung bình chiếm đến 119,3% mức thu nhập, trong khi các hộ có mức sống giàu chỉ chi phí ở mức 0,6% so với tổng thu nhập
Trang 5Các hộ gia đình nhóm nghèo phải chịu gánh nặng chi phí lớn khi sử dụng dịch vụ y tế so với tổng thu nhập so với các hộ gia đình thuộc nhóm giàu, đặc biệt khi nằm viện Kết quả này tuơng tự với kết quả của các nghiên cứu trên thế giới [5] và điều tra y tế quốc gia 2001-2002, phản ánh sự mất công bằng trong đóng góp tài chính cho y tế, thường gặp ở các nước đang phát triển [5] Tuy nhiên ở nghiên cứu này, tỉ lệ chi phí cho điều trị nội trú so với thu nhập cao hơn nhiều, đến 119,3% Điều này có thể giải thích việc vay nợ, bán trâu bò để có tiền đi bệnh viện trở thành một hiện tượng khá phổ biến đối với các hộ nghèo, cận nghèo ở một số nghiên cứu [2] và theo ước tính hàng năm Việt Nam có khoảng 3 triệu người rơi vào cảnh đói nghèo do chi phí y tế (Dahgren, 2000)
3.2.3 Các khoản chi của các hộ gia đình khi sử dụng các dịch vụ y tế
Bảng 6 Các khoản chi của các hộ gia đình khi sử dụng các dịch vụ y tế nội và ngoại trú
6 Thức ăn liên quan đến điều trị 7600
Bảng 6 cho thấy chi phí lớn nhất của các hộ gia đình khi sử dụng dịch vụ y tế dành cho thuốc, bình quân trong 4 tuần trước ngày điều tra chi 44.935 đồng/hộ và trong vòng 12 tháng khi
sử dụng dịch vụ điều trị nội trú bình quân chi hết 322.025 đồng/hộ cho thuốc Kết quả này phù hợp với điều tra y tế quốc gia 2001-2002 điều này cho thấy hiện tượng người bệnh tự bỏ tiền ra
để mua thuốc trong quá trình điều trị tại các cơ sở y tế là một hiện tượng thường gặp Đây là kết quả của việc thiếu thuốc tại các cơ sở y tế hay sử dụng thuốc không hợp lý, thường sử dụng các loại thuốc ngoại nhập đắt tiền [3] Khoản chi đáng kể nữa của các hộ gia đình trong quá trình nằm viện là viện phí bình quân 42.725 đồng/hộ Viện phí cũng làm gia tăng đáng kể gánh nặng tài chính y tế ở các hộ gia đình Điều này phản ánh tình trạng vượt tuyến do không muốn sử dụng các cơ sỏ y tế theo qui định của hệ thống vì lí do chất lượng [1] Sau đó là thức ăn cho bệnh nhân
và cho người nuôi bệnh trong quá trình điều trị nội trú
4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 4.1 Kết luận
- Tỷ lệ các hộ gia đình sử dụng dịch vụ KCB ngoại trú trong 4 tuần trước khi điều tra chiếm đa số (56/4 hộ) Bệnh nhân điều trị ngoại trú được phân bố nhiều nhất ở TYT (81,8%), do
đó là nơi đăng ký BHYT
- Tỷ lệ các hộ gia đình sử dụng dịch vụ điều trị nội trú trong 12 tháng trước khi điều tra vượt tuyến đến bệnh viện trung ương Huế chiếm đến 72%
- Gánh nặng tài chính y tế của các hộ gia đình nghèo và cận nghèo lớn hơn so với các hộ gia đình có mức sống giàu, đặc biệt trong trường hợp sử dụng dịch vụ chữa bệnh nội trú (chi tiêu cho y tế chiếm 119,3% tổng thu nhập ở hộ nghèo, so với chỉ 0,6% ở các hộ giàu)
- Khoản chi lớn nhất của các hộ gia đình cho y tế là thuốc, bình quân 44.935 đồng cho khám chữa bệnh ngoại trú và 322.025 đồng cho điều trị nội trú
Trang 64.2 Kiến nghị
- Tăng cường đầu tư cho tuyến y tế cơ sở bao gồm TYT xã, phòng khám đa khoa khu vực
và bệnh viện huyện (bệnh viện giao thông vận tải) đảm bảo cung cấp các dịch vụ y tế chất lượng hiệu quả
- Đối với các dịch vụ KCB, cần ưu tiên đầu tư cho các hoạt động điều trị nội trú
- Tăng cường quản lý giá thuốc và xây dựng danh mục thuốc hợp lý hơn để tránh hiện tượng thiếu công bằng trong trong chi trả dịch vụ y tế
- Tăng cường các chính sách hỗ trợ người nghèo như cấp thẻ BHYT cho người nghèo, hỗ trợ đối tượng cận nghèo có chi phí KCB quá cao
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1 Bộ y tế, Báo cáo chuyên đề Đánh giá hiệu quả sử dụng dịch vụ y tế- Điều tra y tế quốc gia 2001-2002 Nhà xuất bản y học, 2003
2 Bộ y tế, Báo cáo chuyên đề Chính sách hỗ trợ của nhà nước trong chăm sóc sức khoẻ- nhìn từ phía người hưởng lợi Điều tra y tế quốc gia 2001-2002 Nhà xuất bản y học, 2003
3 Chương trình hợp tác y tế Việt Nam- Thuỵ Điển Các giải pháp tài chính y tế cho người nghèo Nhà xuất bản y học, 2007
Tiếng Anh
4 WHO, index of health development, 2006
5 The World Bank group, Financing health systems in the 21st century, World Bank 2006