1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng cuả thời vụ gieo hạt đến khả năng nảy mầm và chất lượng cây hoàng bá trong giai đoạn vườn ươm

49 419 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 878,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, để có cơ sở cho việc phát triển nguồn dược liệu “Hoàng Bá” trên quy mô lớn một cách hiệu quả, bền vững, chúng tôi đề xuất đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng cuả thời vụ gieo hạt

Trang 1

TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp

Khóa luận được hoàn thành là nhờ sự quan tâm giúp đỡ của các đơn vị,

cơ quan và nhà trường

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo

TS Nguyễn minh Tuấn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em

vượt qua khó khăn để hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của Hạt kiểm lâm Phia đén đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu đề tài

Em cũng chân thành cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn động viên giúp

đỡ em về tinh thần, vật chất trong quá trình học tập và thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp cuối khóa học

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Hoàng trọng Dũng

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 01: Sơ đồ thí nghiệm 27

Bảng 4.1: Một số yếu tố khí hậu tỉnh Cao Bằng (năm 2014 - 2015) 31

Bảng 4.2 Thời gian nảy mần trung bình của các công thức 32

Bảng 4.3 Tỉ lệ nảy mần trung bình của các công thức 33

Bảng 4.4 Trung bình số lá trên cây của các công thức 34

Bảng 4.5 Chiều dài lá trung bình của cây qua các công thức 35

Bảng 4.6 Chiều rộng lá trung bình của cây qua các công thức 36

Bảng 4.7 Trung bình chiều cao cây 37

Bảng 4.8 Tỉ lệ sâu hại cây Hoàng bá 38

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 01: Ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến thời gian nảy

mầm của Hoàng Bá 32

Hình 02: Ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến tỷ lệ nảy mầm

của Hoàng bá 33

Hình 03: Ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến số cành lá trên cây

trong giai đoạn vườn ươm 34

Hình 04: Ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến chiều dài lá của hoàng bá

trong giai đoạn vườn ươm 35

Hình 05: Ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến chiều rộng lá của hoàng bá

trong giai đoạn vườn ươm 36

Hình 06: Ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến chiều cao cây Hoàng Bá 37

Hình 07: Ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến sâu xám hại Hoàng Bá

trong giai đoạn vườn ươm 38

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Nông nghiệp & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

IUCN : Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế

WWF : Quỹ hoang dã thế giới

VBTCT : Vườn bảo tồn cây thuốc

TS : Tiến sĩ

Trang 7

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục Đích yêu cầu của đề tài 3

1.2.1 Mục đích của đề tài 3

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.2 Nguồn gốc,đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây Hoàng Bá 4

2.2.1 Nguồn gốc của cây hoàng bá 4

2.2.2 Phân bố của cây hoàng bá 5

2.2.3 Đặc điểm thực vật học của cây hoàng bá 5

2.2.4 Yêu cầu sinh thái của cây hoàng bá 6

2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây Hoàng bá trên thế giới và Việt Nam 6

2.3.1 Tình hình nghiên cứu dược liệu trên thế giới 6

2.3.2 Tình hình sản xuất và sử dụng cây Hoàng Bá trên thế giới 10

2.3.3 Tình hình nghiên cứu về dược liệu trong nước 12

2.3.4 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây hoàng bá tại Việt Nam 16

2.4 Tình hình kinh tế xã hội địa điểm nghiên cứu 21

2.4.1 tình hình kinh tế xã hội Cao Bằng 21

2.4.2 Tình hình nghiên cứu dược liệu tại cao bằng 22

2.4.3 Tình hình nghiên cứu dược liệu tại Phia Đén - Nguyên Bình 23

2.4.4 Tình hình kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 25

Phần 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 26

3.1 Vật liệu nghiên cứu 26

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26

Trang 8

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 27

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 27

3.2.3 Nội dung nghiên cứu 27

3.3 Phương pháp nghiên cứu 27

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 27

3.3.2 Chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu 28

3.3.3 Tiêu chuẩn cây con xuất vườn 28

3.4 phương pháp xử lý số liệu 28

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu Nguyên Bình năm 2014-2015 30

4.2 Ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến thời gian nảy mầm của Hoàng Bá 31

4.3 Ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến tỷ lệ nảy mầm của Hoàng bá 33

4.4 Ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến số lá trên cây trong

giai đoạn vườn ươm 34

4.5 Ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến chiều dài lá của Hoàng Bá

trong giai đoạn vườn ươm 35

4.6 Ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến chiều rộng lá của Hoàng Bá

trong giai đoạn vườn ươm 36

4.7 Ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến chiều cao cây Hoàng Bá 37

4.8 Ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến sâu xám hại Hoàng Bá

trong giai đoạn vườn ươm 38

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39

5.1 Kết luận 39

5.2 Kiến nghị 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

1.1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong cuộc sống dược liệu vô cùng quan trọng nhằm ngăn ngừa bệnh tật và bảo đảm sức khỏe ngày nay, dược liệu được làm từ thực vật ngày càng được ưa chuộng bởi những ưu điểm: vừa đáp ứng được nhu cầu người bệnh,

có tác dụng chữa bệnh tốt lại rẻ tiền, việc sử dụng tương đối dễ dàng và đặc biệt là ít gây tác dụng phụ cho người bệnh Những tính năng ưu việt trên cũng

là lí do để chúng ta cần coi trọng nguồn dược liệu quí giá của thiên nhiên và coi đó như một loại cây công nghiệp cao cấp

Thế kỉ 21 là thế kỉ sinh học và công nghệ sinh học, dược liệu và tài nguyên di truyền – tài nguyên tái tạo Do vậy, việc giữ gìn và phát huy tài nguyên di truyền trở thành yêu cầu cấp thiết Dùng thế mạnh cây dược liệu đẩy mạnh công nghiêp dược, đưa ngành công nghiệp này trở thành ngành kinh tế kĩ thuật mũi nhọn của đất nước sẽ góp phần quan trọng đưa kinh tế -

xã hội phát triển

Xu hướng hiện nay của nền y dược Việt Nam là kết hợp y dược hiện đại và y dược cổ truyền Do đó, cây dược liệu Việt Nam đang được quan tâm chú ý Tiềm năng của thảm thực vật nước ta rất lớn Tuy nhiên, nguồn tài nguyên dược liệu tự nhiên đang ngày một cạn kiệt, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, cây dược liệu nuôi trồng đang bị thu hẹp hoặc phát triển một cách tự phát mất cân đối Sự giảm sút nguồn dược liệu có nhiều nguyên nhân, có thể chủ quan lẫn khách quan, sự khai thác tràn lan, trình độ nhận thức con người còn hạn chế nhất là tại vùng miền núi nơi có nhiều tài nguyên sinh vật Hơn nữa trước yêu cầu của phát triển kinh tế, xã hội đời sống chúng ta đang phải đối mặt mâu thuẫn giữa cung và cầu, bảo tồn và khai thác sử dụng nguồn tài nguyên quý giá này

Trang 10

Khai thác, bảo vệ và phát triển tài nguyên sinh vật nói chung và nguồn cây dược liệu nói riêng đang là vấn đề cấp bách được đặt lên hàng đầu Bởi vì bảo vệ tài nguyên sinh vật là chúng ta đang bảo vệ sự cân bằng sinh thái, bảo

vệ sự đa dạng sinh học và môi trường, bảo vệ chính chúng ta về sức khỏe, kinh tế, văn hóa, Hơn nữa, phát triển dược liệu trong giai đoạn tới cũng mở

ra cơ hội rất lớn cho việc giao thương, tham gia thị trường quốc tế về dược liệu và dược phẩm có nguồn gốc tự nhiên

Hoàng Bá cũng là một trong những cây dược liệu đang được nước ta chú ý đầu tư và phát triển, bởi Hoàng Bá là cây thân gỗ to, phát trển tốt ở phần lớn các vùng núi phía bắc Nơi có thời tiết mát mẻ, còn nhiều diện tích đất chưa được đưa vào sử dụng Cây Hoàng Bá khi được trồng ở đây không những giúp nhân dân có được thêm nguồn thu nhập từ dược liệu mà còn góp phần phủ xanh đất trống, đồi trọc, chống xói mòn Tuy nhiên việc phát triển cây Hoàng Bá vẫn còn gặp khá nhiều khó khăn, do các nghiên cứu, hiểu biết

về các đặc điểm, đặc tính, sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài tới cây Hoàng Bá còn hạn chế

Từ những lý do trên việc nghiên cứu, quy trình nhân giống tốt nhất để

có tỷ lệ cây con đạt chất lượng cao khi xuất vườn, tiết kiệm chi phí nhân giống, kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc để cho cây sinh trưởng, phát triển tốt và tích luỹ được hàm lượng hoạt chất cao nhất phục vụ cho nhu cầu sản xuất thuốc là vô cùng quan trọng

Chính vì vậy, để có cơ sở cho việc phát triển nguồn dược liệu “Hoàng Bá” trên quy mô lớn một cách hiệu quả, bền vững, chúng tôi đề xuất đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng cuả thời vụ gieo hạt đến khả năng nảy mầm và chất lượng cây Hoàng Bá trong giai đoạn vườn ươm”

Trang 11

1.2 Mục Đích yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích của đề tài

Xác định được thời vụ gieo hạt thích hợp nhất đến khả năng nảy mầm và chất lượng cây Hoàng Bá trong giai đoạn vườn ươm

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Xác định được ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến khả năng nảy mầm

và tỷ lệ nảy mầm của cây

- Xác định được ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến chất lượng cây con trong vườn ươm

1.3 Ý nghĩa của đề tài

+ Ý nghĩa trong học tập: Giúp sinh viên củng cố kiến thức đồng thời biết vận dụng những kiến thức đã học được vào thực tế Biết cách thực hiện một khoá luận tốt nghiệp, có thêm kiến thức và kinh nghiệm sản xuất

+ Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học: Giúp sinh viên tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chuyên môn đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, nghiêm túc, sáng tạo đúc rút được những kinh nghiệm thực tế

+ Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Tìm ra quy trình nhân giống tốt nhất

để có tỷ lệ cây con đạt chất lượng cao khi xuất vườn, tiết kiệm chi phí nhân giống Có được nguồn giống chất lượng cao để đưa vào sản xuất

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Trong cuộc sống hiện nay, việc giữ gìn và phát huy tài nguyên di truyền trở thành yêu cầu cấp thiết Vì lí do đó đã có rất nhiều nghiên cứu về quy trình nhân giống tốt nhất để có tỷ lệ cây con đạt chất lượng cao khi xuất vườn, tiết kiệm chi phí nhân giống, kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc để cho cây sinh trưởng, phát triển tốt và tích luỹ được hàm lượng hoạt chất cao nhất phục

vụ cho nhu cầu sản xuất thuốc

Cùng với các cây dược liệu khác thì nguồn giống cây Hoàng Bá còn hạn chế, không đủ để đưa vào gieo trồng và sản suất

Trên cơ sở đó chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng cuả thời

cụ gieo hạt đến khả năng nảy mầm và chất lượng cây Hoàng Bá trong giai đoạn vườn ươm” để có thêm nguồn cây giống Hoàng Bá chất lượng phục vụ

cho sản xuất

2.2 Nguồn gốc,đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây Hoàng Bá

2.2.1 Nguồn gốc của cây hoàng bá

Hoàng bá còn gọi là hoàng nghiệt

Tên khoa học: Phellodendron amurense Rupr (Phellodendron amurense Rupr var sachalinense Fr.Schmidt)

Thuộc họ cam quít Rutaceae

Hoàng Bá mọc tự nhiên và rải rác tại các sườn núi ở Trung Quốc và Nga Cây ưa khí hậu mát vùng núi cao từ 1300m trở lên (Nguyễn Hoàng Tuấn 2012) [3]

Hoàng Bá là cây thuốc được nhập nội từ Trung Quốc vào nước ta vào cuối những năm 1960, sau một thời gian di thực và trồng ở Sa Pa – Lào Cai

và Quảng Bạ - Hà Giang, cây đã sinh trưởng và phát triển tốt Từ những năm

1970, Bệnh viện Y học cổ truyền dân tộc Cao Bằng lấy hạt giống từ Quảng

Trang 13

Bạ - Hà Giang về trồng ở huyện Hà Quảng và huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng với số lượng cây lúc đó là gần 200 cây, Hoàng Bá đã sinh trưởng và phát triển rất tốt tại Cao bằng Cho đến nay, nguồn giống Hoàng Bá tại Cao Bằng đã bị người dân khai thác theo hình thức “tận diệt” chặt cả cây, nên số lượng cây Hoàng Bá tại cao Bằng chỉ còn khoảng 50 cây với độ tuổi từ 20 -

30 năm Trước thực tế đó, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã kết hợp với Hội Đông y tỉnh Cao Bằng và Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Cao Bằng đã thực hiện nhiệm vụ Bảo tồn nguồn gen Hoàng Bá tại huyện Hà Quảng, huyện Thông Nông tỉnh Cao Bằng Kết quả của công tác bảo tồn nguồn gen Hoàng Bá, chúng tôi đã lựa chọn được trên 30 cây đạt tiêu chuẩn

để giống (cây mẹ) Như vậy, hiện nay nguồn gen Hoàng Bá còn lại chủ yếu ở

Sa Pa tỉnh Lào Cai Ngoài ra, hạt giống Hoàng Bá có thể phát tán nhờ gió, mưa và chim nên nguồn gen Hoàng Bá còn mọc rải rác ở một số tỉnh lân cận với Cao Bằng, Lào Cai và Hà Giang Song hiện nay, chưa có tác giả nào đánh giá

về sự phân bố nguồn gen Hoàng Bá ở các tỉnh miền núi phía Bắc (Nguyễn Hoàng Tuấn 2012) [3]

2.2.2 Phân bố của cây hoàng bá

Cây Hoàng Bá có nhiều ở vùng Đông Bắc châu Á Tại Trung Quốc, hoàng bá mọc ở Hắc Long Giang, Hà Bắc, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu Tại nước Nga, Hoàng Bá mọc ở nhiều ở vùng Xibêri

Nước ta di thực cây Hoàng Bá vào trồng từ cuối những năm 1960 ở Lào Cai (Sa Pa), Lai Châu (Sìn Hồ), Vĩnh Phú (Tam Đảo) và Lâm Đồng (Đà Lạt) Mấy năm gần đây, chúng ta đã xin được hạt và bắt đầu trồng thí nghiệm

Sơ bộ thấy cây mọc khỏe, tốt Nhưng chưa đưa ra trồng với quy mô lớn

Cây Hoàng Bá sinh trưởng khỏe và mọc rất tốt ở điều kiện khí hậu Việt Nam cho nên Việt Nam đang có nhiều lợi thế để phát triển nguồn gen cây Hoàng Bá làm nguyên liệu sản xuất thuốc (Nguyễn Hoàng Tuấn 2012)[3]

2.2.3 Đặc điểm thực vật học của cây hoàng bá

Hoàng Bá còn gọi là Nghiệt Bì (Thương Hàn Luận), Nghiệt Mộc (Bản Kinh), Hoàng Nghiệt (Bản Thảo Kinh Tập Chú), Sơn Đồ (Hòa Hán Dược

Trang 14

Khảo) và có tên khoa học là Phellodendron amurense thuộc họ cam Rutaceae

(Nguyễn Hoàng Tuấn 2012)[3]

Hoàng Bá là cây gỗ to, cao 10-25 m, đường kính thân tới 50 – 60 cm,

vỏ thân sần sùi, phần ngoài màu nâu xám, lớp trong màu vàng, trên có lấm tấm nhiều vết lỗ vỏ Lá cây Hoàng Bá là lá kép lông chim, mọc đối có 5 – 13

lá chét hình trứng thuôn, đuôi lá nhọn dài, phiến lá mềm, nhẵn, cuống rất ngắn và mép nguyên lá dài 5 – 12 cm, rộng 3 – 4,5 cm, mép lá có răng cưa hoặc hình gợn sóng, mặt trên lá có màu lục xám, mặt dưới có màu xanh nhạt, phần gốc của gân giữa có lông che chở phần mềm Cây có hoa đực và cây có hoa cái khác nhau hoa đơn tính khác gốc hoa nhỏ màu vàng lục hoặc vàng nhạt Quả mọng (quả thịt) hình cầu, khi chín có màu tím đen, có mùi thơm, mỗi quả chưa 2-5 hạt, hạt cứng và bùi nên chim chuột rất thích ăn Mùa hoa vào các thàng 5 – 7, mùa quả vào các tháng 9 – 11 Hoàng Bá là cây rụng lá vào mùa đông (Nguyễn Hoàng Tuấn 2012) [3]

Vi phẫu: Lớp bần còn sót lại rất mỏng gồm vài hàng tế bào hình chữ nhật dẹt Mô mềm vỏ chiếm 1/3 bề dày vỏ thân, gồm những tế bào có thành mỏng, nhiều đám sợi rải rác và có tinh thể calci oxalate hình thoi Lớp libe cấp 2 dày, chiếm 2/3 bề dày vỏ thân, có nhiều đám sợi nằm trong libe, có thành dày, khoang hẹp; bên cạnh có tinh thể calci oxalate hình thoi Tia ruột gồm 2 – 4 dãy tế bào hình chữ nhật, thành mỏng, xếp ngoằn ngèo theo hướng xuyên tâm (Bộ Y tế và Bộ KHCN 2009) [5]

2.2.4 Yêu cầu sinh thái của cây hoàng bá

Cây Hoàng Bá ưa khí hậu mát, chịu được rét, thích hợp với vùng núi có

độ cao từ 1000m trở lên, nhiệt độ trung bình năm 15-20oC, lượng mưa 2500mm/năm nên có thể phát triển tốt ở các vùng núi cao ở phía Bắc Việt Nam trong đó có tỉnh Cao Bằng Hoàng Bá sống tốt ở thung lũng, ven suối và nơi khuất gió, phát triển chậm ở đất khô cằn, thiếu nước và dãi nắng

2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây Hoàng bá trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Tình hình nghiên cứu dược liệu trên thế giới

Trang 15

Từ ngàn xưa, trong quá trình hái lượm các loại cây cỏ để làm thức ăn, con người đã phát hiện ra những cây cỏ có độc thì tránh Những cây cỏ ăn được thì sử dụng làm lương thực, thực phẩm Những loại cây cỏ ăn vào khỏi bệnh thì dần được tích lũy thành kinh nghiệm sử dụng làm thuốc và được truyền tụng từ đời này qua đời khác Cùng với sự tiến hóa và phát triển của xã hội, kho tàng kiến thức về cây thuốc của nhân loại ngày càng trở nên phong phú

Năm 2838 TCN, Thần Nông đã biên soạn cuốn sách “ Thần nông bản thảo” Cuốn sách có ghi chép về 364 vị thuốc và cách sử dụng Đây là cuốn sách nền tảng cho sự phát triển của nghành y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay

Năm 1595, Lý Thời Trân đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về cây thuốc, kinh nghiệm sử dụng và soạn ra cuốn “ Bản thảo cương mục” Đây là cuốn sách vĩ đại nhất của Trung Quốc về lĩnh vực dược liệu, mô tả 1094 cây thuốc và vị thuốc

từ cây cỏ

Năm 348 – 322 TCN , Aristote người Hy Lạp đã có những ghi chép về cây cỏ của Hy Lạp Sau đó năm 340 Theophrate với tác phẩm “ Lịch sử vạn vật ” đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công dụng của chúng Tuy tác phẩm chỉ mới dừng lại ở mô tả các đặc điểm của cây cỏ, nhưng nó đã đặt nền tảng cho các khoa học nghiên cứu về thực vật sau này

Năm 60 – 20 TCN, thầy thuốc Dioscorides người Hy Lạp đã mô tả 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh, ông cũng là người đặt nền móng cho y dược học Hy Lạp

Năm 79 – 24 TCN, nhà tự nhiên học Plinus người La Mã đã soạn thảo

bộ sách “ Vạn vật học” gồm 37 tập, giới thiệu gần 1000 loài thực vật có ích

Năm 1952, A.Petelot đã soạn thảo cuốn sách “ Les plantes de médicinales du Cambodye, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập đã giới thiệu về các loại cây thuốc và sản phẩm làm thuốc ở Đông Dương

Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1985, trong tổng

số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, khoảng

Trang 16

20.000 loài được sử dụng làm thuốc ở mức độ khác nhau Trong đó, Ấn Độ được biết trên 6000 loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng về thực vật có hoa

ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài là cây thuốc

Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có tài liệu hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt đối với cây thuốc (Guidelines on good agricultural and collection practices for medicinal plants) Tài liệu đã đưa ra những hướng dẫn

cụ thể từ chọn cây thuốc, chọn vùng trồng trọt thích hợp, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch Đây là một hướng dẫn và là thước

đo chất lượng sản phẩm dược liệu khi trở thành sản phẩm hàng hóa trên thế giới Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước đã dựa trên tài liệu hướng dẫn này

để xây dựng khung quy định chung cho sản xuất cây dược liệu, nhằm đưa cây dược liệu và các sản phẩm dược liệu trở thành sản phẩm hàng hóa trên toàn Thế giới

Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đã đẩy mạnh việc nghiên cứu các chế phẩm mới từ cây thuốc Ở Mỹ, 25% các đơn thuốc được pha chế tại các cửa hàng dược gồm các chất chiết từ cây cỏ, 13% từ các loài

vi sinh và 3% từ động vật với nhu cầu hàng tỷ USD/ năm Ở Trung Quốc, có

940 xí nghiệp và xưởng sản xuất thuốc từ cây cỏ với 6266 mặt hàng; doanh thu các thuốc từ cây cỏ chiếm 33,1% thị trường thuốc năm 1995; tổng giá trị xuất khẩu dược liệu và thuốc cổ truyền từ năm 1997 đạt 600 triệu USD Hiện nay, Trung Quốc có chủ trương đầu tư mạnh cho công tác nghiên cứu dược liệu, đã tự túc được khoảng 90% nhu cầu thuốc trong nước, trong đó thuốc sản xuất từ nguồn gốc thực vật chiếm ưu thế

Như vậy, con người đã nghiên cứu về các loại cây thuốc từ rất lâu đời Ban đầu, những nghiên cứu về cây thuốc chỉ dừng lại ở mức mô tả các đặc điểm và cách sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật phát triển, đã có nhiều nghiên cứu sâu hơn về hoạt chất chính có tác

Trang 17

dụng trong cây thuốc, tạo sự tin tưởng cho người bệnh khi sử dụng các sản phẩm thuốc có nguồn gốc từ cây cỏ

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá cho đến nay 80% dân số trên thế giới dựa vào nền y học cổ truyền để đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu, trong đó chủ yếu là thuốc từ cây cỏ.Sự quan tâm về các hệ thống y học cổ truyền và đặc biệt là các loại thuốc dược thảo, thực tế là đã ngày càng gia tăng tại các nước phát triển và đang phát triển trong hơn hai thập kỷ qua Các thị trường dược thảo quốc gia và toàn cầu đã và đang tăng trưởng nhanh chóng và hiện đang mang lại rất nhiều lợi nhuận kinh tế Theo Ban Thư ký Công ước về đa dạng sinh học, doanh số toàn cầu của các sản phẩm dược thảo ước tính tổng cộng có đến 80 tỷ USD vào năm 2002 và chủ yếu ở thị trường Châu Mỹ, Châu Âu và Châu Á

Thế giới ngày nay có hơn 35.000 loài thực vật được dùng làm thuốc Khoảng 2500 cây thuốc đượcbuôn bán trên thế giới Có ít nhất 2000 cây thuốc được sử dụng ở châu Âu, nhiều nhất ở Đức 1543 Ở Châu Á có 1700 loài ở Ấn

Độ, 5000 loài ở Trung Quốc.Trong đó, có đến 90% thảo dược thu hái hoang dại

Do đòi hỏi phát triển nhanh hơn sự gia tăng sản lượng, các nguồn cây thuốc tự nhiên bị tàn phá đến mức không thể cưỡng lại được, ước tính có đến 50% đã bị thu hái cạn kiệt (http://www.auroville.org/index.htm) [11]

Hiện nay, chỉ có vài trăm loài được trồng, 20-50 loài ở Ấn Độ, 100-250 loài ở Trung Quốc, 40 ở Hungari, 130-140 ở Châu Âu Những phương pháp trồng truyền thống đang dần được thay thế bởi các phương pháp công nghiệp ảnh hưởng tai hại đến chất lượng của nguồn nguyên liệu này.May thay, những vấn đề này đã được cộng đồng thế giới quan tâm 1993 WHO (Tổ chức Y tế thế giới), IUCN (Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế ) và WWF (Quỹ hoang dã thế giới) ban hành các hướng dẫn cho việc bảo vệ và sự khai thác cây thuốc được cân bằng với sự cam kết của các tổ chức Thấy được tầm quan trọng của việc phải bảo tồn và phát triển nguồn tài

Trang 18

nguyên cây thuốc, và đáp ứng lời kêu gọi của các tổ chức trên, rất nhiều nước trong đó có các nước đang phát triển với những điều kiện kinh tế xã hội gần tương đồng với nước ta cũng đã xây dựng những Vườn bảo tồn cây thuốc (VBTCT) là các quốc gia như: Guatemala, Nepal, Trung Quốc và Ần Độ , Ai Cập, Nam Phi (Ricupero, R (1998), "Biodiversity as an engine of trade and

sustainable development" POEMA tropic,No 1, January-July, pp 9-13) Một

ví dụ: đó là vườn Bảo tồn cây thuốc Pichandikulam ở vùng ven biển phía Nam của Ấn Độ Nơi tập hợp của 440 loài thực vật trong đó có gần 340 cây thuốc Trong VBTCT có một trung tâm trong đó có nhà bảo tàng trưng bày hình ảnh, mẫu vật của 240 loài cây thuốc, thư viện sách tham khảo, tài liệu nghiên cứu, cơ sở dữ liệu về cây thuốc lưu trên máy tính Trung tâm này là nơi giảng dạy, tuyên truyền về bảo tồn nhân giống, cách sử dụng, trồng trọt, thu hái cây thuốc Một vườn ươm nhân giống các cây thuốc đang có nguy cơ tiệt chủng Một khu vực khác với gần 300 loài cây là nơi lưu giữ, bảo tồn (ngân hàng gene) đồng thời phục vụ cho mục đích tham quan, du lịch

Và cuối cùng là khu vực tập trung khoảng 100 loài cây thuốc được trồng và thu hái cho nhu cầu chữa bệnh của người dân [11]

2.3.2 Tình hình sản xuất và sử dụng cây Hoàng Bá trên thế giới

Hiện nay nguồn nguyên liệu hoàng bá chủ yếu suât sứ từ Trung Quốc Các cây thuốc được đưa vào trồng trọt đại trà như: Hoàng bá, Bạch chỉ, Cát cánh, Ngưu tất, Xuyên khung, … đã phát triển thành vùng trồng dược liệu, cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp dược trong nước và xuất khẩu của Trung Quốc, phần lớn các loại dược liệu được nhập nội vào nước ta có nguồn gốc từ Trung Quốc Giá nhập khẩu nguồn nguyên liệu từ Trung Quốc thấp và dễ nhập Đây cũng là một trong những nguyên nhân lan cho các vùng sản xuất nguyên liệu của nước ta đã dần bị thu hẹp và gần như mất hẳn

Hoàng bá dùng làm thuốc ở Trung Quốc có hai loài chính là Xuyên hoàng bá và Quan hoàng bá Trong Xuyên hoàng bá có 2 loài dưới đây:

Trang 19

Cây Hoàng Bá Nga mi: Điểm khác nhau giữa loài cây này với cây Hoàng bá nói trên là mọc tương đối nhanh, cuống lá đơn và lá kép đều không

có lông lá đơn hình tròn trứng, dài, đuôi lá nhọn đầu, hình tiết rộng, lá tương đối mỏng, hai mặt đều không có lông Hoa tự đều tương đối to Cọng quả và cành quả nhỏ, quả mọc thưa Ở Nga Mi, Quán Huyện tỉnh Tứ Xuyên gọi nó là cây Hoàng bá

Cây Hoàng bá lá rụng (Phellodendron chinensis F., Gibrnseutum (Schneid) hsias cam Nov) Chỗ khác nhau giữa nó với cây đã mô tả ở phần

mô tả là phiến lá đơn có lông ngắn mềm mọc thưa ở cả hai mặt gân giữa Phân bố ở Vạn Huyện, Đạt Huyện, Bồi Lăng tỉnh Tứ Xuyên

Cây Quan Hoàng Bá (Phellodendron) Đặc điểm của cây là cao tới 20m, cũng có cây tới 27m, đường kính khoảng 1m, lớp bần của vỏ dày, mặt trong của vỏ màu vàng tươi, số lá chét từ 5-13, mép có lá hơi gợn sóng hoặc hơi xẻ răng cưa, hai mặt đều có lông nhung (Bộ Y tế và Bộ KHCN (2009)[5]

10-Hoàng Bá (Phellodendron amurense) là một trong những thảo dược

chính ở Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản Hoàng Bá được sử dụng như một loại thuốc cổ truyền để điều trị bệnh về đường ruột, kháng viêm, hạ sốt Ngoài ra, Hoàng Bá còn có tác dụng chống loét dạ dày điều trị bệnh viêm màng não, lỵ, viêm trực tràng, viêm phổi, lao và xơ gan và hạ huyết áp ở chuột (Kumar S., Hassan S.A 2000) [7]

Phellodendron amurense có thể bảo vệ sụn chống viêm xương khớp tiến

triển nó còn là chất có hiệu quả năng ngừa ung thư phổi.(Bộ Y tế và Bộ KHCN (2009)[5]

Phellodendron amurense có khả năng ức chế sự phát triển khối u tuyến

tiền liệt ung thư máu ức chế & tiêu diệt ung thư phổi điều trị rối loạn tiết niệu

do tắc nghẽn niệu đạo nó còn có tác dụng giảm cân đối với người béo phì và cải thiện sự suy giảm trí nhớ & ức chế sự lão hóa, suy dinh dưỡng thần kinh, cải thiện chức năng nhận thức ở chuột (Yakugaku Zasshi Vol 1990) [10]

Trang 20

Thành phần chính trong vỏ thân cây Phellodendron amurense chủ yếu

là Berberin và aphorphine alkaloid, flavonoid, coumarin, lignans và các limonoid… Trong đó, các limonoids và các alkaloit, obacunone có tác dụng gây ngán côn trùng; chất syringing trong phnolic có hiệu quả trong điều trị các rối loạn tâm lý hành vi và kháng viêm Metyl 4-hydroxybenzoate được sử dụng như một chất bảo quản thực phẩm, mỹ phẩm và dược phẩm Ngoài ra,

chất Nexrutine chiết xuất từ vỏ thân cây Phellodendron amurense có tác dụng

ngăn chặn sự phát triển của khối u tuyến tiền liệt [10]

Trong lá Phellodendron amurense có các chất: quercetin,

quercetin-3-O-beta-D-gluco side, quercetin-3-O-beta-D-galactoside và beta-glucosode, vitamin E (Tang W and Eisenbrand G.1992)[9]

kaempferol-3-O-2.3.3 Tình hình nghiên cứu về dược liệu trong nước

Cho đến nay, đã có hơn 3000 thuốc có nguồn gốc từ dược liệu đã được

Bộ Y tế cấp số đăng ký, chiếm gần 1/3 số thuốc trong nước được cấp số đăng

ký Trong số trên 300 đơn vị sản xuất thuốc đông dược có nhiều đơn vị phát triển tốt cả về số lượng mặt hàng cũng như chất lượng sản phẩm

Để đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, các Viện nghiên cứu và Công ty dược trong cả nước đã đầu tư nghiên cứu nhiều nhiều sản phẩm là thực phẩm chức năng và thuốc từ dược liệu, cụ thể như: nghiên

cứu thuốc Eupolin chữa bỏng từ cây Cỏ lào (Eupatorium odoratum) của Viện

Bỏng quốc gia Lê Hữu Trác nghiên cứu điều chế thuốc tiêm rotundin sulfat từ

củ Bình vôi (Stephania spp.) của Học viện Quân y; sản xuất viên nang điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt từ Trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium)

của Công ty Dược liệu TW II; sản xuất Embin làm thuốc tẩy sán từ loài Chua

ngút (Embelia scanden) và Ampelop từ Chè dây (Ampelopsis cantonensis)

điều trị viêm loét dạ dày – hành tá tràng của Công ty cổ phần Traphaco; sản xuất thuốc tiêm Artesunat làm thuốc sốt rét của Trường Đại học Dược Hà

Nội; sản xuất viên nang Uphamorin từ rễ và thân cây Nhàu (Morinda

Trang 21

citrifolia) làm thuốc tăng cường miễn dịch và sức đề kháng của Trường Đại

học Y Hà Nội; sản xuất thuốc nhỏ mũi Agerhinin từ cây Ngũ sắc (Ageratum

conyzoides) điều trị viêm xoang; nghiên cứu thuốc chữa u xơ tuyến tiền liệt từ

Náng hoa trắng (Crinum asiaticum), thuốc hỗ trợ điều trị ung thư từ nấm Cổ linh chi (Ganoderma applanatum); thuốc điều trị thương hàn và lị trực khuẩn Geravina từ Lão quan thảo (Genanium nepalense var thunbergiii); thuốc điều trị thiểu năng tuần hoàn não Ligustan từ Xuyên khung (Ligusticum wallichii), Đương qui (Angeliaca sinensis) và Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis);

Abivina từ Bồ bồ của Viện Dược liệu; Kim tiền thảo của Công ty OPC (Bộ Nông Nghiệp và PTNT 2010) [6]

Theo báo cáo của Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế, tại Việt Nam, nhu cầu dược liệu trong nước khoảng gần 60.000 tấn/năm, tuy nhiên Việt Nam mới chỉ cung cấp được cho thị trường khoảng 15.600 tấn/năm, phần còn lại phải nhập khẩu từ nhiều quốc gia khác nhau trong đó chủ yếu từ Trung Quốc, Singapore….Nếu tính theo các đơn hàng đã được Cục quản lý Dược cấp phép thì trong những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam đã nhập khẩu khoảng 400 loại dược liệu khác nhau với khối lượng trung bình khoảng 17,6 nghìn tấn mỗi năm và giá trị đạt khoảng 12 triệu USD

Tuy nhiên, trong số 30 dược liệu có nhu cầu lớn để sản xuất thuốc có nhiều dược liệu trong nước có thể tự túc được, không phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu như: Actisô, Đinh lăng, Biển súc, Kim tiền thảo, Diệp hạ châu, Hy thiêm, Ích mẫu, Trần bì, Húng Chanh,Mật ong, Thảo quyết minh, Hương phụ, Nhân trần, Chè dây, …

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) có khoảng 80% dân số tại các quốc gia đang phát triển, ít nhiều có liên quan đến y học cổ truyền hoặc thuốc từ dược thảo truyền thống để bảo vệ sức khoẻ và dự báo nhu cầu sử dụng dược liệu để sản xuất thuốc trong các năm tới sẽ tiếp tục tăng

Trang 22

Theo GS.TS Phạm Hoàng Hộ và GS.TS Nguyễn Nghĩa Thìn, số lượng thực vật bậc cao có mạch đã thống kê được ở nước ta khoảng 10.500 loài, dự đoán khoảng 12.000 loài Trong đó các loài cây được sử dụng làm thuốc khoảng trên 3900 loài thuộc 307 họ thực vật

Nền y học cổ truyền Việt Nam có lịch sử phát triển từ rất lâu đời Cộng đồng các dân tộc Việt Nam có nhiều kinh nghiệm độc đáo trong việc sử dụng các loài cây cỏ để làm thuốc Từ xa xưa, ông cha ta đã biết sử dụng các loài cây thuốc sẵn có trong tự nhiên với các phương pháp bào chế khác nhau để sử dụng chữa bệnh cho mọi người Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, từ thế hệ trước truyền cho thế hệ sau đã đúc kết được các kinh nghiệm từ thực tiễn lâm sàng, xây dựng nên lý luận về các phương pháp phòng và chữa bệnh Đồng thời còn dựa vào hệ thống Triết học phương Đông, vận dụng vào y học để chữa bệnh phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của con người Việt Nam

Trong nền y học cổ truyền hiện đại, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến Y học cổ truyền trong hệ thống các bệnh viện và cơ sở khám chữa bệnh

Điều 49, chương III, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam (1992) đã nêu rõ “ Phát triển và hoàn thiện hệ thống bảo vệ sức khỏe

cho người dân trên cơ sở kết hợp y học, dược học hiện đại với y học cổ truyền”

Ngày 4/11/1955, Bộ Y tế có công văn hướng dẫn các địa phương khai

thác và sử dụng các loại thuốc Nam để chữa bệnh trong nhân dân

Nghị định 238/TT về việc thành lập Viện nghiên cứu Đông y; Thành lập các vườn thuốc mẫu y học cổ truyền từ Trung ương đến các địa phương với mục đích giúp cho sinh viên, học viên học tập, người dân biết cách nhận biết và sử dụng một số cây thuốc nam để chữa bệnh

Trên cơ sở chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây dược liệu trong dân gian để phục vụ công tác chữa bệnh, bảo tồn và phát triển các loại cây thuốc, bài thuốc quý

Trang 23

Năm 1963, Hội đồng Dược điển Việt Nam được thành lập để tổ chức công tác xây dựng Dược điển Việt Nam và tiêu chuẩn hóa thuốc Hội đồng Dược điển đã biên soạn, trình Bộ Y tế bán hành 04 bộ Dược điển Việt Nam, xuất bản vào các năm 1971, 1990, 2002 và 2009 Dược điển Việt Nam tập xuất bản lần thứ 4 (năm 2009) gồm 314 chuyên luận dược liệu và thuốc từ dược liệu

Báo cáo khoa học “Tài nguyên cây thuốc ở Sơn La và kết quả nghiên cứu trồng thử nghiệm một số cây thuốc có giá trị tại Chiềng Sinh, thị xã Sơn La” đã công bố 500 loài cây thuốc ở Tây Bắc Riêng Sơn La có 70 họ, 109 chi

và 249 loài cây thuốc Trong đó: nhóm cây 2 lá mầm gồm 54 họ, 159 chi và

203 loài; nhóm cây 1 lá mầm gồm 10 họ, 27 chi và 31 loài; Nhóm cây hạt trần gồm 2 họ, 2 chi và 2 loài; nhóm thông đất gồm 1 họ, 1 chi và 1 loài; Nhóm dương xỉ gồm 3 họ, 9 chi và 12 loài(Bộ Nông nghiệp và PTNT 2010)[6]

Năm 2005, Bộ Y tế, Vụ y học cổ truyền biên soạn cuốn sách “Cây hoa cây thuốc”, hướng dẫn cách sử dụng 29 loài cây hoa cây cảnh có tác dụng chữa bệnh thông thường cuốn sách sau khi xuất bản đã được đông đảo cán bộ

và nhân dân tìm đọc, trở thành nhu cầu cần thiết đối với cộng đồng

Cùng với các công trình nghiên cứu về đặc điểm, công dụng của các loại cây thuốc trong tự nhiên Để cây thuốc sử dụng rộng rãi, trở thành sản phẩm hàng hóa, đồng thời bảo vệ các nguồn gen cây thuốc ngoài tự nhiên đang bị cạn kiệt dần Các cơ sở nghiên cứu và các nhà khoa học đã nghiên cứu biện pháp kỹ thuật gây trồng các loài cây thuốc

Bảo Thắng (2003) đã xuất bản cuốn sách “Kỹ thuật trồng, chế biến và sử dụng cây thuốc nam” Cuốn sách đã trình bày chi tiết kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản đối với 38 cây thuốc thông dụng; đồng thời cũng mô tả đặc điểm, cách sử dụng 124 vị thuốc chữa bệnh phụ khoa,

10 loại rau, 21 loại quả và một số loại hạt có tác dụng chữa bệnh Bảo Thắng (2003)[1]

Trang 24

Kỹ thuật trồng, sử dụng và chế biến cây thuốc (2005),TS Nguyễn Bá Hoạt đã hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt sử dụng và chế biến 30 cây thuốc có nhu cầu lớn làm nguyên liệu cho sản xuất thuốc phòng, chữa bệnh xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu sản xuất đại trà trên diện tích lớn, xây dựng vùng dược liệu theo hướng an toàn theo tiêu chuẩn GAP (Good Agricultural Pratice) Cuốn sách còn cung cấp một số thông tin cơ bản về giá trị của từng cây nhằm quảng

bá, xây dựng thương hiệu sản phẩm Trong phần chế biến, các tác giả giới thiệu một số phương pháp chế biến theo y học cổ truyền, giúp cho cơ sở trồng trọt đầu tư làm tăng chất lượng của sản phẩm và dễ bảo quản hơn

2.3.4 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây hoàng bá tại Việt Nam

Hoàng bá, Nghiệt Bì, Nghiệt Mộc, Hoàng Nghiệt Sơn Đồ Ở nước ta thường dùng vỏ thân cây Núc Nác có tên khoa học Oroxylum indicum thuộc

họ Bignoniaceae với tên Hoàng bá nam hay Nam Hoàng-bá, cần phải phân biệt

Cây Hoàng bá đã từng phát triển thành vùng trồng dược liệu, cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp dược trong nước và xuất khẩu Trong một vài năm gần đây phần lớn diện tích trồng trọt đã bị thu hẹp đáng kể thậm chí một số vùng trồng dược liệu đã biến mất Hoàng bá đã từng được đưa vào sản xuất đại trà ở nước ta: Hoàng Bá ở Quảng Bạ - Hà Giang và ở Sa Pa – Lào Cai Hoàng Bá được phát triển thành vùng nguyên liệu trên khoảng 10 ha/năm tại Sa Pa (Lào Cai) và Quảng Bạ (Hà Giang) với năng suất và chất lượng rất tốt, tuy sản lượng chưa lớn nhưng cũng phần nào cung ứng một phần nguồn nguyên liệu cho nhu cầu trong nước Tuy nhiên những vùng sản xuất nguyên liệu của nước ta gần đây đã dần bị thu hẹp và gần như mất hẳn

Hoàng bá ở Việt Nam được sử dụng chỉ tiết lỵ, an tử lậu, hạ xích bạch

An Tâm, trừ lao Thanh nhiệt, táo thấp, tả hỏa, giải độc Tả hỏa ở thận kinh, trừ thấp nhiệt ở hạ tiêu Trị ngũ tạng, trường vị có nhiệt kết, hoàng đản, trĩ Trị Thận thủy, Bàng quang bất túc, các chứng nuy quyết, lưng đau, chân

Ngày đăng: 10/11/2016, 16:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo Thắng (2003), “Kỹ thuật trồng, chế biến và sử dụng cây thuốc nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng, chế biến và sử dụng cây thuốc nam
Tác giả: Bảo Thắng
Năm: 2003
2. Lê Trần Đức (1997), “Cây thuốc Việt Nam – Trồng, chế biến và trị bệnh ban đầu”, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc Việt Nam – Trồng, chế biến và trị bệnh ban đầu
Tác giả: Lê Trần Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
3. Nguyễn Hoàng Tuấn (2012), “Hoàng Bá”, Dược liệu kết nối thiên nhiên với cuộc sống, Ngày 8 tháng 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Bá
Tác giả: Nguyễn Hoàng Tuấn
Năm: 2012
4.Trần Công Khánh (2012), “Bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc ở tỉnh Cao Bằng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc ở tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Trần Công Khánh
Năm: 2012
5. Bộ Y tế và Bộ KHCN (2009), "Bảo tồn và phát triển nguồn gen và giống cây thuốc", Hội nghị tổng kết 20 năm thực hiện nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc (1988 – 2008), Tam Đảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát triển nguồn gen và giống cây thuốc
Tác giả: Bộ Y tế và Bộ KHCN
Năm: 2009
8. , “Solvent effects on infrared spectra of methyl 4-hydroxybenzoate in pure organic solvents and in ethanol/CCl binary solvents”, Spec-trochimica Acta Part A 60, pp. 1453-1458 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Solvent effects on infrared spectra of methyl 4-hydroxybenzoate in pure organic solvents and in ethanol/CCl binary solvents
9. Tang W and Eisenbrand G. (1992), “Chinese Drugs of Plant Origin”, Springer-Verlag, Berlin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinese Drugs of Plant Origin
Tác giả: Tang W and Eisenbrand G
Năm: 1992
10. “Screening test of anti-inflammatory action on the constituents of crude-drugs and plants”, Yakugaku Zasshi Vol. 90, pp. 782-783 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Screening test of anti-inflammatory action on the constituents of crude-drugs and plants
6. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2010), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng (QCVN 01 – 38: 2010/BNNPTNT).2. Tài liệu tiếng Anh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Một số yếu tố khí hậu tỉnh Cao Bằng (năm 2014 - 2015) - Nghiên cứu ảnh hưởng cuả thời vụ gieo hạt đến khả năng nảy mầm và chất lượng cây hoàng bá trong giai đoạn vườn ươm
Bảng 4.1 Một số yếu tố khí hậu tỉnh Cao Bằng (năm 2014 - 2015) (Trang 39)
Bảng 4.2 Thời gian nảy mần trung bình của các công thức - Nghiên cứu ảnh hưởng cuả thời vụ gieo hạt đến khả năng nảy mầm và chất lượng cây hoàng bá trong giai đoạn vườn ươm
Bảng 4.2 Thời gian nảy mần trung bình của các công thức (Trang 40)
Bảng 4.3 Tỉ lệ nảy mần trung bình của các công thức - Nghiên cứu ảnh hưởng cuả thời vụ gieo hạt đến khả năng nảy mầm và chất lượng cây hoàng bá trong giai đoạn vườn ươm
Bảng 4.3 Tỉ lệ nảy mần trung bình của các công thức (Trang 41)
Bảng 4.4 Trung bình số lá trên cây của các công thức - Nghiên cứu ảnh hưởng cuả thời vụ gieo hạt đến khả năng nảy mầm và chất lượng cây hoàng bá trong giai đoạn vườn ươm
Bảng 4.4 Trung bình số lá trên cây của các công thức (Trang 42)
Bảng 4.5 Chiều dài lá trung bình của cây qua các công thức - Nghiên cứu ảnh hưởng cuả thời vụ gieo hạt đến khả năng nảy mầm và chất lượng cây hoàng bá trong giai đoạn vườn ươm
Bảng 4.5 Chiều dài lá trung bình của cây qua các công thức (Trang 43)
Bảng 4.6 Chiều rộng lá trung bình của cây qua các công thức - Nghiên cứu ảnh hưởng cuả thời vụ gieo hạt đến khả năng nảy mầm và chất lượng cây hoàng bá trong giai đoạn vườn ươm
Bảng 4.6 Chiều rộng lá trung bình của cây qua các công thức (Trang 44)
Bảng 4.8 Tỉ lệ sâu hại cây Hoàng bá  Công thức  Số cây theo dõi  Số cây bị hại  Tỉ lệ hại (%) - Nghiên cứu ảnh hưởng cuả thời vụ gieo hạt đến khả năng nảy mầm và chất lượng cây hoàng bá trong giai đoạn vườn ươm
Bảng 4.8 Tỉ lệ sâu hại cây Hoàng bá Công thức Số cây theo dõi Số cây bị hại Tỉ lệ hại (%) (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm