1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị

51 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Khóa luận tốt nghiệp: “Xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị” hoàn thành tại Khoa Khí tượng - Thủy văn - Hả

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN HẢI DƯƠNG HỌC

Nguyễn Tuấn Anh

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN HẢI DƯƠNG HỌC

Nguyễn Tuấn Anh

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thanh Sơn

ThS Ngô Chí Tuấn

Hà Nội – 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp: “Xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt

trên địa bàn huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị” hoàn thành tại Khoa Khí tượng - Thủy

văn - Hải Dương học thuộc trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội vào tháng 5 năm 2016, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS-TS Nguyễn Thanh Sơn và ThS Ngô Chí Tuấn

Tác giả xin bầy tỏ sự cảm ơn chân thành tới PGS-TS Nguyễn Thanh Sơn và ThS Ngô Chí Tuấn đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu khóa luận Sinh viên xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo Khoa Khí tượng - Thủy văn và hải Dương học đã giúp đỡ, tạo điều kiện tốt trong quá trình học tập và nghiên cứu khóa luận Tác giả xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các anh, chị và bạn bè sinh viên Khoa Khí tượng – Thủy văn và Hải dương học

Trong khuôn khổ nghiên cứu, do thời gian và điều kiện hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, sinh viên rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ

phía độc giả và những người quan tâm

Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2016 Sinh viên

Nguyễn Tuấn Anh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ 6

1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TỔN THƯƠNG LŨ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 6

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước 6

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 7

1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ 8

1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 8

1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 17

1.2.3 Tình hình về lũ lụt và những tổn thương do lũ gây ra trong những năm gần đây trên địa bàn huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị 18

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT 21

2.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 21

2.2 TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ 23

2.2.1 Độ phơi nhiễm 24

2.2.2 Tính nhạy 24

2.2.3 Khả năng phục hồi 25

2.3 GIỚI THIỆU CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ SỐ 25

2.3.1 Phương pháp Shantosh Karki: 25

2.3.2 Phương pháp Villagran de Leon 25

2.3.3 Phương pháp UNESCO-IHE 25

2.3.4 Phương pháp Messner và Meyer (2006) 26

2.4 PHƯƠNG PHÁP TÍNH TỔN THƯƠNG LŨ THEO CÔNG THỨC CỦA BALICA 26 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

Trang 5

3.1 TÌNH HÌNH SỐ LIỆU 29

3.1.1 Bản đồ 29

3.1.2 Số liệu khí tượng thủy văn 31

3.1.3 Phiếu điều tra 31

3.2 CÁC BƯỚC TÍNH TOÁN 31

3.3 KẾT QUẢ TÍNH TOÁN 33

3.3.1 Thiết lập bộ chỉ số 33

3.3.2 Chuẩn hóa các tham số 35

KẾT LUẬN 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 6

Danh sách các hình

Hình 2 Bản đồ mạng lưới sông huyện Hương Hóa – tỉnh Quảng Trị 29

Hình 5 Biểu đồ biểu diễn FVI xã hội của các xã trong huyện Hướng Hóa 37 Hình 6 Biểu đồ biểu diễn FVI kinh tế của các xã trong huyện Hướng Hóa 38 Hình 7 Biểu đồ biểu diễn FVI môi trường của các xã trong huyện Hướng Hóa 39 Hình 8 Biểu đồ biểu diễn FVI vật lý của các xã trong huyện Hướng Hóa 39 Hình 9 Biểu đồ biểu diễn FVI của các xã trong huyện Hướng Hóa 40

Danh sách các bảng

Bảng 8 Địa điểm xảy ra lũ và lũ quét ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 19 Bảng 9 Vị trí phân bố một số điểm thiên tai ở huyện Hướng Hóa 19 Bảng 10.Sự thể hiện tính dễ bị tổn thương do lũ (Balica, 2012) 27

Bảng 14 Danh mục bộ tiêu chí được sử dụng để đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ

lụt trên địa bàn huyện Hướng Hóa-tỉnh Quảng Trị

34

Trang 7

Bảng 15 Minh họa các xã tương đồng của Huyện Hướng Hóa 35

Bảng 19 Thành phần hệ thống FVI (Balica, 2012; UNESCO-IHE, 2013) 36

Bảng ký hiệu viết tắt

IPCC Intergovermental Panel on Climate Change (Ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu) International Strategy for Disaster Reduction (Chiến lược giảm nhẹ thiên tai quốc tế)

SAR Second Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần II)

TAR Third Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần III)

UNESCO United Nations Emducation, Scientific and Cultural Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc)

UNDP United Nations Depvelopment Programme (Chương trình Phát triển Liên hợp quốc) FVI Flood Vulnerability Index

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam nói chung và khu vực miền Trung nói riêng là nơi giao lưu của nhiều đới khí hậu phức tạp nên thời tiết thay đổi và biến động rất nhanh, đặc biệt khu vực Quảng Trị là nơi chịu nhiều ảnh hưởng của bão lũ với tần suất và cường độ ngày càng tăng Để tăng cường ứng phó với lũ lụt ngoài các biện pháp công trình thì các biện pháp phi công trình đang đóng vai trò rất quan trọng, mà trong đó có tính dài hạn và bền vững như các biện pháp quy hoạch sử dụng đất, nâng cao nhận thức của người dân Mặt khác, các biện pháp tức thời để ứng phó nhanh như cảnh báo, … đã tỏ ra rất hiệu quả trong việc hạn chế những tổn thương về người và tài sản người dân

Tính dễ bị tổn thương do lũ lụt gây ra (FVI) được đánh giá dựa trên các phân tích đa chiều, cho phép so sánh tính dễ tổn thương do lũ lụt gây ra giữa các lưu vực khác nhau Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra, khi được xây dựng hoàn chỉnh, FVI trở thành một công cụ giúp xác định các yếu tố chịu trách nhiệm chính cho sự dễ tổn thương của lưu vực, được sử dụng như một chỉ số mang tính tổng hợp để đánh giá, quản lý và quy hoạch các vấn đề liên quan đến lũ lụt, khai thác và bảo vệ nguồn nước

Do vậy, để đánh giá được tính dễ bị tổn thương do lũ lụt gây ra đối với kinh tế - xã hội thì hướng tiếp cận đa ngành trong công tác quản lý tổng hợp rủi ro thiên tai là cần thiết để xây dựng các giải pháp nhằm giảm nhẹ tác hại của lũ gây ra Đây cũng là lý do dẫn đến sự hình

thành luận văn “Xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn

huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị” Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học, thực tiễn cho

các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách xác định chiến lược phát triển bền vững và đảm bảo an ninh xã hội Bố cục luận văn bao gồm:

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ

Chương 2: Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ

1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TỔN THƯƠNG LŨ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

Trong khoảng 30 năm trở lại đây, thì tính dễ bị tổn thương được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu nhiều trong các lĩnh vực như; kinh tế - xã hội, môi trường, tự nhiên, thiên tai…Tuy nhiên các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương do ngập lụt thì mới được nghiên cứu trong những năm gần đây theo các cách tiếp cận khác nhau như:

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước

Theo Đặng Đình Khá [1],trong các nghiên cứu của IPCC - CZMS đã nghiên cứu, đề xuất phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương đơn giản nhằm xác định và đánh giá các tác động của mực nước biển dâng đến đời sống người dân trên bề mặt hành tinh và được ứng dụng tại nhiều nơi Phương pháp này kết hợp các nhận định của chuyên gia với dữ liệu về các đặc tính vật lý và kinh tế - xã hội, từ đó phân tích, ước tính phổ các tác động của mực nước biển dâng bao gồm cả phần giá trị mất đi của các vùng đất và đất ngập nước Các thông tin thu được từ cách đánh giá này được sử dụng như là cơ sở cho các bước mô hình hóa tiếp theo Phương pháp bao gồm 7 bước: (1) xác định khu vực nghiên cứu; (2) thu thập

và phân tích các đặc trưng khu vực nghiên cứu; (3) xác định các yếu tố phát triển kinh tế xã hội tương ứng; (4) đánh giá các biến động về mặt vật lý; (5) xây dựng chiến lược ứng phó; (6) đánh giá hồ sơ dễ bị tổn thương; (7) xác định các nhu cầu trong tương lai Tuy nhiên, đến

1999 Klein và Nicholls đã chỉ ra 5 hạn chế cơ bản của phương pháp này liên quan đến các ràng buộc về kỹ thuật và khả năng cung cấp số liệu trong việc mô hình hóa hệ thống và đánh giá định lượng

Conner (2007) đã đưa các biện pháp công trình và phi công trình vào tính toán chỉ số tổn thương lũ, nó thể hiện khả năng chống chịu của cộng đồng dân cư mà không xét đến sự

lộ diện của cộng đồng đó trước nguy cơ lũ Hay Sebastian (2010) đã xác định tính tổn thương lũ là sự kết hợp giữa xác suất, tác động (thiệt hại) và khả năng chống chịu Theo như nghiên cứu này chưa xét đến diện lộ, khả năng phục hồi của hệ thống, chưa xét đề cập ảnh hưởng của vùng miền (các yếu tố tự nhiên) nên chưa hoàn chỉnh hay nói cách khác chưa

Trang 10

biểu diễn được mối tương tác tự nhiên – kinh tế xã hội khi xem xét bài toán tổng hợp đánh giá tính dễ bị tổn thương

Fussel, Hebb và Mortsch đã phân chia các nhóm yếu tố quyết định đến khả năng dễ bị tổn thương của cộng đồng, khu vực (hệ thống) nhằm xác định các chỉ số thành bốn nhóm, dựa vào sự tổ hợp giữa hai hệ thống là kinh tế xã hội và tự nhiên từ nhóm các yếu tố nội và ngoại sinh, tuy nhiên, việc sử dụng số liệu và tính toán cũng còn chưa hoàn chỉnh về cả tự nhiên và xã hội

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Theo Đặng Đình Khá[1] trong nghiên cứu của Việt Trinh (2010) về “Đánh giá rủi ro

do lũ cho lưu vực sông Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị”, tác giả đã đánh giá rủi ro do lũ dựa trên bản đồ nguy cơ do lũ và bản đồ tính dễ bị tổn thương, coi tính dễ tổn thương do lũ là một hàm của bản đồ sử dụng đất và mật độ dân số chưa xét đến khả năng chống chịu của cộng đồng Với cách tiếp cận này, Việt Trinh chỉ dựa trên mật độ giá trị của các vùng khác nhau trong khu vực nghiên cứu, dựa trên giả thiết tính dễ bị tổn thương của cộng đồng với cùng các điều kiện kinh tế xã hội là giống nhau

Với nghiên cứu“Đánh giá các thống số rủi ro lũ ở vùng ngập lụt sông Đáy, đồng bằng sông Hồng, Việt Nam”của Mai Đăng (2010) thì khái niệm tính dễ bị tổn thương đã được mở rộng, bao gồm các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường Trong nghiên cứu đó, tác giả đã đánh giá trọng số ảnh hưởng của các yếu tố đến tính dễ tổn thương lũ như: mật độ dân số, nhận thức của cộng đồng, các công trình phòng lũ, sự ô nhiễm, sự xói mòn và nhiều yếu tố khác

Trong luận án tiến sỹ của Cấn Thu Văn về “ Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn phục vụ quy hoạch phòng chống thiên tai ”( 2015) Tác giả đã thiết lập bộ tiêu chí để đánh giá tổn thương lũ cho lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn qua việc phân chia bộ câu hỏi về tính dễ bị tổn thương theo các tiêu chí: Độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu

Trang 11

1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ -

XÃ HỘI HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ

1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên

Hướng Hoá là huyện miền núi, vùng cao, biên giới nằm về phía Tây của tỉnh Quảng Trị Diện tích tự nhiên toàn huyện là:1150,86km²

Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình

Phía Nam và Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Phía Đông giáp với huyện Gio Linh, Hướng Hóa và Đakrông

Toàn huyện có 22 đơn vị hành chính trong đó 20 xã và 02 thị trấn (Khe Sanh và Lao Bảo) (trong đó có 13 xã đặc biệt khó khăn; 11 xã giáp biên với Lào), có cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo nằm trên trục đường Quốc lộ 9 nối liền với các nước trong khu vực: Lào, Thái Lan, Mianma và khu vực Miền Trung Việt Nam Có đường biên giới dài 156km tiếp giáp với 3 huyện của Lào [12]

a, Địa hình địa mạo

Huyện Hướng Hóa là khu vực có địa hình bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối chằng chịt dọc theo hai sườn Đông và Tây dãy Trường Sơn

Hướng Hóa có độ cao trung bình 400m so với mực nước biển, thuộc ‘tiểu vùng núi Tây Trường Sơn’ Tiển vùng địa hình này phân bố tập trung theo dãy Trường Sơn thuộc huyện Hướng Hóa và Tây - Tây Nam huyện Đăkong Đặc điểm chung của địa hình vùng là

độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh bởi các sông suối, các khe và thung lũng nhỏ, hẹp Riêng khu vực đỉnh Trường Sơn ( từ Khe Sanh đến Hướng Phùng ) và khu Tây Trường Sơn thuộc sông Sê-Pôn ( từ Lao Bả tới Lìa ) có địa hình mang sắc thái bình địa với các dải đồi thấp ( độ dốc dưới 8%) thích hợp phát triển cây nông nghiệp

Tuy nhiên, phần lớn vùng đồi núi phía Tây có mức phát triển kinh tế - xã hội còn chậm hệ thống cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế nhất là về hệ thống giao thông Đây là vùng vẫn còn tiềm năng đất đai để khai thác phát triển sản xuất nông-lâm nghiệp [12]

Trang 12

Hình 1 Bản đồ hành chính huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị

Trang 13

b, Địa chất thổ nhưỡng

Kết quả điều tra, phân loại và lập bản đồ đất huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị năm

2007 cho thấy, toàn huyện có 5 nhóm đất chính được phân chia thành 14 loại Phân bố như sau :

Đất nâu đỏ trên đá bazan, Tập trung chủ yếu ở thị trấn Khe Sanh, xã Hướng Phùng, đất phân bố ở địa hình tương đối bằng phẳng

Đất đỏ vàng trên granit (Fa) ở huyện Hướng Hóa có diện tích 40.420 ha Trong đó phân bố ở xã Hướng Phùng và xã Hướng Linh

Đất đỏ vàng trên đá sét (ký hiệu Fs) Phân bố chủ yếu ở xã Hướng Phùng, Hướng Linh

Đất nâu tím trên đá sét màu tím (ký hiệu Fe) Diện tích toàn huyện Hướng Hoá 4.120

ha trong đó tập trung chủ yếu ở thị trấn Khe Sanh và xã Hướng Phùng

Đất vàng nhạt trên đá cát (ký hiệu Fq) Diện tích toàn huyện Hướng Hoá 15.659 ha trong đó tập trung chủ yếu ở xã Hướng Linh và xã Hướng Phùng

Đất đỏ vàng trên đá biến chất (ký hiệu Fj) Diện tích phân bố chủ yếu ở xã Hướng Phùng, xã Hướng Linh và một phần ở thị trấn Khe Sanh

Đất mùn vàng đỏ trên núi thường phân bố ở độ cao trên 900 m Khí hậu lạnh và ẩm hơn vùng dưới, nhiệt độ bình quân năm vào khoảng 18-20º Thảm thực vật nhìn chung còn tốt hơn vùng thấp địa hình cao, dốc, hiểm trở nên xói mòn mạnh

Đặc điểm cơ bản của đất mùn vàng đỏ trên núi là có hàm lượng chất hữu cơ cao Đất mùn vàng đỏ trên núi ở huyện Hướng Hoá có 2 loại :

• Đất mùn vàng đỏ trên đá biến chất (ký hiệu Hj)- 643 ha

• Đất mùn vàng đỏ trên đá Granit (ký hiệu Ha) - 8.399 ha Đất dốc >15° chiếm 66,36% diện tích, phần còn lại có độ dốc từ 8-15º Hướng sử dụng chủ yếu là: phủ xanh đất trống trọc, trồng cây gây rừng [12]

Trang 14

c, Rừng và sử dụng đất

Rừng

Toàn huyện có 29.106,26 ha đất có rừng, chiếm 25,29 % diện tích đất tự nhiên toàn huyện, trong đó :

. Đất rừng sản xuất : 3844,8ha, chiếm 11,97 % đất lâm nghiệp,trong đó:

. Đất rừng phòng hộ chiếm 256.621,46 ha, chiếm 88,03% đất lâm nghiệp

Đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ: 265,2 ha

12 3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 5,19 0,01

13 4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 50,26 0,04

14 5 Đất sông suối, nhiễm mặn 994,67 0,86

15 6 Đất phi nông nghiệp khác 50,33 0,04

16 III Đất chưa sử dụng 69.546,42 60,43

Nguồn: Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp

Trang 15

Hướng Hóa là một huyện chủ yếu sản xuất nông nghiệp, trong đó trồng trọt là chủ yếu Quỹ đấy nông nghiệp được phân bố như sau : đất trồng cây hàng năm 6294,31ha, trong

đó : đất trồng lúa chiếm 2820,78 ha, đất dùng chăn nuôi 136,45 ha, đất trồng cây khác hằng năm 3327,08ha, , đất trồng cây lâu năm 7356,16 ha

d, Khí hậu

Chế độ nhiệt

Huyện Hướng Hóa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 5 Ba tháng có lượng mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 và 10 So với khí hậu Quảng Trị, vùng này là khu vực có khí hậu của Tây Trường Sơn, mùa khô và mùa mưa cũng đều đến sớm hơn

Nếu mùa lạnh là thời kỳ có nhiệt độ trung bình ổn định dưới 20ºC, mùa nóng là thời

kỳ có nhiệt độ trung bình ổn định trên 25ºC, còn lại là mùa chuyển tiếp có nhiệt độ trung bình ngày từ 20 -25ºC thì Hướng Hóa mùa lạnh bắt đầu từ ngày 8 tháng 12 hàng năm đến 19 tháng 2 hàng năm (73 ngày) và mùa nóng bắt đầu từ ngày 15 tháng 4 đến 12 tháng 7 (88 ngày- ứng với tần xuất 80%) Như vậy còn lại 204 ngày là thời kỳ chuyển tiếp mùa khí hậu, thời tiết mát mẻ

Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng từ 24-25°C, tương đương với tổng nhiệt năm khoảng 8.300-8.500°C Mùa đông tương đối lạnh và rất ẩm ướt do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ trung bình trong các tháng này ở vùng đồng bằng xuống dưới 22°C, còn trên các vùng có độ cao từ 400-500 m trở lên thường xuống dưới 20°C và nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất xuống dưới 15°C ở Khe Sanh vào tháng 12 và tháng 1 Ngược lại, mùa

hè do có sự hoạt động của gió Tây nên rất nóng và khô Có tới 3-4 tháng (từ tháng 1 đến tháng 5) nhiệt độ không khí trung bình lớn hơn 25°C, tháng nóng nhất thường là tháng 4 hoặc tháng 5 có nhiệt độ trung bình lên tới 29°C Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 39-40°C Độ ẩm trong các tháng này cũng xuống rất thấp, dưới 30%

Biên độ nhiệt ngày và đêm cao nhất vào tháng IV là 10,2ºC; còn các tháng khác đều nhỏ hơn (bình quân cả năm biên độ ngày đêm chỉ có 7,2ºC) [12]

Trang 16

Bảng 2 Đặc trưng về nhiệt độ (°C), các tháng và năm

Đặc trưng về nhiệt độ

I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Nhiệt độ TB 17,6 18,4 21,8 24,4 25,6 25,6 25,3 24,6 24 22,8 20,4 18,2 22,4 Nhiệt độ tối cao TB

và dễ bị đổ khi có gió

Trong các tháng mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4: tháng 12 đến cuối tháng 2 ít mưa (lượng mưa từ 10- 50mm), từ cuối tháng 2 đến tháng 4 thời kỳ này cũng ít mưa nhưng vẫn

có các đợt mưa xuân (khoảng 20-30mm) [12]

Bảng 3 Đặc trưng về lượng mưa các tháng và năm

Đặc trung về lượng mưa I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Tổng lượng mưa (mm) 23 17 25 66 160 244 220 304 470 381 302 51 2262

Số ngày mưa (ngày) 8 4,5 4,9 10,4 13,5 14,7 17,1 20 19,7 17 17,8 13,5 161,1

(Nguồn : Trạm khí tượng Khe Sanh – Hướng Hóa)

Trang 17

Độ ẩm không khí

Độ ẩm tương đối trung bình năm vùng Hướng Hóa là 87% Tháng có độ ẩm tương

đối trung bình thấp nhất là tháng 4 (81%) độ ẩm không khí cao trong các tháng VI đến

14,9kcal/cm2/ tháng lại kèm theo những ngày có gió Tây Nam khô nóng ở mức độ nhẹ

Ngược lại một số tháng có số giờ nắng thấp hơn các tháng khác (tháng 10- tháng 12 có số

giờ nắng từ 109-122 giờ)

Bảng 5 Số giờ nắng trung bình tháng và năm

Yếu tố Số giờ nắng và bức xạ quang hợp trung bình trong các tháng và năm

Tốc độ gió trung bình cả năm ở Hướng Hóa không cao lắm (3,0m/s),hướng gió: mùa

hè theo hướng Tây và Tây Nam, mùa Đông theo hướng Đông và Đông Bắc

Trang 18

Bảng 6 Tần suất (%) các hướng gió và lặng gió ở Hướng Hóa

Tháng Lặng

gió

Bắc Đông Bắc

(Nguồn: Trạm khí tượng Khe Sanh, Hướng Hóa)

Vào mùa hè, Hướng Hóa ít chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng, cả năm trung bình chỉ có 10,7 ngày có gió Tây Nam khô nóng ở mức độ nhẹ, trong khi đó vùng Đông Hà chỉ cách Hướng Hóa 60km lại chịu ảnh hưởng rất lớn của gió mùa Tây Nam khô nóng

Thực tế ở Hướng Hóa cho thấy phần lớn gió mùa Tây Nam mang lại không khí mát,

ẩm và khi xuất hiện gió mùa Tây Nam thường cho mưa đặc biệt là vào tháng 3, tháng 4 khi

có sự chuyển từ gió mùa Đông Bắc sang gió mùa Tây Nam thường cho những đợt mưa nhỏ

Vùng Hướng Hóa chịu ảnh hưởng nhiều của gió mùa Đông Bắc Vào thời kỳ đầu của mùa Đông, gió lạnh kèm theo mưa và tốc độ gió thường lớn hơn so với gió mùa Tây Nam trong mùa hè Vùng này ít chịu ảnh hưởng của bão, nhưng khi có bão thì tốc độ gió cũng rất lớn, có khi tốc độ gió lên đến 40m/s

Bảng 7 Tốc độ gió trung bình tháng và năm

Trang 19

e, Thủy văn

Do có địa hình có độ dốc lớn nên sông suối xuất phát từ đây thường ngắn, dốc đổ ra biển theo hướng Đông hoặc Đông Bắc Trong vùng nghiên cứu, có các hệ thống sông chính sau:

Sông Sê pôn bắt nguồn từ Nam Lào chảy qua các xã: Xy, Thanh, A Xing, Thuận dẫn đến Lao Bảo rồi đổ ra sông Sê Băng Hiêng (thuộc địa phận nước Lào)

Sông Rào Quán bắt nguồn từ động Voi Mẹp, động Sá Mùi chảy qua các xã Hướng Sơn, Hướng Linh, Tân Hợp rồi đổ ra sông Thạch Hãn (tại xã Đak Rông)

Sông Sê Băng Hiêng: bắt nguồn từ động Chàm (xã Hướng Lập), chảy theo hướng Đông Bắc- Tây Nam đổ về Trung Lào

Ngoài ra còn có sông Nguồn Rào (thượng nguồn sông Hiếu) và sông Rào Thanh (thượng nguồn sông Bến Hải) đều bắt nguồn từ vùng rừng núi phía Bắc huyện Hướng Hóa, chảy về các huyện Cam Lộ, Gio Linh, Hướng Hóa của tỉnh Quảng Trị

Như vậy, khí hậu Hướng Hóa có những đặc điểm tương ứng với khí hậu nhiệt đới cao nguyên:

Nhiệt độ tương đối ôn hòa, nhiệt độ bình quân năm là 22,4°C

Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 Tháng 4 là thời

kỳ đầu mùa khô, thời kỳ sau ít mưa nhưng có độ ẩm không khí cao và có những đợt mưa nhỏ Tuy vậy độ ẩm không khí của vùng cao nên cần lưu ý khâu phòng trừ sâu bệnh

Chế độ ánh sáng: số giờ nắng phân bố tương đối đều qua các tháng trong năm Giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 7 có số giờ nắng cao (bình quân các tháng đều có từ 160-220 giờ nắng/tháng)

Huyện Hướng Hóa ít bị ảnh hưởng của gió bão và gió mùa Tây Nam khô nóng, nhưng lại chịu ảnh hưởng nhiều của gió mùađông Bắc nên cần hệ thống đai rừng, phòng hộ

Số liệu khí tượng còn cho thấy theo dõi qua hàng chục năm cho thấy vùng Hướng Hóa không hề bị sương muối và rất ít khi bị mưa đá [12]

Trang 20

1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

a, Cơ sở hạ tầng

Huyện Hướng Hóa có hệ thống giao thông thuận lợi gồm: Quốc lộ 9 là tuyến đường xuyên Á nối vùng đông bắc Thái Lan với Nam Lào, miền Trung Việt Nam, với biểnđông qua cảng Tiên Sa (tỉnh Đà Nẵng); Quốc lộ 14 (đường Hồ Chí Minh Ngoài vai trò phục vụ đi lại của người dân còn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc vận chuyển và trao đổi hàng hóa, thúc đẩy sản xuất phát triển không chỉ trong nước mà cả quốc tế

Tất cả các xã và thị trấn trên địa bàn huyện đều đã có đường ô tô và đến tận trung tâm

xã, không còn đường đất, đường cấp phối mà chủ yếu là đường nhựa (20km) và đường đá (2km)

Riêng thị trấn Khe Sanh và xã Hướng Phùng nằm dọc tuyến đường Hồ Chí Minh nhánh Tây - đây là con đường thông thương nối các xã Hướng Linh, Hướng Phùng với trung tâm của huyện Nhờ đó đã tạo ra sự thuận lợi về giao thông tạo điều kiện để vận chuyển, thu mua sản phẩm và cung ứng vật tư cho sản xuất [12]

b, Cơ cấu dân số

Theo số liệu trong Niên gián thống kê của tỉnh Quảng Trị năn 2014 thì, dân số trung bình toàn huyện là 80031 người, mật độ dân số 69 người/ km², trong đó nam giới chiếm 49,26 % dân số, nữ chiếm 50, 74 % trong cơ cấu dân số Tốc độ gia tăng dân số trung bình trong giai đoạn 2011-2014 là 1% / năm Dân số ở vùng đô thị là 26, 68 % , nông thôn chiếm

73, 32 %

Toàn huyện có 3 dân tộc chính là: Kinh 37.942 người, chiếm 52,35%; Pa cô,Vân Kiều 30.266 người, chiếm 41,66%; còn lại dân tộc khác , chiếm 5,89%.[12]

c, Cơ cấu kinh tế

Năm 2014 tình hình KT-XH của huyện tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 6% Tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế đạt 5.160 tỷ đồng Sản xuất CN-TTCN đạt 1.471 tỷ đồng; doanh thu thương mại dịch vụ đạt 2.691 tỷ đồng Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 10.300 tấn; đàn gia súc 42.638 con; trồng rừng sản xuất 250 ha

Tỷ lệ hộ nghèo là 18,7%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,94%; tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh

Trang 21

đạt 75%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cân nặng 19,5%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường đạt 99,7% Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2015 phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8-10%; tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế đạt 5.600 tỷ đồng; giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,88%, tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh đạt trên 75%, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 16,5% [12]

1.2.3 Tình hình về lũ lụt và những tổn thương do lũ gây ra trong những năm gần đây trên địa bàn huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị

Trong những năm gần đây với sự gia tăng của lũ lụt, lũ quét trên địa bàn tỉnh Quảng Trị xảy ra với quy mô, cường độ và phạm vi ngày càng lớn Nhất là những huyện miền núi như Hướng Hóa

a,Ngập lụt

Về mức độ ngập lụt thì những xã nằm ở khu vực có địa hình trũng, nằm cách xa đường quốc lộ hầu như chịu ảnh hưởng nặng nề và đa số bị cô lập khi có lũ xảy ra Một số

xã chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do ngập lụt như xã Tân Long các thôn đều có mức độ ngập hơn 2 m và số hộ bị ảnh hưởng nặng lên đến 297 trong tổng 1.477 hộ dân, các thôn A Ho, Thanh 1 (xã Thanh), Bản Giai, Piệc Húc (xã Thuận) cũng là những khu vực chịu ảnh hưởng nặng của ngập lụt

Ngoài ra huyện Hướng Hóa với địa hình dốc, độ dốc lòng sông lớn, đó là một trong những yếu tố tạo điều kiện cho lũ quét phát triển ở đây Và ở khu vực tập trung các loại hình chính như lũ quét nghẽn dòng, lũ quét sườn và lũ bùn đá, còn lũ quét hỗn hợp ít xuất hiện ở đây

- Lũ quét nghẽn dòng: Thường xảy ra ở vùng trũng giữa núi như suối bản Chênh

Vênh – xã Hướng Phùng, ngoài ra loại hình này còn xảy ra ở các xã Hướng Lập, Hướng Sơn gây thiệt hại đáng kể

- Lũ quét sườn :Xảy ra tại thượng nguồn sông như ở xã Hướng Hiệp Lũ xảy ra trong

nhánh suối nhỏ dạng chữ V, đất đá và cây cối trên sườn đổ xuống tạo vật cản ngăn chặn dòng suối nên khi động năng dòng nước đủ mạnh sẽ cuốn trôi vật cản tạo nên lũ quét

Trang 22

- Lũ bùn đá: Dòng lũ bùn đá được hình thành do dòng chảy lũ tạm thời phát sinh đột

ngột tại thung lũng ngắn, hẹp và dốc thuộc vùng đồi hoặc đồi trước núi có vận tốc lớn cuốn theo bùn đá sau đó tích tụ lại cửa sông suối hoặc nơi trũng thấp của các nón lũ tích; đôi khi còn kèm theo hiện tượng đá lăn, đá đổ với quy mô lớn Loại hình này xảy ra rất ít chủ yếu tập trung ở khu vực đá trầm tích hệ tầng Tân Lâm ở khu vực Tân Thành, Tân Hợp.[2]

Bảng 8 Địa điểm xảy ra lũ và lũ quét ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị

TT Phân loại lũ quét Địa điểm xảy ra lũ quét

1 Lũ quét nghẽn dòng Hướng Phùng, Hướng Lập, Hướng Sơn

(Nguồn: Số liệu điều tra, khảo sát năm 2012 - 2013) b,Trượt lở đất

Bảng 9 Vị trí phân bố một số điểm thiên tai ở huyện Hướng Hóa

STT VĨ ĐỘ KINH ĐỘ LOẠI THIÊN TAI ĐỊA ĐIỂM

(Nguồn: Số liệu điều tra, khảo sát năm 2012 - 2013)

Trang 23

Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2009 – 2010 có 177 điểm trượt lở Trong số đó, huyện Hướng Hóa có nhiều điểm trượt lở nhất với 81 điểm xảy ra ở thị trấn Khe Sanh, xã Ba Tầng, Tân Thành, Húc, Hướng Phùng, Hướng Linh, Hướng Lập và Hướng Sơn.Diện tích trượt lở ở huyện Hướng Hóa với 60.895,5 m2 chiếm 52,2% tổng diện tích trượt lở toàn khu vực đồi núi tỉnh Quảng Trị

Đối với huyện Hướng Hóa, các xã có mức độ trượt lở cao tập trung chủ yếu ở phía Bắc quốc lộ 9, nơi có địa hình núi cao, sườn dốc như: Hướng Sơn, Hướng Phùng, Hướng Linh, Hướng Việt, Hướng Lập

Ngoài ra hiện tượng trượt lở đất xảy ra trên các đoạn đường giao thông đi qua huyện cũng khá phổ biến như đường Hồ Chí Minh nhánh Tây (Khe Sanh – Chà Lỳ) Trên đoạn đường này tình trạng trượt lở đặc biệt nghiêm trọng là đoạn qua đèo Sa Mù từ thung lũng Tà Rùng đến bản Chênh Vênh thuộc xã Hướng Phùng kéo dài hơn 20 km Trượt lở quy mô lớn xảy ra nhiều ở phần thấp và lưng chừng núi, nơi phát triển vỏ phong hóa và các tích tụ tàn tích, sườn tích rất dày, hỗn độn các tảng đá cứng chắc giữa sét bột mềm bở Tổng số điểm trượt lở đã ghi nhận là 40 điểm, chiếm 59,7% tổng số điểm trượt lở trên đoạn Khe Sanh – Chà Lỳ, trong đoạn này có những điểm tiềm ẩn nguy cơ trượt lở có quy mô lớn [2]

Trang 24

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN

THƯƠNG DO LŨ LỤT 2.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG

Khái niệm về tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi trong 20 năm qua Đã có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để đánh giá tính

dễ bị tổn thương Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thương giữa các ngành, lĩnh vực cũng khác nhau

Đặc biệt, trong những năm gần đây khái niệm dễ bị tổn thương đã được nhiều nhà khoa học quan tâm hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý lũ lụt Việc đánh giá tính dễ bị tổn thương là một hệ thống nhằm phân tích các rủi ro từ nguy cơ bên ngoài cũng như nội bộ bên trong của nó Điều này nhằm mục đích tăng khả năng phục hồi của xã hội bằng cách tăng khả năng chống chịu của những yếu tố dễ bị tổn thương

Theo Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu Văn (2012) [5] Có rất nhiều những khái niệm dễ

bị tổn thương được sử dụng, có thể chỉ ra 3 trường phái về tính dễ bị tổn thương: (1) Chú trọng đến sự tiếp xúc với các hiểm họa sinh lý bao gồm phân tích điều kiện phân bố các hiểm họa, khu vực hiểm họa mà con người đang sống, mức độ thiệt hại và phân tích các đặc trưng tác động (e.g., Heyman et al 1991, Alexander 1993); (2) Chú trọng đến các khía cạnh

xã hội và các tổn thương liên quan đến xã hội nhằm đối phó với các tác động xấu trong cộng đồng dân cư bao gồm cả khả năng chống chịu và khả năng tự phục hồi đối với hiểm họa (e.g., Blaikie et al 1994, Watts and Bohle 1993); (3) Kết hợp cả hai phương pháp và xác định tính dễ bị tổn thương như là hiểm họa nơi mà chứa đựng những rủi ro sinh lý cũng như những tác động thích ứng của xã hội (Cutter 1996, Weichselgartner 2001: 169 ff)

Quan điểm thứ (1):

"Tổn thương" có nguồn gốc từ chữ Latin có nghĩa là sự tổn hại Ở một mức độ rất cơ bản, dễ bị tổn thương có thể được định nghĩa là "khả năng bị thương" (Kates 1985, Dow 1992) hoặc "thiệt hại tiềm năng"(Cutter năm 1996) Tuy nhiên, định nghĩa chung dễ bị tổn thương không chỉ định loại của sự thiệt hại hoặc các cá nhân, nhóm, hoặc tổn thất xã hội (Cutter, 1996), Dow (1992)

Trang 25

Quan điểm thứ (2):

Blaikie (1994) cho rằng: Dễ bị tổn thương có nghĩa là các đặc tính của một người hoặc một nhóm về năng lực của họ có thể dự đoán, đối phó, chống lại, và phục hồi từ tác động của thiên tai Nó là sự kết hợp của các yếu tố xác định mức độ mà cuộc sống và sinh kế của người khác được đặt tại rủi ro bằng một sự kiện rời rạc và nhận dạng trong tự nhiên hoặc trong xã hội

Theo Christian Kuhlicke quan niệm Tính dễ bị tổn thương xuất phát từ một khái niệm

về sự không hiểu biết có nghĩa là con người đối phó như thế nào với kiến thức hạn chế của mình

Khái niệm dễ bị tổn thương áp dụng cho một hệ thống xã hội do đó có thể được hiểu

là "một tập hợp các điều kiện và quy trình kết quả từ vật lý, các yếu tố xã hội, kinh tế và môi trường, làm tăng tính nhạy cảm của một cộng đồng có các mối nguy hiểm tác động " (ISDR 2002)

Quan điểm thứ (3):

Joanne Linnerooth-Bayer định nghĩa “Tổn thương là một thuật ngữ phân tích, Tính dễ

bị tổn thương là khái niệm được hiểu trong một phạm vi rộng và có quy tắc, bao gồm cả địa

lý, rủi ro, hiểm họa, kỹ thuật, nhân chủng học và sinh thái”

Trong điều kiện tiếp xúc với một số căng thẳng hoặc khủng hoảng, Tính dễ bị tổn thương không chỉ bởi tiếp xúc với sự nguy hiểm mà còn phụ thuộc vào khả năng đối phó của những người bị ảnh hưởng (Anderson và Woodrow 1991; Dow 1992; Watts và Bohle 1993; Cutter 1996, Clark et al 1998; Wu et al 2002 ) Khả năng đối phó đã được xác định như là một sự kết hợp giữa sức kháng cự (khả năng đối phó các tác động gây hại của mối nguy hiểm và tiếp tục tác động) cũng như khả năng phục hồi tổn thương một cách nhanh chóng.(Dow (1992), Cutter (1996), Clark et al (1998), và Wu et al (2002)

Năm 1996, SAR đã xác định tính dễ bị tổn thương như mức độ mà biến đổi khí hậu

có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; nó không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới

Nó được xem như những tác động còn lại của biến đổi khí hậu sau khi các biện pháp thích ứng được thực hiện (Downing, 2005) Định nghĩa này bao gồm sự lộ diện, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu [5]

Ngày đăng: 10/11/2016, 16:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Đình Khá (2011), Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do lũ lụt hạ lưu sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị. Luận văn Thạc sĩ khoa học, Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN Khác
2. Hà Văn Hành, Trương Đình Trọng, Nguyễn Văn Linh (2014), (Phân tích nguyên nhân, mức độ thiệt hại do thiên tai ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị và đề xuất giải pháp giảm thiểu), ( Tạp chí khoa học và công nghệ), (Trường ĐH Khoa Học Huế), tập 1, số 1, 71-82 Khác
3. Nguyễn Quang Hưng, Nguyễn Thanh Sơn, Trần Ngọc Anh (2015), Đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt các lưu vực sông Thạch Hãn và Bến Hải. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 31, Số 1S (2015) 48-55 4. Niên giám thống kê tỉnh Quảng Trị năm 2014 Khác
5. Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu Văn (2012), Các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương – Lý luận và thực tiễn. Phần 1. Khả năng ứng dụng trong đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt ở Miền Trung Việt Nam. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 28, Số 3S (2012) 115-122 Khác
6. Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu Văn, Trần Ngọc Anh, Đặng Đình Khá (2013), Các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương – Lý luận và thực tiễn. Phần 2. Áp dụng thử nghiệm tính toán chỉ số dễ bị tổn thương do lũ thuộc lưu vực sông Lam - tỉnh Nghệ An. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 29, Số 2S (2013) 223-232 Khác
7. Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu Văn (2014) Các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương – Lý luận và thực tiễn. Phần 3. Tính toán chỉ số dễ bị tổn thương do lũ bằng phương pháp trọng số - Thư nghiệm cho đơn vị cấp xã vùng hạ lưu sông Thu Bồn. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 4S (2014) 150-158 Khác
8. Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu Văn, (2013), Các chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương và phương pháp tính toán. Tuyển tập báo cáo Hội thảo Khoa học Quốc gia về khí tượng thủy văn môi trường và biến đổi khí hậu lần thứ XVI - Tập II.Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường 27-29 tháng 6, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013, tr. 203-211 Khác
9. Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu Văn, (2014), Xây dựng phương pháp tính trọng số để xác định chỉ số dễ bị tổn thương lũ lụt lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 31, Số 1S (2015) 93 – 102 Khác
10. Cấn Thu Văn, (2014), Nghiên cứu xã lập cơ sở khoa học đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn phục vụ quy hoạch phòng chống thiên tai. Luận án Tiến sĩ Thủy văn học, Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Bản đồ hành chính huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Hình 1. Bản đồ hành chính huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị (Trang 12)
Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất huyện Hướng Hóa - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất huyện Hướng Hóa (Trang 14)
Bảng 2. Đặc trưng về nhiệt độ (°C), các tháng và năm - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 2. Đặc trưng về nhiệt độ (°C), các tháng và năm (Trang 16)
Bảng 5.  Số giờ nắng trung bình tháng và năm - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 5. Số giờ nắng trung bình tháng và năm (Trang 17)
Bảng 4.  Đặc trưng về độ ẩm các tháng và năm - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 4. Đặc trưng về độ ẩm các tháng và năm (Trang 17)
Bảng 6. Tần suất (%) các hướng gió và lặng gió ở Hướng Hóa - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 6. Tần suất (%) các hướng gió và lặng gió ở Hướng Hóa (Trang 18)
Bảng 9. Vị trí phân bố một số điểm thiên tai ở huyện Hướng Hóa - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 9. Vị trí phân bố một số điểm thiên tai ở huyện Hướng Hóa (Trang 22)
Hình 2. Bản đồ mạng lưới sông huyện Hương Hóa – tỉnh Quảng Trị - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Hình 2. Bản đồ mạng lưới sông huyện Hương Hóa – tỉnh Quảng Trị (Trang 32)
Bảng 17. Các giá trị tham số chuẩn hóa của khả năng phục hồi - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 17. Các giá trị tham số chuẩn hóa của khả năng phục hồi (Trang 38)
Bảng 18. Các giá trị tham số chuẩn hóa của độ phơi nhiễm - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 18. Các giá trị tham số chuẩn hóa của độ phơi nhiễm (Trang 39)
Hình 5. Biểu đồ biểu diễn FVI xã hội của các xã trong huyện Hướng Hóa - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Hình 5. Biểu đồ biểu diễn FVI xã hội của các xã trong huyện Hướng Hóa (Trang 40)
Hình 6. Biểu đồ biểu diễn FVI kinh tế của các xã trong huyện Hướng Hóa - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Hình 6. Biểu đồ biểu diễn FVI kinh tế của các xã trong huyện Hướng Hóa (Trang 41)
Hình 7.Biểu đồ biểu diễn FVI môi trường của các xã trong huyện Hướng Hóa . - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Hình 7. Biểu đồ biểu diễn FVI môi trường của các xã trong huyện Hướng Hóa (Trang 42)
Hình 8. Biểu đồ biểu diễn FVI vật lý của các xã trong huyện Hướng Hóa - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Hình 8. Biểu đồ biểu diễn FVI vật lý của các xã trong huyện Hướng Hóa (Trang 42)
Hình 9. Biểu đồ biểu diễn FVI của các xã trong huyện Hướng Hóa - Khóa luận xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Hình 9. Biểu đồ biểu diễn FVI của các xã trong huyện Hướng Hóa (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w