1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị

45 484 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra, khi được xây dựng hoàn chỉnh, FVI trở thành một công cụ giúp xác định các yếu tố chịu trách nhiệm chính cho sự dễ tổn thương của lưu vực, được sử dụng như

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN HẢI DƯƠNG HỌC

Trần Vinh Quang

XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ

Khóa luận đại học hệ chính quy

Ngành: Thủy văn (Chương trình đào tạo Chuẩn)

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN HẢI DƯƠNG HỌC

Trần Vinh Quang

XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ

Khóa luận đại học hệ chính quy

Ngành: Thủy văn (Chương trình đào tạo Chuẩn)

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thanh Sơn

ThS Ngô Chí Tuấn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp: “Xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn

thương do lũ lụt trên địa bàn huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị” hoàn thành tại

Khoa Khí tượng - Thủy văn - Hải Dương học thuộc trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội vào tháng 5 năm 2016, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS - TS Nguyễn Thanh Sơn và ThS Ngô Chí Tuấn

Tác giả xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới PGS - TS Nguyễn Thanh Sơn

và ThS Ngô Chí Tuấn đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu khóa luận Sinh viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo Khoa Khí tượng - Thủy văn và hải Dương học đã giúp đỡ, tạo điều kiện tốt trong quá trình học tập và nghiên cứu khóa luận Tác giả xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các anh, chị và bạn bè sinh viên Khoa Khí tượng – Thủy văn và Hải dương học

Trong khuôn khổ nghiên cứu, do thời gian và điều kiện hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, sinh viên rất mong nhận được những ý kiến

đóng góp quý báu từ phía độc giả và những người quan tâm

Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2016

Sinh viên Trần Vinh Quang

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ 8

1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 8

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 8

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 9

1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ 10

1.1.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên 10

1.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 13

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT 16

2.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 16

2.1.1 Sự phát triển của khái niệm tính dễ bị tổn thương 16

2.1.2 Khái niệm tính dễ bị tổn thương do lũ 18

2.2 TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ 19

2.2.1 Độ phơi nhiễm (E) 19

2.2.2 Tính nhạy (S) 19

2.2.3 Khả năng phục hồi (R) 20

2.3 GIỚI THIỆU CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ SỐ 20

2.3.1 Phương pháp UNESCO-IHE 20

2.3.2 Phương pháp Messner và Meyer 20

2.3.3 Phương pháp ShantoshKarki 20

2.3.4 Phương pháp Villagran de Leon 21

Trang 5

2.4 PHƯƠNG PHÁP TÍNH TỔN THƯƠNG LŨ THEO CÔNG THỨC CỦA

BALICA 22

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ TÍNH TOÁN TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ 25

3.1 TÌNH HÌNH SỐ LIỆU 25

3.1.1 Bản đồ 25

3.1.2 Số liệu khí tượng thủy văn 27

3.1.3 Phiếu điều tra 27

3.2 CÁC BƯỚC TÍNH TOÁN 27

3.2.1 Bước 1: Lựa chọn vùng 27

3.2.2 Bước 2: Thiết lập bộ tiêu chí 27

3.2.3 Bước 3: Chuẩn hóa các tham số đánh giá 29

3.2.4 Bước 4: Tính giá trị chỉ số dễ bị tổn thương 30

3.2.5 Bước 5: Phân hạng và xây dựng bản đồ tính dễ bị tổn thương 30

3.3 KẾT QUẢ TÍNH TOÁN 31

3.3.1Chuẩn hóa các tham số 31

3.2 Tính FVI 33

KẾT LUẬN 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 7

SAR Second Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần II)

UNESCO United Nations Emducation, Scientific and Cultural Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc)

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Namnói chung và khu vực miền Trung nói riêng là nơi giao lưu của nhiều đới khí hậu phức tạp nên thời tiết thay đổi và biến động rất nhanh, đặc biệt khu vực Quảng Trị là nơi chịu nhiều ảnh hưởng của bão lũ với tần suất và cường độ ngày càng tăng Để tăng cường ứng phó với lũ lụt ngoài các biện pháp công trình thì các biện pháp phi công trình đang đóng vai trò rất quan trọng, mà trong đó có tính dài hạn và bền vững như các biện pháp quy hoạch sử dụng đất, nâng cao nhận thức của người dân Mặt khác, các biện pháp tức thời để ứng phó nhanh như cảnh báo, dự báo vùng ngập, di dời và sơ tán dân cư đến khu vực an toàn… đã tỏ ra rất hiệu quả trong việc hạn chế những tổn thương về người và tài sản người dân

Tính dễ bị tổn thương do lũ lụt gây ra (FVI) được đánh giá dựa trên các phân tích đa chiều, cho phép so sánh tính dễ tổn thương do lũ lụt gây ra giữa các lưu vực khác nhau Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra, khi được xây dựng hoàn chỉnh, FVI trở thành một công cụ giúp xác định các yếu tố chịu trách nhiệm chính cho sự dễ tổn thương của lưu vực, được sử dụng như một chỉ số mang tính tổng hợp để đánh giá, quản lý và quy hoạch các vấn đề liên quan đến lũ lụt, khai thác và bảo vệ nguồn nước

Do vậy, để đánh giá được tính dễ bị tổn thương do lũ lụt gây ra đối với kinh tế -

xã hội thì hướng tiếp cận đa ngành trong công tác quản lý tổng hợp rủi ro thiên tai là cần thiết để xây dựng các giải pháp nhằm giảm nhẹ tác hại của lũ gây ra Đây cũng là

lý do dẫn đến sự hình thành luận văn “Xác định bộ chỉ số đánhgiá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị” Kết quả nghiên

cứu sẽ là cơ sở khoa học, thực tiễn cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách xác định chiến lược phát triển bền vững và đảm bảo an ninh xã hội Bố cục luận văn bao gồm:

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về đánh giá tính dễ

Trang 9

Chương 2: Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt

Chương 3: Kết quả tính toán tính dễ bị tổn thương huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ

1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Trong các nghiên cứu của IPCC - CZMS đã nghiên cứu, đề xuất phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương đơn giản nhằm xác định và đánh giá các tác động của mực nước biển dâng đến đời sống người dân trên bề mặt hành tinh và được ứng dụng tại nhiều nơi Phương pháp này kết hợp các nhận định của chuyên gia với dữ liệu về các đặc tính vật lý và kinh tế - xã hội, từ đó phân tích, ước tính phổ các tác động của mực nước biển dâng bao gồm cả phần giá trị mất đi của các vùng đất và đất ngập nước Các thông tin thu được từ cách đánh giá này được sử dụng như là cơ sở cho các bước mô hình hóa tiếp theo Phương pháp bao gồm 7 bước: (1) xác định khu vực nghiên cứu; (2) thu thập và phân tích các đặc trưng khu vực nghiên cứu; (3) xác định các yếu tố phát triển kinh tế xã hội tương ứng; (4) đánh giá các biến động về mặt vật lý; (5) xây dựng chiến lược ứng phó; (6) đánh giá hồ sơ dễ bị tổn thương; (7) xác định các nhu cầu trong tương lai Tuy nhiên, đến 1999 Klein và Nicholls đã chỉ ra 5 hạn chế cơ bản của phương pháp này liên quan đến các ràng buộc về kỹ thuật và khả năng cung cấp số liệu trong việc mô hình hóa hệ thống và đánh giá định lượng

Conner (2007) đã đưa các biện pháp công trình và phi công trình vào tính toán chỉ số tổn thương lũ, nó thể hiện khả năng chống chịu của cộng đồng dân cư mà không xét đến sự phơi nhiễm của cộng đồng đó trước nguy cơ lũ Hay Sebastian (2010) đã xác định tính tổn thương lũ là sự kết hợp giữa xác suất, tác động (thiệt hại)

và khả năng chống chịu Theo như nghiên cứu này chưa xét đến phơi nhiễm, khả năng phục hồi của hệ thống, chưa xét đề cập ảnh hưởng của vùng miền (các yếu tố tự nhiên) nên chưa hoàn chỉnh hay nói cách khác chưa biểu diễn được mối tương tác tự nhiên – kinh tế xã hội khi xem xét bài toán tổng hợp đánh giá tính dễ bị tổn thương

Trang 11

Fussel, Hebb và Mortsch đã phân chia các nhóm yếu tố quyết định đến khả năng dễ bị tổn thương của cộng đồng, khu vực (hệ thống) nhằm xác định các chỉ số thành bốn nhóm, dựa vào sự tổ hợp giữa hai hệ thống là kinh tế xã hội và tự nhiên từ nhóm các yếu tố nội và ngoại sinh, tuy nhiên, việc sử dụng số liệu và tính toán cũng còn chưa hoàn chỉnh về cả tự nhiên và xã hội

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Theo luận văn của Đặng Đình Khá [1] đã viết: Trong nghiên cứu của Việt

Trinh (2010) về “Đánh giá rủi ro do lũ cho lưu vực sông Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị”,

tác giả đã đánh giá rủi ro do lũ dựa trên bản đồ nguy cơ do lũ và bản đồ tính dễ bị tổn thương, coi tính dễ tổn thương do lũ là một hàm của bản đồ sử dụng đất và mật độ dân sốchưa xét đến khả năng chống chịu của cộng đồng Với cách tiếp cận này, Việt Trinh chỉ dựa trên mật độ giá trị của các vùng khác nhau trong khu vực nghiên cứu, dựa trên giả thiết tính dễ bị tổn thương của cộng đồng với cùng các điều kiện kinh tế xã hội là giống nhau

Với nghiên cứu“Đánh giá các thống số rủi ro lũ ở vùng ngập lụt sông Đáy, đồng bằng sông Hồng, Việt Nam”của Mai Đăng (2010) thì khái niệm tính dễ bị tổn

thương đã được mở rộng, bao gồm các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường Trong nghiên cứu đó, tác giả đã đánh giá trọng số ảnh hưởng của các yếu tố đến tính dễ tổn thương lũ như: mật độ dân số, nhận thức của cộng đồng, các công trình phòng lũ, sự ô nhiễm, sự xói mòn và nhiều yếu tố khác

Trong công trình củaCấn Thu Văn và Nguyễn Thanh Sơn [8] đã đánh giá khả năng dễ bị tổn thương tài nguyên nước lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, đã đưa vào các thành phần sinh kế, môi trường, điều kiện chống lũ, sự hỗ trợ, kinh nghiệm chống lũ, Tuy có thêm được khá nhiều và đầy đủ các thành phần quan trọng để tính giá trị

dễ bị tổn thương do lũ nhưng vẫn chưa đưa vào được thành nhóm bao quát hơn như

kinh tế, môi trường, xã hội, vật lý

Trang 12

1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ -

XÃ HỘI HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ

1.1.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên

a) Vị trí địa lí và đơn vị hành chính

Đa Krông là một huyện miền núi vùng cao biên giới phía tây nam của tỉnh Quảng Trị Thành lập ngày 1.1.1997 trên cơ sở 10 xã của huyện Hướng Hóa và 3 xã của huyện Triệu Phong Diện tích 123.332ha dân số 25.917 người Hiện nay có hơn 34.160 người

14 đơn vị hành chính bao gồm thị trấn Krông Klang và 13 xã: A Bung, A Ngo, A Vao, Ba Lòng, Ba Nang, Đa Krông, Hải Phúc, Húc Nghì, Hướng Hiệp, Mò

Ó, Tà Long, Tà Rụt, Triệu Nguyên

Vị trí: Nằm ở vị trí 16017`55`` đến 16049`12`` vĩ độ Bắc và 106044`01`` đến 107014`15`` kinh độ Đông Phía Bắc giáp với các huyện Gio Linh, Cam Lộ Phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào Phía Đông giáp huyện Triệu Phong và Hải Lăng Phía Tây giáp huyện Hướng Hóa

b) Địa hình - Địa chất

+Tổng diện tích (ha): 122.332,21

+ Diện tích đất nông nghiệp (ha): 5.523,1

+ Diện tích đất lâm nghiệp (ha): 72.779,8

+ Diện tích đất chưa khai thác (ha): 41.634,1

* Đặc điểm địa hình - địa mạo: Địa hình vùng đồi núi nghiên cứu có cấu tạo

dạng bậc khá rõ nét: phía Tây là dãy núi trung bình, phần giữa là núi thấp xen đồi, thung lũng và phía Đông là dải đồng bằng nhỏ hẹp Đặc trưng các dạng địa hình sau: địa hình núi trung bình khối tảng, kiến tạo - bóc mòn, địa hình núi thấp cấu trúc kiến tạo - bóc mòn, địa hình khối núi bóc mòn Karst, địa hình đồi trước núi xâm thực - bóc mòn Tuy nhiên, qua các đợt khảo sát thực địa cho thấy hầu hết các điểm DCĐĐ xảy

Trang 13

ra mạnh mẽ trong vùng địa hình núi trung bình khối tảng kiến tạo - bóc mòn có độ cao tuyệt đối 500m - 800m, > 800m, độ che phủ rừng tới 70 - 80%, độ dốc sườn lớn, phổ

6 biến từ 260 đến 450 , và > 450 , mức độ chia cắt sâu 300 - 500m/km2

Hình 1 Bản đồ hành chính huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị

(Nguồn: Bản đồ ATLAT năm 2009)

Trang 14

Địa hình Đakrông cao về phía Đông – Đông Nam thấp về phía Tây - Tây Bắc Cao nhất là đỉnh Kovalađút 1251m, thấp nhất là khu vực bãi bồi Ba Lòng 25m Đồi núi tập trung ở phía Đông Nam của huyện.

Do chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tự nhiên khác nhau nên đất đai ở Đakrông rất đa dạng và phong phú bao gồm bảy loại chính đó là: Đất màu tím trên đá sét, đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất phú sa bồi, đất đỏ vàng trên đá phiến thạch sét, đất đỏ vàng trên đất mácmaxit và đất vàng nhạt trên đá cát Nhóm đất có địa hình đồi chiếm hơn 95% diện tích phù hợp trông các loại cây công nghiệp có giá trị cao như cà phê, tiêu, cao su vv…… Ngoài ra có đât phú sa sông phù hợp trồng cây nông nghiệp như bắp đậu v.v

*Đặc điểm địa chất: Xuất phát từ quan điểm tác động của nước dưới đất như là

một trong các nguyên nhân chủ yếu gây ra các tai biến địa chất sườn dốc, nhất là trượt

lở đất đá Nước dưới đất xuất hiện và vận động xuôi theo SD, MD, làm tăng khối lượng thể tích, giảm lực kháng cắt của đất đá, tạo ra áp lực thủy tĩnh (Aw), áp lực thủy động (Dw) làm giảm lực chống trượt, tăng lực gây trượt, tức là làm giảm hệ số

ổn định, gây trượt đất cấu tạo SD, MD Trên cơ sở khảo sát thực địa, xác định lưu lượng các mạch lộ, tài liệu bơm hút, ép nước thí nghiệm ở một số lỗ khoan, tác giả không phân tầng địa chất thủy văn và mô tả các đơn vị địa tầng địa chất thủy văn theo phương pháp địa chất thủy văn khu vực truyền thống mà khái quát đặc điểm địa chất thủy văn theo độ phong phú nước như sau: nhóm phức hệ địa chất thủy văn khe nứt - vỉa nghèo nước; khe nứt - vỉa nghèo nước, khe nứt có độ chứa nước trung bình; khe

nứt - vỉa, khe nứt giàu nước; khe nứt - karst - vỉa rất giàu nước

Trang 15

d) Thủy văn

Sông Đakrông bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn ở phía Nam và đông Nam huyện Đakrông có chiều dài 85km Sông Quảng Trị chảy qua Đakrông là hợp lưu của hai con sông Đakrông và sông Rào Quán Thượng lưu gọi là sông Đakrông, hạ lưu gọi

lá sông Ba Lòng Trong hệ thống sông Đakrông có nhiều con suối tương đối lớn đổ ra như Paây, Scam, Ra Ngao, Ta Sam Ba Le, Rơlay vv… Ngoài ra còn có nhiều con suối đỏ vào song Ba Lòng như Khe Làng An, Khe Vẽ,… Sông Đakrông có độ dài ngắn và dốc nên tốc độ chảy cao về mùa mua lũ thưỡng xảy ra tình trạng lũ lụt lớn

e) Lớp phủ thực vật

Vùng đồi núi Đakrông có độ che phủ thuộc loại cao so với cả nước, chiếm khoảng 20 đến 80% nhưng không đồng đều (theo số liệu thống kê của Viện Điều tra quy hoạch rừng) Qua các đợt khảo sát thực địa cho thấy, hiện tượng ‘ dịch chuyển đất đá’ xảy ra khá nhiều nơi trong vùng nghiên cứu, tập trung chủ yếu ở các xã , A Ngo,

A Vao mà một trong các nguyên nhân chính là do hoạt động chặt phá rừng lấy gỗ, đốt phá rừng làm rẫy, trồng cây công nghiệp trên các sườn núi dọc tuyến nghiên cứu Việc chặt phá, đốt rừng làm làm nương rẫy tạo ra những khu đất trống đồi trọc, giảm

tỷ lệ che phủ rừng dẫn đến làm tăng nhanh quá trình TLĐĐ

1.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

a) Lịch sử hình thành

Trong lịch sử vùng đất Đakrông từng thuộc các huyện Hướng Hóa, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu phong, do ảnh hưởng của chiến tranh do yêu cầu cách mang nên nhiều lần tách ra hợp vào nhiều lần Đakrông là nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa thời tiền

sử Qua các phat hiện khảo cổ đã tìm thấy nhiều dấu vết của thời kỳ đá mới thuộc văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn ở Đakrông Ở đây còn phát hiện nhiều dấu vết của nền văn hóa đồ đồng như rìu đồng giáo đồng lưỡi câu đồng và một số đồ trang sức vv Qua những dữ kiện đó chúng tỏ Đakrông có bề dày lịch sử lâu đời là nơi con người lập nghiệp từ rất sớm có những đóng góp to lớn trong tiến trình phát triển của lịch sử dân

Trang 16

tộc Vào buổi đầu của lịch sử nơi đây là địa bàn cư trú của bộ Việt Thường Từ cuối thế kỷ II đến thế kỷ XIV thuộc về châu Ô, Châu Lý của nhà nước Chăm Pa Từ năm

1306 thuộc về nhà nước Đại Việt sau khi Chế Mân lấy Châu ô Châu Lý làm lễ vật cầu hôn Huyền Trân công chúa Năm1307 nhà Trần đổi Châu Ô, Châu Lý thành Thuận Châu và Hóa Châu, Đakrông lúc này thuộc Hóa Châu

b) Dân cư – Văn hóa

Dân cư ở đây không chỉ có người Chăm mà gồm cả đồng bào dân tộc ít người như Vân Kiều, PaCô cùng người kinh định cư lâu đời Từ 1831 khi nhà Nguyễn thành lập tỉnh Quảng Trị thì Đakrông chính thức thuộc về tỉnh QT từ đó đến 1976 Đakrông thuộc tỉnh Bình Trị Thiên Đến ngày 18.5.1981 xã Đakrông được thành lập trên cơ sở sát nhập các thôn Taliêng, Pa ra Từng, Chân Rò tách từ xã Tà Long và thôn Ba ngao, Làng Cát, Vùng Kho Các xã A Túc, A Xốc và Kỳ Nơi thuộc huyện Hướng Hóa nhập vào làm một và lấy tên là A Túc Dân cư Đakrông ngoài các dân tộc thiểu số như Ba

Hy, Vân Kiều, Pa Cô là chủ yếu còn có người kinh sinh sống tính đến 2005 Có khoảng 34.160 người Mặc dù thành phần dân tộc phức tạp nhưng trải qua quá trình chung sống vật lộn đấu tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm cư dân Đakrông đã trở thành một khối thống nhất trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu của cộng đồng cư dân Việt Nam nói chung và Quảng Trị nói riêng Cộng đồng cư dân sinh sống đầu tiên ở trên địa bàn huyện Đakrông đó là cộng đồng người Ba Hy Họ sống theo dạng du canh du cư tù ngọn núi này sang ngọn núi khác nhưng sau một thời gian sinh sống họ gặp phải dịch bệnh và thú dũ tấn công nên đã chuyển di nơi khác sinh sống Sau khi người Ba Hy dời đi thì những người mới đến định cư ở đây (còn gọi là người Bru nghĩa là nhũng người sống ở trên cao) Ngoài người Vân Kiều còn

có người Pa cô cư trú ở phía Tây Nam của huyện ở các xã A Bung, Tà Rụt

Ngôn ngữ của của đồng bào VK gọi là Kado, Kanay, thuộc ngữ hệ Môn – Khơme Người Vân kiều Pa cô sống thánh các bản làng gọi là Vil hay Vel mỗi bản thường có 20-30 gia đình Đưng đầu Vil hay Vel là Aryay vel có thể là người đứng

Trang 17

cộng đồng được cộng đồng tin tưởng Nhà ở của đồng bào Đakrông đều là nhà sàn lợp bằng lá tranh, mây, sàn lát băng núa hoặc gỗ Giữa hai cộng đồng có nhiều điểm tương đồng về văn hóa như cà răng, căng tai, các mô típ trang trí, hay các câu truyện dân gian vv.

Sau khi người kinh lên sinh sống cùng với cộng đồng ở đây dã trở thành một cộng đồng cư dân mới hết sức đoàn kết và gắn bó cùng nhau tồn tại và phát triển

c) Dân số

Theo niên giám thống kê năm 2014 của tỉnh Quảng Trị thì Đakrông là một trong những huyện có dân số ít nhất của tỉnh Quảng Trị với số dân vào khoảng 38.176 người, mật độ dân số cũng thuộc loại thưa thớt nhất cả tỉnh với 38 người/km² Trong

đó, nam giới chiếm khoảng 49,25 %, và nữ giới chiếm 50,75 % trong cơ cấu dân số của huyện Tốc độ gia tăng dân số trung bình trong giai đoạn 2010-2014 là vào khoảng 1 %/năm Dân số phân bố ở thành thị của huyện rất thấp chỉ chiếm 9,4 % dân

số, còn lại dân số tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn chiếm đến 90,6 % dân số

d) Cơ cấu kinh tế

+ Tốc độ tăng trưởng bình quân: 13,9%

+ Thu nhập bình quân đầu người: 2,5 triệu đồng

+ Thu ngân sách trên địa bàn: 2,08 tỷ̉ đồng

+ Tỷ trọng NN-CN-TMDV: 49,27% - 20,16% - 30,57%

(Số liệu thống kê cuối năm 2008)

Trang 18

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN

THƯƠNG DO LŨ LỤT

2.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG

2.1.1 Sự phát triển của khái niệm tính dễ bị tổn thương

Khái niệm về tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi trong 20 năm qua Đã

có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để đánh giá tính dễ bị tổn thương Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tính dễ

bị tổn thương giữa các ngành, lĩnh vực cũng khác nhau

Đặc biệt, trong những năm gần đây khái niệm dễ bị tổn thương đã được nhiều nhà khoa học quan tâm hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý lũ lụt Việc đánh giá tính dễ bị tổn thương là một hệ thống nhằm phân tích các rủi ro từ nguy cơ bên ngoài cũng như nội bộ bên trong của nó Điều này nhằm mục đích tăng khả năng phục hồi của xã hội bằng cách tăng khả năng chống chịu của những yếu tố dễ bị tổn thương

Có rất nhiều những khái niệm dễ bị tổn thương được sử dụng, có thể chỉ ra 3 trường phái về tính dễ bị tổn thương: (1) Chú trọng đến sự tiếp xúc với các hiểm họa sinh lý bao gồm phân tích điều kiện phân bố các hiểm họa, khu vực hiểm họa mà con người đang sống, mức độ thiệt hại và phân tích các đặc trưng tác động (e.g., Heyman

và cộng sự 1991, Alexander 1993); (2) Chú trọng đến các khía cạnh xã hội và các tổn thương liên quan đến xã hội nhằm đối phó với các tác động xấu trong cộng đồng dân

cư bao gồm cả khả năng chống chịu và khả năng tự phục hồi đối với hiểm họa (e.g., Blaikie và cộng sự 1994, Watts and Bohle 1993); (3) Kết hợp cả hai phương pháp và xác định tính dễ bị tổn thương như là hiểm họa nơi mà chứa đựng những rủi ro sinh lý cũng như những tác động thích ứng của xã hội (Cutter 1996, Weichselgartner 2001:

169 ff)

Trang 19

Quan điểm thứ (2):

Blaikie (1994) cho rằng: Dễ bị tổn thương có nghĩa là các đặc tính của một người hoặc một nhóm về năng lực của họ có thể dự đoán, đối phó, chống lại, và phục hồi từ tác động của thiên tai Nó là sự kết hợp của các yếu tố xác định mức độ mà cuộc sống và sinh kế của người khác được đặt tại rủi ro bằng một sự kiện rời rạc và nhận dạng trong tự nhiên hoặc trong xã hội

Theo Christian Kuhlicke quan niệm Tính dễ bị tổn thương xuất phát từ một khái niệm về sự không hiểu biết có nghĩa là con người đối phó như thế nào với kiến thức hạn chế của mình

Khái niệm dễ bị tổn thương áp dụng cho một hệ thống xã hội do đó có thể được hiểu là "một tập hợp các điều kiện và quy trình kết quả từ vật lý, các yếu tố xã hội, kinh tế và môi trường, làm tăng tính nhạy cảm của một cộng đồng có các mối nguy hiểm tác động " (ISDR 2002)

Quan điểm thứ (3):

Joanne Linnerooth-Bayer định nghĩa “Tổn thương là một thuật ngữ phân tích, Tính dễ bị tổn thương là khái niệm được hiểu trong một phạm vi rộng và có quy tắc, bao gồm cả địa lý, rủi ro, hiểm họa, kỹ thuật, nhân chủng học và sinh thái”

Trong điều kiện tiếp xúc với một số căng thẳng hoặc khủng hoảng, Tính dễ bị tổn thương không chỉ bởi tiếp xúc với sự nguy hiểm mà còn phụ thuộc vào khả năng đối phó của những người bị ảnh hưởng (Anderson và Woodrow 1991; Dow 1992;

Trang 20

Watts và Bohle 1993; Cutter 1996, Clark và cộng sự 1998; Wu và cộng sự 2002 ) Khả năng đối phó đã được xác định như là một sự kết hợp giữa sức kháng cự (khả năng đối phó các tác động gây hại của mối nguy hiểm và tiếp tục tác động) cũng như khả năng phục hồi tổn thương một cách nhanh chóng.(Dow (1992), Cutter (1996), Clark và cộng sự (1998), và Wu và cộng sự (2002)

Năm 1996, SAR đã xác định tính dễ bị tổn thương như mức độ mà biến đổi khí hậu có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; nó không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới Nó được xem như những tác động còn lại của biến đổi khí hậu sau khi các biện pháp thích ứng được thực hiện (Downing, 2005) Định nghĩa này bao gồm sự

lộ diện, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

Các định nghĩa này đã thể hiện sự phát triển về quan điểm các nghiên cứu về trường phái thứ 3 ngày càng nhiều Trong đó họ đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa các hoạt động con người và tác động của thiên tai theo chiều hướng tổn thương kinh

tế xã hội đã tăng lên Các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đã dần được cải thiện thể hiện một cái nhìn toàn diện của xã hội, liên quan đến lĩnh vực tự nhiên và kinh tế

xã hội của hệ thống

2.1.2 Khái niệm tính dễ bị tổn thương do lũ

Khái niệm tính dễ bị tổn thương mà tác giảm sử dụng dựa trên khái niệm của UNESCO-ihe “ Tính dễ bị tổn thương là mức độ gây hại có thể được xác định trong những những điều kiện nhất định thông qua tính nhạy, sự tổn thất và khả năng phục hồi”

Để tăng cường tính ứng dụng của các nghiên cứu trong thực tế, đặc biệt là trong chủ động đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ thì Janet Edwards (2007) đã đưa ra một

khái niệm nữa là bản đồ tính dễ bị tổn thương do lũ “làbản đồ cho biết vị trí các vùng nơi mà conngười, môi trường thiên nhiên, của cải gặp rủiro do các thảm hoạ có thể

Trang 21

dẫn đến những hậuquả nghiêm trọng như thiệt hại về người, gây ônhiễm môi trường”

Ngoài ra, theo một số nghiên cứu khác định nghĩa: Khái niệm tính dễ bị tổn thương lũ lụt là việc xem xét lựa chọn tiếp xúc, nhạy cảm, và các chỉ số đối phó của người dân trong khu vực nghiên cứu Phân tích các chỉ số này cung cấp một cái nhìn sâu sắc vào các đặc tính dễ bị tổn thương của người dân bị ảnh hưởng và tác động đối với quản lý nguy cơ lũ lụt (Ayoade 1979; Ayoade và Akintola 1980; Olaniran 1983; Ologunorisa và Terso năm 2006) Khi định lượng được tính dễ bị tổn thương của một vùng nào đó thì nó sẽ cung cấp những thông tin cần thiết hỗ trợ trong việc ra quyết định nhằm chống lại các mối nguy hiểm do lũ lụt gây ra mà xã hội phải hứng chịu [2]

2.2 TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ

Ba thành phần được lựa chọn để đánh giá tính dễ bị tổn thương được có thể được xác định theo đánh giá thứ 3 của IPCC: “Tính dễ bị tổn thương là một hàm của các đặc trưng, độ lớn, và tỷ lệ thay đổi nhiệt độ với độ phơi nhiễm của hệ thống, mức

độ nhạy cảm và khả năng đối phó” (McCarthy và cộng sự 2001) Vì vậy, theo định nghĩa này, tính dễ bị tổn thương có ba thành phần: tiếp xúc (độ phơi nhiễm), mức độ nhạy cảm và khả năng ứng phó Ba thành phần này được mô tả như sau:

2.2.1 Độ phơi nhiễm (E)

Độ phơi nhiễm được hiểu như là mối đe dọa trực tiếp, bao hàm tính chất, mức

độ thay đổi các yếu tố cực đoan của khu vực như: Bản đồ tự nhiên; bản đồ sử dụng đất; bản đồ ngập lũ (tần suất, thời gian, lượng lũ); dân số, tỷ lệ dân cư nông thôn, thành thị, dân tộc thiểu số, phong tục, tập quán, tỷ lệ ngành nghề sản xuất

Trang 22

nghiệm đối phó với lũ, nhận thức về nguy cơ lũ lụt, nhận thức về rủi ro lũ lụt, sự chuẩn bị cho việc xuất hiện lũ

2.2.3 Khả năng phục hồi (R)

Khả năng phục hồi là khả năng thực hiện các biện pháp thích ứng nhằm ngăn

chặn các tác động tiềm năng như: Năng lực đối phó, quản lý và sự cứu trợ, hỗ trợ có thể nhận được từ chính quyền địa phương, Cấu trúc nhà ở, hệ thống đê điều phòng và chống lũ, dịch vụ y tế công cộng, hiện trạng hệ sinh thái [3]

2.3 GIỚI THIỆU CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ SỐ

2.3.1 Phương pháp UNESCO-IHE

Bên cạnh đó [UNESCO-IHE]lại đưa ra một cách tính khác Trong hướng dẫn

của Viện giáo dục UNESCO-IHE đề xuất một dạng quan hệ khác của chỉ số dễ bị tổn thương:

Chỉ số dễ bị tổn thương = Độ phơi nhiễm + Tính nhạy – Khả năng phục hồi

2.3.2 Phương pháp Messner và Meyer

Tác giả cũng đã đề xuất quan hệ về chỉ số dễ bị tổn thương dạng đơn giản trong

trường hợp giá trị tính nhạy và khả năng phục hồi khó xác định thì có thể kết hợp

thành chỉ số khả năng chống chịu:

Chỉ số dễ bị tổn thương = Phơi nhiễm – Khả năng chống chịu

Như vậy việc tiến hành nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do lũ về các khía cạnh như: Phơi nhiễm (Exposue), tính nhạy (suscepcibility), khả năng chống chịu (Coping capacity) sẽ mang tính tổng quát và có ý nghĩa

2.3.3 Phương pháp ShantoshKarki

Theo chương trình Rừng và cuộc sống đã đề xuất quan hệ giữa tổn thương như sau:

Ngày đăng: 10/11/2016, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Đình Khá (2011), Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do lũ lụt hạ lưu sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị. Luận văn Thạc sĩ khoa học, Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN Khác
2. Nguyễn Quang Hưng, Nguyễn Thanh Sơn, Trần Ngọc Anh (2015), Đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt các lưu vực sông Thạch Hãn và Bến Hải. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 31, Số 1S (2015) 48-55 Khác
4. Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu Văn (2012), Các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương – Lý luận và thực tiễn. Phần 1. Khả năng ứng dụng trong đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt ở Miền Trung Việt Nam. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 28, Số 3S (2012) 115-122 Khác
5. Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu Văn, Trần Ngọc Anh, Đặng Đình Khá (2013), Các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương – Lý luận và thực tiễn. Phần 2. Áp dụng thử nghiệm tính toán chỉ số dễ bị tổn thương do lũ thuộc lưu vực sông Lam - tỉnh Nghệ An. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 29, Số 2S (2013) 223-232 Khác
6. Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu Văn (2014) Các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương – Lý luận và thực tiễn. Phần 3. Tính toán chỉ số dễ bị tổn thương do lũ bằng phương pháp trọng số - Thư nghiệm cho đơn vị cấp xã vùng hạ lưu sông Thu Bồn. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 4S (2014) 150-158 Khác
7. Cấn Thu Văn, Nguyễn Thanh Sơn (2013), Các chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương và phương pháp tính toán. Tuyển tập báo cáo Hội thảo Khoa học Quốc gia về khí tượng thủy văn môi trường và biến đổi khí hậu lần thứ XVI - Tập II. Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường 27-29 tháng 6, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013, tr. 203-211 Khác
8. Cấn Thu Văn, Nguyễn Thanh Sơn (2014), Xây dựng phương pháp tính trọng số để xác định chỉ số dễ bị tổn thương lũ lụt lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 31, Số 1S (2015) 93 - 102 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Bản đồ hành chính huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Hình 1. Bản đồ hành chính huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị (Trang 13)
Bảng 2.Sự thể hiện tính dễ bị tổn thương do lũ(Balica, 2012) - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Bảng 2. Sự thể hiện tính dễ bị tổn thương do lũ(Balica, 2012) (Trang 26)
Hình 2. Bản đồ mạng lưới sông suối huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Hình 2. Bản đồ mạng lưới sông suối huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị (Trang 27)
Hình 3. Bản đồ sử dụng đất huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Hình 3. Bản đồ sử dụng đất huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị (Trang 28)
Bảng 5. Các giá trị tham sốđộ phơi nhiễm ( E ) đã được chuẩn hóa - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Bảng 5. Các giá trị tham sốđộ phơi nhiễm ( E ) đã được chuẩn hóa (Trang 33)
Bảng 4. Bảng phân cấp mức độ tổn thương do lũ - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Bảng 4. Bảng phân cấp mức độ tổn thương do lũ (Trang 33)
Bảng 6. Các giá trị tham số tính nhạy ( S ) đã được chuẩn hóa - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Bảng 6. Các giá trị tham số tính nhạy ( S ) đã được chuẩn hóa (Trang 34)
Bảng 7. Các giá trị tham số khả năng chống chịu ( R ) đã được chuẩn hóa - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Bảng 7. Các giá trị tham số khả năng chống chịu ( R ) đã được chuẩn hóa (Trang 34)
Bảng 9. Kết quả tính FVI - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Bảng 9. Kết quả tính FVI (Trang 35)
Hình 4. Bản đồ phân vùng theo giá trị dễ bị tổn thương huyện Đakrông - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Hình 4. Bản đồ phân vùng theo giá trị dễ bị tổn thương huyện Đakrông (Trang 36)
Hình 5. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI xã hội của các xã huyện Đakrông - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Hình 5. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI xã hội của các xã huyện Đakrông (Trang 37)
Hình 7. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI môi trường của các xã huyện Đakrông - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Hình 7. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI môi trường của các xã huyện Đakrông (Trang 38)
Hình 6. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI kinh tế của các xã huyện Đakrông - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Hình 6. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI kinh tế của các xã huyện Đakrông (Trang 38)
Hình 8. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI vật lí của các xã huyện Đakrông - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Hình 8. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI vật lí của các xã huyện Đakrông (Trang 39)
Hình 9. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI của các xã huyện Đakrông - Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị
Hình 9. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI của các xã huyện Đakrông (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w