Mặc dù, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường luôn được khẳng định, song, trong những năm gần đây, ý thức coi thường pháp luật của một bộ phận kh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HUẾ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với
các tội phạm về môi tr-ờng
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thái Phúc
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Thị Huế
Trang 4MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Tình hình nghiên cứu 3
1.3 Mục đích nghiên cứu 6
1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
1.6 Phương pháp nghiên cứu 8
1.7 Tính mới và những đóng góp của đề tài 8
1.8 Cấu trúc của Luận văn 9
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN 10
1.1 Lý luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân 10
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự 10
1.1.2 Cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự 15
1.2 Khái quát vànhững bất cập của các quy địnhvề các tội phạm môi trường trong Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 24 1.3 Cơ sở lý luận về quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân 27
1.3.1 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong khoa học luật hình sự Việt Nam 27
1.3.2 Quan điểm không ủng hộ quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân 29
1.3.3 Quan điểm ủng hộ quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân 32
Trang 5Chương 2 TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦAPHÁP NHÂN TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC 41
2.1 Tổng quan tình hình quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân của các nước trên thế giới 41
2.2 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự một số nước 41
2.2.1 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật Cộng hòa Pháp 41
2.2.2 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự Thụy Sĩ 46
2.2.3 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự Vương quốc Anh 49
2.2.4 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự Canada 52
2.2.5 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự Trung Quốc 54
Chương 3 NHU CẦU, QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỚI VIỆC QUY ĐỊNH TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG 58
3.1 Nhu cầu hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam với với việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường 58 3.1.1 Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường, thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm về môi trường 58
3.1.2 Trách nhiệm của pháp nhân trong pháp luật hành chính 73
3.2 Quan điểm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam với việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường 77
3.3 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam với việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường 82
3.3.1 Các giải pháp cụ thể 82
3.3.2 Các giải pháp khác 86
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLHS : Bộ luật hình sự CTTP: Cấu thành tội phạm PLHS: Pháp luật hình sự TNDS: Trách nhiệm dân sự TNHC: Trách nhiệm hành chính TNHS: Trách nhiệm hình sự TPMT: Tội phạm môi trường TTHS: Tố tụng hình sự
Trang 7MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cuộc sống của con người gắn liền với môi trường, môi trường có ảnh hưởng lớn tới sự sống còn của con người Tuy nhiên, trong những năm gần đây, môi trường toàn cầu đang có sự biến đổi tiêu cực, khó lường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của con người
Bất kỳ quốc gia nào, việc phát triển kinh tế - xã hội đều gắn liền với hoạt động khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên Việt Nam là một nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, điều kiện về môi trường tự nhiên thuận lợi cho phát triển Việt Nam, trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội, với việc thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, một mặt thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, song mặt khác cũng đặt ra những thử thách, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và toàn dân cùng chung tay thực hiện, trong đó vấn đề hàng đầu là bảo vệ môi trường
Nhận thức rõ ý nghĩa vô cùng quan trọng của môi trường đối với sự sống của con người, Đảng, Nhà nước luôn đề cao vai trò của việc bảo vệ môi trường thông qua đường lối, chủ trương, chính sách và thể chế hóa thành pháp luật Việt Nam đã tham gia, ký kết nhiều điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường, đang tiếp tục nghiên cứu, đàm phán ký kết các điều ước quốc tế khác
về môi trường Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về môi trường của nước
ta cũng tương đối đầy đủ, đã và đang từng bước được hoàn thiện nhằm bảo vệ
môi trường Điều 29 Hiến pháp năm 1992 khẳng định:“Cơ quan Nhà nước,
đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo
vệ môi trường.Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường” [38] Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” [39]
Trang 8Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, cùng một loạt các văn bản luật khác như: Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước, Luật Khoáng sản, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và phát triển rừng…, và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tiếp tục quy định cụ thể về hoạt động bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã giành một Chương (Chương XVII) quy định các tội phạm về môi trường Có thể nói với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là chế tài nghiêm khắc nhất hiện nay để xử lý vi phạm về môi trường, góp phần tích cực trong công cuộc bảo vệ môi trường, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của con người
Mặc dù, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
về bảo vệ môi trường luôn được khẳng định, song, trong những năm gần đây,
ý thức coi thường pháp luật của một bộ phận không nhỏ các tổ chức, cá nhân
vì lợi ích kinh tế dẫn đến tình hình vi phạm pháp luật về môi trường ngày càng diễn ra với tần suất tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, diễn biến phức tạp, khó lường, với thủ đoạn tinh vi nhằm che dấu và đối phó với các cơ quan chức năng, gây bất bình trong dư luận và xã hội, trong đó nổi bật là vi phạm của Công ty trách nhiệm hữu hạn Vedan xả nước thải trực tiếp xuống sông Thị Vải (Đồng Nai), Công ty sửa chữa tàu biển Huyndai-Vinashin xả chất thải rắn (hạt nic) độc hại không qua xử lý ra môi trường ở Khánh Hòa, nhà máy Miwon (Việt Trì - Phú Thọ) xả nước thải chưa qua xử lý ra sông Hồng, hành vi xả nước thải độc hại ra sông Đông Điền (huyện Nhà Bè - Thành phố Hồ Chí Minh) của công ty cổ phần thuộc da Hào Dương; các công
ty nhập chất thải phế liệu về cảng Hải Phòng, Sài Gòn và Đà Nẵng,…
Riêng trong 06 tháng đầu năm 2013, lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường đã phát hiện 6.347 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Tuy nhiên, theo số liệu thống kê tình hình xét xử tội phạm về môi
Trang 9trường trên toàn quốc trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2012 (số liệu do
Vụ Thống kế tổng hợp, Tòa án nhân dân tối cao cung cấp) thì trong 12 năm từ năm 2000 đến năm 2012, Tòa án đã xét xử 1686 vụ với 2958 bị cáo, số lượng
vụ án và số lượng bị cáo được đưa ra xét xử quá nhỏ so với số vụ vi phạm thực tế xảy ra
Hậu quả của việc vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường là vô cùng to lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của con người
cả trong hiện tại và tương lai Tuy nhiên, bên cạnh những chế tài xử lý về vi phạm hành chính chưa đủ sức răn đe, trừng trị, Bộ luật Hình sự hiện hành cũng mới chỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với cá nhân người phạm tội, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân, do đó, việc núp bóng dưới danh nghĩa pháp nhân để phạm tội chưa được xử lý thích đáng Để bảo
vệ môi trường, để phát triển bền vững, bảo vệ sự sống của con người thì việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật về hình sự nói riêng cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, trong đó, đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự đối với cả pháp nhân
Với ý nghĩa trên, học viên chọn đề tài: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của
việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường” để nghiên cứu
1.2 Tình hình nghiên cứu
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã và đang được các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý, các nhà lập pháp của các quốc, gia trên thế giới nghiên cứu, pháp luật hình sự một số nước như Canada, Anh, Pháp, Trung Quốc,…
đã quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân
Mặc dù, pháp luật hình sự hiện hành của Việt Nam chưa quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân, song lịch sử phát triển pháp luật hình sự Việt Nam cho thấy trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân, tổ chức cũng đã được đề cập trong pháp luật hình sự
Trang 10Sau năm 1956 cho đến nay, pháp luật hình sự và thực tiễn xét xử ở nước ta vẫn chưa thừa nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân, tổ chức, đơn
vị Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân được các thành viên Ban Dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 1985 nghiên cứu và chế định này đã được đưa vào Điều 2 của Bản Dự thảo lần thứ X (tháng 3 năm 1998), tuy nhiên đến Dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi lần thứ XI (tháng 10/1998), vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân được tạm gác lại vì Quốc hội cho rằng hiện nay, vấn đề này đối với nước ta vẫn còn mới, còn có nhiều
ý kiến khác nhau, cần được nghiên cứu kỹ và chỉ đặt ra khi có đủ điều kiện
Trong khoảng thời gian sau 1986 đến nay, nhất là hai thập niên gần đây, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, nhiều tổ chức, doanh nghiệp (pháp nhân) vì chạy theo lợi nhuận đã bất chấp sự an toàn, tính mạng, sức khỏe của cộng đồng thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng đặc biệt là trong các lĩnh vực môi trường, ngân hàng, chứng khoán,… mà chưa có cơ sở
để truy cứu trách nhiệm hình sự
Các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý, các nhà lập pháp đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, bình luận về vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân, trong đó phải kể đến là các công trình, nghiên cứu của các nhà khoa học luật hình sự hàng đầu của nước ta như: GS TSKH Lê Cảm “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, PGS TS Trịnh Quốc Toản “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự”, PGS.TS Trần Văn Độ - Tòa án Quân sự Trung ương: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với các tổ chức, pháp nhân trong Luật hình sự Việt Nam”, PGS TS Phạm Hồng Hải: “Pháp nhân
có thể là chủ thể của tội phạm hay không”,… Các công trình nghiên cứu nêu trên cung cấp cho người đọc một cách nhìn tổng quan về trách nhiệm hình sự của pháp nhân
Trang 11Thực hiện Kế hoạch tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1236/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm
2012, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cùng 16 Bộ, ngành khác và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tiến hành tổng kết thực tiễn 11 năm thi hành Bộ luật Hình sự, thể hiện tại Báo cáo tổng hợp kết quả tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự số 167/BC-PLHSHC ngày 18 tháng 3 năm 2013 của Bộ Tư pháp, trong đó Báo cáo đã nêu những vướng mắc , bất cập trong quá trình thi hành Bộ luật Hình sự hiện hành như: Bộ luật Hình sự hiện hành chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân người phạm tội, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân,… và đưa ra một số kiến nghị, đề xuất, hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự, góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế của Bộ luật Hình sự hiện hành, đáp ứng kịp thời yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới cũng như đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế mà một trong những kiến nghị đó là sửa đổi, bổ sung Điều 8 Bộ luật Hình sự, theo đó bổ sung quy định pháp nhân cũng là chủ thể của tội phạm làm cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân Tuy nhiên, trong khuôn khổ một Báo cáo tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự hiện hành, Báo cáo mới chỉ nêu ra kiến nghị mà chưa đi sâu phân tích cơ sở lý luận cũng như chưa nêu và đánh giá cụ thể tình hình, diễn biến thực tiễn vi phạm pháp luật hình sự nói chung nhất là trong lĩnh vực môi trường; chưa nêu và đánh giá thực trạng xử lý các tội phạm về môi trường của các cơ quan chức năng như thế nào và đặc biệt là chưa đưa ra những phân tích, đánh giá cụ thể sâu sắc về những bất cập trong việc xử lý các vi phạm pháp luật hình sự này
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát nội dung các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, các bài báo khoa học, đã được công bố ở Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt là kể từ khi Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với các
Trang 12Bộ, ngành khác, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước thực hiện tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự hiện hành cho thấy sự cần thiết phải có sự nhìn nhận một cách thấu đáo vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân
Tuy nhiên, những năm gần đây chưa có luận văn, luận án nào đi sâu nghiên cứu chi tiết, cụ thể toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường Hơn nữa, trước những diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm nói chung và tội phạm về môi trường nói riêng thì những kết quả nghiên cứu đã đạt được vẫn cần phải tiếp tục bổ sung và hoàn thiện Do vậy, để góp phần khẳng định sự cần thiết của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân,
học viên lựa chọn “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định trách nhiệm
hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường” để làm luận
văn thạc sĩ luật học là phù hợp với thực tế yêu cầu về xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự hiện nay
1.3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự Việt Nam dưới góc nhìn so sánh với pháp luật hình sự một số nước; những hạn chế, bất cập trong việc xử lý vi phạm pháp luật hình sự đối với các tội phạm về môi trường ở Việt Nam, từ đó
đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật, nhằm nâng cao hiệu quả
xử lý hình sự đối với các tội phạm về môi trường
1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu cụ thể nêu trên, luận văn đi sâu giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận trách nhiệm hình sự của pháp nhân; nghiên cứu quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Luật hình sự của một số nước trên thế giới
Trang 13- Nghiên cứu các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tội phạm về môi trường và thực tiễn áp dụng, rút ra những bất cập, vướng mắc và nguyên nhân của nó
- Phân tích nhu cầu, quan điểm hoàn thiện pháp luật hình sự với việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân.Đưa ra những kiến nghị, đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự và mô hình lý luận về vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường
1.5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam, tập trung Chương III, Tội phạm và Chương XVII Các tội phạm
về môi trường của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Các công trình nghiên cứu, chuyên khảo về khoa học pháp lý liên quan đến các tội phạm về môi trường, thực tiễn xử lý các tội phạm về môi trường;
về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung: phạm vi nghiên cứu của luận văn là cơ sở lý luận quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường; thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về môi trường của các
cơ quan bảo vệ pháp luật Số liệu thống kê phục vụ cho việc nghiên cứu , so sánh, đối chiếu trong đề tài được viện dẫn từ các báo cáo tổng kết của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Tư pháp; báo cáo công tác của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường, Bộ Công an; báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; báo cáo của Toà án nhân dân tối cao và một số báo cáo chuyên đề về môi trường
Trang 14Phạm vi về thời gian: trong khoảng thời gian 15 năm (từ năm 2000 đến năm 2015)
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, học viên dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác - xít, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác, học viên sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, cụ thể là: phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp kế thừa…
Trong các phương pháp nêu trên, học viên lựa chọn phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh là những phương pháp chủ đạo nhằm làm rõ lý luận và thực tiễn của việc quy định vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường
1.7 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Những điểm mới của luận văn có thể được khái quát như sau:
- Thứ nhất, phân tích cơ sở lý luận của việc quy định trách nhiệm hình
sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường
- Thứ hai, đánh giá tổng quan thực tiễn thi hành Chương XVII Các tội phạm về môi trường của Bộ luật Hình sự hiện hành, những tồn tại, bất cập trong quá trình xử lý các vi phạm pháp luật về môi trường để thấy được sự cần thiết phái truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân
- Thứ ba, nêu đề xuất mô hình lý luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự Việt Nam trong tương lai
Những đóng góp của đề tài:
- Về lý luận:
Những đề xuất của đề tài có thể được nghiên cứu, sử dụng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự nói chung và pháp luật hình sự về
Trang 15môi trường nói riêng; là cơ sở để các nhà lập pháp nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành góp phần đảm bảo tính phòng ngừa, răn đe, trừng trị của pháp luật hình sự đối với các tội phạm nói chung và tội phạm về môi trường nói riêng, góp phần bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật, sự công bằng, hướng tới bảo vệ con người và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu về khoa học pháp lý nói chung, khoa học Luật hình sự nói riêng và áp dụng thực tiễn công tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật
1.8 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có kết cấu về nội dung như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân Chương 2: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự một số nước
Chương 3: Nhu cầu, quan điểm và các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam với việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN
1.1 Lý luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự
Trong khoa học luật hình sự, các nhà hình sự học vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm TNHS.Trong khoa học luật hình sự của Liên xô
cũ và Liên bang Nga hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về TNHS, trong
đó nổi bật là các quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất: TNHS là nghĩa vụ của người phạm tội: phải chịu hình phạt và được thể hiện trong việc tước bỏ có tính chất cá nhân hoặc tính chất tài sản đối với người đó vì tội phạm đã được thực hiện; phải chịu biện pháp tác động về mặt pháp lý hình sự bao gồm những việc tước bỏ, đau đớn
mà pháp luật quy định đối với người đó; phải chịu các hạn chế về quyền lợi theo trình tự đã được pháp luật quy định, đồng thời bị kết án và chịu hình phạt xuất phát từ trình tự tố tụng; phải chịu các biện pháp cưỡng chế Nhà nước [13-tr.26] Theo quan điểm này nhấn mạnh về hậu quả của TNHS, theo đó người phạm tội phải chịu các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đối với hành vi phạm tội của người đó
Quan điểm thứ hai: TNHS là sự thực hiện có tính chất cưỡng chế những
sự tước bỏ nhất định được các cơ quan đấu tranh chống tội phạm nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm; kết án nhân danh Nhà nước đối với người có lỗi về tội phạm do người đó thực hiện;chịu đựng mang tính chất bắt buộc của người có tội những hậu quả tiêu cực của tội phạm dưới hình thức kết án (sự khiển trách của Nhà nước và sự cưỡng chế phải chịu những hậu quả đó bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với kẻ phạm tội; tác động có tính chất cưỡng chế Nhà nước do quy
Trang 17phạm pháp luật hình sự quy định và được áp dụng đối với người phạm tội bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án; phản ứng của Nhà nước đối với việc thực hiện tội phạm gắn liền với việc tước bỏ mang tính cưỡng chế đối với người có tội các quyền nhất định hoặc sự hạn chế các quyền ấy và được thực hiện trong các phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự [13-tr.27]
Quan điểm thứ ba: TNHS là hậu quả pháp lý - xã hội phức tạp của việc phạm tội mà nó bao gồm bốn yếu tố: thứ nhất, nó dựa trên các quy phạm pháp luật và bắt nguồn từ sự kiện phạm tội nghĩa vụ của chủ thể phải trả lời trước Nhà nước mà đại diện là các cơ quan có thẩm quyền về hành vi của mình;thứ hai, nó thể hiện trong bản án của Tòa án sự đánh giá có tính chất phủ định (kết án, coi là tội phạm) và sự cảnh cáo (thể hiện sự quở trách) người đã thực hiện hành vi; thứ ba, quyết định đối với người có tội hình phạt hoặc biện pháp
có tính chất hình sự khác; thứ tư, án tích như là hậu quả pháp lý của việc kết
án cùng với sự chấp hành hình phạt đã được quyết định [13-tr28,29]
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam cho đến nay có nhữngquan điểm chủ yếu về TNHS sau đây:
Quan điểm thứ nhất: TNHS là “hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước” [13-tr29]
Quan điểm thứ hai: “TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện” [13-tr30]
Quan điểm thứ ba: TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động tuy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích [13-tr30]
Trang 18Trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về TNHS như quan điểm của PGS.TSKH Lê Cảm khẳng định:
“TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Luật hình sự quy định” [12] Theo quan điểm này thì TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, nếu không có sự việc phạm tội thì không đặt ra TNHS TNHS được thực hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Luật hình sự quy định đối với người phạm tội; PGS.TS Lê Thị Sơn cho rằng: “TNHS là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả bất lợi về hành vi phạm tội của mình TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích” [77] Theo quan điểm này thì TNHS là trách nhiệm mà người thực hiện hành vi phạm tôi phải chịu những hậu quả bất lợi bị truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế và chịu mang án tích
Theo quan điểm có tính truyền thống, phổ biến, có tính chung nhất trong khoa học luật hình sự Việt Nam thì khái niệm TNHS được hiểu là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm và hậu quả pháp lý ấy được thể hiện trong việc Tòa án nhân danh Nhà nước kết án người đã bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm đó, còn người bị kết án phải chịu sự tác động về mặt pháp lý hình sự theo một trình tự tố tụng riêng
Theo quan điểm này thì TNHS có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, TNHS chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội, cụ thể:
Trang 19- Trong thực tế khách quan nếu như không có việc thực hiện tội phạm – hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, thì cùng không xuất hiện vấn đề TNHS;
- TNHS chính là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất
kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác vì các dạng trách nhiệm pháp lý khác không đưa đến hậu quả bất lợi và nghiêm trọng đối với chủ thể của hành vi vi phạm đến mức như TNHS - hạn chế hoặc tước bỏ quyền và tự do hay thậm chí tước bỏ cả tính mạng của chủ thể (nếu bị áp dụng hình phạt tử hình);
Thứ hai, TNHS luôn luôn được thực hiện trong phạm vi của quan
hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định - một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội, cụ thể:
- Nhà nước (mà đại diện là cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền) có quyền xử lý người phạm tội nhưng, nhưng phải có nghĩa vụ chỉ được xử lý dựa trên các căn cứ trong các giới hạn do pháp luật quy định;
- Người phạm tội thì có nghĩa vụ phải chịu tước bỏ hoặc bị hạn chế quyền, tự do nhất định nhưng đồng thời cũng có quyền yêu cầu sự tuân thủ từ phía Nhà nước tất cả các quyền và lợi ích của con người và của công dân mà pháp luật đã quy định
Thứ ba, TNHS được xác định bằng một trình tự đặc biệt bởi cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền mà trình tự đó phải do pháp luật tố tụng hình sự quy định, cụ thể:
- Không phải bất kỳ cơ quan Nhà nước nào cũng được phép quy TNHS cho một công dân, mà chỉ có cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền gồm cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án mới có thẩm quyền quy định TNHS cho một công dân
Trang 20- Thẩm quyền quy định TNHS phải theo một trình tự đặc biệt do pháp luật TTHS quy định Tùy từng giai đoạn cụ thể của quá trình TTHS mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo luật định xác định TNHS của công dân bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm
Thứ tư, TNHS chỉ được thể hiện trong bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định Các quyết định của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong quá trình TTHS chỉ là các văn bản áp dụng các biện pháp cưỡng chế về mặt TNHS nhằm bảo đảm cho việc thực hiện TNHS sau này mà chưa phải là các văn bản mà trong đó TNHS được thực hiện Một người chỉ bị coi là tội phạm khi có bản án kết tội của Tòa
án có hiệu lực pháp luật, TNHS được thực hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Bộ luật hình sự quy định
Thứ năm, TNHS chỉ mang tính chất cá nhân, hiện nay, pháp luật hình
sự nước ta mới chỉ quy định TNHS đối với cá nhân mà chưa quy định TNHS đối với pháp nhân
Tuy nhiên, hiện nay cũng có quan điểm cho rằng các đặc điểm của TNHS gồm các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi phạm tội Hậu quả này chỉ phát sinh khi có người thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội bị PLHS cấm hoặc không thực hiện những nghĩa vụ mà PLHS yêu cầu phải thực hiện
TNHS chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội Trong thực tế khách quan, nếu như không có việc thực hiện tội phạm thì cũng sẽ không xuất hiện vấn đề TNHS TNHS là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kì dạngtrách nhiệm pháp lý nào khác Bởi vì, các dạng trách nhiệm pháp lý khác không đưa
Trang 21đến hậu quả bất lợi và nghiêm trọng đối với chủ thể của hành vi vi phạm như TNHS (hạn chế, tước bỏ quyền tự do, thậm chí tính mạng của chủ thể)
Thứ hai, TNHS chỉ có thể được xác định bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật mà các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ phải thực hiện
Theo quy định của pháp luật TTHS, chỉ có cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án mới có thẩm quyền quy kết TNHS cho một công dân; và thẩm quyền đó phải theo một trình tự đặc biệt do Pháp luật TTHS quy định
Thứ ba, TNHS được biểu hiện cụ thể ở việc người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt - biện pháp tước đoạt hoặc hạn chế ở họ một số quyền và lợi ích nhất định
Thứ tư, TNHS mà người phạm tội phải gánh chịu là trách nhiệm đối với Nhà nước chứ không phải đối với người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại
Thứ năm, TNHS phải được phản ánh trong văn bản tố tụng hình sự Thứ sáu, TNHS chỉ được áp dụng đối với cá nhân người phạm tội, vì theo PLHS Việt Nam, pháp nhân không thể là chủ thể của tội phạm
Mặc dù vẫn còn tồn tại quan điểm khác nhau về các đặc điểm của TNHS nhưng có một đặc điểm chung quan trọng mà cả hai luồng quan điểm đều thừa nhận đó là TNHS chỉ được áp dụng đối với cá nhân, bởi lẽ hiện nay, pháp luật hình sự Việt Nam mới chỉ quy định TNHS của cá nhân mà chưa thừa nhận TNHS của pháp nhân
1.1.2 Cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự
1.1.2.1 Cơ sở của trách nhiệm hình sự
Việc nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở của TNHS là rất quan trọng, phải dựa trên ba phương diện: khách quan, hình thức và pháp lý của TNHS
Trang 22Theo quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 thì cơ sở của
TNHS là: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định
mới phải chịu trách nhiệm hình sự”[5].Việc quy định cơ sở của TNHS của
Bộ luật hình sự năm 1999 dựa trên các yếu tố chính sau đây: lỗi, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả phạm tội,… Lỗi là một trong những điều kiện của TNHS và là mặt chủ quan của tội phạm Người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã bị luật hình sự cấm với lỗi cố ý hoặc vô ý; cơ sở của TNHS là căn cứ chung, có tính chất bắt buộc và do luật hình sự quy định, dựa vào đó các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đặt ra vấn đề TNHS đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm; cơ sở pháp lý của TNHS là hành vi nguy hiểm cho xã hội có đầy đủ các dấu hiệu của CTTP cụ thể tương ứng được ghi trong pháp luật hình sự
1.1.2.2 Điều kiện của trách nhiệm hình sự
Điều kiện của TNHS là căn cứ riêng cần và đủ, có tính chất bắt buộc và
do luật hình sự quy định mà chỉ khi nào có tổng hợp tất cả chúng thì một người mới phải chịu TNHS Chỉ người nào có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật quy định là tội phạm mới phải chịu TNHS Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật
hình sự thì tuổi chịu trách nhiệm hình sự là: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải
chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng
do cố ý hoặctội phạm đặc biệt nghiêm trọng”[5]
1.1.2.3.Trách nhiệm hình sự của các tội phạm về môi trường trong pháp luật Việt Nam
TNHS đối với các tội phạm về môi trường là TNHS được quy định và áp dụng đối với các tội phạm về môi trường do BLHS quy định Trước hết cần hiểu tội phạm về môi trường là gì
Trang 23Tội phạm về môi trường là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực TNHS và độ tuổi chịu TNHS thực hiện, xâm phạm đến các quan hệ xã hội có liên quan đến việc sử dụng và bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm an ninh môi trường [1]
Như vậy, vấn đề khái niệm tội phạm về môi trường và TNHS đối với tội phạm về môi trường cần được nhận thức và xây dựng dựa vào hai nhóm tiền đề chính sau đây:
Thứ nhất: Tính nguy hiểm lớn bởi sự tác động của con người Sự tác
động đó gây ra hậu quả đối với môi trường và có thể phá hoại các điều kiện sống của con người Hiện nay, khi sự khủng hoảng môi trường đã nghiêm trọng, nhiều người vẫn chưa ý thức được đầy đủ về các hành vi (sự xâm hại) nguy hại đến môi trường với tư cách là loại hành vi phạm tội nguy hiểm Khi làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm thay đổi các đặc điểm về chất của các khách thể tự nhiên, bằng các phương thức khác nhau hủy hoại nguồn nước, khí quyển, rừng, đất,… gây biến đổi khí hậu, nhiều thảm kịch
về môi trường diễn ra trong những năm gần đây đã hủy hoại nhiều công trình và giết chết hàng vạn người Do vậy, việc quy định TNHS đối với các tội phạm về môi trường là công cụ bảo vệ của xã hội để bảo đảm sự sống của con người
Thứ hai: Các cơ sở truy cứu TNHS và thực hiện TNHS phải được
pháp luật hình sự quy định Các tội phạm về môi trường chỉ là một loại, một nhóm các tội phạm được Bộ luật hình sự nước ta quy định Do vậy, khái niệm mô tả nhóm tội phạm đó phải được hình thành và xây dựng trên
cơ sở cân nhắc các điểm đặc thù của các hành vi có hại về mặt xã hội và môi trường và đặc điểm chung của tội phạm với tư cách là hành vi bị trừng trị bằng biện pháp hình sự
Trang 24Từ những điểm vừa phân tích trên đây, có thể đưa ra một định nghĩa về
TNHS đối với các tội phạm về môi trường như sau: TNHS đối với các tội
phạm về môi trường là hậu quả pháp lý bất lợi do luật định mà một người phải gánh chịu vì đã thực hiện hành vi tội phạm xâm phạm đến các quan hệ
xã hội có liên quan đến việc sử dụng và bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên và việc bảo đảm an ninh môi trường thể hiện trong các biện pháp mang tính cưỡng chế nhà nước do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng theo trình tự do luật định [1]
Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: "chỉ người nào phạm một
tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu TNHS"[5]
Sở dĩ người phạm tội phải chịu TNHS trước Nhà nước, vì họ đã có điều kiện tự do lựa chọn khi hành động phạm tội Nói cách khác, họ đã có lỗi khi chọn hành động đi ngược lại với lợi ích xã hội Để kết luận hành vi đã được thực hiện của người nào đó có phải là tội phạm không và tội đó là tội gì, hình phạt áp dụng đối với họ ra sao, cần phải xác định hành vi đó đã thỏa mãn những dấu hiệu của CTTP cụ thể chưa? Nếu thỏa mãn tức là người ấy đã thực hiện tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS và người thực hiện hành vi này phải chịu TNHS (hình phạt) Với tính cách là tổng hợp những dấu hiệu đặc trưng, cần và đủ được quy định trong luật hình sự cho phép phân biệt tội phạm này với tội phạm khác, phân biệt các trường hợp phạm tội trong một loại tội, CTTP là cơ sở pháp lý của TNHS và một người chỉ có thể phải chịu TNHS nếu hành vi của họ có đủ những dấu hiệu của CTTP
Để phân biệt hành vi bị coi là tội phạm với hành vi không bị coi là tội
phạm, Khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Những hành vi tuy
có dấu hiệu tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể nên không bị coi là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp pháp lý khác” [5]
Trang 25Như vậy, hành vi bị coi là tội phạm phải thỏa mãn 4 dấu hiệu là: Tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự
và tính phải chịu hình phạt CTTP là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự Việc xác định một cách thống nhất CTTP là cơ sở pháp lý của TNHS là nội dung quan trọng để thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Việc tuyên bố người nào đó là phạm tội và buộc họ phải chịu TNHS chỉ có thể dựa trên cơ sở pháp lý là CTTP mà không thể dựa vào cơ sở nào khác CTTP gồm bốn yếu tố: khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm và chủ thể của tội phạm Trong mỗi yếu
tố đó có các dấu hiệu nhất định song các dấu hiệu được mô tả trong CTTP
là những dấu hiệu phản ánh nội dung các yếu tố của tội phạm (khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan) Nhưng không phải tất cả các dấu hiệu của bốn yếu tố đều được đưa vào CTTP Những dấu hiệu bắt buộc phải có trong tất cả các CTTP là: dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố mặt khách quan của tội phạm; dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm; dấu hiệu năng lực TNHS và độ tuổi thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm Nếu xác định hành vi của một người không có hoặc có không đầy đủ những dấu hiệu của bất kỳ CTTP cụ thể nào được quy định trong Bộ luật hình sự thì hành vi đó không thể bị coi là tội phạm và người thực hiện hành vi đó không thể bị buộc phải chịu TNHS
Như vậy, cơ sở pháp lý của TNHS đối với các tội phạm về môi trường chính là CTTP của các tội phạm về môi trường; bao gồm: khách thể; mặt khách quan; chủ thể và mặt chủ quan của các tội phạm về môi trường
Tổng quan nhất về CTTP của các tội phạm về môi trường cụ thể như sau:
Về mặt khách thể: khách thể loại của các TPMT là tổng thể những quan
hệ xã hội được hình thành trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Khách thể trực
Trang 26tiếp của “Tội gây ô nhiễm môi trường” (Điều 182) là tội phạm này xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cụ thể là các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải; khách thể trực tiếp của “Tội vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại” (Điều 182a) là tội phạm này xâm phạm vào trật tự quản lý của Nhà nước về bảo vệ môi trường và cụ thể là các quy định của Nhà nước trong việc quản lý chất thải nguy hại; khách thể trực tiếp của “Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường” (Điều 182b) là tội phạm xâm phạm đến các quy định của pháp luật trong việc phòng ngừa, xử lý và ứng phó đối với sự cố môi trường; khách thể trực tiếp của “Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam” (Điều 185) là tội phạm này xâm phạm trật tự quản lý Nhà nước trong lĩnh vực nhập khẩu, đưa vào Việt Nam các chất thải như công nghệ, máy móc, hóa chất,…gây ô nhiễm môi trường; khách thể trực tiếp của “Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” (Điều 186) là tội phạm này xâm phạm đến chế độ bảo vệ môi trường của Nhà nước, cụ thể là xâm phạm đến việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe của con người; khách thể trực tiếp của “Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật” (Điều 187) là tội phạm này xâm phạm đến chế độ bảo vệ động thực vật của Nhà nước; khách thể trực tiếp của “Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản” (Điều 188) là chế độ bảo vệ nguồn lợi thủy sản của Nhà nước; khách thể trực tiếp của “Tội hủy hoại rừng” (Điều 189) là tội phạm này xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng; khách thể trực tiếp của
“Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ” (Điều 190) là tội phạm này xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong việc bảo vệ sự cân bằng sinh thái của các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ; Khách thể trực tiếp của “Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên” (Điều 191) là tội phạm này xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong việc
Trang 27bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên; khách thể trực tiếp của “Tội nhập khẩu, phát tán các loài động vật ngoại lai xâm hại” (Điều 191a) là tội phạm này xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loài ngoại lai xâm hại, có khả năng gây ảnh hưởng tới môi trường sinh thái của Việt Nam
Môi trường là một lĩnh vực đặc thù, nhạy cảm, ảnh hưởng tới đời sống của con người, do đó, pháp luật hình sự hướng đến bảo vệ khách thể này nhằm bảo đảm môi trường sống của cong người
Về mặt khách quan: mặt khách quan của “Tội gây ô nhiễm môi trường” (Điều 182) là hành vi thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác; mặt khách quan của “Tội
vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại” (Điều 182a) là hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác; mặt khách quan của “Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường (Điều 182b) là hành vi vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường để xảy ra sự cố môi trường hoặc vi phạm quy định về ứng phó sự cố môi trường làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác; mặt khách quan của “Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam” (Điều 185) là hành vi lợi dụng việc nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế liệu hoặc hóa chất, chế phẩm sinh học hoặc bằng thủ đoạn khác đưa vào lãnh thổ Việt Nam chất thải nguy hại hoặc chất thải khác với số lượng lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng; mặt khách quan của “Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” (Điều 186)
là các hành vi sau đây làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người: đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc
Trang 28vật phẩm khác có khả năng truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người; đưa vào hoặc cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng truyền cho người; hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người; mặt khách quan của “Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật” (Điều 187) là các hành vi sau đây làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành
vi này mà còn vi phạm: đưa vào hoặc mang ra khỏi khu vực hạn chế lưu thông động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh; đưa vào hoặc cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật thuộc đối tượng kiểm dịch mà không thực hiện các quy định của pháp luật về kiểm dịch; hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật; mặt khách quan của “Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản” (Điều 188) là hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc một trong các trường hợp sau đây gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết
án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm; mặt khách quan của
“Tội hủy hoại rừng” (Điều 189) là hành vi đốt, phá rừng trái phép rừng hoặc
có hành vi khác huỷ hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; mặt khách quan của “Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” (Điều 190) là hành vi săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó; mặt khách quan của “Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên” (Điều 191) là hành vi vi phạm các
Trang 29quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên gây hậu quả nghiêm trọng; mặt khách quan của “Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại” (Điều 191a) là hành vi nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại gây hậu quả nghiêm trọng
Các hành vi xâm hại đến môi trường rất phong phú, đa dạng, đòi hỏi khi quy định hành vi phạm tội của các tội phạm về môi trường cần cụ thể, rõ ràng, bảo đảm áp dụng trong thực tế
Về chủ thể: chủ thể của các tội phạm về môi trường về cơ bản là người nào từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên và trong một số Tội còn đồng thời là người có trách nhiệm trong việc quản lý chất thải nguy hại“Tội vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại”, có trách nhiệm trong việc
áp dụng các biện pháp phòng ngừa sự cố môi trường hoặc ứng phó với sự cố môi trường “Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường”, là người có chức vụ, quyền hạn “Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” (đối với hành vi cho phép đưa động thực vật vào lãnh thổ Việt Nam)
Chủ thể của các tội phạm về môi trường theo pháp luật hiện hành là
cá nhân, tuy nhiên, trong thực tế nhiều hành vi do pháp nhân là các doanh nghiệp thực hiện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà chưa có cơ
sở để truy cứu TNHS
Mặt chủ quan: Điều 182 không đề cập đến các yếu tố mặt chủ quan của tội phạm, có thể hiểu rằng tội phạm này có thể được thực hiện với bất kỳ loại lỗi nào cố ý hoặc vô ý với bất kỳ động cơ, mục đích nào; Điều 182a tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý; Điều 182b tội phạm được thực hiện với lỗi vô ý; Điều 185 tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, động cơ
và mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP; Điều 186 tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý; Điều 187 tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý; Điều 188 tội phạmđược thực hiện với lỗi cố ý; Điều 189, 190, 191 tội
Trang 30phạm được thực hiện với lỗi vô ý Động cơ, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP này; Điều 191a tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý
Mặt chủ quan của tội phạm được biểu hiện thông qua ba yếu tố: lỗi, động cơ phạm tội, mục đích phạm tội Trong đó yếu tố lỗi được phản ánh trong tất cả các CTTP và là dấu hiệu không thể thiếu bất cứ CTTP nào bao gồm cả CTTP về môi trường Liên quan đến TNHS của pháp nhân, thì yếu tố lỗi là một trong những vấn đề quan trọng mà các quan điểm không ủng hộ TNHS của pháp nhân đưa ra để lý giải cho quan điểm đó
1.2 Khái quát vànhững bất cập của các quy địnhvề các tội phạm môi trường trong Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bộ luật hình sự năm 1999 đã dành một chương quy định về TPMT (tại Chương XVII) với 10 điều quy định khá cụ thể và chi tiết các hành vi xâm hại đến môi trường và TNHS cụ thể đối với nhóm tội này Cụ thể như sau: Điều 182: Tội gây ô nhiễm không khí, Điều 183: Tội gây ô nhiễm nguồn nước, Điều 184: Tội gây ô nhiễm đất, Điều 185: Tội nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất không bảo đảm tiêu chuẩn bảo vệ môi trường,Điều 186: Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người, Điều 187: Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật, Điều 188: Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản, Điều 189: Tội hủy hoại rừng, Điều 190: Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm và Điều 191: Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên
Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 cũng đã có những sửa đổi, bổ sung đối với Chương XVII, cụ thể đã sửa đổi, các điều luật như sau: Điều 182: Tội gây ô nhiễm môi trường, Điều 185 Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, Điều 190 Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động
Trang 31vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, Điều 191 Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên
Bổ sung các điều luật sau: Điều 182a: Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại, Điều 182b Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường, Điều 191a Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại
Chương quy định về TPMT trong Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã có những bước hoàn thiện đáng kể, tuy nhiên, trong quá trình thi hành cũng đã bộ lộ những hạn chế, bất cập, cụ thể như sau:
Thứ nhất, khách thể của các tội phạm về môi trường được xác định là trật tự quản lý về môi trường Theo quan điểm cá nhân thì quy định như trên chưa phù hợp với bản chất vấn đề Cần xác định khách thể của Chương các tội phạm về môi trường là “quyền được sống trong môi trường trong lành” của mọi thể nhân trong xã hội, quyền này là quyền Hiến định (được quy định
tại Điều 43 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền được sống trong môi
trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” [39])
Thứ hai, về mặt khách quan của tội phạm về môi trường cũng có nhiều bất cập Cụ thể: các điều luật quy định về hành vi “thải vào môi trường” là dấu hiệu khách quan của tội phạm (Điều 182) Quy định như Bộ luật hình sự hiện hành dễ bỏ lọt tội phạm, ví dụ: đối với hành vi chôn lấp, đổ chất thải trong khuôn viên của nhà máy, xí nghiệp mà không xả ra bên ngoài thì có coi
là thải vào môi trường hay không Một số điều (ví dụ Điều 182, 182a,…) quy định hành vi xả thải phải “vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức nghiêm trọng” Việc xác định như thế nào là “ở mức nghiêm trọng” cũng gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, việc quy định “gây hậu quả nghiêm trọng khác” cũng chưa có quy định cụ thể Thứ ba, về chủ thể tội phạm về môi trường Pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành mới chỉ quy định cá nhân là chủ thể của tội phạm: “Người nào thải vào không khí, nguồn nước, đất các
Trang 32chất gây ô nhiễm môi trường…” (Điều 182), “Người nào vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng…” (Điều 182a), “Người nào vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường để xảy
ra sự cố môi trường…” (Điều 182b), “Người nào chôn vùi hoặc thải vào đất các chất độc hại quá tiêu chuẩn cho phép…” (Điều 184),… Do pháp luật hình
sự Việt Nam chưa quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm, do đó, các pháp nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường hầu hết chỉ bị xử lý vi phạm hành chính Thực tế, các pháp nhân là các doanh nghiệp thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và thường có hành vi liên tục và gây hậu quả nghiêm trọng, trong khi thỏa mãn các các điều kiện về mặt khách quan của CTTP về môi trường nhưng vẫn không xử lý được về mặt hình sự Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của các pháp nhân (doanh nghiệp) này, những hậu quả trực tiếp hiển hiện ngay hiện tại và tiềm tàng sau này do những hành vi đó gây ra thì cần thiết đặt ra TNHS của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường
Thứ tư, về hình phạt áp dụng đối với các tội phạm về môi trường gồm nhiều hình phạt khác nhau như: phạt tiền, tù,… trong đó phạt tiền (mức phạt cao nhất đến năm trăm triệu đồng) Mức phạt tiền đến năm trăm triệu đồng so với mức phạt tiền mà pháp luật hành chính quy định (tối đa đến 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân và 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức) thì quá chênh lệch, chênh lệch cả về mặt định lượng, cả về mặt xử lý, cũng như tác dụng răn đe; so với những hậu quả mà các hình vi vi phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường gây ra cho môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, động thực vật là không thể chấp nhận được Do đó, vấn
đề đặt ra là cần phải nâng mức phạt tiền áp dụng đối với các tội phạm về môi trường nhằm tương xứng với mức độ hành vi vi phạm và bảo đảm tính răn đe phòng, chống tội phạm về môi trường
Trang 331.3 Cơ sở lý luận về quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân
1.3.1 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong khoa học luật hình
sự Việt Nam
Trong lịch sử lập pháp cũng như nghiên cứu khoa học luật hình sự Việt Nam cho thấy rằng đã có những quy định, những nghiên cứu về TNHS của pháp nhân
Quốc triều hình luật là một trong những văn bản luật quan trọng của nước ta thời kỳ phong kiến cũng đã có những quy định mang tính phân biệt giữa trách nhiệm tổ chức và trách nhiệm cá nhân, tại Điều 62 Chương tạp
luật đã quy định: “Những trang trại ven biển mà đón tiếp thuyền buôn,
ngầm dỡ hộ hàng hóa lên bờ, thì xử biếm 3 tư, phải phạt gấp 3 tang vật để sung công; lấy một phần thưởng cho người tố giác Người chủ trang trại ấy mất chức giám trang”[69]
Trong pháp luật của chế độ thực dân phong kiến thời trước Cách mạng Tháng Tám cũng đã quy định về TNHS của pháp nhân, Điều 12 Dụ số 45.1088 ngày 03 tháng 5 năm 1945 về trừng trị các vi phạm luật lệ hối đoái:
“Đối với trường hợp vi phạm luật lệ hối đoái thì không những giám đốc, quản trị viên, quản lý của pháp nhân bị truy tố mà chính bản thân pháp nhân cũng
có thể bị truy tố và bị phạt bạc”[69]
Từ cuối những năm 90 của thế kỷ XX đã bắt đầu xuất hiện những luận chứng chủ yếu cho sự điều chỉnh về mặt lập pháp chế định TNHS của pháp nhân đã được các tài liệu, các tạp chí ghi nhận, cụ thể là chuyên đề về một số vấn đề lý luận, thực tiễn phục vụ xây dựng Bộ luật hình sự Trong: Thông tin khoa học pháp lý tháng 06/1998 của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (Bộ
Tư pháp) các tác giả đã ủng hộ cho việc ghi nhận chế định TNHS của pháp
nhân “chỉ nên đặt vấn đề truy cứu TNHS của pháp nhân đối với một số loại
pháp nhân kinh tế như doanh nghiệp, công ty, đây là loại trách nhiệm đồng
Trang 34thời (pháp nhân và thể nhân) đều phải chịu TNHS về cùng một hành vi phạm tội” Trước đó, các tác giả này cũng đã đưa ra kiến giải lập pháp về vấn đề
TNHS của pháp nhân đã được đưa ra trong dự thảo Bộ luật hình sự năm 1985 (sửa đổi) lần thứ X (tháng 3/1998) tại khoản 2 Điều 2 “cơ sở của TNHS” với những nội dung như sau:
“Cơ quan, tổ chức, đơn vị (sau đây gọi chung là tổ chức) phải chịu TNHS về hành vi phạm tội do đại diện của mình thực hiện vì lợi ích của tổ chức đó”[69] Tuy nhiên, sau đó tại dự thảo lần thứ XI (tháng 10/1998) thì
kiến giải lập pháp này đã bị nhà làm luật Việt Nam loại bỏ Vì theo quan điểm của các nhà lập pháp thời điểm này cho rằng chỉ có cá nhân mới là chủ thể của tội phạm, chỉ cá nhân là con người cụ thể mới thực hiện hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
Năm 2009, thời điểm sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, một lần nữa vấn đề TNHS của pháp nhân được đưa ra nghiên cứu, thảo luận
để quy định bổ sung vào Bộ luật hình sự Tuy nhiên, tinh thần của lần sửa đổi,
bổ sung lần này là chỉ sửa đổi, bổ sung một số vấn đề thực sự cấp bách, bức xúc nhất của thực tiễn, yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm,
do đó, vấn đề TNHS của pháp nhân tiếp tục nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn cho lần sửa đổi, bổ sung toàn diện Bộ luật hình sự
PGS.TS Phạm Hồng Hải trong bài viết “Pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hay không?” đăng trên Tạp chí Luật học đã đưa ra những luận điểm coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm
Hiện nay, khi Bộ luật hình sự đang được đơn vị chủ trì là Bộ Tư pháp tiến hành dự thảo sửa đổi, bổ sung trình Quốc hội xem xét cũng đã đưa ra những dự thảo quy định về TNHS của pháp nhân đối với một số loại tội phạm
cụ thể trong đó có tội phạm về môi trường
Trang 35Pháp luật hình sự nước ta, hiện nay mới chỉ quy định TNHS cá nhân Trong lịch sử nghiên cứu pháp lý, lập pháp hình sự, TNHS cá nhân là một nguyên tắc của luật hình sự; trên cơ sở TNHS, đánh giá yếu tố hành vi khách quan và yếu tố tâm lý đạo đức chủ quan của người thực hiện hành vi để xác định có tội hay không có tội; chưa thừa nhận TNHS của pháp nhân Tuy nhiên, như ở phần trên đã trình bày trong khoa học pháp lý cũng như lịch sự lập pháp Việt Nam cũng đã manh nha về TNHS của pháp nhân Vậy pháp nhân có thể bị truy cứu TNHS không (có thể là chủ thể của tội phạm không),
cơ sở lý luận về TNHS của pháp nhân như thế nào?
Xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt là sau thế kỷ XX, lịch sử nghiên cứu pháp lý, lập pháp hình sự cũng có nhiều đột biến Trên cơ sở thực tiễn phát triển xã hội, đó là sự phát triển gia tăng nghiêm trọng của các tội phạm
có tổ chức, các tổ chức phạm tội, các tội phạm xuyên quốc gia, TPMT, tội phạm tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền,… vai trò của các tổ chức chủ yếu thay thế cho cá nhân trong việc thực hiện tội phạm Nhiều quốc gia đã quy định cụ thể TNHS của pháp nhân trong pháp luật hình sự như Canada, Anh, Pháp, Thụy Sĩ,… xu hướng quy định TNHS của pháp nhân là tất yếu trong sự phát triển của pháp luật hình sự thế giới Nhiều công ước quốc tế, khu vực quy định nghĩa vụ của quốc gia thành viên ghi nhận TNHS của tổ chức - pháp nhân trong pháp luật quốc gia, ví dụ: Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Công ước liên hợp quốc về chống tham nhũng, Công ước Cộng đồng Châu Âu về chống tham nhũng bằng luật hình sự,…
1.3.2 Quan điểm không ủng hộ quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân
Quan điểm không ủng hộ quy định TNHS của pháp nhân cho rằng pháp nhân là một thực thể pháp lý trừu tượng, là một người vô hình, là tập thể
Trang 36người do các thành viên (các cá nhân) hợp lại và đại diện cho tất cả các thành viên Do không phải là thực thể hữu hình nên pháp nhân không thể tự mình trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội mà phải thông qua trung gian những cá nhân, đó là những cá nhân lãnh đạo, nhân viên thừa hành hoặc người được
ủy quyền của pháp nhân
Pháp nhân không có thể xác và cũng không có linh hồn, nó chỉ là những cấu trúc pháp lý được thiết lập nhằm phục vụ các lợi ích cá nhân của những thành viên của pháp nhân [69-Tr62] Các quyết định của pháp nhân chỉ
là kết quả của con số cộng các ý chí cá nhân của các thành viên của pháp nhân chứ không phải từ sự mong muốn của chính bản thân pháp nhân Không có lỗi nào có thể được quy kết cho pháp nhân - một thực thể trừu tượng không có nhận thức và ý chí Chỉ có các cá nhân cụ thể mà thông qua nó pháp nhân hành động mới được hưởng ý chí tự do, mới hội tụ đủ các yếu tố cần thiết để quy kết tội phạm và như vậy mới có thể bị trừng phạt
Nói tóm lại, nếu như đối với các cá nhân, có thể quy kết hành vi phạm tội khách quan và lỗi chủ quan của chính họ cho mỗi tội phạm, dưới lăng kính của học thuyết cổ điển, truyền thống, thì pháp nhân vì không có thể hành động trực tiếp, do vậy về bản chất pháp nhân là những thực thể không tương thích cho việc thực hiện hành vi phạm tội
Quan điểm không ủng hộ quy định TNHS của pháp nhân còn cho rằng không thể áp dụng hình phạt cho pháp nhân Không thể đưa pháp nhân
ra Tòa Vì các lý do như: bắt giam như thế nào đối với pháp nhân - một thực thể vô hình; áp dụng một số hình phạt như hình phạt tử hình thì áp dụng như thế nào đối với một chủ thể giả tưởng mà bản chất của nó là thiếu
sự tồn tại của thực thể hữu hình; việc áp dụng một loại hình phạt nào đó có
áp dụng đối với tất cả các thành viên của pháp nhân - bao gồm cả những thành viên không tham gia phạm tội là không phù hợp, vì xét đến cùng,
Trang 37chính các pháp nhân không phải chịu mà là những cá nhân cụ thể trong pháp nhân như: người góp cổ phần, cổ đông, người lao động,…
Ngoài ra, quan điểm không ủng hộ TNHS của pháp nhân nêu ra rằng nếu như áp dụng các hình phạt đối với pháp nhân như đình chỉ hoạt động, buộc giải thể pháp nhân,…sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của không chỉ nhóm người góp cổ phần, cổ đông (ông chủ, người sử dụng lao động) mà còn ảnh hưởng đến cả quyền lợi của những người lao động Việc buộc một pháp nhân chấm dứt hoạt động đồng nghĩa với việc chấm dứt lao động (thu nhập) của những người lao động của pháp nhân đó, trong khi những người này thường không có liên quan đến hành vi phạm tội Điều này có ảnh hưởng lớn tới sự ổn định xã hội Số lao động không có việc làm do pháp nhân bị chấm dứt hoạt động sẽ là ghánh nặng cho xã hội, tệ nạn xã hội dễ phát sinh do số người thất nghiệp tăng,…
Với những lý luận nêu trên, TNHS của pháp nhân không thể chấp nhận được cả về mặt pháp lý cũng như đạo lý
Như vậy, những người ủng hộ quan điểm phản đối TNHS của pháp nhân đã khẳng định rằng pháp nhân không thể thực hiện tội phạm Nếu theo quan điểm này thì pháp nhân không thể thực hiện hành vi phạm tội, đương nhiên pháp nhân không có lỗi và không thể áp dụng hình phạt với pháp nhân Ngoài ra, những người theo quan điểm phản đối TNHS của pháp nhân cho rằng: nếu pháp nhân có là chủ thể của tội phạm thì cũng không thể áp dụng hình phạt đối với pháp nhân bởi vì họ cho rằng, không có hình phạt giành cho pháp nhân hoặc là nếu có thì việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân không chỉ không công bằng mà còn tỏ ra khó tương hợp với nguyên tắc cá thể hoá hình phạt; và không đạt được mục đích của hình phạt
Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt đòi hỏi tòa án khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội trong từng trường hợp phải căn cứ vào hành vi và sự
Trang 38tham gia cụ thể của họ vào tội phạm bị truy cứu, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đặc biệt là các yếu tố nhân thân người phạm tội Trong khi đó một tội phạm được thực hiện trong khuôn khổ hoạt động của pháp nhân thì hoặc là toàn bộ các thành viên của pháp nhân đã phạm tội cần phải bị trừng trị có sự phân biệt và tương xứng với lỗi của từng người, hoặc là chỉ trừng trị một hoặc một số người trong pháp nhân đã cùng (đồng phạm) thực hiện hành vi phạm tội Sẽ là chính xác và công bằng nếu chỉ trừng trị những người đó; sẽ là không công bằng nếu lại trừng trị cả những thành viên khác trong pháp nhân chỉ vì lý do họ thuộc về một tập thể hoặc là họ phụ thuộc vào nó Nếu trừng trị một thực thể như vậy cuối cùng sẽ không công bằng, không có lợi và trái với những nguyên tắc cơ bản khi áp dụng hình phạt Theo đó thì trừng phạt một tập thể như vậy sẽ gây thiệt hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác thuộc pháp nhân vốn là những người hoàn toàn không biết đến, không có lỗi gì liên quan đến hành vi phạm tội của những người khác
Donnedieu De Vabres viết: “Nằm trong sự tất yếu của sự việc là bắt một
pháp nhân phải chịu một hình phạt có những hậu quả bất lợi đối với những người thứ ba vô tội”[69-Tr63]
1.3.3 Quan điểm ủng hộ quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân
Ở Việt Nam nói riêng trên thế giới nói chung, ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu luật học, nhiều quốc gia ủng hộ quan điểm TNHS của pháp nhân, ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới quy định TNHS đối với pháp nhân
và thực tế việc từ bỏ quan niệm thuần túy chỉ có cá nhân mới phải chịu TNHS
là một tất yếu khách quan
Như ở phần trên đã phân tích thì cơ sở của TNHS là yếu tố khách quan
mà lỗi là một trong những cơ sở quan trọng để xem xét TNHS Xét về mặt lỗi, thì những quan điểm ủng hộ TNHS của pháp nhân cho rằng pháp nhân không phải là một trừu tượng pháp lý thuần túy Pháp nhân là tập hợp của những con
Trang 39người cụ thể, tập thể đó có những mối liên hệ, ràng buộc và có mục tiêu chung, thống nhất Pháp nhân không phải là một chủ thể giả tưởng mà “là một thực thể xã hội độc lập, pháp nhân cũng sinh (được thành lập theo thủ tục luật định, cũng trưởng (phát triển, tồn tại), cũng tử như cá nhân (giải thể, phá sản), cũng hoạt động như cá nhân” [69-Tr64] Pháp nhân là một thực thể bao gồm tập thể người, là sự thống nhất của tập thể người, có năng lực pháp luật và có năng lực thực tội phạm một cách có lỗi và đương nhiên có thể bị xử lý về hình
sự Vì thế, việc quy kết TNHS cho pháp nhân là hoàn toàn không phải quy tội khách quan
Một vấn đề đặt ra là pháp nhân không tự mình thực hiện tội phạm mà phải qua trung gian các cá nhân mà đại diện cho pháp nhân là đại diện theo pháp luật (có thể là giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị, đội ngũ lãnh đạo), vậy làm thế nào có thể quy kết tội phạm cho pháp nhân? Nhìn chung, tuyệt đại đa số các học giả ủng hộ thiết lập TNHS của pháp nhân trong luật hình
sự đều nghiêng về học thuyết đồng nhất hóa sự mong muốn tập thể với ý muốn cá nhân Xuất pháp từ sự tương tự hình thức giữa pháp nhân và cá nhân, những người ủng hộ học thuyết này quy kết sự biểu lộ các quyết định của tập thể vào sự tồn tại một ý chí thống nhất trong cá nhân của người đại diện, người lãnh đạo pháp nhân Các pháp nhân có ý thức, ý chí, mong muốn của riêng mình cùng với tư cách như các cá nhân Khi những người này thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của pháp nhân thì hành vi của họ được đồng nhất hóa với pháp nhân, được coi như là ý chí và hành vi của pháp nhân Tuy nhiên, trên thực tế thì việc chứng minh sự đồng nhất giữa cá nhân (người đại diện, lãnh đạo, ) với pháp nhân, tổ chức là một việc cũng rất phức tạp và khó khăn, bởi vì, có những hành vi của cá nhân thực hiện do mệnh lệnh dưới dạng văn bản nhưng cũng có trường hợp là bất thành văn Trường hợp thành văn thì có thể thuận lợi trong việc xác định và quy kết
Trang 40trách nhiệm, song đối với trường hợp bất thành văn thì rất khó có cơ sở để xác định nếu không có sự thừa nhận của người chỉ đạo, ra lệnh
Thứ hai, liên quan tới quan điểm cho rằng các pháp nhân về bản chất là những thực thể vô hình nên không thể áp dụng hình phạt hình sự đối với nó Một số hình phạt như tử hình sẽ áp dụng với pháp nhân như thế nào? Quan điểm ủng hộ quy định TNHS của pháp nhân có lý giải như sau:
Pháp nhân là một tổ chức được thành lập hợp pháp;có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản độc lập đó; nhân danh mình tham gia vào quan hệ pháp luật một cách độc lập.Pháp nhân có các quyền và có tài sản, vì vậy, pháp nhân có thể làm một đối tượng của hình phạt tước hoặc hạn chế quyền hoặc tài sản Mặc
dù, tử hình hoặc các hình phạt tước hoặc hạn chế quyền tự do thân thể không thể áp dụng với pháp nhân phạm tội, nhưng những loại hình phạt khác được xây dựng trong luật hình sự (như hình phạt tiền, tịch thu tài sản, ) ở các Ở những nước thừa nhận TNHS của pháp nhân đã chỉ ra rằng, khoa học về hình phạt đã đủ mềm dẻo để cung cấp những hình phạt và những biện pháp an ninh phù hợp cho việc trừng phạt các thực thể pháp lý này về đời sống của nó như giải thể, đóng cửa; trong hoạt động của nó như cấm tiến hành những hoạt động nhất định, hoặc về tài sản như phạt tiền, tịch thu tài sản,
Thứ ba, về quan điểm nói rằng việc quy kết TNHS và áp dụng hình phạt với pháp nhân sẽ không công bằng và gây hại cho nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
Theo khoa học pháp lý hình sự hiện đại thì nguyên tắc cá thể hóa hình phạt không thể tách rời khỏi nhận thức về chế tài áp dụng đối với pháp nhân,
tổ chức Nếu những pháp nhân, tổ chức là những thực thể có khả năng phạm tội thì có lý nào các pháp nhân lại không bị truy cứu sự trách cứ về hình sự của Nhà nước khi nó tham gia vào tội phạm Chế tài hình sự buộc phải áp